1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975

118 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền giáo dục nói chung và giáo dục ĐH &THCN nói riêng từ khi hoà bình lập lại đến năm 1965, tuy đạt được những thành tựu quan trọng, song so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH ở miề

Trang 1

NGÔ VĂN HÀ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TRUNG

HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở MIỀN BẮC

1965- 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊGH SỬ

HÀ NỘI – 2003

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ VĂN HÀ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TRUNG

HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở MIỀN BẮC

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5 CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP(1965-1969) 10

1.1.VÀI NÉT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP MIỀN BẮC TRƯỚC NĂM 1965 10 1.1.1 Giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ 1945-1954 10 1.1.2 Giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp XHCN trong thời kỳ 1954- 1965 13 1.2 LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP (1965- 1969) 22 1.2.1 Chủ trương của Đảng và Chính phủ về chuyển hướng giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp trong tình hình mới 22 1.2.2.Tổ chức thực hiện chuyển hướng giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp 29 1.3 TIỂU KẾT 48

CHƯƠNG 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP (1969- 1975) 50

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP 50 2.2 LÃNH ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC

CHUYÊN NGHIỆP 55 2.2.1 Ổn định cơ sở vật chất và đời sống của cán bộ, học sinh 55 2.2.2 Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tăng cường quản lý đào tạo, cải tiến công tác đào tạo cán bộ THCN, hoàn thành việc chuẩn bị cải cách giáo dục ĐH &THCN 60 2.2.3 Kết hợp công tác phục vụ với giảng dạy, học tập 78 2.3 TIỂU KẾT 87

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 88

3.1 NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP 88

3.1.1 Giáo dục ĐH &THCN giai đoạn 1965- 1975 phát triển trong hoàn cảnh chiến tranh 88 3.1.2 Đây là giai đoạn giáo dục ĐH &THCN phải di chuyển nhiều lần 89 3.1.3 Các trường ĐH &THCN vừa làm nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, vừa trực tiếp tham gia chiến đấu, sản xuất 90

Trang 4

3.1.4 Xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN XHCN ở điểm xuất phát thấp 91

3.2 THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CƠ BẢN 91

3.2.1 Thành tựu 91

3.2.2 Những tồn tại 99

3.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM 101

3.3.1 Giáo dục ĐH & THCN phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng 101

3.3.2.Phát triển nền giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp mang tính nhân dân 103

3.3.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đảm bảo về số lượng và chất lượng tốt 105

3.3.4 Nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, mở rộng quan hệ quốc tế 110

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Giáo dục được coi là nhân tố quyết định để thực hiện mục tiêu đó Đảng ta khẳng định“Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài[44, tr 107].

Nền giáo dục nói chung và giáo dục ĐH &THCN nói riêng từ khi hoà bình lập lại đến năm 1965, tuy đạt được những thành tựu quan trọng, song so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, và yêu cầu to lớn của nhiệm vụ cách mạng chung của cả nước thì còn chậm trễ, vừa thiếu cán bộ, vừa mất cân đối, chất lượng cán bộ chưa được coi trọng tương xứng với số lượng,"một số ngành và một số loại cán bộ yêu cầu đào tạo chưa rõ ràng, phương thức đào tạo chưa thích hợp"[19, tr 54]

Việc nghiên cứu về giáo dục ĐH &THCN một thời kỳ lịch sử nhất định, gợi mở những bài học học bổ ích trong việc hoạch định đường lối phát triển giáo dục ĐH &THCN hiện nay

Vì những lý do trên khuyến khích chúng tôi chọn đề tài “ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP Ở MIỀN BẮC GIAI ĐOẠN 1965- 1975”, làm luận văn tốt nghiệp

cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng

Chúng tôi chọn giai đoạn này là vì giáo dục ĐH &THCN miền Bắc phát triển trong điều kiện đặc biệt Đất nước bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị khác nhau Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai chiến

Trang 6

lược cách mạng: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, đặc biệt từ năm1965 trở đi, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước Đây là giai đoạn đầy biến động của giáo dục ĐH &THCN Việt Nam Trước tình hình mới, Đảng ta thực hiện chủ trương chuyển hướng công tác giáo dục, đẩy mạnh qui mô đào tạo cán bộ chuyên môn, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong trường học, thực hiện

nguyên lý, phương châm giáo dục trong hoàn cảnh chiến tranh, và sáng tạo ra

nhiều hình thức, phương pháp giáo dục, đào tạo, bồi dữơng con người để đưa nền giáo dục ĐH &THCN phát triển mạnh mẽ, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng miền Bắc XHCN và sự nghiệp thống nhất đất nước, tạo tiền đề quan trọng cho nền giáo dục ĐH &THCN giai đoạn sau

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ lâu, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục ĐH &THCN nói riêng là

đề tài được nhiều cán bộ khoa học, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiều nhà quản lý giáo dục quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau Có thể kể các tác phẩm tiêu biểu như, “Về vấn đề giáo dục”-tập hợp những bài viết, bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh; “Mấy vấn đề về văn hoá giáo dục” -tập hợp những bài viết, bài nói chuyện của đồng chí Phạm Văn Đồng; “Về văn hoá giáo dục” của Nguyễn Khánh Toàn; “Lịch sử ĐH & THCN Việt Nam” tập I, do Lê Văn Giạng chủ biên; “Sơ thảo lịch sử ĐH

&THCN Việt Nam giai đoạn 1955- 1975, do Nguyễn Được biên soạn phần giáo dục đại học, Nguyễn Tuỳ biên soạn phần giáo dục THCN; "Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010" của Thủ tướng Chính phủ(12 năm 2001).(chúng tôi sẽ đề cập những công trình nghiên cứu về giáo dục ở phần danh mục tài liệu tham khảo)

Trang 7

Nhìn lại các công trình nghiên cứu về giáo dục ĐH &THCN bước đầu chúng tôi có suy nghĩ sau:

- Các tác giả đã nêu bật được tính chất, nội dung và nguyên lý của giáo dục ĐH & THCN

- Các công trình đã phân tích, đánh giá thực trạng, khẳng định những thành tựu to lớn của giáo dục ĐH & THCN, đồng thời vạch ra những tồn tại đã

và đang đặt ra

- Các tác giả đã tìm ra những nguyên nhân, đề ra những giải pháp cụ thể

để giáo dục ĐH & THCN phát triển trong điều kiện mới

Phải nói rằng những kết quả nghiên cứu về nền giáo dục ĐH &THCN là khá toàn diện, đề cập đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau Điều đó không

có nghĩa là mọi việc xem như đã hoàn tất Bức tranh toàn cảnh về nền giáo dục

ĐH &THCN, nhất là ở góc độ tổng kết lịch sử chưa được phản ánh trọn vẹn và đầy đủ Việc nghiên cứu về giáo dục ĐH & THCN vẫn cần phải tiếp tục

3 Đối tƣợng và phạm vi, mục đích và nhiệm vụ của đề tài

a Đối tượng và phạm vi:

Trang 8

- Những điều kiện kinh tế, xã hội và truyền thống lịch sử ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển giáo dục ĐH &THCN

- Đường lối chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN, trọng tâm là giai đoạn chuyển hướng giáo dục 1965- 1975; sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng và tinh thần vượt khó vươn lên của thầy trò các trường trong việc xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN

- Những nội dung cụ thể trong việc đẩy mạnh qui mô, nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, thực hiện phương châm giáo dục của Đảng

-Thàng tựu và hạn chế của ngành giáo dục ĐH &THCN trong quá trình xây dựng và trưởng thành

b Mục đích và nhiệm vụ: :

- Trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng về giáo dục ĐH

&THCN từ năm 1965 đến năm 1975, nhất là về đường lối chủ trương, biện pháp trong việc thực hiện chuyển hướng giáo dục

- Làm rõ nội dung các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục ĐH & THCN miền Bắc

- Xác định đặc điểm phát triển của giáo dục ĐH &THCN miền Bắc thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

- Bước đầu rút ra những nhận xét và bài học kinh nghiệm lịch sử và đề xuất một số kiến nghị, phục vụ cho việc xây dựng nền giáo dục ĐH & THCN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4 Nguồn tài liệu tham khảo

Nguồn tài liệu tham khảo chủ yếu là các văn kiện của Đảng và bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các công trình sử học của các tác giả Việt

Trang 9

Nam, các bài báo khoa học đăng trên tạp chí TW và địa phương có liên quan đến đề tài v.v

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp cơ bản để tiếp cận đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp lo gích Mức độ sử dụng hai phương pháp này sẽ tuỳ thuộc vào yêu cầu đặt ra trong nội dung các chương Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê,phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học

- Luận văn tập hợp các nguồn tư liệu và kết quả nghiên cứu về quá trình phát triển nền giáo dục ĐH &THCN miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1975, đồng thời góp phần bổ sung một số tư liệu trong quá trình nghiên cứu này -Từ góc độ sử học, luận văn sẽ trình bày một cách có hệ thống đường lối chủ trương, biện pháp và sự chỉ đạo của Đảng về giáo dục ĐH & THCN, nêu bật sự phát triển mạnh mẽ, những thành tựu và hạn chế của ngành ĐH &THCN Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1975

- Nêu rõ mối tác động qua lại giữa các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá với giáo dục trong hoàn cảnh cụ thể, làm rõ tính đặc thù của giáo dục ĐH & THCN Việt Nam giai đoạn 1965- 1975

- Rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay

7 Kết cấu của luận văn Luận văn được chia làm ba chương

Chương 1 : Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp (1965-1969)

Chương 2 : Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp (1969- 1975)

Trang 10

Chương 3 : Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

CHƯƠNG 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC &

TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP(1965-1969)

1.1.VÀI NÉT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN

1.1.1 Giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ 1945-1954

Quốc tử giám mở năm 1075, có thể coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Trong gần một trăm năm đô hộ, thực dân Pháp chỉ xây dựng cho cả Đông Dương một trường đại học gồm hai khoa( khoa luật và khoa y) và vài trường cao đẳng như Canh nông, Thương mại, Công chính, Mỹ thuật, Sư phạm, Thú y, Khoa học và chín trường trung cấp[3, tr13-14] Qui mô đào tạo nhỏ bé và không đều giữa các ngành Số lượng học sinh đại học năm cao nhất (1942) là 1085 người, trong đó số học sinh luật khoa và y khoa chiếm số đông Thực dân Pháp coi trường học là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa, đào tạo công chức cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh, thương nhân và đồn điền

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra kỷ nguyên : độc lập,

tự do cho dân tộc Ngay từ khi mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ rất

quan tâm đến việc phát triển nền giáo dục nước nhà Trong tình thế vận mệnh

đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”, biết bao việc quan trọng phải giải quyết, song Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định vai trò của giáo

Trang 11

dục, và chủ trương chống nạn thất học, khôi phục nền giáo dục ĐH &THCN

đã bị hoang tàn do các giáo sư người Pháp bỏ đi, sinh viên tản mạn mỗi người một nơi từ ngày Nhật đảo chính Pháp(9.3.1945) Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của BCHTƯ Đảng ra ngày 25 11 1945 nêu ra nhiệm vụ về văn hóa không chỉ tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ mà còn nêu rõ phải “mở ĐH &THCN, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ, cổ động văn hóa cứu quốc, kiến thiết nền văn hóa mới theo ba nguyên tắc; khoa học hoá, đại chúng hoá, dân tộc hoá[46, tr 28] Để có người hiền tài kiến thiết đất nước, xây dựng nền giáo dục mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết "chiếu cầu hiền" với lời lẽ chân thành, thiết tha "Kiến thiết thì cần phải có nhân tài Trong số 20 triệu đồng bào, chắc không thiếu người tài có đức E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi bậc hiền tài không thể xuất thân."[15, tr 451], và Người yêu cầu các địa phương lập danh sách người hiền tài cho Chính phủ để trọng dụng Nhờ chủ trương đúng đắn và sự nhiệt tình của những trí thức yêu nước được đào tạo dưới thời thuộc Pháp như ông Hồ Đắc

Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên, Nguyễn Thúc Hào,

Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn , các trường ĐH & THCN lần lượt được khôi phục và hoạt động trở lại theo tinh thần của nền giáo dục mới, “một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” Nền giáo dục dân tộc, dân chủ của chế độ mới, tuy mới phôi thai, trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục thời thuộc Pháp, đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân, để bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ Thực hiện dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương Kháng chiến bùng nổ trong phạm vi cả nước, thầy trò các trường ĐH & THCN cùng nhân dân cả nước, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ để bảo vệ thành quả của cách mạng tháng Tám Các trường rời Hà Nội về vùng nông thôn, lên Việt Bắc, chuyển hướng đào tạo,

Trang 12

phục vụ kháng chiến, kiến quốc Hội nghị cán bộ TƯ mở rộng tháng 4 1947 đã chỉ ra phương hướng chính cho toàn ngành giáo dục Công việc giáo dục phải thích hợp với thời kỳ kháng chiến, nghĩa là" chương trình học phải thiết thực, nhằm mục đích đào tạo nhân tài, cần dùng cho kháng chiến trước hết, về tất cả các ngành y tế, canh nông, quân giới cũng như thương mại, ngoại giao Học sinh phải vừa học, vừa tham gia sản xuất để tiếp tục tự túc tự cấp một phần nào"[46, tr 188]

Từ sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, đặc biệt là sau chiến thắng Biên Giới(1950), sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc được đẩy mạnh, nhu cầu về cán bộ chuyên môn trở nên bức thiết Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta vẫn quyết tâm mở thêm một số trường ĐH & THCN Ba Trung tâm Đại học được mở trong thời gian này Đó là, Trung tâm ở Việt Bắc

có Trường Đại học Y và Ban quân dược; Trung tâm khu IV có Trường Dự bị Đại học và Sư phạm Cao cấp; Trung tâm ở Khu học Xá TƯ có Trường Khoa học Cơ bản và Sư phạm Cao cấp Về khối trung học có mở thêm các trường sau: Giao thông Công chính(1948), Y sĩ(1949), Sư phạm(1950), Dược sỹ(1952), Nông lâm(1952), Ngoại ngữ(1952), Bưu điện(1954) Tính đến tháng

7 1954, chúng ta đã đào tạo được 600 sinh viên đại học và 1.520 học sinh trung cấp phục vụ kháng chiến và kiến quốc[4, tr 199] Cùng với việc đẩy mạnh đào tạo cán bộ trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu quan tâm đến việc gửi học sinh sang nước ngoài đào tạo Từ năm 1951, đoàn lưu học sinh đầu tiên của nước ta gồm 20 người được giử sang Liên Xô học tập, đến năm 1954 tổng

số lưu học sinh được đào tạo nước ngoài lên tới 700 người ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác

Như vậy, chúng ta bắt tay vào xây dựng nền giáo dục ĐH &THCN trong điều kiện hết sức khó khăn và xuất phát điểm là quá thấp Nó được ra đời và trưởng thành trong kháng chiến, lấy mục tiêu phục vụ kháng chiến, kiến quốc

Trang 13

làm hàng đầu Có thể coi nền giáo dục ĐH &THCN nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu từ đó Đánh giá ý nghĩa của việc xây dựng nền giáo dục ĐH

& THCN thời kỳ này, Nguyễn Khánh Toàn viết “ Phải khẳng định rằng mặc dù con số mà chúng ta xây dựng trong kháng chiến còn chưa được hoàn chỉnh, nhưng nó là cái nền tảng dựng trên một đường lối đúng đắn, không có nó thì chúng ta không thể giành được thắng lợi như trong thời kỳ 5 năm đầu từ khi hòa bình lập lại.”[11, tr 151]

1.1.2 Giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp XHCN trong thời kỳ 1954- 1965

Sau khi ký Hiệp định Giơ ne vơ(7 1954), hoà bình lập lại ở Đông Dương, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện nhiệm vụ khôi phục kinh tế sau chiến tranh(1954-1957),

tiến hành cải tạo XHCN, bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa(1958-1960), và

thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đưa miền Bắc tiến lên CNXH Sự nghiệp giáo dục trong đó có giáo dục ĐH &THCN đã từng bước phát triển qua các kế hoạch kinh tế, nhiệm vụ mới dưới ánh sáng đường lối chủ trương của

Đảng và Chính phủ

Tháng 3.1956, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Đề

án cải cách giáo dục phổ thông lần thứ hai Mục tiêu của cải cách gíao dục lần này là đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên phát triển về mọi mặt, thành những công dân tốt, cán bộ tốt, có đức, có tài trung thành với Tổ quốc, với chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự chủ, thống nhất Phương châm giáo dục là lý luận liên hệ với thực tế, nhà trường gắn liền với đời sống

xã hội Nội dung giáo dục toàn diện: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục Phương pháp giáo dục là tăng cường thực hành, tăng cường lao động sản xuất, chú ý nhiều hơn đến ứng dụng tri thức vào cuộc sống Đây là bước đi cơ bản ban đầu quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN Hệ thống giáo dục

Trang 14

theo mô hình của Pháp đầu thế kỷ XX "được cải tạo và xây dựng lại theo mô hình của các nước trong phe XHCN, chủ yếu là của Liên Xô Công cuộc xây dựng hệ thống giáo dục mới này đã tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông

mà còn ở giáo dục ĐH & THCN.”[4, tr 20]

Cũng năm 1956, theo đề nghị của Bộ giáo dục nước ta, các chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam để giúp đỡ kế hoạch xây dựng và phát triển ngành ĐH

&THCN Trên cơ sở đã được chuẩn bị, ngày 12 10 1956 Vụ ĐH &THCN đã

tổ chức lễ khai giảng cho năm trường đại học(Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm, Đại học Y dược, Đại học Nông lâm và Đại học Bách khoa)

Khối THCN cũng được mở rộng Ngoài các trường khối nông lâm, sư phạm, y tế, xuất hiện thêm khối trường kỹ thuật, công nghiệp và khối trường văn hóa, nghệ thuật Đây là những trường ĐH & THCN kiểu mới đầu tiên ở nước ta theo mô hình XHCN, làm nòng cốt cho hệ thống các trường ĐH

&THCN sau này

Rút kinh nghiệm từ việc xây dựng các trường ĐH & THCN của Liên Xô

và các nước XHCN, Bộ giáo dục đã xác định phương hướng phát triển của Ngành trong ba năm(1958-1960) trên cơ sở khả năng, trình độ và yêu cầu thực

tế Việt Nam và yêu cầu phát triển của toàn khối XHCN, để phát triển văn hóa giáo dục, tạo tiền đề cho sự nghiệp xây dựng văn hóa giáo dục XHCN của nước

ta trong 10-15 năm về sau

Năm 1958, ngành ĐH &THCN đã tổ chức cuộc vận động xây dựng nhà trường XHCN Cuộc vân động đã đem lại kết quả quan trọng trong việc nâng cao lập trường cách mạng và xác lập quan điểm giáo dục XHCN Cụ thể là:

Xác định mục tiêu đào tạo toàn diện : tư tưởng, chuyên môn, sức khỏe; xác định nguyên lý, phương châm, giáo dục: giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực

Trang 15

tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong nhà trường, giáo dục phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, gạt

bỏ quan điểm chuyên môn đơn thuần, học thuật vị học thuật[ 4, tr 205]

Đến năm 1960, cùng với việc chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh tế,

xã hội, ngành ĐH & THCN có bước phát triển quan trọng về số lượng lẫn chất lượng "Hệ thống quan điểm chính trị và tư tưởng giáo dục XHCN được xác lập trong nhà trường Đội ngũ cán bộ đại học tăng gấp 8 lần, THCN tăng gấp 6,2 lần so với năm 1954; cán bộ những ngành sản xuất trước kia(1954) chỉ chiếm vài phần trăm, thì nay đã chiếm tỷ lệ là 31,4% về đại học, và 38,7% về THCN."[ 3, tr 24]

Đại hội lần thứ III của Đảng tháng 9 năm 1960 đã nêu rõ: công tác giáo dục, văn hóa phải được phát triển trên qui mô lớn và phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng Phải bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ đất nước, có giác ngộ XHCN, có văn hóa và kỹ thuật, có sức khoẻ, những người phát triển toàn diện, để xây dựng xã hội mới, đồng thời phải phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ xây dựng kinh tế và văn hóa XHCN Đối với ngành ĐH & THCN, Nghị quyết nêu rõ"Tăng cường ngành đại học, phát triển ngành chuyên nghiệp cao cấp, nghiên cứu cải tiến nội dung học tập

và trước hết cần rút ngắn thời gian học tập ở những nơi cần thiết, và có thể sao cho có thể nhanh chóng cung cấp nhiều cán bộ cho nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa.”[19, tr 9]

Về việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chuyên môn trong các khối nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế , tiếp tục được đề cập đến NQTƯ 5(7 1961) về phát triển kinh tế nông nghiệp; NQTƯ 7 (5.1962) về xây dựng và phát triển công nghiệp; NQTƯ 10(12 1964) về thương nghiệp và giá cả Những văn kiện trên ra đời đã đưa công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn thực sự trở

Trang 16

thành bộ phận gắn bó hữu cơ với đường lối cách mạng XHCN, có tác dụng đưa

nền giáo dục ĐH &THCN phát triển mạnh mẽ

Mùa xuân năm 1961, toàn ngành ĐH &THCN tổ chức đợt chỉnh huấn, quán triệt nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, tạo cơ sở chính trị cần thiết cho việc đào tạo cán bộ chuyên môn Đầu năm học 1961-1962, theo chỉ thị của

Hồ Chí Minh, ngành giáo dục phát động phong trào thi đua “hai tốt” (dạy thật tốt, học thật tốt), nhằm nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện trong trường học Trước âm mưu của Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, phong trào thi đua “hai tốt” trong các trường ĐH & THCN được đẩy mạnh với nội dung thiết thực hơn Đối với cán bộ giảng dạy, công tác xây dựng tổ, đội lao động XHCN được đẩy mạnh, nhằm thực hiện tốt mục đích, phương châm giáo dục của Đảng, bồi dưỡng cho cán bộ về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ Đối với học sinh, sinh viên cuộc vận động xây dựng phong cách học tập mới được đẩy mạnh, nhằm thực hiện việc học tập có mục đích, động cơ thái độ, phương pháp đúng đắn Phong trào thi đua

“hai tốt” thực chất là một phong trào

thi đua thực hiện có sáng tạo mục đích giáo dục nguyên lý, phương châm giáo dục mà Đại hội III của Đảng đề ra Phong trào thi đua vừa

có tính toàn diện, vừa có tính tập thể có tác dụng phát huy mọi lực lượng trong nhà trường, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến của nhà trường thực hiện đường lối đào tạo của Đại hội lần thứ III [10, tr 52]

Sau 5 năm nỗ lực phấn đấu, ngành ĐH &THCN đã đạt được thành tựu khá toàn diện về qui mô và chất lượng đào tạo, đáp ứng một bước nhu cầu về cán

bộ chuyên môn cho sự nghiệp cách mạng Sự phát triển về qui mô của ngành

ĐH &THCN thời gian này được nêu trong bảng 1.1; 1 2; 1.3; 1.4

Trang 17

Bảng 1.1[22 , tr 7]

Trường lớp - Cán bộ giảng dạy- học sinh đại học

(Đào tạo trong nước)

Trườnglớp,

phân hiệu

Cánbộ giảng dạy

Số học sinh tuyển mới

Số học sinh đào tạo tại trường

Tổngsố

Trongđó : hệdài hạn tập trung

Tổng số

Trongđó hệdài hạntập trung

1955-1956 4 4 40 646 594 1.191 1.191 270 1964-1965 16 15 2.747 6.701 5.119 29.337 22.374 7.241

Bảng 1.2[22, tr 11]

Trường, phân hiệu đào tạo dài hạn

(Phân theo khối ngành)

Năm học

Tổngsố Trường Phân hiệuđại họcdài hạn

Trong tổng số

Tổng hợp (KHCB)

Công nghiệp

Nông,lâm, ngư nghiệp

Kinhtế tài chính

Sư phạm ngoại ngữ

Y,dược, TDTT

Vănhóa nghệ thuật

Trang 18

Số học sinh tuyển mới

Số học sinh đào tạo tại trường

Tw Đ p 1955-1956 8 8 101 2.400 2.205 2.755 2.533 1.690 1964-1965 112 54 58 3.000 13.642 8.007 42.626 25.233 8.989

Nônglâm ngư nghiệp

Kinhtếtài chính

Sư phạm YdượcThể

Dụcthể thao

Vănhoá nghệ thuật

1964-1965 142 14 14 23 12 5 21 2 14 7

Đến năm học 1965, riêng khối đại học đã có 22 nhóm ngành, 97 ngành Như vậy, số lượng trường, lớp, cán bộ giảng dạy, sinh viên, ngành nghề đào tạo tăng nhanh so với những năm hoà bình mới lập lại(1955-1956), và hệ thống các trường ĐH & THCN "bắt đầu được xây dựng với cơ cấu ngành học

Trang 19

tương đối toàn diện, bao gồm hầu hết các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa trong đó các ngành học về kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp và kinh tế đặc biệt được chú trọng phát triển”[3, tr38]

Cùng với sự phát triển về qui mô, chất lượng đào tạo cán bộ chuyên môn cũng được nâng lên rõ rệt

Báo cáo của Bộ giáo dục( tháng 6 1963) nhận xét: các trường bước đầu đi vào nề nếp, mục tiêu đào tạo như kế hoạch học tập và chương trình các môn học được cải tiến phù hợp, nhiều biện pháp được áp dụng để tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kết hợp với các mặt giảng dạy, học tập, lao động sản xuất và nghiên cứu khoa học, chất lượng tuyển sinh được nâng cao cả về chính trị, văn hóa, sức khoẻ; tỷ lệ thành phần là công nông và cán bộ tuyển vào trường chiếm 60% đến 70%, phong trào thi đua “hai tốt” được các trường đẩy mạnh”

Trình độ nhận thức về chính trị, tư tưởng của học sinh- sinh viên ngày một nâng cao Chỉ thị số 102/CT-TƯ ra ngày 3.7 1965 của BBTTƯ Đảng về việc tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên, học sinh nhận xét: số đông sinh viên, học sinh được sự giáo dục của Đảng, của đoàn, của nhà trường XHCN đã có tiến bộ rõ rệt về trình độ tư tưởng, chính trị, hiểu biết về đường lối cách mạng của Đảng, nâng cao lòng yêu nước và giác ngộ XHCN, và bước đầu có ý thức vươn lên để làm tốt cách mạng

kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa theo lời kêu gọi của Đảng

Chất lượng đào tạo còn được thể hiện ở việc sinh viên, học sinh ra trường nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống, giải quyết có kết quả công việc thực tiễn đặt ra Sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường ĐH & THCN sau khi ra trường

đã "trở thành những người xuất sắc trên mặt trận sản xuất và chiến đấu”[19, tr 32]

Trang 20

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chuyên môn của ngành ĐH &THCN chưa có kế hoạch đào tạo mang tính tổng thể và dài hạn, nên số lượng tuyển sinh lên xuống thất thường Qua các bảng 1.5 ;1.6 cho thấy rõ điều đó

Bảng 1.5.[22, tr 17]

Học sinh đại học tuyển vào hàng năm

(Đào tạo trong và ngoài nước)

Năm học

Đào tạo trong nước

Tổng số Trong đó : hệ dài hạn tập trung

Trang 21

Học sinh tuyển vào các trường THCN

Đơn vị tính: Người

Năm học Tổng số Trong đó Riêng hệ dàihạn tập trung

Dàihạntập trung

Chuyên tu Tại chức Cáctrường

Cáctrường

ĐP 1960-1961 16.066 15.175 891

1961-1962 19.304

1962-1963 23.719

1963-1964 10.104

1964-1965 13.642 8.007 2.635 3.000

Về mạng lưới trường, chưa có phương hướng thống nhất giữa Bộ giáo dục

và các cơ quan liên quan trong việc điều chỉnh các trường đại học thuộc khối kinh tế tài chính, nông nghiệp, khoa học cơ bản, y tế và văn hóa, để có sự phát triển cân đối giữa các ngành Nghị quyết 142/NQ-TƯ ra ngày(28.6.1966) của BCTBCHTƯ Đảng nhận xét

chúng ta chưa có qui hoạch dài hạn về vấn đề đào tạo cán bộ, việc chỉ đạo kế hoạch đào tạo cán bộ lại thiếu chặt chẽ, có nơi có hiện tượng vừa thiếu cán bộ, vừa mất cân đối; nhưng có lúc, có nơi lại thừa Sự phân bố cán bộ chưa được cân đối giữa các ngành nghề, trong mỗi ngành nghề lại chưa được hoàn chỉnh[19, tr 53-54]

Về chất lượng đào tạo, có một số cán bộ, học sinh, sinh viên chưa quán triệt mục tiêu và phương châm giáo dục của Đảng Ý chí phấn đấu và tình cảm cách mạng của một số sinh viên còn yếu, trình độ giác ngộ về giai cấp, lý tưởng XHCN còn thấp, sống và học tập chưa thấm nhuần mục đích xây dựng và bảo

vệ miền Bắc XHCN, hết lòng giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước

Trang 22

nhà Trong cán bộ giảng dạy, lập trường quan điểm giai cấp, trình độ hiểu biết đường lối chính sách còn có những hạn chế

Sản phẩm đào tạo ra chất lượng còn thấp, "trình độ kiến thức cơ bản và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn sản xuất và công tác còn bị hạn chế nhiều"[19, tr 54]

Việc sắp xếp, bố trí cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt còn bất cập chưa đúng người, đúng việc, dẫn tới tình trạng tách rời giữa lãnh đạo chính trị và lãnh đạo chuyên môn, thậm chí có nơi xẩy ra mất đoàn kết nội bộ

Việc đẩy mạnh qui mô đào tạo trong điều kiện kinh tế nước nhà còn nghèo nàn, lạc hậu, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều, nền tảng dân trí thấp, thì việc phát sinh những thiếu sót, hạn chế là khó tránh khỏi Nhưng nhìn một cách tổng quát về sự phát triển của ngành ĐH &THCN thời kỳ này đã tạo ra “cơ sở bước đầu của nền giáo dục ĐH &THCN, tạo điều kiện cho bước phát triển mạnh mẽ của công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ chuyên môn trong giai đoạn sau” [3, tr 39]

1.2 LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC & TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP (1965- 1969)

1.2.1 Chủ trương của Đảng và Chính phủ về chuyển hướng giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp trong tình hình mới

Trước sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ leo lên một nấc thang chiến tranh mới, chuyển sang chiến lược “ chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân viễn chinh, cùng với phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh ra cả nước, đánh phá miền Bắc

Trang 23

Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng, là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam Mục tiêu của việc mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc là "phá hoại tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phá công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, ngăn chặn nguồn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc

và từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta"[12 , tr 214]

Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc đã làm cho tình hình từ một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hòa bình, lan ra thành cả nước có chiến tranh, với hình thức và cấp độ khác nhau ở mỗi miền Miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn vừa trực tiếp chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ xây dựng CNXH, chi viện cho miền Nam Trong điều kiện mới, nhiệm vụ cấp bách của miền Bắc là “ phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng

và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường thực lực quốc phòng cho phù hợp"[20, tr 219] Nghị quyết 11 của BCHTƯ Đảng( 25- 27.3.1965) nêu rõ, nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc là phải tích cực đẩy mạnh phát triển nông nghiệp

ở cả miền Bắc, đặc biệt phải phát triển nhanh chóng nông nghiệp ở trung du và miền núi, phải chú trọng phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp mạnh hơn, chú trọng hơn nữa việc xây dựng xí nghiệp vừa và nhỏ Lúc này công tác đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ được Đảng đặc biệt chú ý Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời tính đến lâu dài của cả hai miền

Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc vào thời điểm chúng ta kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất “ miền Bắc đã có những bước tiến dài chưa từng thấy trong lịch sử Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới” Các thành phố không ngừng được mở rộng ; nhiều nhà máy, xí nghiệp theo tiêu chuẩn hiện đại ra đời, các hợp tác xã bậc cao phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội đặt ra

Trang 24

yêu cầu cấp thiết về việc đào tạo cán bộ chuyên môn với quy mô lớn và chất lượng cao Như vậy, đến đầu năm 1965, ngành ĐH &THCN phải đảm nhận

nhiệm vụ hết sức nặng nề : đào tạo cán bộ chuyên môn đảm bảo về số lượng,

và chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện

cả nước có chiến tranh

Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao, đồng thời phải có sáng tạo trong chiến đấu, trong lao động sản xuất và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn Đảng và Chính phủ

đã kịp thời chuyển hướng giáo dục ĐH & THCN, để đào tạo cán bộ chuyên môn phù hợp với tình hình mới Nội dung của chủ trương chuyển hướng đào tạo cán bộ chuyên môn được thể hiện trong hai văn kiện chính là Chỉ thị số 88TTG-VG ra ngày 5.8 1965 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết số 142 NQ-TƯ ra ngày 28.6.1966 của BCTBCHTƯ Đảng

Đảng ta khẳng định "chuyển hướng công tác giáo dục là đáp ứng yêu cầu

của tình hình mới, tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng trong tình hình mới, theo phương hướng cải cách giáo dục"[19, tr 51] Nhiệm vụ của việc chuyển

hướng giáo dục là "phải gấp rút đào tạo cho trước mắt và tương lai một đội

ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý đông đảo, vững mạnh và tương đối hoàn chỉnh về ngành nghề, về trình độ; có đức, có tài dần dần đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học kỹ thuật trong nước và tiến tới trình độ tiến tiến của thế giới " 19, tr 48]

Tiếp đó Nghị quyết 142 của BCTTƯĐảng ra ngày

28.6.1966 nhấn mạnh: công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học, kỹ thuật

và cán bộ quản lý kinh tế chẳng những không được giảm nhẹ mà cần được phát triển mạnh mẽ để chuẩn bị cho nhu cầu của cả nước Chúng ta phải tranh thủ trong một thời gian tương đối ngắn, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và cán bộ quản lý kinh tế đông đảo, vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung

Trang 25

thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững được qui luật của tự nhiên và qui luật của xã hội, có năng lực tổ chức động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế

do thực tế nước ta đề ra, và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới

Đảng và Chính phủ nêu rõ nội dung giảng dạy khoa học cơ bản và kỹ thuật chuyên nghiệp là

Phản ảnh những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật hiện đại nhất, đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với thực tiễn Việt Nam Sau khi sinh viên, học sinh đã học phần khoa học và kỹ thuật cơ bản( cả lý thuyết lẫn thực hành) đối với những ngành có điều kiện, cần nghiên cứu để tạo điều kiện đưa sinh viên, học sinh về cơ sở sản xuất, các vùng kinh tế các viện nghiên cứu để tiếp tục học tập phần chuyên nghiệp thuộc ngành đã chọn và tham gia một phần vào sản xuất [19, tr 48]

Việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ giảng dạy và sinh viên, học

sinh giờ đây được coi “là nghĩa vụ hàng đầu có tác dụng quyết định đến mọi

mặt của công tác khác trong nhà trường” [19, tr37]

Vì vậy cần giáo dục “truyền thống đoàn kết, quyết chiến, quyết thắng của dân tộc, của giai cấp, truyền thống tự lực cánh sinh, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động, giản

dị trong sinh hoạt,” [19, tr 40] nâng cao căm thù giặc Mỹ và quyết tâm chống Mỹ xâm lược, sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng phục vụ và hy sinh cho Tổ quốc [19, tr 48]

; đồng thời Đảng và Chính phủ cũng nhấn mạnh đến việc rèn luyện thân thể,

luyện tập quân sự, nâng cao sức khỏe cho học sinh, sinh viên

Trang 26

Chỉ thị 88/TTG-VG của Thủ tướng Chính phủ nêu lên phương châm giáo dục trong trường ĐH &THCN là

Gắn chặt hơn nữa việc học tập, giảng dạy và mọi hoạt động của nhà trường với đời sống, với sản xuất và chiến đấu, tiếp tục cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy, đảm bảo thực hiện tốt mục đích phương châm giáo dục, phấn đấu để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục; đồng thời tổ chức cho học sinh, sinh viên tham gia sản xuất và phục vụ chiến đấu một cách thích đáng tuỳ theo từng lứa tuổi, từng cấp học, từng loại trường [19, tr 47]

Về phương hướng đào tạo cán bộ chuyên môn Nghị quyết 142 NQ-TƯ nêu rõ: phải đảm bảo đào tạo và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ tương đối hoàn chỉnh về ngành nghề và trình độ, phải đặc biệt chú trọng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho các ngành khoa học cơ bản, các ngành kỹ thuật công nghiệp, hết sức chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ để đáp ứng nhu cầu ngày càng to lớn và cấp bách của sản xuất và chiến đấu, thấm nhuần hơn nữa đường lối, chính sách cán bộ của Đảng và Chính phủ

Đảng ta đề ra một hệ thống biện pháp để thực hiện việc chuyển hướng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chuyên môn được tốt Đó là: củng cố, phát triển và sắp xếp lại mạng lưới các trường ĐH &THCN, trong điều kiện chiến tranh lại càng phải phân bố hợp lý những trường đại học về các địa phương, gần các cơ sở sản xuất để tạo thêm điều kiện cho trường kết hợp lý luận với thực tiễn, và phát huy được tác dụng của trường đối với các địa phương, các trường phải cố gắng tự trang, tự chế các thiết bị cần thiết cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học; tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và cải tiến chương trình và nội dung giảng dạy, coi đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Phải coi trọng việc đào

Trang 27

tạo và bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ giảng dạy có phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng tốt, có hiểu biết sâu rộng về khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ và khả năng kết hợp lý luận với thực tiễn Người thầy giáo không những là người biết truyền kiến thức cho sinh viên mà quan trọng hơn nữa là biết rèn luyện sinh viên thành những người cán bộ khoa học, kỹ thuật cách mạng, những trí thức XHCN liên hệ chặt chẽ với công nông, có tinh thần chiến đấu cao; các trường phải nghiên cứu mục tiêu đào tạo cán bộ cụ thể cho từng ngành nghề, rồi trên cơ sở đó mà cải tiến chương trình và nội dung giảng dạy Chương trình

và nội dung giảng dạy đó phải phù hợp hơn nữa với những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật trên thế giới và kết hợp chặt chẽ với nước ta; đặc biệt coi trọng việc giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ giảng dạy và học sinh, sinh viên, coi đây là nghĩa vụ hàng đầu, có tác dụng quyết định đến mọi mặt công tác khác của nhà trường; đồng thời với những công tác trên là cải tiến phương pháp đào tạo cán bộ; gắn liền học tập với lao động sản xuất, nhà trường là cơ sở đào tạo cán bộ, rèn luyện con người mới, đồng thời phải là cơ sở nghiên cứu khoa học kỹ thuật và trực tiếp sản xuất với một mức độ hợp lý nhất; kết hợp chặt chẽ các hình thức đào tạo và dưỡng cán bộ, hình thức đào tạo tập trung dài hạn theo chương trình hoàn chỉnh chủ yếu dành cho những học sinh ưu tú và những thanh niên ưu tú đã được rèn luyện trong sản xuất, chiến đấu và công tác Hình thức bổ túc và chuyên tu ngắn hạn chủ yếu dành cho cán bộ chỉ đạo

đã qua công tác lâu năm trong ngành và cần được bồi dưỡng thêm về kiến thức, đồng thời có thể thu hút thêm một số cán bộ, công nhân viên tuy chưa công tác lâu năm trong ngành nhưng có trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất nhất định, quyết tâm khắc phục khó khăn để đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo và bồi dưỡng bằng hình thức tại chức để thu hút được đông đảo cán bộ và công nhân viên tham gia học tập; phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và

bổ túc văn hóa, đặc biệt là bổ túc văn hóa cho công nông và nông dân lao động

Trang 28

để tạo nguồn tuyển sinh tốt cho các trường ĐH &THCN; kết hợp việc đào tạo

và bồi dưỡng cán bộ ở trong nước, với việc đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ ở nước ngoài; cải tiến công tác phân phối và sử dụng cán bộ; tăng cường lãnh đạo đối với công tác đào tạo và bồi dữơng cán bộ

Với Chỉ thị 88 TTG-VG của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết

142NQ-TƯ của BCT142NQ-TƯ Đảng đã đánh dấu sự chuyển hướng đào tạo của ngành ĐH

&THCN trong tình hình mới Chuyển hướng là phát triển giáo dục ĐH

&THCN phù hợp với điều kiện chiến tranh, đảm bảo yêu cầu bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chuyên môn, phục vụ tốt nhiệm vụ trước mắt và lâu dài Nội dung

của nó là tiếp tục khẳng định đường lối bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chuyên môn

đã được chính thức hóa trong Nghị quyết Đại hội III( 9.1960), và có sự bổ sung thêm trong nghị quyết của BCHTƯ họp lần 5,6,7,10 của Đảng Điểm nhấn

mạnh ở đây là đẩy mạnh qui mô đào tạo; đảm bảo sự cân đối về ngành nghề,

trình độ trong cơ cấu đào tạo cán bộ để khắc phục tình trạng ngành thừa, ngành thiếu cán bộ; công tác chính trị tư tưỏng, tính chiến đấu trong trường học được đặc biệt đề cao, gắn chặt hơn nữa nhà trường với thực tiễn cuộc sống Trước đây công tác đào tạo cán bộ chuyên môn, chỉ được đề cập trong

nội dung của một văn kiện hoàn chỉnh, có vị trí như là biện pháp để thực hiện nhiệm vụ và phương hướng của văn kiện đó Việc ra đời Nghị quyết 142 NQ-

TƯ là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam có một văn kiện chuyên đề khá hoàn chỉnh về công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ chuyên môn Nghị quyết đã đánh giá một cách khách quan thành tựu, khuyết điểm, chỉ ra nguyên nhân tồn tại của công tác đào tạo cán bộ chuyên môn thời gian trước đó; đồng thời đề ra phương hướng và biện pháp thiết thực, cụ thể để đưa công tác đào tạo cán bộ chuyên môn của ngành ĐH &THCN phát triển trong điều kiện chiến tranh Nội dung của chuyển hướng giáo dục đã kết hợp được yếu tố dân tộc và thời đại, quá khứ và hiện tại, gắn liền sự nghiệp giải phóng con người với sự nghiệp giải

Trang 29

phóng dân tộc, gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với xã hội, đào tạo con người toàn diện Đường lối đó vừa có ý nghĩa giải phóng con người, vừa phục

vụ nhiệm vụ chính trị

Nghị quyết 142-TƯ của BCTTƯ Đảng và Chỉ thị 88 TTG-VG của Thủ tướng Chính phủ là ngọn đèn pha soi sáng cho ngành ĐH & THCN phát triển trong điều kiện mới

1.2.2.Tổ chức thực hiện chuyển hướng giáo dục Đại học & Trung học Chuyên nghiệp

1.2.2.1.Tổ chức công tác sơ tán, ổn định tình hình, tiếp tục mở rộng qui

mô đào tạo

- Tổ chức sơ tán, ổn định tình hình Để chống lại cuộc chiến tranh phá

hoại của đế quốc Mỹ, mọi hoạt động của miền Bắc phải chuyển hướng phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, thực hiện “quân sự hóa toàn dân”, đào đắp hầm hào, công sự, triệt để sơ tán, phân tán người và của ra khỏi vùng trọng điểm nơi đông dân cư để tránh thiệt hại, đảm bảo đời sống, ổn định cho nhân dân Ngành

ĐH &THCN (chủ yếu là các trường đại học ở thành thị) tổ chức sơ tán về vùng nông thôn và miền núi, tiếp tục nhiệm vụ đào tạo Đối với các trường ở vùng nông thôn( chủ yếu là các trường trung học) không bị uy hiếp nặng bởi máy bay Mỹ, thì giữ nguyên nhà cửa, trường lớp chỉ phân tán thiết bị quí, học sinh, giáo viên vào vùng nông thôn gần đó Sơ tán là công việc cực kỳ gian khổ Thầy trò các trường phải khuôn vác vận chuyển một khối lượng lớn thiết bị, vật liệu, đồ dùng học tập, sinh hoạt đến địa điểm sơ tán Có nhiều trường (như Trường Chăn nuôi Sông bôi, Trường Trung học Hóa chất) phải di chuyển nhiều lần vì chưa tìm được địa điểm thích hợp, hoặc bị máy bay Mỹ phát hiện đánh phá Đến địa điểm mới mọi việc gần như bắt đầu từ con số không, thiếu thốn mọi thứ Không trông chờ ỉ lại, ngành ĐH &THCN huy động sức lực của thầy

Trang 30

trò các trường khai thác tre nứa, đóng gạch, ngói để xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm “ nơi ăn, chốn ở”, đào hào, cộng sự để tránh bom Thời khắc gian khó đó, thầy trò các trường nêu cao tinh thần chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên trì bám trường, bám lớp khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ

Đi đến đâu cũng được nhân dân, chính quyền địa phương giúp đỡ về địa điểm, vật liệu xây dựng (tre, nứa, rơm, rạ ) để các trường nhanh chóng ổn định tiếp tục nhiệm vụ học tập, giảng dạy

Để khắc phục tình trạng thiếu trang thiết bị, đồ dùng học tập, Ngành ĐH

& THCN phát động phong trào “tự trang, tự chế” Phong trào đã đem lại kết quả thiết thực Một số trường đã "tự chế tạo được những thiết bị thí nghiệm gọn nhẹ ,tự lực sửa chữa phục hồi các phòng thí nghiệm, đã nghiên cứu những kiểu nhà tháo lắp phù hợp với tình hình nguyên vật liệu và nhân công thời chiến."[3, tr 51]

Trong những khe núi, giữa rừng sâu, hay dưới những khóm tre xanh đều có thể tìm thấy những "xưởng thực tập, phòng thí nghiệm, trại thực hành vv , của các trường ĐH &THCN Ở đó thầy trò đã giải quyết một cách sáng tạo, độc đáo những vấn đề về nguồn nước, nguồn vật liệu, về điều kiện ánh sáng thông gió, vô trùng v.v cũng như những dụng cụ, thiết bị cần thiết cho việc thực hành"[3, tr 51]

Nhờ có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng, sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, đặc biệt là tinh thần nỗ lực vươn lên của tập thể thầy trò các trường, công tác sơ tán của Ngành được thực hiện tốt Một thế mới đã hình thành Các trường ĐH &THCN phân tán trên địa bàn rộng khắp miền Bắc"gắn chặt với nhân dân cùng nhân dân tham gia sản xuất và chiến đấu Trong điều kiện đó, công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ được phát triển mạnh mẽ; mặt khác các trường đều góp phần xây dựng địa phương trường đến sơ tán, áp dụng khoa học, kỹ thuật tham gia lao động sản xuất”[3, tr 45- 46]

Trang 31

- Mở rộng qui mô đào tạo Quán triệt Nghị quyết 142-NQTƯ của BCT về

nội dung mở rộng hơn nữa việc đào tạo cán bộ có trình độ ĐH &THCN, tháng 5-1966 ngành ĐH &THCN đã mở hội nghị “Thi đua kháng chiến chống Mỹ cứu nước” và đã khẳng định quyết tâm: dù đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc đến mức nào đi nữa, thì cán bộ, sinh viên, học sinh ta con

em của một dân tộc anh hùng, với một tinh thần căm thù sâu sắc, với lòng yêu nước nồng nàn, với một sức sống mãnh liệt, sẽ vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, tiếp tục nhiệm vụ đào tạo cán bộ với một qui mô lớn và chất lượng ngày một cao hơn Tiếp đó tháng 7.1967, Đảng đoàn Bộ ĐH &THCN trình lên BBTTƯ Đảng Bản báo cáo "Công tác đào tạo cán bộ chuyên môn" Bản báo cáo viết : công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản

lý kinh tế, phải tiến hành theo qui mô lớn và phải đi trước một bước công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa" Phát triển theo qui mô lớn là sự phát triển có kế hoạch, có sự cân đối về kinh tế, về ngành nghề và trình độ Phát triển theo qui

mô lớn phải có sự đầu tư đúng mức mới đảm bảo chất lượng và có hiệu quả cao, phải kết hợp nhiều hình thức đào tạo Để thực hiện yêu cầu đi trước một bước, đồng thời để giảm sự mất cân đối đến mức tối đa và đảm bảo khả năng điều chỉnh các ngành nghề phù hợp với yêu cầu của sản suất, phải tăng cường đội ngũ khoa học cơ bản, phải đào tạo một diện chuyên môn tương đối rộng

Để thực hiện việc mở rộng qui mô đào tạo, bắt đầu từ năm học 1965-

1966, Bộ Giáo dục đã tạm thời bỏ việc tổ chức thi tuyển sinh vào các trường

ĐH & THCN, mà thành lập ban tuyển sinh ở các tỉnh, để lựa chọn và cử tuyển học sinh vào các trường ĐH & THCN Xét về chất lượng thì cách làm này không chất lượng bằng hình thức thi tuyển trực tiếp, nhưng lại phù hợp với điều kiện chiến tranh Hình thức tuyển sinh mới, cùng với việc tăng chỉ tiêu tuyển sinh đã làm cho số lượng sinh viên tăng liên tục trong thời gian này Được thể hiện ở bảng 1 7; 1.8

Trang 32

Bảng 1.7[22, tr 17]

Số học sinh đại học tuyển vào hàng năm

(Đào tạo trong và ngoài nước)

Năm học

Đào tạo trong nước

Tổng số Trong đó : hệ dài hạn tập trung

1966-1967 62.284 50.322 8.298 3.664 40.587 9.735

1967-1968 61.923 49.317 6.863 5.743 36.267 13.050 1968-1969 55.880 42.400 8.620 4.860 30.000 12.400

Trang 33

Số sinh viên đối tượng là cán bộ, bộ đội xuất ngũ, con liệt sĩ, phụ nữ, dân tộc ít người, quê miền Nam vào các trường ĐH &THCN ngày càng nhiều Được thể hiện ở bảng 1 9; 1.10

Tỷ Trọng(%) so với tổng số học sinh

Nữ Dân

tộcít người

quê miền Nam

Đảng viên Đảng LĐVN

Đoàn viên thanh niên LĐHC

M

Cánbộ bộđội CNVđi học

Con gia đình công nhân

Congia đình nông dân LĐ

Con gia đình bóc lột

1965-1966 23.858 22,57 3,32 16,20 18,19 57,41 18,90 5,73 59,56 2,00 1966-1967 32.541 23,90 4,37 14,45 19,20

1967-1968 42.909 27,50 4,95 10,10 15,60 72,30 19,90 6,80 65,40 0,80 1968-1969 51.848 33,50 4,80 12,50 26,00 87,50 32,60

Trang 34

Tỷ Trọng(%) so với tổng số học sinh

Nữ Dân

tộcít người

Quê miền Nam

Đảng viên Đảng LĐVN

Đoànviên thanhniên LĐHCM

Cánbộ bộđội CNVđi học

Con gia đình công nông

Con gia đình bóc lột 1965-1966 41.942 27,82 4,83 3,10 12,59 68,25 9,92 54,25 0,34 1966-1967 85.980 29,21 5,66 7,59 40,28 1967-1968 106.443 54,00 5,60 1,20 11,20 71,00 11,10 1968-1969 118.485 52,60 6,59 1,80 16,10 71,50 26,20

Những số liệu trên thể hiện ngành ĐH &THCN thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng về công tác đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật

Quán triệt tinh thần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy theo tinh thần nghị quyết 142-TƯ/NQ, Bộ ĐH &THCN trình lên Chính phủ "Đề án xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy" Ngày 27.5 1968 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 53/TTG-VG về xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cho các trường ĐH &THCN Chỉ thị nêu rõ: nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy phải đi trước một bước so với nhiệm vụ đào tạo cán bộ Trước mắt phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, tốt về chất lượng, hoàn chỉnh về ngành nghề đúng với đường lối, chính sách cán bộ của Đảng để đáp ứng yêu cầu phát triển của trường, lớp ĐH &THCN Chỉ thị cũng

đề ra phương hướng phấn đấu trong những năm trước mắt đạt tỷ lệ thầy trò1/10

Trang 35

đến 1/15 cho các hệ đại học tập trung, và 1/20 đến 1/30 cho cán bộ đại học tại chức

Chấp hành Chỉ thị trên, Ngành ĐH &THCN thực hiện việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy bằng biện pháp giữ những sinh viên ưu tú ở lại trường, chuyển hệ một số giáo viên giỏi ở cấp dưới lên, tuyển dụng sinh viên được đào tạo ở nước ngoài đã tốt nghiệp về nước Nhờ vậy đội ngũ cán bộ giảng dạy của Ngành tăng lên nhanh chóng Được thể hiện ở bảng 1.11; 1.12

Bảng 1.11[22, tr 7]

Cán bộ giảng dạy đại học

Năm học Cán bộ giảng dạy

số(người) Trong đó (%) Chia ra(người)

Nữ Dân tộc ít người Các trường TƯ Các trường

Trang 36

Một trong những biện pháp để đẩy mạnh việc mở rộng qui mô đào tạo là đẩy mạnh hình thức đào tạo tại chức Ngay từ năm học 1965- 1966, Bộ ĐH

&THCN đã đề ra kế hoạch và biện pháp kết hợp nhiều loại hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Tháng 5.1968 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 49-TTG- VG về việc tăng cường công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật, kinh tế bằng hình thức tại chức Sau khi đánh giá những mặt đạt được và chưa đạt được của công tác đào tạo tại chức trong thời gian qua, căn cứ vào tình nhiệm vụ mới, Chỉ thị khẳng định: việc phát triển hình thức học tập tại chức là một biện pháp rất cơ bản để bồi dưỡng và đào tạo cán bộ theo qui mô lớn và tốc

độ nhanh, chất lượng tốt; và chủ trương đề ra chỉ tiêu tuyển sinh tại chức ngang bằng, hoặc xấp xỉ chỉ tiêu tuyển sinh tập trung Tính đến năm học 1968-

1969 số lượng sinh viên đại học đào tạo bằng hình thức tại chức tăng lên đáng

kể Được thể hiện ở bảng 1.13

Bảng 1.13 [22, tr18]

Số học sinh tuyển vào các trường đại học trong nước

(Theo hình thức đào tạo tại chức)

Trang 37

Đối với khối THCN, số lượng học sinh đào tạo bằng hình thức tại chức không tăng, thậm chí còn giảm so với năm học 1965-1966 Được thể hiện ở bảng 1.14

Bảng 1.14[22 tr97],

Học sinh tuyển vào các trường THCN

Hình thức đào tạo tại chức Đơn vị tính: Người

23 nhóm ngành và 166 ngành Các ngành được chú trọng mở rộng là khoa học

cơ bản, các ngành kỹ thuật và quản lý kinh tế, sư phạm ngoại ngữ Theo bảng 1.15; 1.16 thống kê về số lượng học sinh theo học các khối ngành

Trang 38

Bảng 1.15[22, tr 24]

Học sinh đại học đang đào tạo tại trường

(Phân theo khối ngành)

Năm học Tổngsố học

sinh

Khối Ngành Tổng hợp(KH CB)

Công nghiệp

Nông, Lâm, Ngư, Nghiệp

Kinh tế, tài chính

Sư phạm ngoại ngữ

Y,dược thểdục thể thao

Vănhoá nghệ thuật

Học sinh THCN đang đào tạo tại trường, hệ dài hạn tập trung

Phân theo khối ngành

Trang 39

Kinhtếtài chính

Sư phạm Ydược

TDTT

Vănhoá nghệ thuật 1965-1966 41.942 10.716 11.812 6.884 6.512 5.410 608

1966-1967 85.980 29.941 16.721 13.728 12.979 11.520 1.091 1967-1968 106.443 35.798 21.212 17.614 16.577 14.405 837

mở thêm 101 trường, trong đó có tới 36 trường công nghiệp

Có thể thấy số lượng sinh viên, giáo viên, trường lớp, cơ cấu ngành tăng lên không ngừng với tốc độ cao Việc mở rộng qui mô đào tạo theo tinh thần

Trang 40

chuyển hướng đào tạo cán bộ chuyên môn của Đảng đã đi vào thực tiễn một cách sinh động

1.2.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo

Nâng cao chất lượng đào tạo là nội dung cơ bản trong việc chuyển hướng chiến lược đào tạo của ngành ĐH &THCN Hướng giải quyết mâu thuẫn giữa

mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng đào tạo của Đảng ta là phát triển số lượng đến mức độ nhất định mới nâng cao chất lượng Để nâng cao chất lượng đào tạo, Bộ ĐH &THCN tập trung chỉ đạo các trường thực hiện các nội dung như đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng; tổ chức thực hiện nguyên

lý, phương châm giáo dục của Đảng; xây dựng chương trình một số môn học; đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, chiến đấu và tăng cường công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học Trong các nội dung trên, Bộ ĐH &THCN xác định công tác giáo dục chính trị tư tưởng và tổ chức thực hiện nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng là quan trọng nhất

Nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng,

Bộ ĐH &THCN đã triển khai một số công việc cụ thể, nhằm đưa đường lối cách mạng nói chung và đường lối giáo dục nói riêng vào đời sống học đường Các trường tổ chức sinh hoạt chính trị đầu năm học cho cán bộ và học sinh, sinh viên; tổ chức đưa cán bộ giảng dạy Mác-Lênin ở các trường đi thực tế hai tháng Đầu năm 1966, Bộ đã tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong các trường học, nhằm quán triệt trong toàn ngành Chỉ thị số 102/CT-TU ra ngày 3.7 1965 của BBTTƯ Đảng về việc tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ giảng dạy và học sinh, sinh viên Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được Bộ ĐH &THCN tổ chức thường xuyên trong những năm tiếp theo Năm 1968, trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng, hòa nhịp với không khí cách mạng đang sôi

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng(1969), Chỉ thị số 169-CT/TƯ về công tác giáo dục trong 3 năm 1968- 1970, ngày 14.2.1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 169-CT/TƯ về công tác giáo dục trong 3 năm 1968- 1970
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1969
2. Báo cáo sơ kết phương pháp cải tiến thực tập giảng dạy THCN(1975), (49/VTĐ), Lưu trữ tại Trung tâm tư liệu Bộ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết phương pháp cải tiến thực tập giảng dạy THCN
Tác giả: Báo cáo sơ kết phương pháp cải tiến thực tập giảng dạy THCN
Năm: 1975
3. Bộ ĐH &THCN(1975), Ba mươi năm nền giáo dục ĐH &THCN ViệtNam(1945-1975), Nxb ĐH &THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba mươi năm nền giáo dục ĐH &THCN ViệtNam(1945-1975)
Tác giả: Bộ ĐH &THCN
Nhà XB: Nxb ĐH &THCN
Năm: 1975
4. Bộ giáo dục và Đào tạo(1995), Năm mươi năm phát triển sự nghiệp Giáodục và Đào tạo(1945-1995), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm mươi năm phát triển sự nghiệp Giáodục và Đào tạo(1945-1995)
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
5. Tạ Quang Bửu (1968), "Toàn ngành ĐH & THCN làm theo lời Hồ Chủ Tịch", Tạp chí ĐH &THCN (số5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn ngành ĐH & THCN làm theo lời Hồ Chủ Tịch
Tác giả: Tạ Quang Bửu
Năm: 1968
6. Tạ Quang Bửu (1969), "Ra sức thực hiện tốt nhiệm vụ năm 1969", Tạp chí ĐH &THCN, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ra sức thực hiện tốt nhiệm vụ năm 1969
Tác giả: Tạ Quang Bửu
Năm: 1969
7. Tạ Quang Bửu (1972), "Chuyển hướng công tác đại học", Tạp chí ĐH &THCN (số5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển hướng công tác đại học
Tác giả: Tạ Quang Bửu
Năm: 1972
8. Lê Thạc Cán (1972), "Phấn đấu nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các trường đại học", Tạp chí ĐH &THCN, (số1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phấn đấu nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các trường đại học
Tác giả: Lê Thạc Cán
Năm: 1972
9. Phạm Văn Đồng(1969), Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những người chiến sĩ cách mạng dũng cảm thông minh sáng tạo, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những người chiến sĩ cách mạng dũng cảm thông minh sáng tạo
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1969
10. Nguyễn Được(1993), Sơ thảo lịch sử giáo dục ĐH &THCN Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975, Viện nghiên cứu Đại học & Giáo dục Chuyên nghiệp, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử giáo dục ĐH &THCN Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975
Tác giả: Nguyễn Được
Năm: 1993
12. Lê Mậu Hãn(chủ biên)(1997), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3(1945- 1975), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3(1945-1975)
Tác giả: Lê Mậu Hãn(chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
13. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chương trình cao cấp(1995), Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chương trình cao cấp
Tác giả: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chương trình cao cấp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
14. Hồ Chí Minh(1990), Về giáo dục, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
15. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
16. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
17. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
18. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
19. Một số văn kiện của Đảng và Chính phủ về công tác ĐH &THCN(9.1960- 3.1979), Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng và Chính phủ về công tác ĐH &THCN(9.1960-3.1979)
20. Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước(1985), tập 1(1954- 1965), Nxb Sự thật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước(1985)
Tác giả: Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ, cứu nước
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1985
21. Ngành ĐH &THCN nước ta ngày nay(1975), Tạp chí ĐH &THCN(số5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ĐH &THCN
Tác giả: Ngành ĐH &THCN nước ta ngày nay
Năm: 1975

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 [22 , tr 7] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.1 [22 , tr 7] (Trang 17)
Bảng 1.2 [22, tr 11] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.2 [22, tr 11] (Trang 17)
Bảng 1.3 [22, trr 83] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.3 [22, trr 83] (Trang 18)
Bảng 1.4 [22, tr 86] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.4 [22, tr 86] (Trang 18)
Bảng 1.6. [22, tr 97] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.6. [22, tr 97] (Trang 20)
Bảng 1.8 [22, tr 97] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.8 [22, tr 97] (Trang 32)
Bảng 1.9 [22, tr 25] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.9 [22, tr 25] (Trang 33)
Bảng 1.10 [22, tr105] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.10 [22, tr105] (Trang 34)
Bảng 1.12 [22, tr 98] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.12 [22, tr 98] (Trang 35)
Bảng 1.14 [22 tr97], Học sinh tuyển vào các trường THCN. - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.14 [22 tr97], Học sinh tuyển vào các trường THCN (Trang 37)
Bảng 1.15 [22, tr 24] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.15 [22, tr 24] (Trang 38)
Bảng 1.16. [22, tr104] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 1.16. [22, tr104] (Trang 38)
Bảng 3.1 [41, tr 2] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 3.1 [41, tr 2] (Trang 92)
Bảng 3.3 [10, tr 158] - đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp ở miền bắc 1965 1975
Bảng 3.3 [10, tr 158] (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm