Để Quảng Ngãi không ngừng phát triển một cách bền vững, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi đã và đang đòi hỏi phải có sự quan tâm với những chủ trương, biện pháp m
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ THU THỦY
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri
Hà Nội-2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Đăng Tri
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 24 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Thủy
Trang 4MỞ ĐẦU, 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đoàn kết là nhân tố tạo nên sức mạnh to lớn cho một chính đảng, một dân tộc, một quốc gia Đại đoàn kết toàn dân tộc là cội nguồn sức mạnh đảm bảo sự trường tồn và đi tới mọi thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, trở thành truyền thống xuyên suốt lịch sử Việt Nam
Truyền thống đoàn kết dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giữ gìn, phát huy cao độ trong việc thành lập các đoàn thể nhân dân, tập hợp toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam Từ cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau đã tập hợp được mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, đứng lên đấu tranh giành chính quyền, thống nhất và xây dựng đất nước, đưa Việt Nam có vị trí ngày càng cao trên trường quốc tế
Hiện nay, khi đất nước chuyển mạnh sang thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề tăng cường đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế để phát huy sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc trở thành một chủ trương lớn của Đảng, một chính sách trọng yếu của Nhà nước ta hướng tới mục tiêu bảo đảm sự thống nhất cao độ giữa lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân, gia đình để tạo nên sức mạnh tổng hợp phát triển bền vững đất nước Đó là sự nghiệp của dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Sự lãnh đạo của Đảng thông qua đường lối, chủ trương phản ánh đúng nguyện vọng, quyền lợi của quần chúng, tuyên truyền vận động, giáo dục
Trang 5quần chúng để mọi người nhận thức được và tự giác tham gia vào khối đại đoàn kết
Nằm trong sự phát triển chung của cả nước, tỉnh Quảng Ngãi ngày càng thay đổi Từ một vùng đất nghèo, luôn gặp thiên tai khắc nghiệt cũng như những khó khăn sau ngày tách tỉnh (1989), dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Quảng Ngãi đã nêu cao tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, vượt lên bao thăng trầm, xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực, Quảng Ngãi vẫn đang tồn tại những thách thức, tác động đến việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc của khu vực nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
Để Quảng Ngãi không ngừng phát triển một cách bền vững, việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi đã và đang đòi hỏi phải có
sự quan tâm với những chủ trương, biện pháp mới của Đảng bộ và sự thực thi hiệu quả của cả hệ thống chính trị cũng như sự hưởng ứng sâu rộng của toàn dân
Nhằm góp phần nhỏ vào nhiệm vụ chung đó, việc nghiên cứu, tổng kết sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua, nhất là mười năm gần đây nhằm nhận rõ hơn những thành tựu để phát huy, hạn chế để khắc phục và rút ra những kinh nghiệm vận dụng vào hiện tại là rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực cả về mặt khoa học lịch sử Đảng và cả về ứng dụng thực tiễn đối với địa phương
Với mong muốn đó, là một học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác tại Quảng Ngãi, tôi quyết định chọn
nghiên cứu vấn đề « Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010 » làm đề tài cho bản luận
văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 6Đại đoàn kết là vấn đề cực kỳ có ý nghĩa nên đã có nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về xây dựng khối đại đoàn kết ở tỉnh Quảng Ngãi còn rất khiêm tốn Mặc dù chưa có
một công trình nghiên cứu về « Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010 », nhưng đã có
nhiều công trình nghiên cứu liên quan gián tiếp, hoặc trực tiếp trên một số khía cạnh, được công bố với nhiều góc độ và phạm vi khác nhau
- Những công trình chung về địa phương Quảng Ngãi trong đó có đề cập tới vấn đề đại đoàn kết:
Văn hiến Quảng Ngãi truyền thống và hiện đại của Trung tâm nghiên
cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc do GS Hoàng Chương Chủ biên
(2006), NXB văn hóa dân tộc; Quảng Ngãi 10 năm đầu thế kỷ XXI của Công
ty CP truyền thông quốc tế Phương Đông xanh, NXB Thông tấn xã Việt
Nam ; Quảng Ngãi 30 năm xây dựng và phát triển 1975-2005, của Ủy ban
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2005), Sở văn hóa thông tin tỉnh Quảng Ngãi ;
Quảng Ngãi 10 năm đổi mới, của Tỉnh ủy Quảng Ngãi- Ban tuyên giáo tỉnh
ủy (2000),…
Các tài liệu này chủ yếu tiếp cận ở góc độ về văn hóa, dân cư
Hoặc: Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam tỉnh Quảng
Ngãi 1930-2000 của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Ngãi (2004),
Quảng Ngãi Cuốn sách này chủ yếu đề cập đến lịch sử Mặt trận, có đề cập đến xây dựng khối đại đoàn kết nhưng từ năm 1930-2000
- Các công trình có liên quan:
Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của Hồ Chí Minh (2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên) (2000), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, của Phạm Hồng Chương (2003), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Góp phần nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng
Trang 7sản Việt Nam, của PGS, TS Trương Minh Dục (2009), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam quá khứ và hiện tại, của PGS.TS.Trần Hậu (2011) Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội; Đại đoàn kết dân tộc phát huy nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, của Vũ Oanh (1998), NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội ; Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam những chặng đường
vẻ vang, của Ủy ban Trung ương.Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2011), NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội ; „„Sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân” của GS,TS.Nguyễn Phú Trọng (2005), trong sách: “Đảng
Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới đất nước, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội…
Các công trình này đã làm sáng tỏ hơn lý luận về xây dựng khối đại đoàn kết ở Việt Nam, khẳng định tầm quan trọng và vai trò của khối đại đoàn kết dân tộc đối với cách mạng Việt Nam ở những thời kỳ lịch sử khác nhau Đây là những công trình mang tính lý luận chung
- Các Luận án Tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ:
Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh được thực hiện trong kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945-1954), của Khuất Thị Hoa (2000) Luận án Tiến sĩ; Đảng lãnh đạo xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), của Lê Thị Hòa Luận án Tiến sĩ Lịch sử; Đảng lãnh đạo tổ chức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 1993 đến năm 2007 của Lê Mậu Nhiệm (2008), Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử; Đảng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc từ 1986 đến nay, của Phạm Văn Búa (2004), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử; Đảng bộ Đắc Lắc lãnh đạo xây dựng khối đoàn kết dân tộc thời kỳ 1954-1975, của Bùi Ngọc Trung (1999), Luận văn thạc sĩ lịch sử; Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc (1996-2006), của Phạm Xuân Thu (2009), Luận văn Thạc sĩ lịch sử
Đây là những công trình thể hiện một cách nhìn tổng thể về công tác lãnh đạo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng qua các thời kỳ lịch
Trang 8sử Tác giả luận văn này có thể học hỏi được cách thức tiếp cận, xử lý các nguồn tư liệu để nghiên cứu về khối đại đoàn kết dân tộc
Các công trình nghiên cứu về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở các tỉnh miền núi có nhiều dân tộc sinh sống giúp học viên hiểu rõ thêm cách thức tiếp cận, nghiên cứu, xử lý tài liệu đối với một địa phương cụ thể khi nghiên cứu về vấn đề đại đoàn kết dân tộc ở vùng cao
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tài liệu quan trọng để người viết tham khảo, kế thừa khi nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề
« Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
từ 2001 đến 2010 » Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ, bổ sung tư liệu về khối đại
đoàn kết ở tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết, nhất là về các vấn đề sau :
+ Tập hợp và hệ thống hóa tư liệu chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong lĩnh vực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010
+ Phục dựng quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời gian trên
+ Xác định những thành công và hạn chế và nguyên nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong lĩnh vực công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở địa phương trong 10 năm từ năm 2001 đến năm 2010
+ Đúc kết một số kinh nghiệm trong xác định chủ trương, trong chỉ đạo thực hiện xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhằm phục vụ thực tiễn hiện tại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-Mục đích:
Nghiên cứu làm sáng rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010; từ đó, rút ra những nhận xét, những kinh nghiệm chủ yếu phục vụ cho quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
Trang 9- Nhiệm vụ:
+ Tập hợp và hệ thống hóa các tư liệu lịch sử có liên quan đến đề tài + Phục dựng quá trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010
+ Nhận xét, đánh giá sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về vấn đề trên
+ Tổng kết kinh nghiệm lịch sử về vấn đề nghiên cứu để phục vụ thực tiễn của địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, từ năm
2001 đến năm 2010 cùng những phong trào quần chúng do Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo có liên quan đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung : sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi
+ Về thời gian : Từ năm 2001 đến năm 2010
+ Về không gian: trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi
5 Cơ sở lý luận, tư liệu và phương pháp nghiên cứu :
- Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Nguồn tài liệu
+ Chủ yếu là các Văn kiện Đại hội, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương của Đảng, các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, các Báo cáo của Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của tỉnh Quảng Ngãi;
Trang 10+ Các công trình nghiên cứu khoa học của các ngành, các địa phương, các nhà khoa học, luận án, luận văn liên quan đã được công bố
+ Tài liệu khảo sát thực tế của tác giả luận văn có có liên quan đến phạm vi của đề tài
-Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê-nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp lôgic đồng thời vận dụng các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê… để nghiên cứu đề tài
Phương pháp lịch sử chủ yếu dùng ở chương 1 và chương 2, để phục
dựng lại sự kiện lịch sử « Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2010 »
Phương pháp Lôgíc chủ yếu dùng ở Mở đầu, chương 3 và kết luận để tổng quan vấn đề nghiên cứu, để đánh giá, nhận xét, đúc rút kinh nghiệm về
sự kiện lịch sử đã mô tả
6 Đóng góp của luận văn
- Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi
- Nêu lên những đánh giá, nhận xét và sự đúc rút kinh nghiệm của tác giả về quá trình lãnh đạo, chỉ đạo đó của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhằm phục vụ thực tiễn
- Góp phần bổ sung thêm các tư liệu để làm nguồn tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương 6 tiết
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo về xây dựng khối đại đoàn kết
toàn dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2001 đến năm 2005
Trang 11Chương 2: Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
Trang 12Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO VỀ XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN
KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005
1.1.1 Tình hình khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Quảng Ngãi đến năm 2001
- Những nhân tố tác động
Về điều kiện tự nhiên, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng duyên hải
miền Trung Việt Nam, ở vị trí 14o 32’-15o 25’ vĩ độ Bắc, 108o 06’-109o 04’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Tây Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Biển đông với đường bờ biển dài 130 km, ngư trường rộng lớn với tiềm năng nuôi trồng, chế biến thủy sản rất lớn
Tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.137,50 km2 bằng 1,7% diện tích tự nhiên của đất nước, với gần 2/3 diện tích núi rừng và đồi trọc Địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, chia làm 4 khu vực: đồng bằng, trung du, miền núi, hải đảo, đồng bằng có độ cao 8 độ so với mực nước biển… Với vị trí địa
lý trên, Quảng Ngãi có đầy đủ sông, biển, núi, đồi thấp
Tỉnh Quảng Ngãi có vịnh Dung Quất được Chính phủ quyết định xây dựng cảng biển nước sâu và khi công nghiệp trọng điểm của cả miền Trung Cách đất liền 18 hải lý, Quảng Ngãi có đảo Lý Sơn rộng khoảng 11 km2, dân
số khoảng 18.000 người Ngay từ năm 1604, đời vua Lê Kính Tông những cư dân đầu tiên của làng An Hải (Bình Châu, huyên Bình Sơn) và An Vĩnh (Tịnh
Kỳ, huyện Sơn Tịnh) đã ra đảo lập nghiệp và canh giữ vùng đất thiêng của Tổ quốc Đến đầu triều Nguyễn, Lý Sơn đã được biết đến như một hòn đảo tiền tiêu, có vị trí trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 13Nơi đây còn nhiều vùng đất của những chứng tích lâu đời như khu di chỉ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chăm; có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như
Ba Tơ, Sơn Mỹ, Vạn Tường; nhiều cảnh đẹp như Thiên Ấn, bãi biển Mỹ Khê
Về con người và đời sống văn hóa, xã hội, từ trong buổi bình minh của
lịch sử, vùng đất Quảng Ngãi đã có con người thời đại đá cũ sinh sống Qua các nghiên cứu của các nhà khảo cổ học cho thấy cách nay từ 30 vạn năm đến
15 vạn năm, cư dân thời đại đá cũ đã sinh sống trên địa bàn Quảng Ngãi Đây
là bước khởi đầu văn minh của người nguyên thủy để từ đó phát triển lên thời đại đá mới
Tỉnh Quảng Ngãi xưa là đất Việt thường thị, đời Tấn thuộc Tượng
Lâm quận, đời Hán là bờ cõi quận Nhật Nam, đời Đường thuộc Lâm Ấp, đời Tống là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành
Năm 1402, Hồ Quý Ly chinh phạt Chiêm Thành, vua Chiêm dâng vùng đất Quảng Ngãi là Cổ Lũy động Năm 1471, vua Lê Thánh Tôn lấy đất Đại Chiêm (Quảng Nam) và đất Cổ Lũy lập đạo Quảng Nam, có 3 phủ, 9 huyện Quảng Ngãi thành một phủ, phủ Quảng Nghĩa Dưới triều Minh Mạng thứ 13 (năm 1832), đã đổi trấn thành tỉnh Trấn Quảng Nghĩa dưới thời Gia Long được đổi thành tỉnh Quảng Nghĩa gồm có một phủ Tư Nghĩa kiêm lý huyện Chương Nghĩa và thống hạt hai huyện Bình Sơn và Mộ Hoa Năm
1832, lần đầu tiên Quảng Ngãi mang danh xưng hành chính là tỉnh
Từ ngày 10/11/1975 đến ngày 30/6/1989, tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình Ngày 1/7/1989, tỉnh Nghĩa Bình tách ra thành tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định như cũ
Tính đến nay, Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố, gồm 1 thành phố (Quảng Ngãi) (thành lập 26.8.2005), 6 huyện miền núi,
6 huyện đồng bằng và một huyện đảo
Về dân cư, theo Địa chí Quảng Ngãi : người Kinh hiện diện ở tỉnh
Quảng Ngãi bắt đầu chủ yếu từ thế kỷ XV trở đi, đa số là những nông dân ở
Trang 14vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng Thanh- Nghệ di cư vào khẩn hoang đất đai, lập thành làng mạc
Vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi, ngoài dân tộc Việt là đáng kể nhất, không có cộng đồng nào khác Ở miền núi có các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống Họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau và với người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn Từ sau năm 1975, có một ít người các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vào, song chỉ là đơn lẻ và hòa nhập vào các cộng đồng địa phương [9]
Theo Địa chí Quảng Ngãi, nếu tính về dân tộc, ở tỉnh Quảng Ngãi có
đến 17 dân tộc, nhưng thực chất có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể Đến năm 2005, dân tộc Kinh chiếm 88,8%, Ca dong 0,7%, Hrê 8,58%, Cor 1,8%,
số người thuộc 13 dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm 0,12% dân số Đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi nổi tiếng chăm chỉ làm ăn Với các tộc người khác, đồng bào rất mến khách, coi trọng đại nghĩa, không gây chiến ai, uy hiếp ai Nhưng khi lợi ích, tính mạng bị xâm phạm, quê hương đất nước bị lâm nạn, các dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, chống quân xâm lược
Đối với dân tộc Kinh (Việt), có thể nói cư dân Việt đầu tiên ở Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XV Năm 1402, qua cuộc xung đột giữa phong kiến Đại Việt và phong kiến Chăm pa, vua Chăm- pa nhượng hai châu Chiêm Động và
Cỗ Lũy Động cho nhà Hồ Hồ Quý Ly đổi đặt thành 4 châu Thăng, Hoa (Quảng Nam), Tư, Nghĩa (Quảng Ngãi) Hồ Quý Ly ra lệnh cho dân có của cải mà không có ruộng đất ở vùng Nghệ An, Thanh Hóa đem vợ con di cư vào vùng đất mới để khai khẩn; việc di dân này phần nào có tính bắt buộc Những người không có của cải, phương tiện canh tác thì nhà Hồ cấp phát trâu cho họ Nhà nước vận động dân chúng: ai có trâu đem hiến nộp sẽ được cấp phẩm tước Hồ Quý Ly bắt buộc những người nông dân di cư không được quay về bản quán, sau khi đã thích dấu hiệu lên cánh tay của họ Các sử sách
Trang 15chép rằng: chữ Châu được thích lên cánh tay những người lưu dân Đây là cuộc di dân lần đầu tiên của người Kinh đến vùng đất Quảng Ngãi
Vùng cư trú hiện này của người Kinh tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và các thị tứ, thị trấn ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi; một số sinh sống đan xen với người dân tộc thiểu số ở miền núi
Hrê là tộc người có số dân đứng thứ hai trong tỉnh Quảng Ngãi sau dân tộc Kinh Họ sống tập trung ở các huyện miền núi: huyện Ba Tơ, huyện Minh Long, huyện Sơn Hà Ngoài ra, người Hrê sống đan xen với người Kinh
ở vùng tây các huyện Nghĩa hành, huyện Tư Nghĩa Ở vùng phía đông của huyện Sơn Tây, phía nam của huyện Trà Bồng
Nhìn chung, xã hội Hrê vẫn mang tính cộng đồng, đoàn kết gắn bó giữa các thành viên Điều này thể hiện ở các hình thức vẫn đổi công, tương trợ, tục chia sẻ trong ăn uống, lễ tết, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau Sự liên kết giữa các gia đình cũng như sự gắn bó của mỗi thành viên với làng dựa trên quan hệ thân tộc hoặc quan hệ láng giềng Vùng cư trú của người Hrê nằm ở
vị trí thông thương với Tây Nguyên xuống và đồng bằng lên nên rất thuận lợi trong trao đổi buôn bán
Dân tộc Cor là dân tộc có số dân đông thứ ba trong tỉnh Quảng Ngãi Địa bàn cư trú của dân tộc Cor ở các huyện miền núi: Trà Bồng và Tây Trà của tỉnh Quảng Ngãi Người Cor có ý thức tự giác tộc người cao, có ý bản địa
và tự hào về truyền thống của tổ tiên Người Cor có ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Môn- Khơ me và thuộc nhóm ngôn ngữ Bahnaric phía Bắc
Đặc trưng sinh hoạt kinh tế của người Cor là lấy kinh tế nương rẫy làm nguồn thu nhập chính Đồng bào có nhiều giống lúa rẫy Vùng người Cor nổi tiếng về giống trầu không và quế
Cadong là tộc người có số dân đứng thứ tư trong tỉnh Quảng Ngãi, cư trú ở huyện Sơn Tây (tỉnh Quảng Ngãi) Tộc người Cadong là một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng, thuộc ngữ hệ Môn- Khơme và thuộc nhóm ngôn ngữ Bahnaric
Trang 16Kinh tế truyền thống của tộc người Cadong chủ yếu là nông nghiệp rẫy Ngoài ra còn có khai thác lâm thổ sản, thủy sản, dệt vải
Nhìn chung, người dân tộc Cadong bình đẳng, cố kết nhau trong một khối cộng đồng là làng thống nhất được quy định bởi luật tục
Từ thời tiền sử, trên vùng đất Quảng Ngãi phần nào đã có sự hợp chủng hòa huyết giữa các nhóm Nam Đảo và nhóm Nam Á Từ thế kỷ XV trở
đi, trên vùng đất Quảng Ngãi đã có sự hợp huyết nhất định giữa người Chăm bản địa và người Kinh từ miền Bắc di cư vào, giữa người thiểu số miền núi và người Kinh đồng bằng, giữa người Kinh và nhóm người Hoa di cư từ Nam Trung Hoa đến Giữa các dân tộc anh em đã có sự giao lưu, trao đổi từ lâu đời với nhau
Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần đoàn kết các dân tộc trên đất Quảng Ngãi càng được phát huy mạnh mẽ
Các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi cùng nằm trong một khu vực lịch sử
- dân tộc học, có chung một vận mệnh lịch sử lâu đời, đã cùng nhau tham gia vào những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của các triều đại phong kiến
và những cuộc đấu tranh chống xâm lược Đặc biệt, sống trong vùng thiên nhiên phong phú, đa dạng nhưng vô cùng khắc nghiệt, đồng bào các dân tộc miền núi đã xây dựng nên truyền thống đoàn kết, gắn bó cùng nhau để sinh tồn Các mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc đã
có từ lâu đời Nhưng mỗi tộc người đều có những phong tục tập quán và đặc điểm riêng
Về kinh tế, quan hệ mua bán, trao đổi giữa các dân tộc thực hiện bằng nhiều hình thức, đã được xác lập từ lâu đời Đồng bào trao đổi với nhau các công cụ lao động như dao, rựa, những sản vật từ săn bắt, hái lượm được hoặc những đặc sản như quế, trầu, cau, chè… Mối quan hệ giao lưu kinh tế đó diễn
ra không chỉ trong nội bộ tộc người mà còn diễn ra giữa các tộc cận cư, đặc biệt với người Kinh để trao đổi, mua bán các sản phẩm nông, lâm nghiệp và các nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống của đồng bào
Trang 17Về mặt ngôn ngữ, mỗi dân tộc ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi không chỉ nói ngôn ngữ mẹ đẻ, mà còn biết tiếng nói các dân tộc láng giềng Vì cùng chung hệ ngôn ngữ Môn- Khơ me nên các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong rất dễ dàng hiểu tiếng nói của nhau
Cho đến nay, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thiểu số đã đến mức trong các hình thức sinh hoạt văn hóa của từng tộc người thật khó khăn phân biệt rạch ròi đâu là yếu tố bản sắc riêng của tộc người, đâu là yếu tố vay mượn Các mối quan hệ giữa các dân tộc miền núi Quảng Ngãi ngày càng được củng cố và phát triển về mọi mặt, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của bà con các dân tộc miền núi trên con đường hội nhập đi lên xã hội chủ nghĩa
Về vấn đề giai cấp, những năm đầu thế kỷ XX cơ cấu xã hội, giai cấp
đã bắt đầu có sự biến đổi sâu sắc Bên cạnh các giai cấp và tầng lớp trong xã hội phong kiến như địa chủ phong kiến, nông dân đã xuất hiện các giai cấp mới gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp như công nhân, tư sản, tiểu tư sản thành thị, trí thức Tây học v.v…
Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo, chiếm hơn 90% dân số Họ
là giai cấp bị thực dân, đế quốc cấu kết với bọn quan lại, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề nhất
Giai cấp địa chủ phong kiến ở Quảng Ngãi có số lượng không nhiều, phần lớn là địa chủ vừa và nhỏ, ruộng đất không tập trung, bóc lột nông dân chủ yếu bằng hình thức tô tức Phần đông giai cấp địa chủ phong kiến Quảng Ngãi có lòng yêu nước căm thù giặc, ý thức trước cảnh quê hương bị giày xéo Do đó nhiều người đã sớm hòa mình vào quần chúng, tham gia tích cực, đóng góp sức người, sức của cho các phong trào yêu nước chống Pháp
Giai cấp công nhân ở Quảng Ngãi còn ít về số lượng, do các cơ sở công nghiệp chưa phát triển
Giai cấp tư sản Quảng Ngãi yếu và ít do công nghiệp, thương nghiệp kém phát triển Tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, ngoài một số ít đỗ đạt cao, làm
Trang 18quan to trong triều đình, trở thành tay sai của thực dân, phong kiến, còn phần lớn đứng về phía nhân dân lao động Họ trở thành lực lượng châm ngòi nổ cho các phong trào yêu nước
Về vấn đề tôn giáo, Phật giáo là tôn giáo tồn tại lâu đời ở Việt Nam
Trong số các dân di cư vào khai khẩn ở vùng đất Quảng Ngãi từ thế kỷ XV, XVI có không ít người là đệ tử hay tín đồ Phật giáo Thời Pháp thuộc, các tăng ni phật tử Quảng Ngãi cũng chịu chung số phận nô lệ như người dân trong nước Do vậy, trước năm 1945, theo kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, giới đệ tử Phật giáo đã thành lập Hội Phật giáo Cứu quốc Giới phật tử ở Quảng Ngãi thành lập Chi hội Phật giáo Cứu quốc Lực lượng này đã góp phần cùng nhân dân Quảng Ngãi giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám 1945 Từ năm 1975, đất nước độc lập, thống nhất đã tạo thuận lợi cho Phật giáo thống nhất các hệ phái Năm 1981, các hệ phái Phật giáo trong cả nước đã tổ chức đại hội, thống nhất làm một và lấy tên là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” Đại hội đã thông qua hiến chương, chương trình hành động và bầu ra các cơ quan lãnh đạo
Hiện nay, các tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, gắn bó trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hăng hái thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và tham gia các phong trào quần chúng, theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”
Đạo Thiên Chúa hay Công giáo từ phương Tây truyền vào Việt Nam vào khoảng thời gian đất nước ta bị chia cắt thành Đàng Ngoài - Đàng Trong vào thời Trịnh - Nguyễn phân tranh Cũng vào thời gian này, Thiên Chúa giáo
đã du nhập tới Quảng Ngãi
Từ thập niên hai mươi đến thập niên sáu mươi của thế kỷ XX, Thiên Chúa giáo ở Quảng Ngãi phát triển khá mạnh Đến thời Ngô Đình Diệm, chính quyền Sài Gòn lại tìm cách mua chuộc, lợi dụng Công giáo, như tăng
uy thế chính trị, thế lực kinh tế và cơ sở vật chất Số lượng tín đồ Công giáo
Trang 19cũng tăng dần Theo Địa phương chí tỉnh Quảng Ngãi, đến năm 1968, toàn tỉnh có 36.387 tín đồ Công giáo
Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, ở thị xã Quảng Ngãi, các nhà thờ lớn như nhà thờ Trần Hưng Đạo, nhà thờ Phú Hòa ở huyện Sơn Tịnh rất nhiều nhà thờ khác trong tỉnh Quảng Ngãi vẫn được tôn trọng, được hành đạo bình thường Tuy nhiên, do vấn đề lịch sử để lại (chính sách chia rẽ lương, giáo của thực dân Pháp…), nên giáo dân ở Quảng Ngãi có một số người chưa hòa nhập vào chế độ mới, ở một số vùng lại có người nhạt đạo Năm 1980, các giám mục cả nước đã tổ chức hội nghị để thống nhất đường lối của Giáo hội Giáo dân Công giáo Quảng Ngãi sống hòa hợp với cộng đồng với phương châm “sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào”, tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân Đến năm 1995, tại Quảng Ngãi có 5.446 tín đồ, 6 linh mục, 13 nơi thờ tự, 41 họ đạo Những năm đầu thế kỷ XXI số lượng tín đồ có chiều hướng tăng Nhìn chung, đồng bào Công giáo đang tích cực cải thiện đời sống, phấn khởi trước công cuộc đổi mới và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Các hoạt động xã hội nhân đạo, phong trào an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội được giáo dân hưởng ứng theo tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước” Những dịp lễ lớn như Giáng sinh, Phục sinh thực sự là những ngày hội lớn của cộng đồng
Từ buổi ban đầu du nhập vào Quảng Ngãi (tháng 4/1928) đến năm
1954, đạo Tin Lành ở đây chủ yếu là hệ phái Hội thánh Tin Lành Việt Nam, xây dựng được 3 cơ sở Hội thánh (tỉnh lỵ Mộ Đức, Đức Phổ) và phát triển khoảng 100 tín đồ, hoạt động theo nguyên tắc điều lệ Hội Đạo Tin Lành chủ trương trung dung, chỉ tham gia một số hoạt động từ thiện, nhân đạo, tạo lập
cơ sở để truyền đạo lâu dài Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhà thờ bị chiến tranh tàn phá, các Hội thánh thiếu mục sư nên việc truyền đạo cũng bị thu hẹp, khủng hoảng
Trang 20Đầu những năm bảy mươi thế kỷ XX, Tổng hội Tin Lành cũng đã điều phối nhiều mục sư, kể cả giáo sĩ người nước ngoài tham gia trực tiếp chỉ đạo phát triển đạo Tin Lành ở Quảng Ngãi Một số tín đồ, mục sư, truyền đạo tham gia quân đội Sài Gòn, chống lại cách mạng Tuy vậy, tín đồ Tin Lành hầu hết là người lao động; họ đào tạo vì nhiều nguyên nhân khác nhau: đức tin, sự thu hút qua các hoạt động xã hội, động cơ kinh tế, nhưng trước sự tàn bạo, tham nhũng, mị dân của chính quyền Sài Gòn, có nhiều gia đình tín hữu
Đến năm 2005, đạo Cao Đài ở Quảng Ngãi có 36 thánh thất với hơn 6.000 tín đồ
Ngoài 4 tôn giáo kể trên, ở tỉnh Quảng Ngãi cũng có khoảng 140 người theo đạo Bah’ai, 50 người theo đạo Hòa Hảo
Có thể nói, các tôn giáo tồn tại như là một sự tất yếu trong cư dân tỉnh Quảng Ngãi Ngày nay, khi Nhà nước ta thực hiện quyền tự do tín ngưỡng và
tự do không tín ngưỡng, các tôn giáo đều được đối xử bình đẳng, tôn trọng và đoàn kết với nhau Các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi đều có đại diện là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, tập trung vào mục tiêu
“tốt đời, đẹp đạo”
Nhìn chung khối cộng đồng dân cư Quảng Ngãi phát triển theo tiến trình của lịch sử, cùng đoàn kết, chung sức chung lòng trong công cuộc chống phong kiến- đế quốc, xây dựng quê hương giàu đẹp
- Thực trạng của khối đại đoàn kết dân tộc ở Quảng Ngãi đến năm 2001
Trang 21Truyền thống yêu nước và đoàn kết đấu tranh của nhân dân Quảng
Ngãi trước khi có Đảng và Mặt trận dân tộc thống nhất: Sống trên vùng đất vốn không được thiên nhiên ưu đãi, lại từng là nạn nhân của sự áp bức bóc lột
và các cuộc chiến tranh kéo dài giữa các tập đoàn phong kiến, nhân dân Quảng Ngãi đã sớm ý thức được tinh thần yêu nước và đoàn kết trong đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương
Từ cuối thế kỷ XVII, nhân dân Quảng Ngãi đã tích cực tham gia và có nhiều đóng góp trong phong trào chống các thế lực phong kiến Trong phong trào khởi nghĩa của quân Tây Sơn, Quảng Ngãi đã trở thành “tả đạo”, là căn
cứ của phong trào nông dân Tây Sơn lật đổ ách thống trị của các tập đoàn phong kiến cát cứ, thống nhất đất nước và đập tan các cuộc chiến tranh xâm lược, giữ vững độc lập dân tộc Cống hiến quan trọng của Quảng Ngãi trong phong trào nông dân Tây Sơn không chỉ ở sức người, sức của của nhân dân
mà còn ở nhiều danh tướng tài ba như Đại đô đốc Trần Quang Diệu, Đại tư
mã Nguyễn Văn Danh, Tư Hầu Đức Trương Đăng Đồ, Lại bộ Thị Lang Huỳnh Văn Thuận, Thái Bảo Nguyễn Văn Huấn, Đô đốc, Nguyễn Tăng Long
và Phạm Quang Nghị- người đã từng thay Quang Trung đi sứ Trung Quốc
Đóng góp to lớn của đồng bào các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn đã chứng tỏ nhân dân tỉnh Quảng Ngãi không chỉ có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, chinh phục tự nhiên mà còn có truyền thống ngoan cường, anh dũng trong chiến đấu chống áp bức, bất công, chống ngoại xâm
Truyền thống đó càng được phát huy khi nhân dân Quảng Ngãi cùng với nhân dân trên mọi miền đất nước theo lời hiệu triệu của Hịch Cần Vương đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược “Nghĩa hội Cần Vương” được các nhà trí thức nho học Lê Trung Đình và Nguyễn Tự Tân lập ra như một tổ chức để đoàn kết các văn thân, sỹ phu yêu nước ở Quảng Ngãi tập hợp nhân dân phò Vua Hàm Nghi giúp nước chống Pháp Phong trào đã khơi dậy tinh
Trang 22thần dân tộc sâu sắc, mang tính nhân dân khá rõ nét các tác dụng cổ vũ, dẫn dắt phong trào yêu nước và tinh thần đoàn kết của các thế hệ kế tiếp
Sang đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã có nhiều biến đổi sâu sắc, phong trào yêu nước của nhân dân Quảng Ngãi không thể duy trì phong trào theo lối “Phò vua” trước đây mà chuyển sang xây dựng và phát động các phong trào mang màu sắc dân chủ tư sản Như phong trào Duy Tân, phong trào “Việt Nam Quang phục hội”, phong trào “Chấn hưng công nghiệp”, “Cải lương hương chín”, “Tương tế ái hữu”, “Hội đồng canh”
Nhìn chung, các phong trào đã đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Các phong trào đã lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân tham gia và trở thành phong trào quần chúng khá đậm nét Tuy nhiên, do chưa có đường lối đúng đắn, phù hợp với thực tiễn ở trong nước và quốc tế, chưa có một giai cấp lãnh đạo tiền phong, chưa có một hệ tư tưởng tiên tiến dẫn đường nên các phong trào thất bại
Khối đại đoàn kết dân tộc từ khi có Đảng lãnh đạo: Sau sự kiện thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), Chi bộ Cộng sản đầu tiên của Đảng bộ Quảng Ngãi được thành lập (tháng 3-1930) Sự kiện chính trị trọng đại này phản ánh sự phát triển tất yếu của phong trào cách mạng của nhân dân Quảng Ngãi, quyết định toàn bộ quá trình vận động, phát triển của phong trào cách mạng ở Quảng Ngãi được tập hợp đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, các giới công, nông, thanh, phụ, trí, phú, địa hào kể cả những người làm việc trong bộ máy tay sai của địch cũng đều tham gia với những mức độ khác nhau vào quá trình chống bọn Pháp, Nhật và bè lũ tay sai để giành độc lập cho dân tộc Đồng bào các dân tộc thiểu số, tín đồ các tôn giáo đã góp phần thiết thực vào công cuộc giải phóng dân tộc tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của dân tộc, tôn giáo của mình
Trang 23Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Ngãi là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó là thắng lợi của đạo quân chủ lực là công nhân và nông dân và các lực lượng yêu nước được tập hợp dưới lá cờ hiệu triệu của Mặt trận Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cùng với thắng lợi của nhân dân cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), vai trò và sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng được tập hợp trong Mặt trận suốt 9 năm kháng chiến ở Quảng Ngãi là một trong những minh chứng điển hình của thắng lợi vang dội địa cầu
Trải qua 21 năm (1954-1975), tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ xâm lược đầy gian khổ, hy sinh, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, tối ngày 24-3-1975, toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi được giải phóng Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bước vào kỷ nguyên mới- Kỷ nguyên độc lập, tự do và quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội
Bài học xuyên suốt qua tất cả các thời kỳ của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, đó là không ngừng tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân- giai cấp nông dân,
và coi trọng công tác vận động trí thức, đồng bào các dân tộc, đồng thời, ra sức tranh thủ tầng lớp, các nhân sĩ yêu nước, các tôn giáo, những công chức,
sỹ quan, binh lính trong hàng ngũ địch, chú ý phân hóa, cô lập kẻ thù, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân để đánh đế quốc Mỹ, thắng đế quốc Mỹ Đảng ta đã nhìn rõ kẻ thù cơ bản, kẻ thù cụ thể từng lúc mà có sách lược tranh thủ, phân hóa, vận động tập hợp lực lượng để cô lập kẻ thù chính
Trong thời gian ngắn trước ngày nhập tỉnh, nhân dân tỉnh Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của Đảnh bộ tỉnh Quảng Ngãi đã lập được nhiều thành tích xuất sắc Những thành tựu đạt được từ ngày giải phóng đến thời điểm hợp nhất Quảng Ngãi và Bình Định thành tỉnh Nghĩa Bình (tháng 11-1975) có ý
Trang 24nghĩa rất quan trọng, là cơ sở thuận lợi để tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội từ năm 1976 đến năm 1989
Bên cạnh những thuận lợi, thực tiễn tình hình đặt ra những khó khăn
Đó là hậu quả, tàn tích của cuộc chiến tranh còn nhiều Nạn thất nghiệp, nguy
cơ thiếu đói, bệnh tật còn đang đe dọa Việc lo cái ăn, cái mặc, chỗ ở, nông cụ sản xuất, học hành, chữa bệnh cho hơn 80 vạn dân Quảng Ngãi là một thách thức lớn trong nhiệm vụ cách mạng lúc này
Trong khi đó, vấn đề an ninh chính trị và một số vấn đề xã hội khác vẫn còn rất phức tạp Lực lượng ngụy quân, ngụy quyền tan rã tại chỗ đã được
đi cải tạo; trừ số sĩ quan chức sắc ngụy quyền và bọn phản động có nợ máu bị giam giữ, tiếp tục cải tạo, còn đa số binh lính, nhân viên ngụy quyền chỉ được giáo dục, cải tạo một thời gian ngắn rồi trả về với gia đình, song vẫn còn mặc cảm với lỗi lầm, chưa hòa nhập được với cộng đồng; tình trạng định kiến, phân biệt đối xử còn diễn ra một số nơi ở cơ sở gây trở ngại cho việc thực hiện hòa hợp, củng cố khối đại đoàn kết Vẫn còn nhiều tổ chức phản động gây rối trật tự trị an, chống phá cách mạng, làm tình hình an ninh chính trị thêm phức tạp
Trong tình hình mới, để mở rộng tăng cường sức mạnh khối Đại đoàn kết toàn dân, đòi hỏi Đảng bộ, Chính quyền, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể phải tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng và củng cố, nâng cao vai trò, vị trí, chức năng của mình nhằm đoàn kết nhân dân trong nước, đồng bào sống ở nước ngoài cùng đồng tâm hiệp lực, hành động thống nhất vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong 13 năm hợp nhất tỉnh Nghĩa Bình, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng
và bản chất dũng cảm, kiên cường, sáng tạo của mình nên nhiều sự kiện lịch
sử, đạt được nhiều thành tích rất đáng tự hào trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trang 25Tuy nhiên, nằm trong tình hình chung của lịch sử, những năm trước thời kỳ đổi mới do những sai lầm, thiếu sót dẫn đến đời sống người dân còn
nhiều khó khăn
1.1.2 Chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2001 đến năm 2005
- Cơ sở lý luận
Đoàn kết là một hiện tượng nhiều người liên kết thành một khối thống
nhất cùng hoạt động vì mục đích chung Đoàn kết theo Đại từ điển Tiếng Việt
đó là kết thành một khối, thống nhất ý chí, không mâu thuẫn, không đối nhau Đoàn kết hiểu theo nghĩa chung nhất là sự đồng tâm, hợp lực của một cộng đồng người cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ nhằm đạt tới mục đích chung nhất
« Tất cả những gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều xứng đáng với lợi ích của họ Lợi ích của họ chính là động lực chủ yếu để tập hợp quần chúng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội thị dân với nhau Do vậy, muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thì phải kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc » [67]
« Những tư tưởng cao cả nhất cũng không đáng một xu nhỏ, chừng nào người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của chính ngay những người lao động tham gia cuộc đấu tranh kinh tế, chừng nào mà người ta không biết kết hợp những lý tưởng đó với những vấn đề chật hẹp và nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày của giai cấp như vấn đề trả công lao động một cách công bằng Như vậy, phải lấy lợi ích, thiết thực của người lao động làm cơ sở xây dựng kinh tế, gắn liền với đấu tranh Lợi ích là cái gắn bó mọi người lại với nhau, là động lực của đấu tranh Do đó, muốn đoàn kết toàn dân phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của mỗi thành viên trong từng cộng đồng » [67]
Trang 26Sức mạnh quần chúng chỉ có được khi mà quần chúng được tổ chức, tập hợp họ lại, đoàn kết học lại dưới sự lãnh đạo của một chính đảng Muốn tập hợp được quần chúng phải giáo dục tuyên truyền làm cho quần chúng giác ngộ làm theo, “phải biết cách làm công tác tuyên truyền, tổ chức, cổ động sao cho dễ tiếp thu nhất, dễ hiểu nhất, rõ ràng nhất, sinh động nhất cả đối với các phố thợ thuyền, nhà máy lẫn với các vùng nông thôn Lê nin nhấn mạnh về vai trò, tầm quan trọng của tổ chức đồng thời Người phát triển, mở rộng quan điểm của Mác- Ăng ghen từ “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” thành “Vô sản tất cả các nước bị áp bức đoàn kết lại” Ngày nay chân lý đó đang rực sáng: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
Lê-nin khẳng định: « Việc giáo dục rèn luyện quần chúng lao động là nhiệm vụ cơ bản công tác giáo dục của Đảng Cộng sản và của mọi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Nguồn gốc của sức mạnh là ở quần chúng, nhưng phải là quần chúng được giác ngộ, khi đã được giáo dục có hiểu biết và sự hiểu biết càng sâu rộng thì họ càng nâng cao tính chủ động, sáng tạo, tích cực
từ đó làm việc gì cũng dễ dàng hơn » [67]
Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, chúng ta thấy rõ hơn về nguyên lý và phương pháp tổ chức tập hợp quần chúng để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Đối với cách mạng Việt Nam, có những thời điểm lịch sử gặp khó khăn, thử thách tưởng chừng không thể vượt qua, Đảng ta đã vận dụng đúng đắn những nguyên lý về tập hợp quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Mác- Lê-nin để chèo lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua những khó khăn đó
Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết dân tộc đã thấm vào máu thịt của mỗi
người Việt Nam, là một truyền thống ăn sâu vào đời sống của dân tộc Việt Nam Nghiên cứu lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:
“Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [60, tr217] Đoàn kết dân tộc đã được hình thành và củng cố hàng ngàn năm lịch sử dựng
Trang 27nước và giữ nước của cả dân tộc, trở thành một truyền thống bền vững, thấm vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của mỗi con người Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: « đại đoàn kết dân tộc là một trong những động lực phát triển của lịch sử, là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam » [60] Và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, chính Người chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tích cực vận động quần chúng, tập hợp mọi lực lượng, không phân biệt địa vị xã hội,
xu hướng chính trị, tín ngưỡng dân tộc, giới và tuổi, mời gọi ai có lòng yêu nước vào Mặt trận Việt Minh, lấy mục đích giành độc lập tự do làm nhiệm vụ trọng tâm
- Chủ trương Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc từ năm 2001 đến 2005:
Đảng Cộng sản Việt Nam, kể từ khi thành lập đến nay, Đảng đã dẫn
dắt nhân dân ta giành được những thắng lợi to lớn, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù Một trong những nguyên nhân dẫn đến những thắng lợi to lớn ấy là Đảng ta đã dựa vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, đã đưa truyền thống đoàn kết dân tộc ta lên một tầm cao mới Đảng ta đã quán triệt tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm
lo xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó
là một nhiệm vụ chiến lược quyết định thành bại của cách mạng
Nhằm tập hợp lực lượng cách mạng đông đảo, trong từng thời kỳ, Đảng ta đã linh hoạt, nhạy bén đề ra khẩu hiệu đấu tranh và thành lập các tổ chức phù hợp đặc điểm, yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Dân tộc thống nhất là nhiệm vụ chiến lược lâu dài Mặt trận dân tộc thống nhất là tập hợp tinh thần đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân, thông qua các tổ chức của Mặt trận vì sự nghiệp và lợi ích chung: giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước Trong từng giai đoạn cách mạng Đảng đã đề ra những chủ trương, đường lối, chính sách phù hợp với điều kiện lịch sử- cụ thể, phù hợp
Trang 28với lợi ích của các tầng lớp xã hội, làm cho mỗi người xác định được vị trí, vai trò của mình trong xã hội nhằm đoàn kết toàn dân, phấn đấu vì mục tiêu
và chương trình hành động thống nhất của tất cả các giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo Tư tưởng của chính sách đại đoàn kết trong chương trình hành động của Mặt trận, lấy lợi ích cơ bản của dân tộc làm nền tảng, kết hợp với giải quyết hài hòa lợi ích của dân tộc với lợi ích của từng giai cấp, lợi ích của tập thể và lợi ích cá nhân Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, không cứng nhắc, lựa chọn các hình thức tổ chức linh hoạt và tên gọi Mặt trận phù hợp với đặc điểm từng thời kỳ cách mạng như: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939), Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế (1939), Mặt trận Việt Minh (1941), Mặt trận Liên Việt (1951), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (ở miền Bắc 1955-1976), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1975), Liên minh các lực lượng dân chủ và hòa bình Việt Nam (1968-1975) Việc Mặt trận Dân tộc thống nhất không ngừng phát triển chứng tỏ sự phát triển và củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam
Để thực hiện đại đoàn kết toàn dân, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất, Đảng ta luôn luôn giữ vai trò lãnh đạo trong Mặt trận, luôn luôn kiên trì nguyên tắc đấu tranh chống khuynh hướng cô độc, hẹp hòi; coi nhẹ việc tranh thủ các lực lượng có thể tranh thủ được, đồng thời chống khuynh hướng đoàn kết một chiều, đoàn kết nhưng phải có đấu tranh đúng mức trong nội bộ Mặt trận
Muốn tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, phải không ngừng củng cố khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức, đồng thời thu hút mọi giai tầng xã hội, thông qua các hình thức tổ chức để tập hợp quần chúng ngày càng phong phú, đa dạng, thích hợp với đặc điểm của từng đối tượng đồng bằng và miền núi
Bước vào thời kỳ đổi mới, một trong bốn bài học mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1986) đã rút ra, đó là: Trong toàn bộ hoạt
Trang 29động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) xác định: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân và bài học không ngừng củng cố tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (năm 1991) đã xác định một trong những phương hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu: Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh là phải thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất
Tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 9-1996) rút ra 6 bài học trong đó có bài học: “Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc” Đại hội khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân” Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới Đại hội đã đề ra phương hướng cho thời gian tới: “Để tiếp tục sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thành tựu lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ngoài nước, phát huy dân chủ, động viên tối
đa sức mạnh của toàn thể dân tộc, vì mục tiêu dâu giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [22]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) với chủ đề “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [24, tr9], tự nó đã nói lên vai trò, tầm quan trọng của công tác đoàn kết, phát huy sức mạnh quần chúng trong tình hình mới Đại hội xác định:
“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp
Trang 30hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội
Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: « Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội » [24, tr 123]
Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai Khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn luôn được củng
cố và phát triển sâu rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành
Chính sách và pháp luật của Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân và sinh hoạt dân chủ trong xã hội Xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế- xã hội đúng đắn, phát huy mọi khả năng sáng tạo của nhân dân Đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính
Trang 31sách phát triển kinh tế- xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm công dân…
Đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện « trí thức hóa công nhân », nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới Bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú; tăng thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành
Đối với giai cấp nông dân, ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung chỉ đạo
và các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn; thực hiện tốt các chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội; phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn; phân bố dân
cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới
Đối với trí thức, tạo điều kiện thuận lợi để thu nhận thông tin, tiếp cận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ và văn hóa thế giới, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn Khuyến khích tự do sáng tạo, phát minh, cống hiến Phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng Phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nước và xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật
Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề
Trang 32nghiệp; giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện
để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Đối với cựu chiến binh, phát huy bản chất, truyền thống « Bộ đội Cụ
Hồ », tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa; giúp nhau cải thiện đời sống; góp phần giáo dục truyền thống và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ
Đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, các cán bộ nghỉ hưu, những người cao tuổi, thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới ; đáp ứng nhu cầu được thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội nêu gương tốt, giáo dục lý tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên
Đối với các doanh nghiệp, nêu cao vai trò và trách nhiệm đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế- xã hội; khuyến khích
và tạo môi trường thuận lợi để kinh doanh và cạnh tranh theo pháp luật; có những hình thức biểu dương công sức của những người quản lý sản xuất, kinh doanh giỏi
« Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng; đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng
Trang 33xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tư
ti, mặc cảm dân tộc
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh
tế, văn hóa, nâng cao đời sống của đồng bào Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống « tốt đời, đẹp đạo », phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo Từng bước hoàn thiện luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo
Nghiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam Đảng và Nhà nước chăm lo cung cấp thông tin về tình hình đất nước, bảo hộ quyền lợi chính đáng của đồng bào, nâng cao lòng yêu nước và trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng, tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tôn trọng pháp luật nước sở tại và góp phần tăng cường đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước Có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào về thăm quê hương, mở mang các hoạt động văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh, góp phần thiết thực xây dựng đất nước
Trang 34Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm công dân của hội viên, đoàn viên, giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy công cuộc đổi mới, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Nhân dân vừa thực hiện quyền dân chủ trực tiếp vừa thực hiện quyền dân chủ thông qua đại diện là các cơ quan nhà nước, các đại biểu nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Đảng và Nhà nước xây dựng
và hoàn chỉnh các quy chế để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện
« dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra », qua đó tăng cường đoàn kết toàn dân, củng cố sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, góp sức xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh; phát huy khả năng tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác và đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và các cơ quan nhà nước; giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân
Đại đoàn kết toàn dân tộc, từ chỗ là tư tưởng của lãnh tụ đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng cộng sản Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đó đã thấm sâu vào tình cảm, ý thức của tất cả những người Việt Nam yêu nước và biến thành hành động cách mạng của hàng triệu, triệu con người, tạo thành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong lịch sử Việt Nam, gần một thế kỷ qua
đã cho thấy: lúc nào, nơi nào tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được quán triệt và thực hiện đúng thì nơi đó, lúc đó cách mạng phát triển
Trang 35mạnh mẽ và giành được thắng lợi; lúc nào, nơi nào xa rời tư tưởng đó thì nơi
đó, lúc đó cách mạng bị trở ngại, tổn thất
Nhằm xây dựng tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh có kinh tế- xã hội phát triển, chính trị ổn định, xã hội lành mạnh, hòa cùng nhịp độ phát triển chung của cả nước, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVI đã diễn
ra vào tháng 3-2001 Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng ở thời điểm mở đầu của thế kỷ XXI
Căn cứ vào những thành tựu đạt được trước năm 2001, Đại hội đã xác định phương hướng của Đảng bộ trong nhiệm kỳ tới: “Phát huy sức mạnh của toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân trong tỉnh; khai thác mọi tiềm năng, mọi nguồn lực trong tỉnh đồng thời tranh thủ thu hút ngoại lực để phát triển kinh tế- xã hội nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với cải thiện đời sống
và giải quyết các vấn đề bức xúc xã hội; kết hợp với tăng cường quốc phòng-
an ninh; xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh”[30, tr54]
Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát trong 5 năm đến là: “Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa tỉnh trở thành tỉnh có công nghiệp và dịch vụ phát triển Phát triển nông nghiệp toàn diện và vững chắc theo hướng sản xuất hàng hóa; phát triển nông nghiệp toàn diện và vững chắc theo hướng hàng hóa…góp phần cùng với Trung ương hình thành khu kinh tế Dung Quất và hoàn thành Nhà máy lọc dầu số 1 Xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm đáp ứng yếu đầu tư phát triển Chăm lo, giải quyết việc làm cho người lao động; cơ bản xóa hết hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo; nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tăng cường quốc phòng- an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương” [30, tr54]
Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi luôn quan tâm đến việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVI xác định:
Trang 36Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công- nông và trí thức; quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên sức mạnh toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước
Mặt trận và đoàn thể các cấp tập trung đổi mới nội dung và phương thức hoạt động đảm bảo đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, phát triển hội, đoàn viên; đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng của quần chúng góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng- an ninh, tích cực tham gia xây dựng Đảng và chính quyền
Mặt trận các cấp tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”; vận động các nguồn lực trong nhân dân đầu tư phát triển kinh tế- xã hội; tổ chức các phong trào tương thân, tương
ái trong nhân dân Liên đoàn Lao động tập trung phát động phong trào công nhân, viên chức thi đua lao động sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới nhằm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao Hội Liên hiệp phụ nữ tiếp tục thực hiện những chương trình công tác của hội và các phong trào; Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc, giúp nhau phát triển kinh tế gia đình, nâng cao đời sống cho phụ nữ, góp phần xóa đói giảm nghèo, xây dựng tổ chức hội vững mạnh, thu hút đông đảo phụ nữ vào hội Hội Nông dân tiếp tục đẩy mạnh phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, nhân rộng các
mô hình kinh tế hộ; tích cực phát động nông dân phấn đấu xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chăm lo kiện toàn tổ chức, giáo dục thế hệ trẻ về mọi mặt, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú để giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp; đồng thời mở rộng và nâng cao chất lượng hai phong trào “thanh niên lập nghiệp và tuổi trẻ giữ nước”, xây dựng các đội hình thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện tham gia phát triển kinh tế- xã hội, nhất là ở miền núi Hội Cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ, tích cực tham gia
Trang 37phát triển kinh tế- xã hội, góp phần xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh
và chăm lo giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ Hội chữ thập đỏ tích cực đẩy mạnh phong trào hoạt động nhân đạo, từ thiện trong nhân dân, vận động mọi tổ chức, mọi người làm nhiều công trình nhân đạo, làm nhiều việc từ thiện Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật ra sức cống hiến nhiều hơn nữa sức lực, trí tuệ của mình cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội tỉnh
“Các cấp ủy Đảng phải thật sự chăm lo đối với công tác dân vận; tập trung kiện toàn bộ máy và cán bộ làm công tác dân vận Chính quyền các cấp phải làm công tác dân vận, phối hợp với các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để các đoàn thể hoạt động Mọi cán bộ, đảng viên phải làm tốt công tác vận động quần chúng và gương mẫu để quần chúng noi theo” [30, tr83]
Thành công của Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi có
ý nghĩa lịch sử trọng đại, mở đường cho tỉnh Quảng Ngãi vững bước tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, với quyết tâm xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Nhất định sẽ xây dựng Quảng Ngãi thành tỉnh có kinh tế- xã hội phát triển, chính trị ổn định, xã hội lành mạnh, hòa cùng nhịp độ phát triển chung của cả nước
Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi quán triệt những nội dung cơ bản của Nghị quyết 07 (khóa IX) của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Tháng 1/ 2003)
“Về phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” Nghị quyết đi chuyên sâu về vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nghị quyết đã đề ra mục tiêu: Củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (năm 2003) đã nêu lên quan điểm:
Trang 38Đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai
Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng, nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Đồng thời, Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra những chủ trương, giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành phần, lấy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ trung tâm; gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái trong từng bước phát triển; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng Tổ chức việc kết nghĩa, giúp đỡ nhau giữa các vùng, các địa phương có kinh tế phát triển với vùng nghèo, miền núi,
Trang 39vùng đồng bào dân tộc thiểu số Phát triển văn hóa, y tế, giáo dục- đào tạo và khoa học- công nghệ, phấn đấu nâng dần độ đồng đều về trình độ dân trí, văn hóa và mức độ hưởng thụ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân các vùng trong nước; giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Một trong những giải pháp để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là phải “Phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền Nhà nước trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc Một luận điểm mới được nêu ra trong Nghị quyết để huy động sức mạnh toàn dân và phù hợp với nguyên vọng nhân dân là: Đối với những vấn đề lớn và đặc biệt quan trọng của đất nước, cần có những hình thức thích hợp để nhân dân tham gia ý kiến Trước khi ban hành những chủ trương chính sách, quan trọng, cần tổ chức chu đáo thiết thực việc lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân có liên quan, bảo đảm để nhân dân có thể thẳng thắn bày tỏ ý kiến Khuyến khích trao đổi, tranh luận với tinh thần xây dựng về những vấn đề có ý kiến khác nhau, tránh chụp mũ, áp đặt Đồng thời, Nhà nước chăm lo đào tạo bồi dưỡng chính trị, nghiệp vụ, giáo dục đạo đức cán bộ cơ quan các cấp, giáo dục cán bộ, công chức xây dựng và thực hiện phong cách “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, phải có thái độ chân thành, tôn trọng dân, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân, không thành kiến phân biệt đối xử với dân Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vị trí, vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc
1.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ năm 2001 đến năm 2005
1.2.1 Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp Chủ nghĩa đế quốc lợi dụng chống khủng
Trang 40bố, bảo vệ dân chủ, nhân quyền dùng sức mạnh quân sự phát động các cuộc chiến tranh xâm lược một số nước trên thế giới Ở trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ và sẵn sàng can thiệp vũ trang nhằm chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam Chúng lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “nhân quyền” để chống phá
ta quyết liệt với mưu đồ thành lập cái gọi là “Nhà nước Đê ga” độc lập ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khơ mer Croom độc lập, tự trị” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông tự trị” ở Tây Bắc,v.v
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra một số diễn biến khá phức tạp Các tổ chức phản động lưu vong phát tán tài liệu có nội dung phản động kêu gọi, tập hợp lực lượng chống lại Nhà nước ta Hoạt động truyền đạo trái pháp luật gia tăng, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đơn khiếu nại đòi lại cơ sở thờ tự của tôn giáo có nhiều diễn biến phức tạp Tranh chấp ruộng đất, khiếu kiện đông người liên quan đến công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định ở một số địa phương, cơ
sở Tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, nhất là mại dâm, ma túy, cờ bạc tăng nhanh Đó là những yếu tố tiềm ẩn làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc chưa vững mạnh, làm ảnh hưởng đến việc tăng cường mở rộng tập hợp các tầng lớp nhân dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, để cùng đồng tâm hiệp lực đến mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Tuy nhiên, khối đại đoàn kết các dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường trên nền tảng của khối liên minh công nông và đội ngũ trí thức Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đại đoàn kết tiếp tục đi vào cuộc sống, ngày càng tập hợp nhiều hơn các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, động viên, phát huy trí tuệ và các nguồn lực để xây dựng và bảo vệ đất nước
và tỉnh nhà
Giai cấp công nhân phát triển cả về chất lượng và số lượng Năng suất
và chất lượng lao động từng bước được cải thiện, hầu hết đều cần cù làm việc,