Bởi vậy, tôi chọn vấn đề: Đảng với quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở ĐBBB 1986 - 2007 làm đề tài Luận văn Thạc sĩ với hy vọng hệ thống hóa đường lối chủ trương của Đảng v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THU HƯƠNG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THU HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS PHẠM HỒNG TUNG
Hà Nội – 2008
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
-
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1
Chương 1: Tầm quan trọng của việc khuyến khích phát triển kinh tế tư
nhân ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ và đường lối của Đảng
về phát triển kinh tế tư nhân 8
1.1 Nông thôn và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB .8
1.1.1 Khái niệm nông thôn, kinh tế nông thôn và kinh tế tư nhân ở nông
thôn 8 1.1.2 Vai trò của ĐBBB trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất
nước 11 1.1.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB là
một nhu cầu khách quan 15
1.2 Đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân 18
Chương 2: Quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
Trang 52.3.1 Thành tựu 98 2.3.2 Hạn chế 102
Chương 3: Một số nhận xét và khuyến nghị rút ra từ quá trình lãnh đạo
phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ 112
3.1 Một số nhận xét 112 3.2 Những khuyến nghị rút ra từ việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB 130
Kết luận 136 Tài liệu tham khảo 138
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn 20 năm qua, những chủ trương, đường lối khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng đã tác động tích cực, đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế đất nước
Cũng trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng luôn đặt vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn lên vị trí hàng đầu Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, trong đó CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được Đảng hết sức quan tâm Xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, để trở thành một nước công nghiệp, Việt Nam không thể không tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Rút kinh nghiệm từ quá trình CNH, HĐH của các nước trên thế giới, Việt Nam hiểu rằng không thể chạy theo mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá
mà bỏ mặc kinh tế nông thôn, cần phải thực hiện phát triển hài hòa, gắn liền CNH, HĐH với nông nghiệp nông thôn, chỉ thực hiện tốt được vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, Việt Nam mới có động lực để cất cánh
Trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở Việt Nam, sự phục hồi và phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng vào CNH, HĐH, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân Bước chuyển từ mô hình kinh tế hợp tác sang mô hình kinh tế tự chủ của hộ gia đình vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã tạo đột phá trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nông thôn Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của đường lối khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần
và công nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân của Đảng Kinh tế tư nhân đã thực
sự trở thành một yếu tố năng động hóa nền kinh tế xã hội nông thôn Và đó cũng thực sự là một động lực khởi động và thúc đẩy sự phát triển của nền
Trang 7kinh tế nhiều thành phần, không chỉ trong nông nghiệp, mà còn trong toàn bộ nền kinh tế đất nước
Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn là vấn đề rất đáng quan tâm nghiên cứu để rút ra những bài học kinh nghiệm cùng những giải pháp phát triển cho nền nông nghiệp Việt Nam, nhất là sau khi nước ta trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ tháng 11/2007
Trong các vùng kinh tế của Việt Nam, ĐBBB giữ vai trò hết sức quan trọng Nông thôn ĐBBB trong lịch sử cũng như hiện tại có nhiều đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế đất nước ĐBBB là cái nôi của nền nông nghiệp Việt Nam, lịch sử hình thành và phát triển của vùng gắn liền với lịch
sử hình thành và phát triển của dân tộc Giữ vị trí chiến lược về kinh tế xã hội,
an ninh quốc phòng, có Hà Nội là thủ đô của cả nước, sự phát triển của ĐBBB có sức lan tỏa và ảnh hưởng rộng lớn tới các vùng kinh tế xung quanh
Có thể nói quá trình phát triển kinh tế của nông thôn ĐBBB mang nhiều nét tiêu biểu và đặc trưng cho nông thôn cả nước
Bởi vậy, tôi chọn vấn đề: Đảng với quá trình lãnh đạo phát triển kinh
tế tư nhân ở ĐBBB (1986 - 2007) làm đề tài Luận văn Thạc sĩ với hy vọng hệ
thống hóa đường lối chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong khu vực nông thôn, nông nghiệp cả nước nói chung và ĐBBB nói riêng; tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế tư nhân của vùng để thấy được tình hình áp dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân
ở nông thôn ĐBBB; từ đó rút ra những nhận xét dưới góc độ lịch sử và một số khuyến nghị về lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở ĐBBB
2 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về kinh tế tư nhân, cũng như tổng thể kinh tế - xã hội nông thôn của các nhà nghiên cứu
Trang 8chủ yếu trên phương diện kinh tế học, với các tác giả và những xuất bản tiêu
biểu như: Nguyễn Sinh Cúc (với Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ Đổi mới (1986 - 2002), Nxb Thống Kê, Hà Nội, 2003), Nguyễn Thanh Tuyền (với Thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong quá trình CNH, HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), Đinh Thị Thơm (chủ biên cuốn Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai tập kỷ đổi mới - thực trạng và những vấn đề, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005), Trần Ngọc Bút (với Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002)
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu tổng kết của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành về kinh tế - xã hội nông thôn, những đánh giá, bình luận trên báo chí, các phương tiện nghe nhìn…
Nghiên cứu trên phương diện lịch sử về vấn đề kinh tế tư nhân và vấn đề kinh tế xã hội nông thôn thời kỳ Đổi mới không có nhiều, tiêu biểu có tác giả
Trương Thị Tiến (với Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999) Bên cạnh đó cũng có một số
luận văn, khóa luận nghiên cứu về các vấn đề trên, đó là Luận văn Thạc sĩ của
Phạm Thị Lương Diệu (người hướng dẫn: Ngô Đăng Tri) với đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân thời kỳ 1991- 2004,
Khóa luận Cử nhân của Vũ Thị Thu Hà (người hướng dẫn: Nguyễn Huy Cát)
với đề tài Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát triển kinh tế 5 năm sau ngày tái lập tỉnh 1997 - 2001 Tuy nhiên, những công trình đã xuất bản, các đề tài,
luận văn đã công bố, hầu như là những nghiên cứu tổng thể, ở tầm vĩ mô, hoặc nghiên cứu một vài khía cạnh của kinh tế nông thôn ở tầm quốc gia, hoặc nghiên cứu riêng về một địa phương nhưng lại mang tầm bao quát, chưa
có nghiên cứu cụ thể trên phương diện lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn cả nước, cũng như ở phạm vi vùng kinh tế
Trang 9Vì vậy, thực hiện đề tài này, tác giả tập trung vào vấn đề hệ thống những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân ở nông thôn cả nước nói chung và ĐBBB nói riêng, dựng nên bức tranh toàn cảnh của tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB, góp một phần nhỏ vào tổng thể những nghiên cứu chung về kinh
tế xã hội ĐBBB, về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân trong nông thôn ĐBBB nói riêng và cả nước nói chung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc hệ thống hóa đường lối, chủ trương phát triển kinh tế nông thôn nói chung, kinh tế tư nhân ở nông thôn nói riêng của Đảng; một số chỉ đạo điển hình của Đảng bộ các địa phương ĐBBB về phát triển kinh tế tư nhân, tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB nhằm mục đích:
(1) Làm rõ chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư
nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB, sự lãnh đạo của đảng bộ, chính quyền các địa phương ĐBBB đối với kinh tế tư nhân (2) Phân tích tác động của những đường lối, chủ trương của Đảng,
sự lãnh đạo của đảng bộ và chính quyền các địa phương ĐBBB đối với kinh tế tư nhân ở nông thôn trong vùng
(3) Từ việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân
của Đảng ở nông thôn ĐBBB, rút ra một số nhận xét và khuyến nghị
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trong việc xác định quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB trong thời kỳ từ năm 1986 đến 2007
Trang 10Sự phát triển của kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB có mối tương quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau, song Luận văn chỉ dừng lại nghiên cứu những đường lối - chủ trương của Đảng khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong khu vực nông thôn qua các văn kiện Đảng; một số vấn
đề cơ bản trong lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở ĐBBB; quá trình thực hiện các chủ trương - đường lối khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong nông thôn ĐBBB dưới tác động của những chủ trương, đường lối của Đảng
Về mặt thời gian, Luận văn nghiên cứu đường lối, sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế tư nhân ở nông thôn ĐBBB trong thời kỳ 1986 -
2007 Tuy nhiên, trong năm 2008, Trung ương Đảng khóa X đã ra một số chủ trương, đường lối mới, rất quan trọng về vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn Bởi vậy, để đảm bảo tính logic chúng tôi vẫn đề cập đến những chủ trương, chính sách đó với mục đích phác họa đầy đủ hơn bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vấn đề phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứu về vấn đề Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân
ở nông thôn còn là vấn đề khá mới mẻ Hiện tại chưa có số liệu thống kê chính thức nào về hoạt động của thành phần kinh tế tư nhân ở nông thôn (ví
dụ như số lượng doanh nghiệp đang hoạt động ở địa bàn nông thôn, số lượng
cơ sở kinh doanh cá thể hoạt động ở nông thôn…) Chủ trương, đường lối của Đảng thường là về phát triển kinh tế tư nhân nói chung, áp dụng cho mọi khu vực (cả nông thôn và thành thị), đường lối phát triển kinh tế xã hội nông thôn cũng là đường lối tổng thể chung cho cả nước Về phía đảng bộ và chính quyền tỉnh, hầu như chưa có chính sách cụ thể và riêng rẽ về đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, chỉ có những chính sách nhằm khuyến khích, thúc đẩy phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung Đây là một khó khăn về tư liệu
Trang 11khi tổng hợp và hệ thống các quan điểm, đường lối về phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn của Đảng
Tài liệu phục vụ nghiên cứu là văn kiện các Đại hội Đảng và nghị quyết của Trung ương, Ban Bí Thư Trung ương từ năm 1986 đến nay, các nghiên cứu trên phương diện kinh tế về kinh tế tư nhân, nghiên cứu về kinh tế xã hội nông thôn đã xuất bản, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về kinh tế xã hội Đồng bằng Sông Hồng, các bài viết trên các báo, tạp chí về vấn
đề kinh tế tư nhân, nông nghiệp nông thôn, và kinh tế xã hội nông thôn ĐBBB, các báo cáo tổng kết, tài liệu phỏng vấn… Tuy nhiên, việc tham khảo chi tiết và nghiên cứu sâu sắc về quá trình cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, của đảng bộ và chính quyền địa phương trong từng tỉnh cụ thể ở khu vực ĐBBB đòi hỏi sự đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chỉ có điều kiện tham khảo và trình bày vấn đề này ở mức độ chung nhất và trong từng trường hợp cụ thể
Chính vì vậy, về mặt phương pháp, cùng với những phương pháp nghiên cứu cơ bản (phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), phương pháp tiếp cận trên phương diện kinh tế học và xã hội học lịch sử, phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, chúng tôi có sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp để nghiên cứu về vấn đề đảng bộ và chính quyền các địa phương ĐBBB chỉ đạo thực hiện những đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
6 Đóng góp của Luận văn
Luận văn hy vọng có những đóng góp nhỏ vào việc hệ thống hóa quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
và làm sáng tỏ quá trình thực hiện những chủ trương của Đảng khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB thông qua việc:
Trang 12- Phác họa những quan điểm, chủ trương của Đảng về vấn đề phát triển kinh
tế tư nhân ở khu vực nông thôn
- Làm rõ một số văn kiện đề cập tới vấn đề phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
- Điểm qua tình hình phát triển kinh tế tư nhân ở ĐBBB dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Góp phần rút ra những bài học thực tiễn từ quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB
7 Kêt cấu cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Tầm quan trọng của việc khuyến khích phát triển kinh tế tư
nhân ở ĐBBB và đường lối của Đảng về phát triển kinh tế
tư nhân
Chương 2: Quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn
ĐBBB Chương 3: Một số nhận xét và khuyến nghị rút ra từ việc nghiên cứu
quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB
Trang 13CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 Nông thôn và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB
1.1.1 Khái niệm nông thôn, kinh tế nông thôn và kinh tế tư nhân ở nông thôn
Nông thôn là khu vực dân cư tập trung, chủ yếu làm nghề nông, phân biệt với thành thị [88, tr 676] Ở Việt Nam, khái niệm nông thôn thường gắn
liền với nông dân, nông nghiệp
Về mặt địa lý, nông thôn là một địa bàn rộng lớn bao quanh đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn…) Về mặt xã hội, thành phần đa số ở nông thôn là nông dân, sinh sống theo các đơn vị làng, thôn, xóm, có gắn bó mật thiết với nhau
về quan hệ họ hàng và quan hệ láng giềng Trên thế giới những nước có trình
độ phát triển khác nhau thì tỷ lệ dân số ở nông thôn cũng khác nhau Những nước có nền kinh tế phát triển thường có tỷ lệ dân số nông thôn thấp hơn những nước có nền kinh tế kém phát triển So với thành thị, nông thôn có hệ thống cơ sở hạ tầng (cầu cống, đường xá, điện, nước sạch…) và các điều kiện phúc lợi khác nhưu giáo dục, y tế, … thấp kém hơn Thu nhập cá nhân và trình độ dân trí ở nông thôn cũng thấp hơn thành thị Nông thôn là vùng nguyên liệu, nguồn lao động dồi dào cung cấp cho công nghiệp, cho thành thị,
và cũng là thị trường rộng lớn để tiêu thụ, trao đổi hàng hóa với các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân
Kinh tế nông thôn “là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệp, cùng với
Trang 14các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ…tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân” [44, tr 484] Theo đó, kinh tế nông thôn
không chỉ có nông nghiệp, mà còn bao gồm cả những ngành lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Kinh tế nông thôn tuy dựa trên cơ sở chủ yếu là nông nghiệp, nhưng sự phát triển của nó là sự phát triển một cách tổng thể, đa ngành, đồng bộ của tất cả các ngành nghề khác ở nông thôn
Kinh tế nông thôn là một bộ phận của nền kinh tế xã hội, do vậy, cơ cấu kinh tế nông thôn cũng bao gồm cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu sinh thái và vùng lãnh thổ
Về cơ cấu ngành, kinh tế nông thôn có ba ngành cơ bản là nông nghiệp
(theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi); lâm nghiệp và ngư nghiệp (ba ngành này còn gọi là nông nghiệp mở rộng), các ngành này có nhiệm vụ bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Bên cạnh các ngành cơ bản, công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ mật thiết cho phát triển nông nghiệp, là một ngành quan trọng của kinh tế nông thôn Trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, công nghiệp nông thôn không chỉ dừng lại ở công nghiệp chế biến, mà còn bao gồm cả cơ khí sửa chữa máy móc nông nghiệp, thủy lợi, các cơ sở sản xuất sắt, thép, vật liệu xây dựng phục vụ nông nghiệp Ngoài ra, công nghiệp nông thôn còn bao gồm một bộ phận tiểu thủ công nghiệp với nhiều trình độ công nghệ khác nhau, như nghề mây tre đan, mộc, sơn mài, thêu, làm giấy, đúc… Để phục vụ, cung cấp hàng hóa tiêu dùng, nguyên vật liệu sản xuất trong nông thôn, hoặc lưu thông hàng hóa, sản phẩm trong nông thôn, kinh tế nông thôn còn có các loại hình dịch vụ thương
Trang 15nghiệp, tín dụng, tư vấn….Các loại hình dịch vụ này cùng với kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) là những bộ phận hợp thành quan trọng của kinh
tế nông thôn, là biểu hiện của trình độ phát triển kinh tế nông thôn Các ngành kinh tế trong nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn nói chung
Về cơ cấu thành phần kinh tế, hiện nay nước ta phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, vì vậy, cơ cấu thành phần kinh tế ở nông thôn nước ta cũng
là cơ cấu nhiều thành phần bao gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân (kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân) và kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài Trong đó, kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, biểu hiện ở
các nông, lâm trường quốc doanh, các trạm, trại kỹ thuật, kết cấu hạ tầng nông thôn…Kinh tế Nhà nước ở nông thôn có toàn bộ các ngành nghề cơ bản như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; biểu hiện chủ yếu là chi nhánh ngân hàng, trại giống, cửa hàng thương nghiệp, trạm sửa chữa…là những bộ phận không thể thiếu được, là cơ sở, điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông
thôn Kinh tế tập thể cũng có ở hầu hết các ngành nghề sản xuất ở nông thôn,
biểu hiện rõ nét nhất là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh HTX Kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước được xác định là nền tảng của kinh tế nông thôn
Trong quá trình đổi mới đất nước, một thành phần kinh tế đang ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ, là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
hàng hóa ở nông thôn, đó là kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân (theo quan điểm
của Hội nghị trung ương 5 Khóa IX) bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh
tế tư bản tư nhân đang góp vai trò ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế
đất nước nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng Kinh tế cá thể, tiểu chủ có
mặt ở tất cả các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn…Thành phần kinh tế này biểu hiện chủ yếu ở mô
Trang 16hình kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống, kinh tế trang trại nông nghiệp, kinh tế tiểu chủ trong công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ… Tỷ trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ trong nông thôn nước ta hiện nay tương đối lớn Vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn là phải quan tâm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn theo hướng kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế tư bản tư nhân ở nông thôn bao gồm
các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hoạt động trong tất cả các lĩnh vực từ sản xuất (chế biến nông sản, công nghiệp…) đến thương mại, dịch vụ, tư vấn…
Để phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam hiện đại, vấn đề đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể là các hình thức của kinh tế cá thể, tiểu chủ, tiêu biểu là kinh tế hộ gia đình (sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ), kinh tế trang trại, các loại hình doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp sản xuất, thương mại - dịch vụ… là hết sức quan trọng, bởi thành phần kinh tế này có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người lao động, bảo đảm ổn định đời sống dân cư nông thôn, tạo điều kiện giải phóng sức lao động, tận dụng được thế mạnh của từng khu vực, từng địa phương, góp phần làm cho nền kinh tế xã hội phát triển vững mạnh
1.1.2 Vai trò của ĐBBB trong sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước
ĐBBB là nơi hình thành và phát triển của dân tộc Việt, là cái nôi của văn hóa Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử ĐBBB hiện nay là trung tâm kinh
tế - văn hóa quan trọng của cả nước
Vùng ĐBBB theo sự phân chia đơn vị hành chính năm 1996 bao gồm 9 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà
Trang 17Nam, Thái Bình, Ninh Bình và Hải Phòng Đến năm 2000, trong phân vùng kinh tế của nhà nước có sáp nhập thêm tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Vĩnh Phúc vào vùng ĐBBB Tiếp theo, đến tháng 9/2005, Bộ Chính trị đã họp và ra Nghị
quyết 54 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh vùng ĐBBB đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, có xác định ĐBBB bao gồm 12 tỉnh, thành phố là: Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Sau ngày 8 tháng 11 năm 2008, Hà Nội và Hà Tây sáp nhập làm một, thì ĐBBB hiện tại chính thức bao gồm 11 tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc [45] ĐBBB là một trong 3 tiểu vùng của Miền Bắc Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc Bộ và Vùng Tây Bắc Bộ)
Về phương diện địa lý, ĐBBB là vùng đất màu mỡ, được hình thành do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Hai hệ thống sông này đổ ra Vịnh Bắc Bộ qua hơn 10 cửa sông ĐBBB nằm ngay cạnh đường phía Nam của chí tuyến Bắc, giữa vĩ độ 22o00‟ và 21o30‟ Bắc và kinh độ
105o30‟ và 107o00‟ Đông ĐBBB có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, giao lưu kinh tế với các vùng khác trong nước cũng như nước ngoài Phía Bắc và phía Tây tiếp giáp hoàn toàn với vùng Đông Bắc
và Tây Bắc, phia Nam tiếp giáp với vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, phía Đông tiếp giáp với biển Đông
ĐBBB có thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh, đối ngoại của cả nước; có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời mang đậm đà bản sắc dân tộc; nhiều danh lam thắng cảnh và những di tích lịch sử gắn liền với những chiến công hào hùng, oanh liệt trong suốt quá trình đấu
Trang 18tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc; gắn liền với tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Bởi vậy, ĐBBB có tiềm năng to lớn và nhiều lợi thế vượt trội so với nhiều vùng kinh tế khác
Ngoài thế mạnh về vị trí địa lý, hành chính, lịch sử, ĐBBB còn có những tiềm năng riêng, tạo nên ưu thế của vùng
Thứ nhất phải kể đến, đó là thế mạnh về con người: vùng ĐBBB có
nguồn nhân lực lớn, trình độ dân trí cao, tập trung đội ngũ trí thức giỏi, nhân dân có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo Vùng đã tập trung khoảng 26% số cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học, 72% số cán bộ có trình độ trên đại học, 23,6% lực lượng lao động kỹ thuật của cả nước Có gần 100 trường cao đẳng, đại học, 70 trường trung học chuyên nghiệp, 60 trường công nhân
kỹ thuật và 40 trường dạy nghề; hàng trăm viện nghiên cứu chuyên ngành, trong đó có nhiều viện đầu ngành, hơn 20 bệnh viện đầu ngành, là một trong
ba trung tâm y tế chuyên sâu của cả nước; 100% số tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi quy định (mục tiêu cả nước là đến năm 2010) Thực tế cho thấy, vùng ĐBBB dẫn đầu các vùng trong cả nước về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng nghiên cứu triển khai khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân [40]
Thứ hai, thế mạnh về vị trí địa lý: ÐBBB giữ vai trò cửa ngõ phía bắc
của Tổ quốc; hệ thống giao thông hiện có như: mạng lưới đường bộ, đường sông, đường biển, đường hàng không, đường sắt, cảng biển Hải Phòng, cảng hàng không quốc tế sân bay Nội Bài (Hà Nội), là những đầu mối nối liền giữa ĐBBB với các vùng kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ giao lưu với các nước trong khu vực và thế giới Ðịa bàn ĐBBB lại "cận kề" với nước bạn Trung Quốc (thị trường to lớn của cả thế giới) và cách không xa các nước vùng Ðông - Bắc Á
Trang 19Thứ ba, thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên: Trước hết, ở đây có các
vùng sinh thái đa dạng, có cả đồng bằng, trung du và miền núi; có đồng ruộng màu mỡ với đồng bằng châu thổ sông Hồng Những vùng sinh thái phong phú như vậy là điều kiện cơ bản để phát triển nền sản xuất hàng hóa nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện Nhờ đó, ĐBBB được mệnh danh là vựa lúa; hằng năm, tổng sản lượng lương thực có hạt, thực phẩm và nhiều loại nông sản khác đứng thứ hai của cả nước (sau đồng bằng sông Cửu Long); đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an ninh lương thực và hàng hóa nông sản xuất khẩu Trong vùng có một số tài nguyên khoáng sản với trữ lượng rất lớn như: than
đá chiếm, cao lanh chiếm, đá vôi
Thứ tư, thế mạnh về du lịch: Vùng ĐBBB còn có tiềm lực lớn để phát
triển mạnh ngành kinh tế du lịch Phía đông vùng giáp vịnh Bắc Bộ, có tài nguyên du lịch biển đặc sắc với nhiều bãi biển đẹp, cảnh quan nổi tiếng Trong vùng có động Hương Tích, được mệnh danh "thiên nam đệ nhất động",
Ao Vua, Suối Hai, Tam Cốc, Bích Ðộng, Côn Sơn, Phố Hiến, Ðó là những
cơ sở để phát triển kinh tế du lịch đa dạng, phong phú, tạo sức hấp dẫn thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước, ngoài nước đến tham quan
Thứ năm, thế mạnh về ngành nghề truyền thống: ĐBBB là vùng tập
trung phần lớn làng nghề truyền thống của cả nước Trong vùng còn bảo lưu
và nhiều ngành nghề truyền thống, với nhiều làng chuyên nghề khác nhau, có làng buôn, làng làm đồ gốm, làng dệt, làng đúc đồng…
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế sẵn có, ĐBBB cũng tồn tại nhiều đặc điểm hạn chế đó là đất chật người đông, còn lưu giữ nhiều yếu tố tàn dư của lịch sử như tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, kinh tế nông thôn mang tính chất tự cấp tự túc, là những tác nhân kìm hãm sự phát triển của vùng
ĐBBB là một trong những vùng kinh tế lớn và là vùng nông nghiệp quan trọng hàng đầu của cả nước Đây là vùng sản xuất nhiều loại nông sản, thực
Trang 20phẩm đồng thời bao quanh tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc Do vậy, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở vùng ĐBBB có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của các địa phương thuộc vùng nói riêng và cả nước nói chung
1.1.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn ĐBBB là một nhu cầu khách quan
Kể từ khi có các chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề nông thôn, kinh tế trang trại, tiêu thụ sản phẩm và nhiều chủ trương, chính sách khác của Nhà nước, đến nay, nông nghiệp nước ta nói chung và vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng đã có bước phát triển quan trọng Sản lượng lương thực mỗi năm đều tăng hơn một triệu tấn, xuất khẩu ổn định hơn ba triệu tấn gạo, trong khi diện tích lúa giảm dần
và được chuyển đổi cơ cấu theo hướng thâm canh, tăng vụ màu, nuôi trồng thuỷ sản, phát triển chăn nuôi, xây dựng hệ thống VAC bền vững tăng giá trị trên một ha đất nông nghiệp
Trong 6 năm từ 2001 – 2006, vùng ĐBBB có tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10,5% gấp 1,4 lần mức bình quân của cả nước [45] Cơ cấu kinh tế của vùng đã chuyển nhanh theo hướng công nghiệp - dịch vụ, nông nghiệp Đặc biệt, tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nói chung có tốc độ chuyển dịch cao, ngay cả trong nội bộ của ngành Công nghiệp nông thôn đã ngày càng phát huy tác dụng, đặc biệt là công nghiệp cơ khí phục vụ cho sản xuất
và chế biến nông, lâm, thủy sản ở các tỉnh và thành phố như Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Nội…bám sát được nhu cầu không chỉ của Vùng mà còn của một số tỉnh lân cận và thị trường Trung Quốc
HTX nông nghiệp kiểu mới được chuyển sang dịch vụ (đạt tỷ lệ hơn 80%) và thế hệ nông dân tiên tiến kiểu mới (hơn 8,5 triệu lượt hộ được tuyên
Trang 21dương nông dân sản xuất giỏi), trong số đó nhiều hộ đạt thu nhập 30 - 50 triệu đồng/hộ/năm nơi nào cũng có, góp phần xoá đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới [58]
Năm 2002, mức thu nhập bình quân nông dân ĐBBB đạt khoảng 5 triệu đồng/năm; tổng thu nhập trên một ha đất canh tác khoảng 28-30 triệu đồng/ha/năm (trong đó Thành phố Hà Nội 37 triệu, Hà Tây 30 triệu, Thái Bình 32 triệu, Nam Định 36 triệu, Hải Phòng 38 triệu, Hưng Yên 34, Hải Dương 31 triệu đồng, trong khi trung bình cả nước 17 triệu đồng) [58]
Theo báo cáo của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh trong vùng và khảo sát của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì ở vùng ĐBBB đã có một số mô hình đạt 50 triệu đồng/ha/năm như: mô hình huyện Gia Bình (Bắc Ninh), Từ Liêm (Hà Nội), Anh Lão (Hải Phòng); mô hình xã, HTX có khoảng 50 đơn vị như: Quỳnh Nhai, Thuỵ An (Thái Bình); Hải Xuân, Hải Lăng, Nam Dương, Cốc Thành, La Xuyên, Vũ Lễ, Vân Trường (Nam Định); Phù Vân, Yên Bắc, Đồng Hoá (Hà Nam); Tân Dĩnh (Bắc Giang); Võng Xuyên (Hà Tây); Gia Xuyên, Thạch Khôi, Nhật Tân, Đồng Gia, Đức Chính, Cẩm Sơn (Hải Dương); Phụng Công, Mễ Sở, Bình Minh (Hưng Yên), Chiến Thắng, An Hồng, Đại Bản (Hải Phòng), Tiền Phong, Thổ Tang (Vĩnh Phúc), Tây Tựu, Tầm Xá, Tiên Dương, Duyên Hà, Đông Dư, Văn Đức (Hà Nội) Mô hình cánh đồng đạt 50 triệu đồng/hộ/năm khoảng 10% số hộ (350 nghìn hộ nông dân trong tổng số 3,5 triệu hộ) [58] Tuy nhiên, bên cạnh đó, ĐBBB vẫn còn rất nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế và thực hiện CNH, HĐH Kinh tế của vùng nhìn chung phát triển chậm Nông nghiệp vẫn là ngành giữ vị trí trọng yếu nhất của cơ cấu kinh tế vùng, chiếm 73% việc làm và 35% GDP Tốc độ tăng trưởng của vùng có cao, bình quân mỗi năm có tăng, song GDP đầu người/năm vẫn còn rất thấp mà nguyên nhân là do đất chật, người đông, khả
Trang 22năng tích lũy vốn trong nội bộ rất hạn chế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn chậm Cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ ở nông thôn của vùng nhìn chung còn lạc hậu Cư dân ĐBBB đại bộ phận là nông dân, do trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật, nhịp độ tăng trưởng, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm, nên thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn Trong khi đó, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp nhất cả nước (540 m2/người); lao động dôi
dư thiếu việc làm hơn 10%/năm; quỹ đất nông nghiệp tiếp tục giảm nhanh (kể
cả đất lúa xấu và đất lúa tốt), môi trường bị ô nhiễm (do thâm canh, phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hoá ), thu nhập bình quân của hộ nông dân thấp nên khả năng đầu tư hạn chế, hệ thống canh tác truyền thống là thuần nông, tâm lý bao cấp nặng nề [58]
Nông thôn ĐBBB cũng xảy ra tình trạng chung của nông thôn cả nước,
đó là tỷ lệ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo còn cao, đời sống của dân cư nông thôn còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiều năm trở lại đây, sản xuất nông nghiệp đã có nhiều tiến bộ lớn về năng suất và chất lượng, nhưng về cơ bản vẫn chưa tiến kịp so với chất lượng hàng hóa nông sản nước ngoài (ví dụ Thái Lan, Mỹ…), do vậy giá cả nông sản hàng hóa rẻ, dẫn đến tình trạng dư thừa sản phẩm theo mùa vụ còn phổ biến, nhiều địa phương cung vượt cầu, nhưng sản phẩm lại chưa đáp ứng chất lượng để xuất khẩu…Từ đó dẫn đến thu nhập của người dân so với công sức lao động bỏ ra không được bao nhiêu, đời sống tuy có cải thiện, nhưng về cơ bản vẫn còn khó khăn chồng chất Lý do cơ bản
là sự phát triển kinh tế nông thôn theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra còn chậm, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh ở nông thôn đang trên con đường định hình, nhưng rất mờ nhạt, trong đó kinh tế
hộ, kinh tế trang trại chưa ổn định, chưa có nhận thức đầy đủ về các loại thị
Trang 23trường, các loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là các loại hình thuộc về kinh tế tư nhân
Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn tới tình trạng trên đó là dân
cư nông thôn ĐBBB mang đậm tính chất thuần nông, hầu hết vẫn lấy công làm lãi trên mảnh ruộng manh mún Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lao động trong nông nghiệp, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn mặc dù so với nhiều vùng trong cả nước có cao hơn nhưng so với yêu cầu của chuyển dịch
cơ cấu kinh tế vẫn còn lạc hậu Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ và độ rủi ro cao, lại thiếu vốn, sự hợp tác giúp đỡ từ phía Nhà nước, ngân hàng đối với lĩnh vực này còn yếu…
Để kinh tế nông thôn ĐBBB phát triển hơn nữa, cần phải năng động hóa khu vực kinh tế này, cụ thể là phải huy động được mọi nguồn lực từ chính trong dân cư nông thôn bằng việc đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân ở khu vực nông thôn Vì thế, phát triển mạnh kinh tế tư nhân, bao gồm kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, các loại hình doanh nghiệp sản xuất, thương mại, dịch vụ trong nông thôn là yêu cầu khách quan, cần thiết
1.2 Đường lối của Đảng về kinh tế tư nhân
Phạm vi kinh tế tư nhân theo quan điểm của Đảng: Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 5 Khóa IX (số 14-NQ/TW ngày 18/03/2002) về tiếp tục đổi mới
cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân
đề cập đến kinh tế tư nhân bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế tư nhân hoạt động dưới hình thức
hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân Kinh tế tư nhân tham gia vào tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp và các loại hình dịch vụ khác
Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay Đảng đã có những chuyển quan trọng trong tư duy về phát triển kinh tế tư nhân Để thấy rõ được những
Trang 24đổi mới lớn lao trong tư duy của Đảng từ năm 1986, cần nhìn lại quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân thời kỳ trước Đổi mới, từ khi đất nước giành được độc lập cho đến trước năm 1986
* Thời kỳ 1945 - 1954: Trước khi miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội
Sau sự Cách mạng Tháng Tám - 1945 thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn thể nhân dân ta xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước của dân - do dân - vì dân đầu tiên của người Việt Nam Sau ngày độc lập (02/09/1945), thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, một lần nữa Đảng lãnh đạo toàn thể nhân dân tiếp tục đứng lên chống lại ách xâm lược lần thứ hai của chúng
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Đảng đã lãnh đạo xây dựng nền kinh tế kháng chiến có tính chất dân chủ nhân dân, có khả năng tự túc, tự cấp, vừa đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc kháng chiến, vừa từng bước cải thiện đời sống của quân đội, cán bộ và nhân dân, để phục vụ cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài chống lại thực dân Pháp
Đảng xác định nền kinh tế kháng chiến là nền kinh tế nhiều thành phần, tất cả đều hướng đến phục vụ cuộc kháng chiến của cả dân tộc Tuy nhiên, trong nền kinh tế này vẫn thể hiện tính ưu việt của Nhà nước mới, Nhà nước của dân do dân vì dân, thể hiện ở việc Đảng và Chính phủ đã cải cách dần dần
để sửa đổi chế độ ruộng đất ở nông thôn như tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian đem chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng; tạm cấp ruộng đất vắng chủ; giảm tô, giảm tức và chia lại ruộng công cho hợp lý [1, tr
62 - 63] Những cải cách bước đầu của Đảng về chế độ ruộng đất đã đưa người nông dân thực sự lên địa vị làm chủ, thúc đẩy họ tích cực sản xuất trên mảnh ruộng của mình Có thể nói rằng trong thời kỳ này, sản xuất chủ yếu
Trang 25thuộc vào bộ phận kinh tế tư nhân Kinh tế nhà nước mới chỉ đang trong giai đoạn hình thành ban đầu
*Thời kỳ 1954 – 1975: Thời kỳ miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng thắng lợi Điện Biên Phủ vĩ đại, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Sau Hiệp định Giơnevơ, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Miền Nam do ngụy quyền cùng thực dân Pháp tiếp tục thống trị Ở Miền Bắc, Đảng lãnh đạo nhân dân khôi phục và phát triển kinh tế, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chuẩn bị nhân lực và vật lực để sẵn sàng cho cuộc chiến đấu nhằm thống nhất nước nhà
Một nhân tố góp phần không nhỏ tới chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1954 là việc Đảng tiến hành vận động giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất (bắt đầu từ năm 1953) Những đợt đầu tiên của cải cách ruộng đất đã tăng cường bồi dưỡng lực lượng nông dân lao động, đẩy mạnh sản xuất, phục vụ kháng chiến
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, cuộc cải cách ruộng đất lại tiếp tục được tiến hành Tổng cộng trong thời gian 3 năm 10 tháng (kể từ năm
1953 đến khi hoàn thành năm 1956), ở miền Bắc nước ta đã tiến hành 8 đợt giảm tô và 5 đợt cải cách ruộng đất [43, tr 138] Mặc dù cải cách ruộng đất đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng kéo dài, song qua cải cách, ruộng đất
đã được phân chia lại tương đối đồng đều giữa các hộ nông dân, đông đảo nông dân nghèo từ chỗ thiếu ruộng nay đã có đủ ruộng canh tác, tự sản xuất độc lập, tạo tiền đề khách quan cho việc củng cố vai trò kinh tế của hộ nông dân
Trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, song song với việc chia ruộng đất cho nông dân, tháng 5/1955, Chính phủ đã ban hành 8 chính sách
Trang 26khuyến khích sản xuất nông nghiệp, trong đó bảo đảm quyền sở hữu, bảo hộ tài sản nông dân và các tầng lớp khác Vào thời điểm này, kinh tế quốc doanh còn nhỏ, kinh tế hợp tác chưa phát triển, tham gia lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế xã hội chủ yếu là kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể Tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ phát triển rất nhanh cả ở nông thôn và đô thị, cuối năm 1957 lực lượng này đã có 78.456 cơ sở buôn bán với 23.0000 người; lực lượng thợ thủ công lên tới 50.000 người [43, tr 139] Nhờ chính sách tạo điều kiện và phát huy được sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần kinh tế, mà công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế mang lại những kết quả tốt đẹp
Bước sang những năm 1958 - 1960, sau 3 năm tiến hành khôi phục kinh
tế, Đảng lãnh đạo toàn thể nhân dân miền Bắc bước vào thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, cải tạo nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chủ yếu bao gồm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh là đối tượng trực tiếp của cuộc cải tạo này Cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp được coi là khâu chính Mùa thu năm 1958, đợt thí điểm đầu tiên về hợp tác hóa nông nghiệp được tiến hành Cho đến tháng 11/1960, miền Bắc đã xây đựng dược 41.401 HTX (HTX) với 86% số hộ nông dân, chiếm 76% diện tích đất canh tác, trong đó
có 12% số hộ nông dân vào HTX bậc cao Đồng thời với hợp tác hóa nông nghiệp, ở miền Bắc còn thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, đưa tư sản, tiểu thương, tiểu chủ vào công tư hợp doanh hoặc các xí nghiệp hợp tác, xóa bỏ giai cấp tư sản, cải tạo nhà tư sản thành người lao động Tới cuối năm 1960, đã có 97% số hộ tư sản vào công tư hợp doanh, đồng thời 87% số thợ thủ công và 45% những người buôn bán nhỏ đã vào HTX [43, tr 148]
Trang 27Bước vào thời kỳ 1965 - 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo toàn dân đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng nghĩa với đẩy mạnh phát triển HTX ở nông thôn và kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể ở đô thị
Không thể phủ nhận kết quả cải tạo xã hội chủ nghĩa đã có tác động tích cực trong việc xóa bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người, góp phần thúc đẩy tinh thần sản xuất của nhân dân lao động trong hoàn cảnh chiến tranh Tuy nhiên qua cải tạo xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân không còn chỗ đứng, làng nghề truyền thống bị triệt tiêu, mầm mống của nền kinh tế hàng hóa bị dập tắt
*Thời kỳ 1975 - 1985: Đất nước thống nhất, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa được tiến hành trên cả nước
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/04/1975), một thời kỳ phát triển mới mở ra trong điều kiện hòa bình và thống nhất nước nhà Đảng lãnh đạo cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh có nhiều khác biệt
và chênh lệch giữa điều kiện kinh tế xã hội của hai miền Nam Bắc Trong khi
ở miền Bắc kinh tế chủ đạo là kinh tế quốc doanh, thì ở miền Nam, nền kinh
tế hàng hóa đang bắt đầu phát triển, kinh tế cá thể chiếm đa số, chủ nghĩa tư bản đang dần dần hình thành Trước tình hình đó, trong Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa III đã họp (tháng 9/1975) Đảng đã đề
ra chủ trương trong một thời gian nhất định ở miền Nam còn nhiều thành phần kinh tế
Tuy nhiên đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng lại đề ra
chủ trương “Xây dựng kinh tế quốc doanh vững mạnh, nhanh chóng chiếm ưu thế trong sản xuất và lưu thông phân phối Đối với xí nghiệp tư bản tư doanh phải cải tạo xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng con đường công tư hợp doanh…xóa bỏ ngay thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, chuyển phần lớn tiểu
Trang 28thương sang sản xuất hàng hóa Mục tiêu đến năm 1980 căn bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh phía Nam”[34]
Có thể nói chủ trương của Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã chính thức khai trừ kinh tế tư nhân khỏi cơ cấu kinh tế xã hội miền Nam Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam cũng được tiến hành mạnh mẽ
Cho đến năm 1980, về mặt pháp lý kinh tế tư bản tư nhân ở miền Nam về
cơ bản là hoàn toàn bị xóa bỏ, theo thống kê “chỉ còn lại 6% cơ sở và 5% giá trị sản lượng Trong tiểu thủ công nghiệp đã có 70% lao động chuyên nghiệp
đi vào con đường làm ăn tập thể Trong thương nghiệp, 5000 hộ tư sản, 9 vạn
hộ tiểu thương sang sản xuất, sử dụng 15000 lao động vào mạng lưới thương nghiệp xã hội chủ nghĩa” [89, tr 36] Tính đến tháng 07/1980, toàn miền Nam
đã tổ chức được 1528 HTX và 9530 tập đoàn sản xuất, thu hút 35,6% số nông
hộ vào con đường làm ăn tập thể Trong công nghiệp hơn 3560 cơ sở tư bản
tư doanh với 250000 công nhân đã được cải tạo bằng các hình thức: xí nghiệp quốc doanh 1534 cơ sở với gần 130000 công nhân bằng 34% số cơ sở, 35 % công nhân và gần 65% giá trị sản lượng; xí nghiệp công tư hợp doanh 489 cư
sở, chiếm 14,5% sô cơ sở, 5,5% công nhân, 15% giá trị sản lượng; xí nghiệp hợp tác gia công đặt hàng 1600 cơ sở với 70000 công nhân [80, tr 45 - 50]
Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung chính thức được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ đất nước, thế nhưng, thực tế lại cho thấy kinh tế tư nhân vẫn tồn tại và có những đóng góp quan trọng vào việc đảm bảo đời sống hàng ngày của người dân, và rộng hơn nữa là có những đóng góp quan trọng trong việc cung cấp hàng hóa cho sản xuất và tiêu dùng của xã hội
Trong nông nghiệp, theo quy định, các hộ nông dân sau khi đã vào HTX chỉ được để lại 5% diện tích đất đai để làm “kinh tế phụ gia đình”, 95% ruộng đất còn lại đưa vào HTX quản lý Tuy nhiên, chính phần “ruộng đất phần
Trang 29trăm” này lại đem lại thu nhập chủ yếu cho người nông dân Theo tổng kết của Ban Nông nghiệp Trung ương vào thời điểm năm 1985, “kinh tế phụ gia đình” đã đem lại cho các hộ nông dân hơn 70% thu nhập, trong khi 95% diện tích ruộng đất do HTX quản lý kia chỉ đem lại cho họ chưa đầy 30% thu nhập [62, tr 48]
Vào thời điểm hợp tác hóa cao nhất ở miền Bắc, số hộ làm ăn cá thể vẫn còn khoảng 14% Ở miền Nam, do “phong trào hợp tác hóa” xây dựng đi xây dựng lại nhiều lần mà vẫn tan vỡ, cho nên tỷ lệ số hộ làm ăn cá thể cao hơn so với miền Bắc
Vào cuối thập nhiên 70, đặc biệt là thập niên 80 của thế kỷ XX, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng Cơ chế làm ăn tập thể khiến cho người lao động không còn động lực làm việc Sản xuất trì trệ, đình đốn Theo nhận định của Đại hội Đảng lần thứ V (1982), nền kinh tế quốc dân
xảy ra tình trạng mất cân đối trầm trọng: “Sản xuất phát triển chậm trong khi
số dân tăng nhanh Thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng xã hội phải dựa vào vay và viện trợ, nền kinh tế chưa tạo được tích luỹ Lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu Tình hình cung ứng năng lượng, vật tư, tình hình giao thông vận tải đang rất căng thẳng Nhiều xí nghiệp sử dụng công suất ở mức thấp Chênh lệch giữa thu và chi tài chính, giữa hàng và tiền, giữa xuất khẩu và nhập khẩu còn lớn Thị trường và vật giá không ổn định Số người lao động chưa được sử dụng còn đông Đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, nhất là đời sống công nhân, viên chức và nông dân những vùng bị thiên tai, địch họa” [29, tr
44 - 45]
Trong nông nghiệp, để vượt qua tình trạng khó khăn, nông dân nhiều nơi
đã mạnh dạn “khoán chui”, đầu tiên là ở Vĩnh Phúc, Hải Phòng, sau đó lan sang các địa phương khác như Nghệ Tĩnh, Hà Bắc, Hà Nam Ninh, Hà Sơn
Trang 30Bình, Hải Hưng Hình thức khoán này ở các địa phương đã mang lại hiệu quả rất tốt, sản lượng lương thực tăng rõ rệt, nông dân nhiệt tình, hăng hái sản xuất hơn vì lúc này trách nhiệm của họ gắn với quyền lợi thiết thân của họ
“Khoán chui” đã thực sự trở thành một tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận
xã hội và các nhà lãnh đạo Phong trào “xé rào” dâng lên mạnh mẽ trong tất
cả các ngành, các lĩnh vực, trở thành hậu phương cho những người có tư duy đổi mới Trong khi kinh tế HTX chỉ đem lại sự nghèo nàn, đói kém thì những cách làm sáng tạo của nông dân và Đảng bộ địa phương đã đem tới hiệu quả cao
Trước thực tế ấy, lãnh đạo Đảng - Nhà nước đã nghiêm túc nhìn nhận, bám sát và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn sản xuất nông nghiệp, từ đó dẫn đến những đổi mới ban đầu trong tư duy quản lý kinh tế, thể hiện bởi một số chủ trương mới của Đảng đã được ban hành
Những chuyển biến đầu tiên của Đảng về tư duy kinh tế được thể hiện rõ
ràng trong Nghị quyết 20 (Khóa IV) về tình hình và nhiệm vụ cấp bách và Nghị quyết 21 (Khóa IV) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương Nghị quyết 20 đã thể hiện chính
sách rộng mở hơn của Đảng bằng việc nới lỏng các chính sách về giá cả, thuế nông nghiệp và phân phối lưu thông; công nhận vai trò quan trọng của hộ gia đình, bước đầu khuyến khích sự phát triển của kinh tế hộ trong sản xuất Nghị
quyết 21 khẳng định: “Phải tận dụng các thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể (kể cả tư sản được kinh doanh hợp pháp); kết hợp quy mô lớn, vừa, nhỏ; kỹ thuật thủ công, nửa cơ giới và cơ giới; kết hợp trung ương, địa phương (tỉnh thành, huyện) và cơ sở” [29, tr 333]
Hai nghị quyết này đã bước đầu nhận định được tầm quan trọng và thừa nhận sự tồn tại của kinh tế nhiều thành phần trong tất cả các ngành kinh tế Mặc dù vẫn duy trì về căn bản chế độ quản lý bao cấp, song với những thay
Trang 31đổi tích cực trong tư duy về thành phần kinh tế, cộng với bước đầu tự do lưu thông, khuyến khích kinh tế hộ gia đình, thay đổi cách ăn chia phân phối trong nội bộ HTX mà đời sống kinh tế nông nghiệp bắt đầu khởi động Các chủ trương trên đã tạo ra những điều kiện căn bản để nông dân hướng tới nền sản xuất mang lại lợi ích cao hơn cho người sản xuất Phong trào “xé rào” dâng lên mạnh mẽ hơn trước Những chính sách này cũng tạo động lực mạnh
mẽ cho các ngành kinh tế khác
Từ những đổi thay của thực tiễn, Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Khoá IV đã ra Chỉ thị số 100 - CT/TW cho phép và hướng dẫn áp dụng rộng rãi hình thức khoán mới trong các HTX, tập đoàn sản xuất trên phạm vi
cả nước Chỉ thị 100 và những chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Khoá V thừa nhận và khuyến khích hộ xã viên đầu tư vốn, sức lao động vào ruộng khoán và HTX để hướng thêm thu nhập từ phần vượt khoán, đã đáp ứng tốt hơn nguyện vọng và lợi ích của nông dân chặn đứng đà sa sút trong sản xuất,
mở đầu cho quá trình đổi mới và phát triển trong nông nghiệp
Tuy nhiên, cho đến Đại hội lần thứ V (03/1982), Đảng lại tiếp tục đề ra mục tiêu hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả nước, kinh tế quốc doanh mở rộng đến tận đơn vị kinh tế xã, tập đoàn sản xuất
Nhìn chung, quan điểm về kinh tế tư nhân của Đảng cho đến nửa đầu thập niên tám mươi của thế kỷ XX đã có những chuyển biến nhất định, thể hiện quá trình đổi mới ban đầu trong tư duy quản lý kinh tế của Đảng Tuy nhiên, những biến chuyển ban đầu đó chưa phải là những đột phá trong đổi mới cơ chế Sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản lý kinh tế nói chung, và đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân chỉ chính thức được đánh dấu tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986)
Trang 32*Thời kỳ Đổi mới: Xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp, thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội đất nước, tư duy của Đảng về kinh
tế tư nhân có nhiều thay đổi lớn lao
Giai đoạn 1986 - 1990:
Đại hội Đảng VI (12/1986) đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới của đất nước, thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển Đại hội VI đã đưa ra nhận thức mới của Đảng về mô hình chủ nghĩa xã hội, con đường phát triển đất nước và chấn hưng kinh tế Đại hội đã nêu chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kể từ Đại hội này, kinh tế tư nhân được công nhận sự tồn tại, được khuyến khích phát triển để đóng góp vào sự nghiệp đổi mới của đất nước Từ đó, nhiều chủ trương - chính sách mới của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân lần lượt ra đời
Đại hội VI công nhận vị trí quan trọng, thừa nhận sự cần thiết của các loại hình kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa:“Kinh tế gia đình có vị trí quan trọng và khả năng dồi dào, cần được khuyến khích và giúp đỡ phát triển trong mối quan hệ hỗ trợ và gắn bó với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể;… đối với kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, Nhà nước thừa nhận sự cần thiết của bộ phận kinh tế này trong thời kỳ quá độ, hướng dẫn và giúp đỡ nó sản xuất, kinh doanh, liên kết với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể…Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tùy theo ngành hàng, để sắp xếp, cải tạo và sử dụng họ thành lực lượng
bổ sung cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa… Nhà nước cho phép những nhà
tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ
ở những nơi cần thiết trong cả nước” [30, tr 59 - 60] Chủ trương này thể
hiện một quan điểm mới và đúng đắn của Đảng về kinh tế tư nhân
Trang 33Tuy nhiên, đường lối Đại hội VI có tồn tại một hạn chế đó là, mặc dù thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, bao gồm kinh tế tiểu thương, tư sản nhỏ nhằm khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế này để phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng tư tưởng chủ đạo vẫn là giới hạn, cho phép tồn tại trong sự liên kết hạn chế và sự chỉ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh Quan tâm lớn nhất của Đảng và Nhà nước trong suốt nhiệm kỳ của Đại hội VI là nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước bằng cách giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp để đối mặt với thị trường, đồng thời xác định và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế quốc doanh với các thành phần kinh tế khác Nghị quyết Trung ương số 3 - NQ/TW
Khóa VI ban hành ngày 28/08/1987 cho thấy rõ hơn tinh thần này: “Cần áp dụng nhiều hình thức liên kết, liên doanh giữa các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và các cấp quản lý nhằm mở rộng sự phân công hợp tác về kinh
tế và khoa học kỹ thuật, khai thác tối đa mọi khả năng và thế mạnh về vốn, lao động và kỹ thuật để làm ra sản phẩm cuối cùng với hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất” và “các xí nghiệp quốc doanh phải giữ vai trò chủ đạo trong quan hệ liên kết với các thành phần khác” [31, tr 299]
Mặc dù vậy, có thể nói Đại hội VI đã mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ phục hồi và phát triển của kinh tế tư nhân Dựa trên đường lối đổi mới về kinh
tế và nhận thức mới về kinh tế tư nhân của Đảng, xuất phát từ thực tiễn với những thành quả ban đầu mà Đổi mới mang lại, Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển của kinh tế tư nhân
Ngày 29/12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành, chính thức chấp
nhận hoạt động kinh doanh của tư bản nước ngoài ở nước ta Ngày 09/03/1988, Chính phủ ban hành Nghị định 27/NĐ về kinh tế tư doanh và Nghị định 29/NĐ về kinh tế gia đình, chấp nhận quyền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
Trang 34Ngày 21/12/1990, Kỳ họp khóa 8, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Luật doanh nghiệp tư nhân, có hiệu lực kể từ ngày 15/04/1991, là văn bản đầu tiên
thừa nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích KTTN đầu tư kinh doanh Kỳ họp này cũng thông
qua Luật công ty, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, đồng thời tăng cường quản lý nhà nước đối với các loại công ty này
Các văn bản trên đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về kinh
tế tư nhân, tạo điều kiện cho tư nhân mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Sự ra đời của Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty đã thực sự thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế tư nhân Năm 1991, cả nước mới có 414 doanh nghiệp được thành lập, thì năm 1992 đã tăng lên 5198 doanh nghiệp, năm 1995 là 15276 doanh nghiệp [62, 54]
Đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội đất nước cùng với những chuyển biến lớn lao trong tư duy về kinh tế tư nhân của Đại hội VI thực sự đã mang lại luồng gió mới, tạo động lực phát triển cho nền kinh tế xã hội nước
ta, là cơ sở đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách của thời kỳ tiếp sau
đó, để tiếp tục tiến lên phía trước
Giai đoạn 1991 - 2000:
Đại hội VII của Đảng diễn ra trong bối cảnh chính trị thế giới đầy phức tạp và có nhiều thay đổi lớn lao Liên Xô đã tan rã, kéo theo đó là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu Tình hình đó tưởng chừng sẽ đẩy nước ta vào tình trạng vô cùng khó khăn với nhiều nguy cơ đe dọa Thế nhưng, bằng đường lối đổi mới về kinh tế xã hội đã được đề ra từ Đại hội VI, với chính sách đối ngoại khôn khéo và phù hợp với xu hướng thời đại của
Trang 35Đảng, đất nước ta vào đầu thập niên 90 đã có bước chuyển mình quan trọng, vượt qua những khó khăn, thử thách lớn, vững bước tiến vào thời kỳ mới Trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới, dưới tác động của những chủ trương, chính sách quản lý kinh tế mới của Đảng, kinh tế tư nhân đã có những đóng góp lớn lao vào cải thiện tình hình khủng hoảng toàn diện của đất nước Theo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Khóa VI tại Đại hội VII, nhiều hộ cá thể và tiểu chủ đã bỏ vốn kinh doanh vào nhiều ngành nghề Tuy nhiên, nhiều người có vốn lớn vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, nhất là vào lĩnh vực sản xuất, vì môi trường kinh doanh chưa bảo đảm và có phần chưa tin vào sự ổn định của chính sách Trong khi nhiều đơn vị kinh tế tư nhân đóng góp tích cực và làm giàu chính đáng, một số người đã hoạt động phi pháp, lừa đảo, trốn lậu thuế [32, tr 73 - 74]
Tiếp tục đường lối đổi mới của Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng khẳng định chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó “mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều
tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật” [32, tr 26]
Đại hội cũng đề ra những chủ trương cụ thể đối với kinh tế tư nhân Kinh
tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh được pháp luật quy định Bên cạnh đó, nhà nước cũng có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại hình kinh tế tư bản nhà nước Đối với kinh tế gia đình, Đại hội VII khẳng định đây là một thành phần kinh tế độc lập, được khuyến khích phát triển mạnh
Trang 36Đại hội VII cũng đã thông qua hai văn kiện quan trọng khác là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000
Cương lĩnh khẳng định định hướng lớn về kinh tế là phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong
đó, kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh [32, 159]
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 được xây dựng với phương châm tiếp tục kiên trì sự nghiệp đổi mới Chiến lược khẳng
định quan điểm mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh
tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật [43, tr 179] Đối với kinh tế tư nhân, Chiến lược tiếp tục chỉ rõ: kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm” [32, 184]
Với những quan điểm về kinh tế tư nhân của Đảng có thể khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được nhận thức và đánh giá rõ hơn, yếu tố bình đẳng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế xã hội được chú trọng nhiều hơn trước Văn kiện Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (Khóa VII) đánh giá: Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang là bộ phận đông đảo và có tiềm năng
to lớn, có vị trí quan trọng lâu dài; kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước
Trang 37đang ngày càng phát triển, có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước tiếp tục khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, bảo hộ quyền sở hữu, lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh tư nhân Đồng thời cũng lưu ý ngăn chặn những việc làm phi pháp [35, tr 40 - 41]
Hội nghị Trung ương 7 (tháng 07/1994) về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước cũng khẳng định sự tồn
tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một yếu tố khách quan trên con đường đi lên của đất nước Những hoạt động mang tính xã hội như giáo dục, y
tế cũng đã chấp nhận sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài khu vực
nhà nước NQTW 4 (01/1993) về giáo dục, y tế khuyến khích phát triển các
trường, lớp dân lập, tư thục; cho phép tổ chức các bệnh viện, phòng khám và các dịch vụ y tế tư nhân
Những quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân đã tiếp tục được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện pháp lý cho sự
phát triển của thành phần kinh tế này Hiến pháp năm 1992 ghi: “Công dân Việt Nam được quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”[59]
Trên cơ sở đó, cơ chế chính sách cụ thể đối với kinh tế tư nhân lần lượt ra đời Ngày 03/02/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định
số 66 - HĐBT về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định quy định tại Nghị định số 221/HĐBT ngày 23/07/1991 nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm, bảo
vệ lợi ích hợp pháp của người kinh doanh, đồng thời tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh
tế
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (theo Lệnh Chủ tịch nước số 6/LCTN ngày 02/01/1993) có điều khoản
Trang 38cho phép KTTN được liên doanh với đối tác nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Ngày 05/07/1994, Luật khuyến khích đầu tư trong nước được công bố,
trong đó quy định các tổ chức, công dân Việt Nam được khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội, Nhà nước có các chính sách bảo hộ và hỗ trợ đầu tư Ngày 12/05/1995, Chính phủ ra Nghị định 29/CP quy định đối tượng khuyến khích đầu tư là các thành phần kinh tế, bao gồm cả KTTN như doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, tổ chức và cá nhân mua cổ phần hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp Hoạt động đầu tư được mở rộng, KTTN được tham gia hoạt động kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm, chẳng hạn kinh doanh bảo hiểm (theo Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993) hoặc kinh doanh nhà ở (theo Nghị định 61/CP ngày 07/05/1994)
là những lĩnh vực trước đây chỉ có kinh tế Nhà nước mới được làm
Cho đến năm 1996, trải qua 10 năm đổi mới, vai trò và vị trí của KTTN trong nền kinh tế đất nước dần được Đảng nhận thức rõ ràng hơn Những đường lối - chủ trương mới về kinh tế tư nhân của Đảng được thể chế hóa trong Hiến Pháp, Luật của Nhà nước, tạo hành lang pháp lý nhằm đảm bảo các điều kiện cơ bản cho sự phát triên của kinh tế tư nhân
Tiếp tục sự nghiệp Đổi mới, Đại hội VIII khẳng định vị trí quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân đối với sự phát triển chung của đất nước:
“Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan trọng, lâu dài, giúp đỡ kinh tế cá
thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triển của sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay HTX
Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước
Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo
hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng
Trang 39cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” [19]
Sau Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương đã họp,
và ra Nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến nǎm 2000 Nghị quyết này đã
nêu ra một khuyết điểm trong chính sách đối với kinh tế tư nhân ở nước ta đó
là thiếu cơ chế phù hợp để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, nhất là làm chủ về kinh tế, dẫn đến chưa phát huy vai trò của kinh tế tư nhân Để phát huy tối đa nội lực, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư nhấn mạnh cần phải tiếp tục cụ thể hóa chủ trương nhất quán xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần bằng cách hoàn thiện môi trường kinh doanh hợp pháp, tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển, mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế Kinh tế tư nhân được nhấn mạnh là cần phải được tạo điều kiện phát triển bằng thiết chế, cơ sở pháp lý rõ ràng và cụ thể Những vấn đề như chính sách
tự do hóa thương mại, giảm bảo hộ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những vấn đề nhạy cảm, có liên quan đến KTTN trước đây thường bị cấm kỵ,
nay đã được nhận thức và nêu rõ
Dựa trên những quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã có những đổi mới quan trọng trong các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh
tế tư nhân Kỳ họp thứ 5 - Quốc hội khóa X (06/1999) đã thông qua Luật doanh nghiệp (có hiệu lực kể từ 01/01/2000), thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Luật doanh nghiệp tạo cơ sở pháp lý cho việc xây
dựng môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; cụ thể hóa và phát triển nguyên tắc tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho mọi người, mọi doanh nghiệp được làm
Trang 40những gì mà pháp luật không cấm Nội dung của Luật doanh nghiệp về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế quy định về các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
Sự ra đời của Luật doanh nghiệp đã tạo ra bước đột phá cho sự phát triển
của kinh tế tư nhân Theo thống kê, đã có 150.000 doanh nghiệp ra đời sau khi Luật có hiệu lực, đây là minh chứng rõ nhất cho tính đúng đắn của Luật này Bên cạnh đó, thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh cũng được giảm bớt, Chính phủ đã bãi bỏ 150 loại giấy phép không cần thiết nhằm xóa bỏ và giảm mạnh rào cản việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp [64, tr 51] Trong thời kỳ 1996 - 2000, Quốc hội còn ban hành một số luật kinh tế có
liên quan đến KTTN như Luật thương mại (1997), Luật các tổ chức tín dụng (1997), Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (1997), Luật khuyến khích đầu tư trong nước (có sửa đổi năm 1997)
Sự ra đời của các chủ trương - chính sách trên của Đảng và Nhà đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân; góp phần huy động ngày càng nhiều vốn của các tầng lớp nhân dân đầu tư phát triển sản xuất Tính từ năm 1990 - 2003, mức huy động vốn của nhân dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh tăng liên tục Năm 1990, vốn huy động mới chỉ là 3544
tỷ đồng, năm 1999 tăng lên 21000 tỷ đồng, tăng hơn 6 lần năm 1990 Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng vượt hơn hẳn tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà nước Năm 2000, tỷ trọng vốn đầu
tư của doanh nghiệp dân doanh là 19,15%, trong khi đó, tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước là 18,25% Con số này năm 2001 tương tự là 23,5% và 19,3% [8, tr 49 - 52]
Như vậy, những chủ trương - chính sách mới của Đảng - Nhà nước về kinh tế tư nhân trong thời kỳ 1991 - 2000 đã mang lại những kết quả rõ rệt,