1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của hội liên hiệp phụ nữ việt nam tu nam 1986 den nam 1996

124 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các hoạt động Hội mang đậm tính chính trị - xã hội, các cấp Hội ngày càng chủ động tham gia tích cực trong sự nghiệp phát triển đất nước,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-* -

TRƯƠNG THỊ THỦY

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-* -

TRƯƠNG THỊ THỦY

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

Trang 3

BẢNG VIẾT TẮT

AIDS : Acquired Immune Deficiency Syndrome;

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ASEAN : Association of Southeast Asian Nations;

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á CEDAW : Convention on the Elimination of all Forms of Discrimination

against Women;

Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ LHPN : Liên hiệp Phụ nữ

UNFPA : United Nations Population Fund;

Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc UNICEF : United Nations Children's Fund;

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc UNIFEM : United Nations Development Fund for Women;

Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc VAC : Vườn - Ao - Chuồng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 2

Chương 1 LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991……… 10

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng ……… 10

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử……… 10

1.1.2 Chủ trương của Đảng……… 13

1.2 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hiện thực hóa chủ trương của Đảng… ……… 22

1.2.1 Xây dựng tổ chức Hội ……… 22

1.2.2 Hoạt động của Hội ……… 30

Chương 2 TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996……… ……… 43

2.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương mới của Đảng……… 43

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử……… 43

2.1.2 Chủ trương mới của Đảng……… 45

2.2 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thực hiện chủ trương mới của Đảng….……… 56

2.2.1 Xây dựng tổ chức Hội ……… 56

2.2.2 Hoạt động của Hội ……… 63

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM……… 77

3.1 Nhận xét……… 77

3.1.1 Ưu điểm……… 77

3.1.2 Hạn chế ……… 83

3.2 Một số kinh nghiệm….……… 87

KẾT LUẬN……… 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………

PHỤ LỤC………

94

100

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, đã có những đóng góp to lớn trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; ngày nay đang tiếp tục phát huy vai trò, vị trí quan trọng trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ đất nước

Chiếm trên 50% dân số và hơn 48% lực lượng lao động xã hội, có mặt trong mọi ngành nghề, trên mọi địa bàn, các tầng lớp phụ nữ Việt Nam với đức tính cần

cù, sáng tạo, chịu thương, chịu khó, đã và đang vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực trong học tập, lao động và công tác, tham gia tích cực vào quá trình hoạch định và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạt nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Những đóng góp bền bỉ, thầm lặng của các thế hệ phụ nữ ngày càng tô đậm thêm truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu,

đảm đang, và tiếp tục khẳng định lời dạy của Bác Hồ "Non sông gấm vóc Việt Nam,

do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ"

Khi bước vào công cuộc đổi mới, bằng sự nỗ lực lớn lao, phụ nữ Việt Nam

đã có những đóng góp vẻ vang cùng toàn Đảng, toàn dân giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sang thời

kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngay từ khi ra đời đã thấu hiểu nguyện vọng của người phụ nữ Các chương trình hoạt động của Hội luôn xuất phát từ yêu cầu của Đất nước, từ nguyện vọng của phụ nữ Tấm lòng vì sự nghiệp chung của hệ thống cán bộ phụ nữ được truyền nối từ nhiều thế hệ, đã tạo một sức mạnh to lớn Trong 10 năm đổi mới (1986-1996), dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam đã luôn luôn tự đổi mới về nội dung và phương thức hoạt

Trang 6

động, trung thành với sứ mệnh cao cả là người bạn gần gũi với các tầng lớp phụ nữ, thu hút đại bộ phận phụ nữ Việt Nam đứng trong tổ chức Hội đã chăm lo quyền lợi mọi mặt của phụ nữ Việt Nam, nâng cao vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội và gia đình; đồng thời liên kết các tầng lớp phụ nữ Việt Nam thành một sức mạnh, góp phần đưa xã hội Việt Nam tiến lên theo định hướng của Đảng Sự chuyển động chung của giới phụ nữ Việt Nam trong 10 năm đổi mới là một lực lượng thống nhất, trong đó Hội LHPN Việt Nam luôn đứng ở vị trí chủ đạo

Hội LHPN Việt Nam đã và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong xã

hội Hội tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ vào tổ chức, thực hiện tốt quyền tự do

hội họp, góp phần thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của giới nữ tham gia vào giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra Tổ chức Hội phụ

nữ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và phụ nữ, nơi thể hiện quyền làm chủ của giới phụ nữ, là nơi truyền đạt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời

là kênh phản ánh tiếng nói, là diễn đàn của chị em bày tỏ suy nghĩ, quan điểm trong khuôn khổ pháp luật với Đảng và Nhà nước để các cơ chế, chính sách sát với thực

tế cũng như nâng cao phẩm chất của cán bộ, công chức của Nhà nước trong thực thi công việc và tổ chức bộ máy cho phù hợp Tổ chức Hội phụ nữ là lực lượng đối ngoại nhân dân quan trọng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thông qua đó làm cho các nước hiểu Việt Nam hơn để tăng cường sự hiểu biết, hợp tác cũng như tranh thủ nguồn lực phát triển đất nước Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế thế giới, Hội phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên trong tranh chấp thương mại trong nước và quốc

tế Ngày nay, các cấp Hội phụ nữ đã thực sự hỗ trợ cho nền kinh tế thị trường phát triển và khoả lấp các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường thông qua sự trợ giúp

về thông tin, tuyên truyền kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật, đóng góp ý kiến nhằm thúc đẩy sự ra đời của cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tiễn cũng như thúc đẩy sự ra đời và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Mặt khác, các cấp Hội phụ nữ cũng đã cung ứng nhiều dịch vụ cho hội viên, cho xã hội thông qua việc tổ chức các

Trang 7

dịch vụ tới vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn mà các tổ chức vì lợi nhuận không muốn triển khai, Nhà nước chưa đủ điều kiện để với tới; đồng thời, Hội cùng Nhà nước thực hiện tốt công tác xã hội hoá về giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, thể dục thể thao

Như vậy, Hội LHPN Việt Nam ngày càng thích ứng với nền kinh tế thị trường của đất nước, có xu hướng ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sồng xã hội, có vai trò ngày càng quan trọng,

có đóng góp cho sự phát triển của đất nước Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các hoạt động Hội mang đậm tính chính trị - xã hội, các cấp Hội ngày càng chủ động tham gia tích cực trong sự nghiệp phát triển đất nước, thực hiện công tác vận động quần chúng của Đảng và đã phản ánh được với Đảng, Nhà nước tâm tư, nguyện vọng của chị em phụ nữ; tham gia vào công tác xây dựng chủ trương, chính sách, của Đảng, Nhà nước Đảng, Quốc hội, Chính phủ đánh giá cao

sự trưởng thành và đóng góp to lớn của Hội LHPN Việt Nam, song việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của Hội còn hạn chế nhất định

Trên cơ sở những nhận thức đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo

xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm

1986 đến năm 1996” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Đề tài “Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ chức Hội LHPN Việt Nam từ năm

1986 đến năm 1996” là sự kế thừa một số công trình khoa học nổi bật đã được công

bố Cụ thể như sau:

- Công trình nghiên cứu khoa học năm 2006 về “Đổi mới các quan hệ giữa

Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” do GS TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm đề tài Công trình đi sâu phân tích

sự thay đổi nhận thức của Đảng, Nhà nước trong mối quan hệ với các tổ chức chính trị - xã hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với riêng Hội LHPN chỉ được đề cập lướt qua, không trình bày cụ thể

Trang 8

- Công trình khoa học năm 2002 về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do TS Thang

Văn Phúc làm chủ nhiệm đề tài Công trình tập trung làm rõ sự đổi mới về tổ chức

và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể trong điều kiện phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam mới chỉ được đề cập một cách chung chung, không chuyên sâu (phần viết riêng về Hội chiếm dung lượng không lớn so với toàn bộ nội dung công trình) và chủ yếu đi vào khía cạnh dân chủ đại diện của tổ chức Hội

- Công trình khoa học năm 2009 về “Đổi mới phương thức lãnh đạo của

Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ mới” do TS

Đỗ Quang Tuấn làm chủ nhiệm đề tài Công trình nhấn mạnh về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận và các đoàn thể từ sau Đổi mới (1986) Tuy nhiên,

sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt Nam chỉ là một phần nhỏ trong phạm

vi nghiên cứu của công trình

- Công trình khoa học kéo dài 5 năm từ 1991 đến 1995 về “Vị trí, tính chất

hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” do TS Nguyễn Viết Vượng làm

chủ nhiệm đề tài Công trình là sự khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của Mặt trận

và các đoàn thể trong điều kiện đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN chỉ được đề cập một cách khái quát, không đi sâu nghiên cứu

- Công trình nghiên cứu năm 2012 về “Thực trạng và đề xuất giải pháp đổi

mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam” do nhóm tác giả

thuộc Trung ương Hội LHPN Việt Nam làm chủ nhiệm đề tài Công trình tập trung nghiên cứu và làm rõ về thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Công trình chưa làm nổi bật được vai trò Đảng lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội mới được đề cập trong phần cơ sở lý luận

Trang 9

Với mong muốn làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam những năm 1986-1996, đồng thời tạo nên một

công trình chuyên khảo, có ý nghĩa, tác giả đã lựa chọn “Đảng lãnh đạo xây dựng tổ

chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996” làm đề tài

- Làm rõ kết quả sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996) Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm lịch sử về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các văn bản, chủ trương của Đảng về công tác phụ vận trong

10 năm đầu đổi mới, từ đó rút ra những nhận xét và kinh nghiệm trong công tác vận động phụ nữ của Đảng thông qua tổ chức Hội LHPN Việt Nam

- Trình bày và phân tích quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và định hướng của Đảng trong những năm 1986-1996 Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét có căn

cứ về ưu điểm, hạn chế trong công tác vận động phụ nữ của Đảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 10

- Chủ trương, biện pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo Hội LHPN Việt Nam về xây dựng tổ chức và hoạt động

- Quá trình Hội LHPN Việt Nam triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Hoàn cảnh lịch sử có liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng với việc xây dựng

tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong 10 năm đầu đổi mới đất nước

- Quá trình hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng với những kết quả cụ thể (gồm cả ưu điểm và hạn chế)

- Thời gian 10 năm đầu đổi mới đất nước (1986-1996) gắn liền hoạt động của Hội LHPN Việt Nam với những nội dung cụ thể khác nhau 1986-19910 và 1991-1996 Năm 1986 là cột mốc cho sự đổi mới đất nước; năm 1996 đánh dấu đất nước đã ra khỏi khủng hoảng, bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Văn kiện Đảng toàn tập (từ tập 47 đến tập 54), Văn kiện các Đại hội của

Đảng để khai thác tư liệu về đường lối, chủ trương của Đảng đối với quá trình xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam

- Các Văn kiện Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, các báo cáo

về tình hình hoạt động của các cấp Hội phụ nữ trong từng năm (từ năm 1987 đến năm 1996), các báo cáo sơ kết, tổng kết việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng đối với công tác quần chúng (Nghị quyết 8B), công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới (Nghị quyết 04), công tác cán bộ nữ (Chỉ thị 37)… được lưu trữ tại Trung tâm Thư viện Trung ương Hội LHPN Việt Nam

- Các sách tham khảo, bài viết trong các tạp chí khoa học có liên quan về chủ

trương, chính sách của Đảng, hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, công tác phụ vận…

Trang 11

- Những công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng, về công

tác vận động phụ nữ, về Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của mặt trận và các đoàn thể… được lưu tại Phòng lưu trữ Ban Tổ chức Trung ương, Phòng lưu trữ Trung ương Hội LHPN Việt Nam, Phòng lưu trữ Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Thư viện Quốc gia, Trung tâm Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội…

5.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ; những lý luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu nhằm mô tả một cách khách quan, trung thực những chủ trương, biện pháp của Đảng và hiệu quả thực

hiện của Hội trong xây dựng và hoạt động với quan điểm “nhìn thẳng sự thật, nói rõ

sự thật và đánh giá đúng sự thật”

Luận văn cũng sử dụng phương pháp logic để làm rõ sự hình thành, phát triển chủ trương của Đảng và rút ra những nhận xét về ưu điểm và hạn chế, đồng thời bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng và tổ chức Hội LHPN Việt Nam

Ngoài ra, luận văn sử dụng một số phương pháp khác như: so sánh, tổng hợp, thống kê…

6 Những đóng góp của luận văn

Trình bày một cách tương đối đầy đủ, toàn diện các chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam trong những

Trang 12

năm 1986-1996 Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng thực sự là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Hội, tạo hành lang pháp lý cho tổ chức Hội thực hiện sứ mệnh và trách nhiệm đối với sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới tại Việt Nam

Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, luận văn thể hiện được vai trò đại diện cho phụ nữ của Hội LHPN Việt Nam, làm nổi bật sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội trong 10 năm đầu đổi mới Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá, rút ra bài học để Đảng tiếp tục có những đường lối lãnh đạo đúng đắn đối với Hội phụ nữ và công tác phụ vận trong những năm tiếp theo; và để thực hiện có hiệu

quả Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Luận văn thực sự là một công trình nghiên cứu khoa học, không chỉ có ý nghĩa báo cáo kết quả học tập chương trình thạc sĩ của học viên, mà còn trở thành một tài liệu tham khảo giá trị

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam từ năm 1986-1991

Chương 2 Tăng cường lãnh đạo xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội

Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam từ năm 1991-1996

Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 13

Chương 1 LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1991

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

đế quốc Mỹ - một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự lớn mạnh nhất thế giới Một

kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam được mở ra: Kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội

Sau chiến thắng, thế và lực của cách mạng Việt Nam lớn mạnh vượt bậc Khối đại đoàn kết dân tộc do Đảng lãnh đạo được tăng cường trên cơ sở nhất trí về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân lên cao; chính quyền nhân dân được xây dựng và củng cố vững mạnh Đất nước thống nhất, những nguồn lực vật chất để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có điều kiện phát huy tối đa Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động dồi dào; người Việt Nam cần cù, thông minh Đảng và nhân dân Việt Nam đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam được bầu bạn năm châu đồng tình ủng hộ, nhận được sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần

Bên cạnh những thuận lợi đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam cũng đứng trước những khó khăn to lớn Cơ sở xuất phát của đất nước là một nền kinh tế nghèo nàn, lực lượng sản xuất rất thấp, trong xã hội còn nhiều yếu tố

Trang 14

phức tạp do quá khứ và do chủ nghĩa thực dân mới để lại Cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công, năng suất thấp Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn

Điều kiện quốc tế của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng có những trở ngại không nhỏ Nguồn viện trợ từ Liên Xô và các nước bị cắt giảm Trong các nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện những mâu thuẫn gây ảnh hưởng cho sự phát triển quan hệ của Việt Nam Mỹ và nhiều nước tư bản phương Tây tiến hành bao vây cấm vận đối với kinh tế Việt Nam, cơ hội tiếp cận nguồn vốn, khoa học kỹ thuật từ các nước tư bản phát triển bị hạn chế Khu vực biên giới phía Bắc và biên giới phía Tây - Nam mất ổn định, các thế lực thù địch chống phá, gây rối Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực trở nên bất bình thường

Vượt lên tất cả những khó khăn đó, nhân dân Việt Nam ra sức phấn đấu xây dựng đất nước đạt được nhiều thành tựu Nhiều vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội

đã được giải quyết kịp thời, những hậu quả nặng nề của chiến tranh từng bước được khắc phục Đời sống nhân dân dần dần có sự ổn định

Tuy nhiên, đến đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có nhiều biến đổi phức tạp Vì nhiều lý do chủ quan, khách quan khác nhau, đất nước vẫn còn đứng trước nhiều vấn đề gay gắt Chưa thu hẹp được những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân Sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội Số lao động thất nghiệp đông Đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, nhiều tệ nạn xã hội mới phát sinh, một bộ phận dân chúng sa sút niềm tin, có lối sống thực dụng, các thế lực phản động luôn tìm cơ hội chống phá cách mạng Việt Nam Thực trạng kinh tế - xã hội phức tạp đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sự phát triển

Trang 15

Trước tình hình đó, Đảng và nhân dân Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải đổi mới toàn diện đất nước, nhằm tạo nên sự bứt phá về kinh tế - xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn

Với hoàn cảnh của đất nước vào thập niên 1980, đời sống của các tầng lớp phụ nữ cũng rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn: một bộ phận đáng kể phụ nữ không có hoặc không đủ việc làm, thu nhập thấp, nhiều chị em phải làm việc trong điều kiện vất vả, độc hại, sức khỏe giảm sút; phụ nữ bị phân biệt đối xử, là nạn nhân của các tệ nạn xã hội; một bộ phận phụ nữ giảm sút niềm tin, sa vào lối sống thực dụng… Trong các tầng lớp phụ nữ nổi lên tâm tư lo lắng, bất bình, yêu cầu Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành quan tâm giải quyết các vấn đề cấp bách, đặc biệt liên quan đến phụ nữ, trẻ em là: Việc làm và đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, an ninh và tệ nạn xã hội…

Phong trào phụ nữ và các hoạt động của Hội phụ nữ vì thế cũng gặp không ít khó khăn, thách thức Nhiệm vụ của Hội LHPN Việt Nam rất nặng nề trong khi điều kiện hoạt động của Hội còn nhiều hạn chế Cán bộ, hội viên, Đảng bộ và chính quyền các cấp… chưa nhận thức đúng chức năng của Hội Tổ chức bộ máy và biên chế của Hội chưa hợp lý, hoạt động kém hiệu quả Tổ chức cơ sở Hội chưa phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu của đông đảo phụ nữ Trình độ năng lực của đội ngũ cán

bộ Hội chưa đáp ứng yêu cầu… Phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc” được triển khai từ năm 1978 về nhiều mặt không còn phù hợp; các hoạt

động của Hội chủ yếu tập trung huy động, vận động lực lượng phụ nữ thực hiện các nghĩa vụ với xã hội, với đất nước , mới chỉ chú trọng động viên phụ nữ vượt khó khăn thực hiện nghĩa vụ người công dân, người vợ, người mẹ… mà chưa quan tâm chăm lo lợi ích thiết thực cho phụ nữ, phát huy quyền làm chủ và nâng cao trình độ của phụ nữ; trong tư tưởng chỉ đạo, có nơi, có lúc còn thõa mãn về thành tựu giải phóng phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu, nội dung giải phóng phụ nữ về kinh tế - xã hội; một số cấp ủy Đảng vẫn coi công tác phụ nữ là việc riêng của Hội LHPN Việt Nam

Trang 16

Trước những biến đổi mạnh mẽ của tình hình trong nước và quốc tế, để phát huy vai trò, sự đóng góp của các tầng lớp phụ nữ mà Hội LHPN các cấp làm nòng cốt, phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vào sự nghiệp đổi mới của đất nước, đồng thời thực hiện tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ, Đảng cần có những chủ trương đúng đắn nhằm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội LHPN Việt Nam, nhằm phát huy

có hiệu quả vai trò của tổ chức Hội trong vận động, tập hợp các tầng lớp phụ nữ tích cực tham gia công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

1.1.2 Chủ trương của Đảng

Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được gọi là Đại hội đổi mới, với mục tiêu khai thác mọi tiềm năng của đất nước, giải phóng năng lực sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phát huy yếu tố con người Con người được coi là mục tiêu và động lực phát triển xã hội

Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán

bộ, phương thức lãnh đạo và phong cách của Đảng, từ đổi mới kinh tế đến đổi mới

hệ thống chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, quan điểm về đổi mới công tác quần chúng, công tác mặt trận và các đoàn thể nhân dân được thể hiện rất rõ trong Văn kiện Đại hội Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương,

Bộ Chính trị, Ban Bí thư Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đem lại luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên

Đại hội khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [9, tr.371]

Trang 17

“Thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc phải được bảo đảm bằng sức mạnh tổng hợp của chế độ mới Trong khi không ngừng chăm lo nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Đảng và nhân dân ta tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa

xã hội, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa” [9, tr 373]

Đại hội lần thứ VI xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế -

xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo

Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát, Đại hội đánh giá cao vai trò phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp chung của đất nước Phụ nữ tất cả các cấp, các ngành cần thấm nhuần sâu sắc ba quan điểm cơ bản:

Thứ nhất, phụ nữ Việt Nam có truyền thống lịch sử vẻ vang, có những tiềm

năng to lớn, là một động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế

xã hội Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người… Phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thứ hai, mục tiêu giải phóng phụ nữ là thiết thực cải thiện đời sống vật chất

và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực hiện tốt nam nữ bình đẳng, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc Xây dựng người phụ

nữ Việt Nam có sức khoẻ, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng, có lòng nhân hậu

Thứ ba, sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của

Đảng và các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình; đường lối giải phóng phụ nữ phải được thể chế hoá và cụ thể hoá trong hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước; Hội LHPN Việt Nam là tổ chức đại diện cho lợi ích phụ nữ, là trung tâm tập hợp đoàn kết phụ nữ Việt Nam hướng dẫn và vận động chị em phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, vì sự phát triển và hạnh phúc của

Trang 18

phụ nữ, vì sự nghiệp đổi mới thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI (15/12/1986) khẳng định: “Phụ nữ nói chung, và lao động nữ nói

riêng, có những đặc điểm cần được chú ý Để phát huy vai trò to lớn của phụ nữ

trong sự nghiệp cách mạng, cần làm cho đường lối vận động phụ nữ của Đảng được thấu suốt trong cả hệ thống chuyên chính vô sản, được cụ thể hoá thành chính sách, luật pháp Các cơ quan nhà nước, với sự phối hợp của các đoàn thể, cần có

biện pháp thiết thực tạo thêm việc làm, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình Tạo điều kiện cho phụ nữ kết hợp được nghĩa vụ công dân với chức năng làm mẹ, xây dựng gia đình hạnh phúc” [9, tr 450]

Báo cáo chính trị nhấn mạnh vai trò của tổ chức Hội phụ nữ trong việc vận động nhân dân phát triển sản xuất, làm kinh tế gia đình, tổ chức phân phối lưu thông, dịch vụ, hoạt động văn hoá, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ và môi trường, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Hội LHPN có vai trò to lớn trong việc động viên các tầng lớp

nhân dân tham gia xây dựng, quản lý kinh tế và quản lý xã hội “Các cấp uỷ đảng

phải lãnh đạo chặt chẽ các đoàn thể, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng đoàn thể mà đề ra nhiệm vụ, mục tiêu hành động và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ các đoàn thể… Cấp uỷ đảng phải tôn trọng tính độc lập về tổ chức của các đoàn

thể, khuyến khích tính chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng Các đoàn thể cũng phải mau chóng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của mình cho phù hợp với những cuộc cải cách về quản lý kinh tế, xã hội Hoạt động đoàn thể phải chuyển mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo quần chúng vào các phong trào cách mạng” [9, tr 448-449]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/9/1987 về cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, làm lành mạnh các quan hệ xã

Trang 19

hội Một trong những yêu cầu của cuộc vận động là “Kiện toàn tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể quần chúng theo tinh thần: đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc, từ đó mà nâng cao sức chiến đấu và hiệu lực của các tổ chức Làm tốt việc xây dựng quy hoạch cán

bộ, trước hết là kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở Làm tốt công tác đào tạo, giáo dục cán bộ, đảng viên… Trong quá trình cuộc vận động, cần đưa cán bộ, đảng viên vào cuộc chiến đấu thực hiện Nghị quyết của Đảng, đấu tranh chống tiêu cực, qua đó giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, biểu dương những người tích cực, đề bạt những cán bộ có phẩm chất và năng lực, năng động, sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kết nạp những người tiên tiến có đủ tiêu chuẩn vào Đảng” [10, tr.392] Trên cơ sở đó,

Bộ Chính trị yêu cầu các ban Đảng, các đoàn thể quần chúng thanh niên, công đoàn, phụ nữ… phải phối hợp chặt chẽ giúp Ban Bí thư trong việc chỉ đạo cuộc vận động

Bước sang năm 1988, công cuộc cải tổ, cải cách ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ngày càng chao đảo Việc thực hiện đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập, phủ nhận sạch trơn quá khứ cách mạng; chĩa mũi nhọn phê phán vào Đảng Cộng sản, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, gieo rắc những tư tưởng hoài nghi, bi quan, dao động với chủ nghĩa xã hội đem đến những hậu quả vô cùng tai hại Trong bối cảnh đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 05-NQ/TW ngày 20/6/1988 về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng Nghị quyết nhấn mạnh “phải tăng cường công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới” Trước tiên, phải “làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ và lề lối làm việc giữa các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế và các đoàn thể quần

chúng… Các đoàn thể quần chúng định rõ chức năng, nhiệm vụ, đổi mới nội dung

và phương thức hoat động của mình , sắp xếp lại bộ máy, giảm biên chế cán bộ chuyên trách, tăng cường hoạt động kiêm nhiệm, hướng về cơ sở, khắc phục bệnh hành chính hóa, quan liêu hóa” [11, tr 271-273]

Trang 20

Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá VI (3/1989) đề cập đến sáu nguyên tắc đổi mới, đặc biệt nhấn mạnh: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là nhận thức đúng hơn và có phương pháp phù hợp hơn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; phải giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập

Kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, Bộ

Chính trị khẳng định “phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trên cơ sở đó đổi mới tổ

chức và phương thức hoạt động của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng

là vấn đề then chốt trong việc nâng cao hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị”

Đối với các đoàn thể quần chúng, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Bằng công tác tổ chức

và vận động quần chúng sâu rộng, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội đại diện cho quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân, hỗ trợ đắc lực và hậu thuẫn cho hoạt động của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước Các cấp ủy Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo các đoàn thể quần chúng, tạo mọi điều kiện để mỗi đoàn thể phát huy tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động của mình Thể chế hóa quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong việc tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội Định ra và thực hiện các quy chế phối hợp sự hoạt động của các đoàn thể và các cơ quan nhà nước từ trung ương đến các địa phương

cơ sở Với chức năng vận động và tổ chức quần chúng, các đoàn thể đổi mới phương thức hoạt động để sát với quần chúng, với hội viên Nội dung và hình thức vận động gắn chặt với nguyện vọng, lợi ích và điều kiện sinh hoạt của hội viên Tổ chức bộ máy của mỗi đoàn thể rất gọn, không cần nhiều cán bộ chuyên trách Bỏ những hình thức tổ chức và hoạt động làm cho đoàn thể trở nên hành chính hóa, xa quần chúng, không gắn với hội viên” [11, tr.544-549]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI

(ngày 27/3/1990) nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta lúc này là phải

Trang 21

đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, củng cố và phát triển những thắng lợi đã đạt được, kiên quyết khắc phục những khuyết điểm, kịp thời giải quyết những vấn đề cấp bách, làm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta thu được những thành tựu ngày càng lớn” [12, tr 72]

Nghị quyết cũng khẳng định: “Đường lối đổi mới do Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra được nhân dân đồng tình và ủng hộ đã đem lại những kết quả bước đầu quan trọng về nhiều mặt”…; “Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, có phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng” Trong đó, “Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ

Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam… là những đoàn thể chính trị - xã hội

của các giai cấp và tầng lớp nhân dân do Đảng lãnh đạo, là người đại diện, bảo vệ lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, là trường học

xã hội chủ nghĩa của đoàn viên, hội viên và là nòng cốt của phong trào cách mạng quần chúng” [12, tr 84-86]

Sau ba năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng đề

ra, Việt Nam đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế và xã hội Tình hình chính trị ổn định Đời sống của một bộ phận nhân dân được cải thiện tạo niềm phấn khởi và tin tưởng trong nhân dân Sự đổi mới một bước về tổ chức hoạt động của Đảng, chính quyền và các đoàn thể đã khơi dậy tính tích cực, sáng tạo của nhân dân Tuy nhiên, công tác quần chúng của Đảng vẫn chưa được đổi mới một cách căn bản Mặt khác, cuộc khủng hoảng toàn diện của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu

và Liên Xô, cùng với những khó khăn mà Việt Nam phải trải qua đã tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm, tâm trạng và lòng tin của các tầng lớp nhân dân, trong

đó có phụ nữ Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương

Đảng (khóa VI) thông qua Nghị quyết 8B-NQ/HNTW “Về đổi mới công tác quần

chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” Nghị quyết chỉ

Trang 22

rõ: “Đảng cần hướng dẫn sự đổi mới nội dung hoạt động của các đoàn thể và tổ chức quần chúng vào việc đoàn kết đoàn viên, hội viên cùng nhau chăm lo lợi ích thiết thực của mình và góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước, xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Từ việc đáp ứng lợi ích thiết thực về vật chất và tinh thần, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của quần chúng mà tạo nên sự gắn bó trong tổ chức, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và trình độ mọi mặt

của đoàn viên, hội viên, động viên mọi người làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước”

[12, tr.86]

“Các đoàn thể đổi mới xây dựng tổ chức theo hướng coi trọng chất lượng,

không chạy theo số lượng, tích cực xây dựng cơ sở vững mạnh, thu hẹp diện yếu kém… Cán bộ của đoàn thể phải được lựa chọn từ những người ưu tú trong phong trào, có năng lực và có uy tín đối với quần chúng Cần tích cực tinh giản bộ máy cán

bộ chuyên trách của đoàn thể, coi trọng sử dụng cán bộ không chuyên trách Cán bộ đoàn thể ở các cấp trên cần dành nhiều thời gian đi sát cơ sở, thực hiện chế độ luân phiên làm việc ở cơ sở dài ngày Khuyến khích cán bộ chuyên trách về công tác hẳn

ở cơ sở Chăm lo đời sống và bảo đảm điều kiện hoạt động của cán bộ đoàn thể Các cấp trên cần hết sức giúp đỡ cơ sở, chú ý đào tạo, bồi dưỡng, chăm sóc cán bộ

cơ sở của các đoàn thể” [12, tr.87]

Tiếp đó, Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 25/6/1990 của Ban Bí thư về việc thực

hiện Nghị quyết Trung ương tám “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng

cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” ở cơ sở cũng nêu rõ: “Các đoàn thể

quần chúng ở cơ sở định rõ chức năng, cải tiến phương thức hoạt động, đề ra nhiệm

vụ của tổ chức mình để đem lại lợi ích thiết thực cho đoàn viên, hội viên” [12, tr 165]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) tiếp tục khẳng định quyết tâm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đưa đất nước vượt qua những thử thách, đi dần vào thế ổn định và phát triển năng động, vững chắc Trong đó, xác định: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cần được đổi mới về tổ chức và

Trang 23

hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, chăm lo và bảo

vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia các công việc quản lý nhà nước; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân Các đoàn thể có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức mới, động viên, phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, đoàn kết toàn dân, phấn đấu

cho sự thành công của công cuộc đổi mới

“Hình thức tổ chức và sinh hoạt của đoàn thể phải đa dạng, đáp ứng nhu cầu

chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, ích nước lợi nhà, tương thân tương ái; thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng và tuân theo pháp luật của Nhà nước, hướng về cơ sở, sát với đoàn viên, hội viên Khắc phục tình trạng nhà nước hoá, hành chính hoá

“Bộ máy của các đoàn thể phải gọn nhẹ, hoạt động đúng với tính chất tổ chức quần chúng Cán bộ của các đoàn thể đại bộ phận không chuyên trách, được lựa chọn từ những người ưu tú trong phong trào, có năng lực, phẩm chất và có tín nhiệm với đoàn viên, hội viên” [51, tr 118]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội lần thứ VII của Đảng thông qua, nêu rõ: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể” [13, tr 147]

Cương lĩnh nhấn mạnh: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân

có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, giáo dục lý tuởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Trang 24

“Các đoàn thể nhân dân tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định,

vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp nhau chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho đoàn viên, hội viên; vừa tham gia quản

lý nhà nước, quản lý xã hội” [13, tr.146]

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của Hội LHPN Việt Nam là một trong những đoàn thể chính trị - xã hội do Đảng lãnh đạo, là người đại diện, bảo vệ lợi ích và quyền làm chủ của phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước, là trường học xã hội chủ nghĩa của hội viên và là nòng cốt của phong trào phụ nữ

Điều 45 Điều lệ Đảng khẳng định: “Đảng không ngừng củng cố và tăng cường sự

lãnh đạo của mình đối với các đoàn thể và tổ chức quần chúng bằng cách làm cho đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước được quán triệt và biến thành hành động tự giác của quần chúng, thông qua công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động, thuyết phục của cán bộ, đảng viên trong các tổ chức đó Đảng thường xuyên chỉ rõ cho các tổ chức quần chúng những yêu cầu,

nhiệm vụ và những công tác quan trọng cần vận động quần chúng thực hiện trong từng thời gian; không ngừng làm cho các tổ chức đảng và tổ chức nhà nước tôn trọng và biết phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của các tổ chức quần chúng; tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và quản lý kinh tế, quản lý Nhà nước” [4, tr 8]

Đường lối đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với quá trình xây dựng tổ chức và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam Mặc dù trong những năm đầu đổi mới (986-1991), những chủ trương của Đảng có liên quan đến xây dựng tổ chức

và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam chỉ được đề cập chung chung, gắn liền với việc lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể, nhưng đã được Hội thực hiện có hiệu quả

Trang 25

1.2 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hiện thực hóa chủ trương của Đảng

1.2.1 Xây dựng tổ chức Hội LHPN Việt Nam

Quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng về sắp xếp lại tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả của bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, Hội LHPN Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc, xây dựng phương án sắp xếp lại tổ chức cơ quan theo tinh thần gọn nhẹ, tinh giản, nâng cao hiệu quả hoạt động Đại hội diễn ra từ ngày 19-20/5/1987 tại Thủ đô Hà Nội với 700 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 10 triệu hội viên và 28 triệu phụ

nữ trong cả nước Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI gồm 98 ủy viên Ban Chấp hành bầu Đoàn Chủ tịch gồm 15 ủy viên Bà Nguyễn Thị Định - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục được bầu là Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam

Đại hội thông qua Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (bổ sung), trong

đó khẳng định “Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là một tổ chức quần chúng cách

mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” Là một bộ phận trong hệ

thống chuyên chính vô sản, Hội có chức năng “giáo dục, vận động phụ nữ xây dựng

chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đại diện cho quyền bình đẳng làm chủ tập thể của phụ nữ, tham gia quản lý và kiểm tra công việc của Nhà nước, tập trung vào những vấn đề có liên quan trực tiếp tới phụ nữ và trẻ em” [31, tr 7]

Trang 26

chuyên trách cơ quan Hội LHPN các cấp đều được kiện toàn, đổi mới phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội trong nhiệm kỳ

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp Hội là: Đại hội đại biểu phụ nữ của cấp đó, ở cơ sở ít hội viên là đại hội toàn thể hội viên Cơ quan lãnh đạo Hội LHPN toàn quốc là Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam họp 5 năm/1 lần để: thông qua báo cáo tổng kết và kiểm điểm công tác của Ban Chấp hành Trung ương Hội; quyết định phương hướng nhiệm vụ của phong trào phụ nữ trong nhiệm kỳ tới; quyết định sửa đổi điều lệ Hội; bầu cử Ban Chấp hành Trung ương Hội

Cơ quan lãnh đạo Hội cấp tỉnh, thành, huyện, quận và cấp tương đuơng là Đại hội đại biểu tỉnh, thành phố họp 5 năm/1 lần; huyện, quận và cấp tương đương họp 5 năm/2 lần

Ban Chấp hành Trung ương Hội là cơ quan lãnh đạo phong trào giữa hai kỳ đại hội, có nhiệm vụ: lãnh đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội phụ nữ toàn quốc; lãnh đạo hướng dẫn các cấp hội thi hành chủ trương, chính sách luật pháp của Đảng và Nhà nước; đại diện cho Hội thực hiện quyền làm chủ tập thể và quyền bình đẳng của phụ nữ trong mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; thay mặt Hội trong hoạt động quốc tế

Cấp Hội ở Trung ương cần có khả năng nghiên cứu đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước và tình hình thực tế của phụ nữ, đề ra được những nội dung công tác của Hội, tổ chức chỉ đạo thực hiện, tổng kết rút ra vấn đề, kiến nghị với Đảng và Nhà nước những chính sách lớn, tổ chức sự kết hợp công tác với các cơ quan Nhà nước, các ngành, đoàn thể

Ban chấp hành phụ nữ các cấp có nhiệm vụ: tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của đại hội đại biểu cấp mình; lãnh đạo cấp dưới thực hiện các chủ trương công tác của cấp ủy địa phương và của Hội cấp trên; kiểm tra, đề xuất với Đảng, chính quyền và các ngành địa phương về quyền bình đẳng, quyền làm chủ tập thể, chăm lo đời sống sức khỏe của phụ nữ và trẻ em

Trang 27

Cấp Hội ở huyện, quận, tỉnh, thành cần nâng cao trình độ để có khả năng chủ động công tác, biết cụ thể hoá chủ trương của cấp trên phù hợp với thực tế, chỉ đạo sâu sát cơ sở, phát hiện và đề xuất được những vấn đề của phụ nữ địa phương

Ban chấp hành cơ sở có nhiệm vụ: giáo dục, vận động quần chúng phụ nữ tham gia tích cực phong trào lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, chấp hành mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện nghị quyết của Hội cấp trên và nghị quyết của đại hội cấp mình; phát hiện, đề xuất với Đảng, chính quyền địa phương và các ngành chăm lo đời sống bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ trẻ em; hướng dẫn phụ nữ tổ chức cuộc sống gia đình hòa thuận, hạnh phúc và nuôi dạy con tốt; phát triển hội viên, hướng dẫn sinh hoạt tổ hội viên xây dựng quỹ hội

1.2.1.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế

Kiện toàn các cấp Hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở Hội trở thành vấn đề có tính chất cấp bách Công tác kiện toàn củng cố bộ máy tổ chức các cấp Hội được đặt ra từ trước và sau Đại hội phụ nữ các cấp, thực hiện Quyết

định số 227/HĐBT ngày 29/12/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc “sắp xếp lại

tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp” Trung ương Hội

thực hiện củng cố kiện toàn bộ máy Trung ương; triển khai kế hoạch hướng dẫn các tỉnh, thành Hội từng bước kiện toàn bộ máy cấp tỉnh, tiến tới cấp huyện, cơ sở Trung ương Hội tiến hành sắp xếp lại các ban, các bộ phận Đồng thời, tiến hành xây dựng và bổ sung quy chế làm việc của Đảng đoàn, Đoàn Chủ tịch, Ban thư ký, Ban chấp hành và các ban, bộ phận trong cơ quan, xây dựng chương trình và chế độ cho cán bộ đi cơ sở Nhiều tỉnh, thành, quận, huyện Hội kiện toàn bộ máy theo hướng giảm đầu mối, giảm cán bộ

Trên cơ sở đó, việc kiện toàn bộ máy, tinh giản biên chế được thực hiện một bước Năm 1988, tính chung về biên chế, cấp tỉnh giảm 132, cấp huyện giảm 228 Tổng số biên chế của cả hệ thống Hội giảm 20% [23, tr 4]

Năm 1987, 31/40 tỉnh, thành Hội sắp xếp còn 4 ban, 9 tỉnh có 5-7 ban Năm

1989, bộ máy cấp tỉnh thu gọn với mô hình 2 ban (Văn phòng và Phong trào) cho

Trang 28

các tỉnh có quy mô nhỏ, 3 ban (Văn phòng, Tổ chức và Phong trào) cho các tỉnh có quy mô lớn, hoặc tính chất phức tạp Kết quả có 16 tỉnh, thành Hội tổ chức theo mô hình mới, trong đó 9 tỉnh có 2 ban, còn lại các tỉnh sắp xếp theo 3 ban Việc sắp xếp lại các ban ở các tỉnh khắc phục được sự chồng chéo, tạo điều kiện, khả năng tập trung cán bộ cho công tác chỉ đạo phong trào, chuyên môn hoá đội ngũ và nâng cao khả năng tổ chức vận động quần chúng của cán bộ Hội

1.2.1.3 Công tác tổ chức Hội cấp cơ sở

Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ lần thứ VI xác định: “Xây dựng củng cố

cơ sở Hội là khâu công tác trọng yếu để thực hiện chức năng nhiệm vụ và tạo nên sức mạnh của Hội” Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ lần thứ

VI, bước sang năm 1988, Trung ương Hội chỉ đạo tập trung củng cố cơ sở theo hướng nâng cao chất lượng hoạt động theo chức năng, đa dạng hoá các hình thức tập hợp phụ nữ, nâng cao năng lực chủ động hoạt động của Ban Chấp hành các cấp

và các tổ phụ nữ cơ sở Theo Điều 23 Điều lệ Hội, tổ phụ nữ được tổ chức dựa theo các điều kiện: những nơi hầu hết chị em đã vào tổ chức làm ăn tập thể, tổ phụ nữ tổ chức theo đơn vị sản xuất; những nơi chị em chưa hoặc ít người vào làm ăn tập thể thì tổ chức phụ nữ theo đơn vị dân cư; ở thành phố, thị xã, thị trấn tổ chức tổ phụ nữ theo tổ dân phố

Chỉ đạo điểm củng cố tổ chức cơ sở Hội được đặt thành vấn đề cấp thiết, trọng tâm trong năm 1989 Trung ương Hội tập trung cán bộ để chỉ đạo điểm ở 4 tỉnh (Hà Nội, Tây Ninh, Bắc Thái, Lạng Sơn) và 23 tỉnh, thành Hội chỉ đạo được

233 điểm Trên cơ sở khảo sát toàn diện thực trạng tình hình cơ sở Hội ở một số địa phương, Trung ương Hội triển khai tăng cường củng cố tổ chức Hội phụ nữ ở cơ sở, nhất là vùng xung yếu, vùng đồng bào công giáo, dân tộc và phối hợp với công đoàn chỉ đạo xây dựng uỷ ban nữ công cơ sở Mô hình tổ chức với quy mô nhỏ, tổ chức linh hoạt theo địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, theo ngành nghề, sở thích, lứa tuổi, tín ngưỡng được xác định là phù hợp với yêu cầu tập hợp phụ nữ trong tình

Trang 29

hình mới Năm 1991, đội ngũ cán bộ Hội các cấp đã tổ chức các hình thức tập hợp hội viên như sinh hoạt theo tổ sản xuất, theo địa bàn dân cư, tổ phụ nữ tự nguyện, tổ phụ nữ nòng cốt, tổ phụ nữ theo ngành nghề, lứa tuổi…

1.2.1.4 Đội ngũ cán bộ

Lực lượng cán bộ Hội nòng cốt bao gồm ban chấp hành xã, phường, tổ trưởng, nhóm trưởng phụ nữ và những chị em không chuyên trách nhưng được tín nhiệm, có khả năng tổ chức các hoạt động của Hội Để phát huy tốt hai nguồn lực trên, Đại hội đại biểu Phụ nữ lần thứ VI nhấn mạnh yêu cầu các cấp Hội thực hiện vai trò tập hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức nghiên cứu, tổ chức hoạt động, tiến hành sơ kết, tổng kết, đúc rút và phổ biến kinh nghiệm Đồng thời, Hội cần có thái độ tôn trọng, có biện pháp bồi dưỡng những thông tin cần thiết, có chế độ đãi ngộ thích đáng đối với đội ngũ cán bộ Riêng đồng chí hội trưởng hội phụ nữ phải có khả năng nắm được diễn biến tư tưởng của phụ nữ, giáo dục, thuyết phục, giúp đỡ và tổ chức phụ nữ thành lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện các chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước, các chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ và của Hội cấp trên

Công tác tổ chức cán bộ được coi là nhiệm vụ trọng tâm, để phục vụ yêu cầu làm cho Hội thực sự là tổ chức quần chúng cách mạng của Đảng, có khả năng tổ chức, giáo dục, động viên đông đảo phụ nữ hành động cách mạng thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, và đảm bảo những hoạt động thiết thực đại diện quyền làm chủ, chăm sóc và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Trung ương và các tỉnh, thành Hội xác định công tác đào tạo bồi dưỡng phải được tăng cường và duy trì thành hoạt động thường xuyên Năm 1988, Trung ương Hội bước đầu mở lớp bồi dưỡng về chức năng, nhiệm vụ và nội dung cơ bản của nghị quyết đại hội phụ nữ lần thứ VI; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội cho cán bộ chủ chốt các tỉnh, thành, đặc khu Hội; tập trung tập huấn các chuyên đề về nghiệp vụ công tác Hội cho các ban chuyên môn của các tỉnh, thành Hội Năm 1989, Trung ương Hội tiếp tục đầu tư nhân lực, tập trung kinh phí mở 6 lớp tập huấn về chức năng, nhiệm vụ của Hội, về yêu cầu

Trang 30

đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động cho trên 800 cán bộ chủ chốt các tỉnh, thành, quận, huyện

Với đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ VI, Trường Cán bộ phụ nữ Trung ương đổi mới nội dung phương thức đào tạo bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu hoạt động của Hội và nguyện vọng của đội ngũ cán bộ Chú trọng bồi dưỡng theo các chuyên đề về luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế mới, quan điểm mới trong công tác phụ vận, nhằm nâng cao trình độ và nghiệp vụ công tác cho chị em, nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp Hội Các khoa tiến hành rà soát lại những vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc phạm vi môn học nhằm từng bước khắc phục những thiếu sót trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung những nội dung giảng dạy mới, những phương thức mới trong công tác vận động phụ nữ Tăng cường giảng dạy thêm kiến thức làm mẹ, làm vợ và hoạt động kinh tế gia đình… Ngoài ra còn thêm những môn học bổ trợ như tâm lý học, giáo dục học, kiến thức về cây thuốc Nam chữa bệnh cho phụ nữ trẻ em, về nữ công gia chánh Đầu năm 1989, Trường tổng kết khóa học dài hạn 2 năm của cả nước cho

178 học viên, trong đó có 99 cán bộ miền Nam, 44 cán bộ vùng dân tộc ít người

Trong những năm 1989-1990, Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương bổ sung thêm nội dung giảng dạy về các nghị quyết của Đảng, về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, về các chính sách luật pháp của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến phụ nữ, trẻ em, về quan điểm giải phóng phụ nữ trong thời kỳ mới Từ quý II năm 1989 đến tháng 7 năm 1990, Trường đã tổ chức tập huấn 6 lớp, bao gồm 967 học viên, trong

đó có 1 lớp bồi dưỡng chương trình 3 tháng Trong năm 1990, Trường tổ chức lớp tập huấn cho 88 Hội trưởng Phụ nữ các xã điểm của các tỉnh, thành phía bắc

Năm 1989, song song với nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Hội đương chức, Trung ương Hội LHPN Việt Nam giao nhiệm vụ cho Trường Cán bộ

Phụ nữ Trung ương II ở Thành phố Hồ Chí Minh “đào tạo hoàn chỉnh chương trình

trung cấp và nghiệp vụ” cho số cán bộ trẻ, chuẩn bị lực lượng kế cận cho tỉnh, thành

hội trong những năm tới Kết quả có 60 học viên thuộc 23 đơn vị từ Bình Trị Thiên

Trang 31

đến Minh Hải theo học, trong đó Tiền Giang và Hậu Giang là 2 đơn vị có số lượng học viên cao nhất (10 cán bộ/tỉnh)

1.2.1.5 Tập hợp hội viên

Điều lệ Hội quy định: “Tất cả phụ nữ Việt Nam từ 18 tuổi trở lên trong đơn

vị hành chính dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, kinh doanh dịch vụ, bộ phận phụ

nữ trong các đoàn thể, trong các tổ chức xã hội, chị em Việt kiều ở nước ngoài, các

cá nhân yêu nước, không phân biệt dân tộc, tôn giáo tán thành điều lệ Hội được xét công nhận là hội viên” [31, tr.10] Mạng lưới cộng tác viên của Hội bao gồm những

người am hiểu những vấn đề liên quan đến phụ nữ, trẻ em và có nhiệt tình cộng tác với Hội: các nhà khoa học, các nhà giáo dục, y tế, văn hoá, nghệ thuật, quản lý kinh

tế, cán bộ hưu trí, cán bộ đương chức… Đó là những người tự nguyện tham gia vào các mặt nghiên cứu, giáo dục, tổ chức hoạt động theo kế hoạch của các cấp Hội

Bước vào năm 1986, Hội LHPN Việt Nam thu hút khoảng 11.000.000 hội viên với 11.000 chi hội Đến cuối năm 1991, tổng số hội viên là 10.058.023 người (chiếm 53,67% so với tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên) Số chi Hội là 11.180, trong

đó chi hội khá chiếm 40% Số tổ phụ nữ là 55.462, trong đó tổ phụ nữ khá chiếm 50% [Phụ lục 3]

1.2.1.6 Công tác gây quỹ Hội

Điều 27 Điều lệ Hội quy định về tài chính của Hội: “Hội viên có nhiệm vụ

đóng hội phí và tham gia các hoạt động để xây dựng quỹ Hội Hội phí của hội viên đóng hàng tháng 2 đồng” [31, tr.26]

Công việc gây quỹ Hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc duy trì, củng

cố và phát triển hoạt động của tổ chức Hội Các cấp Hội có nhiều sáng tạo tìm ra các hình thức gây quỹ phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ sở Các hình thức gây quỹ Hội phong phú, đa dạng bao gồm: hoạt động dịch vụ, gửi tiết kiệm lấy lãi, sản xuất lúa, hoa màu, trồng cây công nghiệp xuất khẩu, tổ chức cắt may, nhận gia công, chế biến hải sản… Hoạt động gây quỹ Hội đạt hiệu quả, có tác dụng tốt hỗ trợ cho phong trào và hoạt động của các cấp Hội Quỹ Hội về cơ bản

Trang 32

được sử dụng thiết thực, đúng hướng: chi cho các hoạt động của Hội, khen thưởng, bồi dưỡng cán bộ Hội, thăm hỏi hội viên khi ốm đau… Năm 1988, 36/40 tỉnh, thành Hội có các hoạt động gây quỹ từ cấp cơ sở đến quận, huyện, tỉnh, thành Một số tỉnh hoạt động gây quỹ có phong trào tốt và có hiệu quả kinh tế cao là: An Giang, Sông

Bé, Tiền Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Đồng Tháp, Vũng Tàu, Côn Đảo, Tiền Giang, Hà Bắc Các tỉnh miền núi phía Bắc dù có nhiều khó khăn vẫn đi vào hoạt động dịch vụ gây quỹ là Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn

1.2.1.7 Hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác xây dựng tổ chức Hội LHPN Việt Nam vẫn còn những hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ của Hội trong tình hình mới

Tổ chức cơ sở Hội đã được củng cố, song vẫn là khâu khó khăn nhất Nhìn

chung tổ chức Hội ở cơ sở vẫn như cũ Cách tổ chức “Hội viên cả làng” chỉ có trên

danh nghĩa, thực chất chị em không tham gia sinh hoạt khá đông Việc thu hút phụ

nữ vào tổ chức và tập hợp hội viên tham gia các hoạt động của Hội còn thấp Các loại hình chưa đa dạng, chưa đi vào từng đối tượng hội viên, chưa tập hợp được các đối tượng phụ nữ chậm tiến

Tổ chức bộ máy các cấp Hội vẫn kém hiệu lực, cán bộ thực chất làm việc và làm việc có chất lượng chỉ khoảng 50% trở xuống, ở một số nơi cán bộ hoạt động chỉ có 1/3 Cá biệt có tỉnh sau kiện toàn chất lượng bộ máy không được nâng lên mà còn giảm sút Việc tinh giản biên chế không đồng đều, các cấp huyện có nhiệu khó khăn, số xã đông, biên chế ít, miền núi, đồng bằng biên chế như nhau Thực tế các cấp Hội vẫn trong tình trạng người thiếu vẫn thiếu, người thừa vẫn thừa

Công tác bồi dưỡng cán bộ tổ chức phô trương nhưng chất lượng và hiệu quả chưa cao Một số nơi tổ chức tập huấn chưa sâu, còn hình thức hoặc qua loa, đại khái Việc xây dựng đội ngũ cán bộ Hội chưa theo kịp với yêu cầu của vai trò, vị trí, chức năng của Hội trong thời kỳ mới Năm 1991, mới chỉ có 60% cán bộ cấp trung ương có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học về chuyên môn, 14% có trình độ

Trang 33

cao cấp lý luận chính trị; 14,7% cán bộ cấp tỉnh có trình độ đại học về chuyên môn, 8,4% có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 3,1% cán bộ cấp huyện có trình độ cao đẳng, đại học về chuyên môn, 1% có trình độ cao cấp lý luận chính trị [Phụ lục 3];

tỷ lệ chủ tịch, phó chủ tịch, đặc biệt là ủy viên ban chấp hành cơ sở mù chữ ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn cao

Việc xây dựng quỹ Hội còn tồn tại hạn chế từ Trung ương xuống cơ sở Các cấp Hội chưa tập trung đầu tư, thiếu hướng dẫn đối với cơ sở, không nắm được nguồn quỹ của cơ sở, do đó việc thu chi quỹ Hội ở một số cơ sở không đúng mục đích, yêu cầu (quỹ hội chủ yếu chi thăm hỏi bộ đội, gia đình chính sách) Một số cơ

sở của Phú Yên, quỹ Hội lại do cấp ủy quản lý thu chi

1.2.2 Hoạt động của Hội LHPN Việt Nam

Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam triển khai các hoạt động góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, nhằm sáng tạo ra những của cải vật chất, những giá trị văn hoá tinh thần cho đất nước

Trước tình hình mới, nhiệm vụ của Hội phụ nữ rất nặng nề Song, với tinh thần trách nhiệm cao, tất cả vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, các cấp Hội đã khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu, thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và các chương trình, công tác trọng tâm của Trung ương Hội đề ra

Ngay từ Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam luôn xác định vai trò và trách nhiệm trước mọi biến động của đất nước Phụ nữ Việt Nam tin vào Đảng, tin vào đường lối đổi mới, ủng hộ đường lối đổi mới do Đảng

Cộng sản Việt Nam khởi xướng với tinh thần: “Toàn Đảng, toàn dân ta, đoàn kết

một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh

Trang 34

chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lậo dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” [9, tr 549]

Trải qua thực tiễn, tích cực nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, tổng kết các phong trào, Hội LHPN Việt Nam có những điều kiện để hiểu biết đầy đủ hơn về

con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của

những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế

xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo” [9, tr 550] Trên tinh thần đó,

Hội nhất trí với đường lối chung và những chủ trương cụ thể về kinh tế xã hội, về chính sách đối ngoại, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Theo đó, Hội LHPN Việt Nam nhận thức được rằng: cần đổi mới nội dung

và phương thức hoạt động cho phù hợp với tình hình và yêu cầu mới, phù hợp với những cuộc cải cách về quản lý kinh tế và xã hội; phải hướng mạnh về cơ sở, đi sâu giáo dục và động viên các tầng lớp nhân dân tham gia rộng rãi và thường xuyên vào các công việc quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng Đảng, tích cực tạo ra những phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng

1.2.1.1 Thực hiện ba chương trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu

Những mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra, mà trọng tâm là 3 chương trình kinh tế lớn (lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu) đặt ra cho toàn dân những nhiệm vụ hết sức nặng nề, phải phấn đấu hoàn thành trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn Đó cũng là đòi hỏi cấp thiết của đất nước đối với phong trào phụ nữ, đối với mỗi người phụ nữ, và cũng là điều kiện hàng đầu để bảo đảm những quyền lợi cơ bản nhất của phụ nữ, trẻ em

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam tại Đại hội

phụ nữ toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “Phong trào Người phụ nữ mới xây dựng

Trang 35

và bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới, phải động viên toàn thể phụ nữ quyết tâm vượt mọi khó khăn, ra sức phấn đấu thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, những mục tiêu kinh tế - xã hội của những năm 1987-1990, mà nội dung chủ yếu là 3 chương trình kinh tế lớn” [36, tr 28]

Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Đoàn kết, giáo dục động viên phụ nữ tham gia

phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” góp phần thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn” [36, tr 29]

Dù còn nhiều khó khăn về kinh tế, đời sống, song cán bộ, hội viên Hội nỗ lực

cố gắng, phấn đấu thực hiện nhiệm vụ trung tâm của Đảng, Nhà nước và của Hội trên các mặt trận sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Trong sản xuất công nghiệp, các phong trào thi đua “Về trước kế hoạch,

nâng cao chất lượng sản phẩm”, “phong trào sáng kiến cải tiến”, “ phong trào tiết kiệm nguyên vật liệu”, “phong trào đôi bàn tay vàng”, “phong trào Hai tốt - Hai giỏi…” nhận được sự nhiệt tình tham gia của chị em Năm 1987, ở một số tỉnh

Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Hưng, Bắc Thái, Thái Bình, Hà Nam Ninh có được 1.456 công trình xây dựng Ngành dệt ở Hà Nội có 30 cơ sở tiết kiệm được 18.400.000 đồng [21, tr 3]

Trên mặt trận nông nghiệp, Hội vận động phụ nữ nông dân phát huy phong trào tương trợ, giúp nhau giống, vốn kết hợp đẩy mạnh sản xuất, chăn nuôi, phấn đấu đảm bảo thời vụ, diện tích Ở nhiều nơi, chị em nhanh chóng tiếp thu khoa học

kỹ thuật mới trong thâm canh lúa, ngô, cao sản đại trà đạt năng suất cao, đồng thời tập trung vốn đầu tư cho sản xuất, cải tạo đồng ruộng, làm phân, làm thủy lợi, mở rộng diện tích cây vụ đông, đảm bảo thâm anh hai vụ chiêm mùa đạt năng suất 3-4 tấn/ha/vụ Lúa xuân, lúa mùa, rau màu vụ đông đạt sản lượng lương thực 10-12 tấn/ha… Năm 1987, chị em nông dân duy trì và phát triển đàn lợn gia đình đạt 96,2% mức kế hoạch, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước [21, tr 3]

Hội vận động phụ nữ ngành tiểu thủ công nghiệp phát huy sáng kiến và sự khéo léo để sản xuất ra nhiều mặt hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu có giá trị kinh

Trang 36

tế và tính thẩm mỹ cao Các sản phẩm như gạo, cao su, chè, thủy sản, dệt may góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 439 triệu rúp à 384 triệu USD năm 1986 lên 1.019 triệu rúp và 1.170 triệu USD năm 1990 [21, tr.4]

Thực hiện Quyết định số 140-HĐBT, ngày 14/9/1987 của Hội đồng Bộ trưởng về triệt để tiết kiệm, Trung ương Hội có kế hoạch hướng dẫn các cấp Hội tiến hành tiết kiệm triệt để trong sản xuất và tiêu dùng, tiết kiệm nguyên liệu vật tư

sản xuất Thông qua việc tổ chức “Ngày hội tiết kiệm dịp 8/3, 20/10”, “Tiết kiệm vì

tương lai con em chúng ta”, “Tiết kiệm nhớ ơn bác”, “Tiết kiệm nghĩa tình…”, Hội

trở thành lực lượng nòng cốt và thành viên tích cực trong phong trào vận động tiết kiệm tiền, lương thực, nguyên liệu, vật liệu đạt hiệu quả Kết quả có nhiều cấp Hội tỉnh vận động phụ nữ tham gia mua công trái khá tốt như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Bắc, Quảng Ninh, Bến Tre, Hà Nam Ninh, Thái Bình, Hoàng Liên Sơn, Thanh Hóa Hội LHPN Thành phố Hồ Chí Minh còn phát triển mạnh phong trào tiết kiệm phế liệu Hội LHPN Thái Bình đẩy mạnh vận động hạn chế nấu rượu bằng lương thực…

1.2.1.2 Tiến hành hai cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học”

Ngày 8/3/1989, Hội LHPN Việt Nam chính thức phát động hai cuộc vận động trong toàn thể cán bộ, hội viên với nội dung: Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình và nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và bỏ học

Hai cuộc vận động được phát động phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế gia đình của Đảng và Nhà nước, đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo phụ nữ Các cấp Hội tích cực, chủ động triển khai, thu hút được sự tham gia của chị em, được các cấp ủy Đảng, chính quyền và một số ngành, đoàn thể đồng tình, hỗ trợ thực hiện

+ Với cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, Trung ương

Hội thực hiện chỉ đạo điểm tại xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục (Hà Nam Ninh) và có

kế hoạch hướng dẫn cách làm cụ thể cho các cấp Hội

Trang 37

Các cấp Hội vận động hội viên đi vào sản xuất phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng khu vực Ở các đường phố, thị xã, thị trấn, Hội vận động phát triển các loại hình kinh tế đa dạng như may mặc, thêu ren, khôi phục và phát huy các nghề truyền thống Với phụ nữ nông dân thì phát huy phong trào tương trợ, giúp nhau giống, vốn, ngày công lao động Kết quả năm 1989, 20 tỉnh tương trợ được 99.236.622 đồng, 113.494 ngày công và 94.652 con giống [23, tr 3]

Các cấp Hội tiếp tục sơ kết ở các điểm, tổ chức tọa đàm trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với những điển hình làm kinh tế giỏi Đến năm 1991, cuộc vận động được đẩy mạnh phát triển ra diện rộng ở nhiều nơi, với kết quả tốt Hầu hết các địa phương đều thực hiện được nội dung giúp nhau giống, vốn trong sản xuất, chăn nuôi; giúp nhau ngày công lúc thời vụ Kết quả có 39 tỉnh giúp nhau 1.478.000 đồng, 111.300 con lợn, 1.217.800 kg thóc giống, 620 cây vàng và 579.536 ngày công lao động [24, tr 5]

Ở các địa bàn đông dân cư, các cấp Hội kết hợp giúp nhau giống, vốn và giúp nhau tìm việc làm, dạy nghề góp phần tăng thu nhập cho phụ nữ nghèo Các tỉnh Quảng Ngãi, Hà Nam Ninh, Sông Bé, Minh Hải, Đồng Tháp, Bến Tre, Tiền

Giang, Vĩnh Phú xây dựng mô hình cho vay vốn dưới những tên gọi “Quỹ tương

trợ cộng đồng”, “Vốn tự có”, “Quỹ quay vòng vốn luân chuyển”… Kết quả 5 tỉnh

Đồng bằng Sông Cửu Long huy động được nguồn vốn 1.261.000.000 đồng và 1,7 lạng vàng Các tỉnh An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Hậu Giang, Vĩnh Phú… tranh thủ được sự hỗ trợ của chính quyền, các ngành, khai thác được nguồn vốn hỗ trợ cho những phụ nữ thiếu vốn, có sức lao động, có khả năng làm kinh tế vay để phát triển sản xuất [24, tr 6]

Cuộc vận động “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” như một đột phá

vào công cuộc xoá đói giảm nghèo trong nữ giới Kết quả là trong 3 năm 1992), chị em giúp nhau 1.212.536 ngày công; 64,48 kg vàng; 103 triệu đồng; 8.775 tấn thóc và hàng triệu con giống Hội phụ nữ các cấp mở 2.838 lớp dạy nghề cho 94.443 người Ở một số tỉnh còn tổ chức các phân xưởng sản xuất hoặc liên hệ các

Trang 38

(1989-cơ sở sản xuất tổ chức nhận hàng gia công tạo thêm thu nhập cho chị em [Phụ lục 3]

+ Với cuộc vận động “Nuôi dạy con tốt, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh

dưỡng và bỏ học”, Trung ương Hội chỉ đạo điểm ở xã Quảng Bi (Hà Sơn Bình) kết

hợp kiểm tra nắm tình hình ở một số tỉnh trọng điểm

Năm 1989 hướng chỉ đạo trọng tâm là tập trung chỉ đạo điểm và triển khai có hiệu quả ở 30% số xã Trung ương Hội phối hợp cùng Viện Dinh dưỡng tổ chức thi

“Bé khoẻ, bé ngoan”, triển khai chương trình chống thiếu vitamin A, phối hợp với

UNICEF kiểm tra chương trình nuôi dạy con ở Hà Nam Ninh, Hà Tuyên Nhiều cơ

sở hội thành lập “Quỹ Dinh dưỡng”, “Quỹ vì trẻ em”, tổ chức “Một ngày công vì trẻ

em”… Kết quả ở 35 tỉnh có 1,5 triệu bà mẹ được tổ chức học tập về nuôi dạy con

theo khoa học [23, tr 6]

Năm 1990, Hội phát động chiến dịch truyền thông cuốn sách “Những điều

cần cho sự sống” Xuất phát từ lợi ích của giới phụ nữ, Hội truyền bá đến từng gia

đình, từng người phụ nữ trong toàn quốc những kiến thức tối thiểu để tự biết chăm sóc sức khoẻ của mẹ và con, cũng như phổ biến rộng khắp bằng nhiều thứ ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số

Đến năm 1991, cấp huyện cơ bản hoàn thành việc chỉ đạo điểm và rút kinh nghiệm ở điểm Nhiều tỉnh hoàn thành khảo sát, phân loại sức khỏe trẻ em từ 0-6 tuổi và trẻ em bỏ học Kết quả ở 33 tỉnh tổ chức khám sức khỏe cho 235.600 trẻ em

từ 0-6 tuổi và 814.750 phụ nữ [24, tr 5]

Phong trào vận động các bà mẹ góp thêm tiền; vận động các nhà hảo tâm, hội

viên phụ nữ, các tổ chức từ thiện ủng hộ quỹ “Bảo trợ trẻ thơ, chăm sóc trẻ em suy

dinh dưỡng…” được phát triển mạnh ở các tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Sông Bé,

Nghệ Tĩnh, Hải Hưng, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang, Hà Sơn Bình… Tổng số tiền thu được trong năm 1991 là 1.151.244.000 đồng [24, tr 5]

Thông qua Quyết định 163-HĐBT, ngày 19/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về việc quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm

Trang 39

cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước, các cấp Hội nhận được sự giúp đỡ về kinh phí từ chính quyền, như ở An Giang là 60 triệu đồng, Tây Ninh là 30 triệu đồng Đặc biệt, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang còn xây dựng chương trình hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng giao cho Hội LHPN tỉnh chủ trì với kinh phí kèm theo là 100 triệu đồng

Hội LHPN Việt Nam cũng ký Thông tư liên tịch số 02/LT ngày 21/8/1991 cụ thể hoá chương trình phối hợp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo và Hội Liên hiệp Phụ nữ

về công tác xoá mù và hạn chế trẻ em bỏ học Hội có chương trình phối hợp với Uỷ ban Quốc gia chống mù chữ, đưa công tác xoá mù vào chương trình phụ nữ trong

phát triển, lồng ghép với dự án “Tăng thu nhập, giáo dục và vận động xoá mù chữ

cho phụ nữ”

Không chỉ hợp tác với một số cơ quan chức năng của Nhà nước, Hội LHPN Việt Nam còn vươn ra phối hợp liên kết với 193 tổ chức quốc tế, phi chính phủ, xã hội, nhân đạo và khai thác các dự án của họ cho phụ nữ trẻ em [Phụ lục 3]

Kết quả trong 3 năm thực hiện cuộc vận động, các cấp Hội tổ chức được 208.877 lớp học bồi dưỡng kiến thức nuôi dạy con cho 2.757.183 bà mẹ; các loại

quỹ “Vì trẻ thơ”, “Vì trẻ em suy dinh dưỡng”, “Vì trẻ em nghèo thất học” quyên

góp được 1.309.498.000 đồng [Phụ lục 3]

1.2.1.3 Hội LHPN Việt Nam thực hiện Quyết định 163-HĐBT

Năm 1988, Trung ương Hội tích cực phối hợp xây dựng văn bản thể chế hóa,

cụ thể vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong việc tham gia công tác Nhà nước theo chủ trương của Hội đồng Bộ trưởng Quyết định số 163 của Hội đồng Bộ trưởng được ban hành ngày 19/10/1988 kèm theo quy định về trách nhiệm các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước

Ngay sau khi Quyết định 163-HĐBT được ban hành, Trung ương Hội có chỉ thị, kế hoạch tổ chức các cuộc tọa đàm với cán bộ nữ, cán bộ nghiên cứu khoa học ở một số bộ, ngành Trung ương bàn biện pháp phối hợp triển khai Kết quả năm 1989

Trang 40

có 44 tỉnh, thành triển khai Quyết định 163-HĐBT trong cán bộ chuyên trách, có 34 tỉnh phối hợp với chính quyền ra chỉ thị, quy chế, kế hoạch thực hiện Quyết định 163-HĐBT, có 106 huyện, 1248 xã xây dựng quy chế làm việc giữa Hội và chính quyền Đến năm 1991, trong hệ thống Hội phụ nữ, có 49/49 tỉnh/thành, 505 quận/huyện, 5.779 cơ sở và 3.000.000 hội viên được phổ biến và hướng dẫn thực hiện quyết định 163-HĐBT [Phụ lục 3]

Thông qua cơ chế quyết định 163-HĐBT, vai trò, vị trí của Hội phụ nữ bước đầu được xác định rõ hơn Nhiều nơi, cấp chính quyền nhân dân hiểu rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của Hội phụ nữ, từ đó tạo điều kiện giúp Hội hoạt động đúng chức năng; đồng thời tạo điều kiện bồi dưỡng cán bộ Hội để chị em nắm được chức năng hoạt động của các cấp chính quyền, tham gia quản lý Nhà nước Hội phụ nữ các cấp được tham gia và là thành viên chính thức trong các hội đồng tư vấn Chính quyền các cấp tạo điều kiện cấp kinh phí, cơ sở vật chất, vốn ban đầu để Hội xây dựng trụ

sở làm việc, mở trung tâm dạy nghề và dịch vụ Đồng thời giải quyết một số vấn đề cấp bách trước mắt có liên quan đến phụ nữ, trẻ em Giải quyết đơn thư khiếu tố, khiếu nại về hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai… Ý nghĩa to lớn của Quyết định

163 là đánh dấu sự chuyển biến từ thời kỳ chính quyền coi Hội LHPN là một công

cụ để thực hiện một số việc cần thiết của chính quyền sang thời kỳ phối hợp theo cơ chế, thể chế của Nhà nước mang tính pháp lý, xác định rõ hơn trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước trong thực hiện công tác phụ nữ

1.2.1.4 Tham gia xây dựng, kiểm tra giám sát việc thi hành luật pháp, chính sách có liên quan trực tiếp đến phụ nữ, trẻ em

Trên cơ sở tổ chức khảo sát thí điểm tình hình thực hiện cơ chế khoán gọn đến hộ gia đình, thực hiện các chính sách xã hội và những vấn đề liên quan đến lao động nữ ở nông thôn, Trung ương Hội có những đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước và các ngành có liên quan Trung ương và các cấp Hội tham gia ý kiến xây dựng dự thảo Hiến pháp, dự thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Bộ Luật Dân sự, Luật tố tụng hình sự, dự thảo

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w