1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007

109 436 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành, cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo đã và đang được đẩy mạnh, đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, đời sống của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

——————————————

NGUYỄN VĂN TUÂN

ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

——————————————

NGUYỄN VĂN TUÂN

ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG) LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA

LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG) 8

1.1 Quan niệm về đói nghèo và chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo 8 1.1.1 Quan niệm về đói nghèo 8 1.1.2 Tình hình đói nghèo và chủ trương của Đảng 17 1.2 Một số đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) 24 1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Kim Thành trước năm

1997 24 1.2.2 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội huyện Kim Thành (tỉnh

Hải Dương) từ năm 1997 đến năm 2007 28

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM

NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH ( T ỈNH HẢI DƯƠNG)

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007 32 2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành những năm 1997-2001 32 2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Kim Thành về xóa đói,

giảm nghèo 1997-2001 32 2.1.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành thực hiện

xoá đói, giảm nghèo 1997 -2001 34 2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành những năm 2001-2007 44 2.2.1 Chủ trương của Tỉnh uỷ Hải Dương và Đảng bộ huyện

Kim Thành về xoá đói, giảm nghèo 44 2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của

Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) những năm 2001-2007 48

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM 65

3.1 Thành tựu, hạn chế 65

Trang 4

3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân 65

3.1.2 Hạn chế 72

3.2 Kinh nghiệm 75

3.2.1 Để thực hiện tốt Chương trình xoá đói, giảm nghèo phải làm chuyển biến nhận thức thông suốt trong nội bộ Đảng đến quần chúng từ cấp huyện đến cấp xã, thôn về chủ trương xoá đói, giảm nghèo 76

3.2.2 Đảng bộ và chính quyền địa phương phải làm tốt công tác tuyên truyền vận quần chúng nhân dân tham gia 77

3.2.3 Đảng bộ, các cấp, các ngành phải kịp thời đưa ra các giải pháp thích hợp trợ giúp và các chính sách chăm lo cho người dân kịp thời 78

3.2.4 Đảng bộ và chính quyền địa phương phải nâng cao năng lực thực hiện và kịp thời nhân rộng mô hình, cá nhân, tập thể điển hình về công tác xoá đói, giảm nghèo 79

3.2.5 Tìm ra những thế mạnh của từng hộ, địa phương để tìm ra nguyên nhân và giải pháp, phối kết hợp nhiều biện pháp cùng một lúc 80

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 95

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI nhưng đói nghèo đã và đang là một thách thức lớn, mang tính cấp bách toàn cầu Ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển cao vẫn còn không ít bộ phận dân cư sống ở dưới mức nghèo khổ Đối với mỗi quốc gia, đói nghèo đang là một cản trở lớn cho sự phát triển về kinh tế, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất ổn định về chính trị - xã hội Vì vậy, đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề

xã hội mà không một quốc gia, địa phương nào không quan tâm đến chính sách đói nghèo trong quá trình phát triển của mình Nhận thức được tác hại vô cùng to lớn của đói nghèo, các quốc gia trên thế giới đều phải tìm các biện pháp khác nhau để khắc phục tình trạng đói nghèo của nước mình Vì thế, các nhà lãnh đạo của các quốc gia, các tổ chức quốc tế luôn giành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề này

Đối với nước ta, công tác xoá đói, giảm nghèo được coi là một chủ trương, một chính sách xã hội rộng lớn, thu hút sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân ta Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đói nghèo là một trong ba thứ giặc cần phải chống Người nói: “Giặc đói sắp theo gót giặc Pháp để chôn vùi dân ta” [42, tr.85] Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Người đã chỉ ra mục đích đầu tiên của thi đua ái quốc là “diệt giặc đói” và cách diệt giặc này là: “Dựa vào: lực lượng của dân Tinh thần của dân và để gây hạnh phúc cho dân” [43, tr.444] Có thể khẳng định rằng, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo Trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và tiến hành một cách sáng tạo cuộc chiến chống đói nghèo và lạc hậu

Trang 6

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991), Đảng đã đề ra chủ trương xoá đói, giảm nghèo Đây là một chủ trương, quyết sách lớn trong việc thực hiện hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Ngay khi ra đời, chủ trương trên hợp với lòng dân, nên chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành phong trào rộng khắp các tỉnh, thành trong cả nước Thông qua quá trình khảo sát, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, năm 1998, Chính phủ đã xây dựng và phê chuẩn Chương trình xoá đói, giảm nghèo với tư cách là “Chương trình mục tiêu quốc gia” Chương trình được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn I (2001 - 2005) và giai đoạn II (2006 - 2010) Qua thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có thể thấy rõ qua từng năm đã có sự tiến triển vượt bậc về giảm tỉ lệ đói nghèo ở nước ta

Kim Thành là một huyện nằm ở phía Đông tỉnh Hải Dương, với diện tích 11364,9 ha, gồm 1 thị trấn, 20 xã, dân số là 127.112 người Là một huyện mới được tái lập năm 1997, được tách từ huyện Kim Môn (Kim Thành và Kinh Môn) Kim Thành vốn là một huyện nghèo của tỉnh Hải Dương, cơ sở

hạ tầng còn thấp kém, trình độ dân trí thấp, mức gia tăng dân số là khá cao, thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp, đời sống còn có nhiều khó khăn

Từ khi có chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, một bộ phận dân cư có vốn, có kiến thức đã tiếp thu được những tiến bộ của khoa học

và công nghệ, tiếp cận được thị trường nên nhanh chóng trở thành những bộ phận có thu nhập khá giả Một bộ phận khác, do nhiều nguyên nhân nên gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, đã trở thành người nghèo hoặc nghèo trầm trọng Một bộ phận khác sau khi có chính sách hỗ trợ về xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước đã từng bước vươn lên, song vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo Tính đến năm 2007, toàn huyện Kim Thành còn khoảng 15,7% hộ đói nghèo trong toàn bộ dân cư toàn huyện, trong đó có khoảng 6,7% hộ rất nghèo

Trang 7

Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành, cuộc vận động xoá đói, giảm nghèo đã và đang được đẩy mạnh, đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, đời sống của nhân dân dần được cải thiện, việc làm của người dân bước đầu được giải quyết, nhiều tấm gương điển hình về làm giàu xuất hiện Bên cạnh đó, lãnh đạo công tác xoá đói, giảm nghèo gặp không ít khó khăn, trắc trở, còn nhiều hạn chế bất cập như chưa chỉ đạo chặt chẽ, thiếu các biện pháp triệt để, chưa kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm…

Do nội dung, tính chất, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu và do yêu cầu thực tiễn của công tác xoá đói, giảm nghèo ở huyện Kim Thành, chúng tôi

chọn đề tài Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo thực hiện

xoá đói, giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2007 làm luận văn thạc sĩ khoa

học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo là một vấn đề vô cùng quan trọng và mang tính toàn cầu Ở Việt Nam, đây là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhiều cơ quan, ban, ngành quan tâm và tập trung giải quyết Cho đến nay, đã

có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá thực trạng và giải pháp về đói nghèo

và xoá đói, giảm nghèo Song, dưới góc độ của một công trình nghiên cứu, đây vẫn là một vấn đề khá mới mẻ Đăc biệt, nghiên cứu ở địa bàn cấp huyện cho đến nay chưa nhiều Hiện nay, trên phạm vi toàn quốc đã có một số công trình nghiên cứu và một số bài báo, tạp chí tập trung chủ yếu ở các nhóm sau:

Nhóm 1: Các chuyên luận, chuyên khảo đó in thành sỏch viết về vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nước ta được phát hành:

- Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Xuân Triều (1993), Đói nghèo ở Việt

Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội

- Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam (1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 8

- Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thanh (1997), Vấn đề

xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Lao động - Xã hội,

Hà Nội

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Hệ thống văn bản pháp

luật hiện hành về xoá đói, giảm nghèo, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội

Nhóm 2: Các bài báo khoa học viết về xoá đói, giảm nghèo được đăng trên các báo, tạp chí:

- Hà Thị Khiết (2006), “Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với hoạt động

xóa đói, giảm nghèo cho phụ nữ”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 117

- Lê Quang Trung (2006), “Nâng cao năng lực lãnh đạo đội ngũ cán bộ

chủ chốt người dân tộc miền núi phía Bắc”, Tạp chí Xây dựng Đảng

- Phúc Hưng (2008), “Học để xoá đói, giảm nghèo”, Dân trí Com

- Hoàng Trọng Khôi (2010), “Từ thành tựu xoá đói, giảm nghèo khởi

xướng chương trình an sinh mới”, Báo điện tử Sài Gòn Giải phóng

Nhóm 3: Những luận văn, luận án của học viên cao học, nghiên cứu sinh lấy xoá đói, giảm nghèo làm đề tài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Nguyễn Trung Tính (1997), Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh

đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo (1992 - 1997), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,

Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

- Giang Thị Thoa (2001), Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo thực hiện

chính sách xoá đói, giảm nghèo (1992 - 2000), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử

Đảng

- Đào Tấn Nguyên (2004), Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện xoá

đói, giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, Luận án tiến sĩ

Kinh tế

Nhóm 4: Các đề tài, hội thảo khoa học:

Trang 9

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Những giải pháp tăng

cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghốo, Hội thảo khoa học,

Hà Nội

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2000), Chuẩn nghèo đói ở

Việt Nam, Hội thảo khoa học, Hà Nội

- Phạm Duy Khiêm (1999), Điều tra hiện trạng xoá đói, giảm nghèo và

đề xuất các giải pháp xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn tỉnh Hải Dương, Đề

tài nghiên cứu khoa học

- Nguyễn Hữu Oanh (2006), Nghiên cứu tổng kết chương trình xoá đói,

giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 và phương hướng thực hiện chương trình

2006 - 2010, Đề tài nghiên cứu khoa học

Các công trình nghiên cứu nói trên, đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của chương trình xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam Song, nghiên cứu về vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở huyện Kim Thành (Hải Dương) cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu Do đó, Luận văn sẽ trình bày quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành (Hải Dương) vận dụng quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Tỉnh uỷ Hải Dương để lãnh đạo phong trào xoá đói, giảm nghèo trong huyện, qua đó, chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn trong chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích

- Làm rõ những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) từ năm 1997 đến năm 2007;

- Làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo thực hiện xóa đói,

Trang 10

giảm nghèo trong những năm 1997-2007, trên cơ sở đó, rút ra những kinh nghiệm có cơ sở khoa học, phục vụ hiện tại

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Phân tích các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, của Đảng ta về đói nghèo và xoá đói, giảm nghèo

- Làm rõ thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của một bộ phận dân cư huyện Kim Thành từ năm 1997 đến năm 2007

- Làm rõ quá trình huyện Kim Thành vận dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo, định ra chủ trương và biện pháp chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của Đảng

bộ huyện Kim Thành để vận dụng vào giai đoạn mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo

* Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự chỉ

đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương), nhằm thực hiện xoá đói, giảm nghèo

+ Về thời gian: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của

Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) từ năm 1997 đến năm 2007

+ Về không gian: Tập trung nghiên cứu công tác xoá đói, giảm nghèo

trên địa bàn huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

- Trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng ta, đề tài dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

- Từ việc phân tích những tài liệu thực tế thu thập được Luận văn còn

sử dụng các phương pháp khảo sát, điều tra, phân tích tổng hợp, thống kê và

so sánh; kết hợp lý luận với thực tiễn, kết hợp logic và lịch sử để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn trình bày một cách có hệ thống những chủ trương, chính sách, biện pháp mà Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) đề ra, nhằm thực hiện xoá đói, giảm nghèo trong những năm 1997-2007

- Luận văn làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hài Dương) lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo; bước đầu tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm phục vụ hiện tại

- Luận văn có thể sử dụng để phục vụ công tác viết lịch sử Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương), hoặc là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu có liên quan

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết:

Chương 1: Quan niệm về xoá đói, giảm nghèo và đặc điểm địa lý, kinh

tế - xã hội huyện Kim Thành (Tỉnh Hải Dương)

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xoá đói, giảm nghèo của

Đảng bộ huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) (1997 - 2007)

Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm

Trang 12

Chương 1 QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG)

1.1 Quan niệm về đói nghèo và chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo

1.1.1 Quan niệm về đói nghèo

1.1.1.1 Quan niệm chung về đói nghèo

Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ngay ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao Trong đời sống thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học cho đến nay chưa có sự thống nhất tuyệt đối về khái niệm đói nghèo Mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm khác nhau về định mức và đưa ra các chỉ số đói nghèo khác nhau để xác định giới hạn đói nghèo Giới hạn đói nghèo của mỗi quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tối thiểu để người dân có thể tồn tại, đó

là mức thu nhập mà họ có thể mua sắm những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, ở, mặc và các nhu cầu cần thiết khác Trong đời sống thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học về các vấn đề kinh tế - xã hội, chúng

ta thường thấy các khái niệm như: đói nghèo, nghèo khổ, giàu nghèo

Khái niệm đói nghèo có thể tách ra, phân tích và nhận dạng giữa đói và nghèo:

Đói là một khái niệm thường được nhận diện ở hai dạng: thiếu đói và

đói gay gắt Thiếu đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới tối thiểu, chỉ đủ khả năng đảm bảo mức lương thực bữa đói, bữa no và có những khi phải đứt bữa từ một, hai hoặc ba tháng Đói gay gắt là tình trạng của một

bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu, đói ăn, đứt bữa, đang phải sống trong một tình trạng hết sức khó khăn Chúng ta thấy khái niệm này vẫn thuần tuý

Trang 13

là đói ăn thuộc phạm trù kinh tế - vật chất Nó khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hoá…

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả

mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện: ăn, mặc, ở,

vệ sinh, giáo dục, y tế và nhiều nhu cầu khác… Theo cách hiểu khác: Nghèo

là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

Nghèo chia thành nhiều mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân

cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: ăn, ở, mặc, đi lại… Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân

cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc,

đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

Về mặt kinh tế, khái niệm nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, thiếu đói Đường giới hạn nghèo khổ biểu hiện dưới dạng thu nhập gia đình tính theo đầu người Nếu các gia đình có thu nhập tính theo đầu người ở dưới đường giới hạn nghèo khổ thì bị coi là nghèo Giới hạn nghèo khổ khác nhau ở mỗi quốc gia và thay đổi theo trình tự phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ của quốc gia đó Chẳng hạn, Liên hợp quốc đã xác định ở các nước đang phát triển, những người có mức sống dưới 1USD/ngày thì bị coi là nghèo khổ Đối với những nước phát triển thì đường nghèo khổ được xác định

là có mức sống dưới 14 USD/ngày tính theo mức mua tương đương

Trang 14

Hiện nay, quốc tế có xu hướng xem xét, định nghĩa về sự nghèo đói theo phạm vi rộng hơn, nhằm vào một loạt vấn đề như giáo dục, y tế và những tiêu chuẩn khác được coi là thuộc về nhu cầu cơ bản của con người: “Hệ thống nhu cầu cơ bản tối thiểu (Maximum Need Bases - MNB) của Philíppin

đã định nghĩa nghèo đói ở ba lớp nhu cầu:

- Tồn tại: Thực phẩm/dinh dưỡng, sức khỏe, nước, vệ sinh, ăn mặc

- An toàn: Nhà ở, thu nhập, việc làm, hoà bình

- Khả năng: Giáo dục cơ bản (biết chữ), sự tham gia của nhân dân vào chăm sóc gia đình và chăm sóc tâm lý

Theo hệ thống yêu cầu trên có tới 33 chỉ số cụ thể để đánh giá Xu hướng quốc tế sẽ sử dụng những tiêu chuẩn cơ bản này để xem xét và đánh giá đói nghèo một cách hệ thống trong mục tiêu hướng tới sự phát triển ổn định, bền vững

Để xác định mức giàu nghèo chính xác hơn, bên cạnh chỉ tiêu thu nhập quốc dân, Liên hợp quốc đã đưa ra thêm: “Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống” (The Physical Quality of life Index - PQLI) và “Chỉ số phát triển con người” (Human Development Index - HDI)

- Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống - PQLI: Được tính toán dựa trên

3 tiêu chí cơ bản là tuổi thọ dự báo, tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỉ lệ xoá nạn

mù chữ Chỉ số này tuy còn quá ít và không đề cập trực tiếp đến thu nhập nhưng phản ánh được những khía cạnh cơ bản của sự phát triển xã hội và gián tiếp nói lên mức độ công bằng xã hội của một nước

- Chỉ số phát triển con người - HDI: Chỉ số này trải từ 0 (mức thấp nhất) đến 1 (mức độ phát triển con người cao nhất) và được tính toán dựa trên ba chỉ

số về phát triển là tuổi thọ, kiến thức (đo bằng tuổi bình quân của người lớn biết chữ và số năm đi học), thu nhập (được đo bằng thu nhập bình quân đầu người thực tế đã được điều chỉnh) So với chỉ tiêu PQLI thì chỉ số HDI có tính

Trang 15

bao quát lớn, do đó thể hiện được ba khía cạnh quan trọng của con người về tuổi tác, trí tuệ và mức sống

Trước đây, khi nghiên cứu về đói nghèo, nhiều người thường đánh đồng đói nghèo với mức thu nhập thấp Coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự đói nghèo của con người Quan niệm này có ưu điểm là giúp thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo Thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ nói lên một khía cạnh của đói nghèo Thu nhập thấp không phản ánh hết nội dung của đói nghèo, nó không cho chúng ta thấy hết được mức thiệt thòi, thiếu thốn của người dân nghèo Cho nên, quan niệm này còn hạn chế chưa thể coi là quan niệm chuẩn để chỉ đói nghèo

Hiện nay, do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, xu thế quốc tế hoá

về kinh tế ngày càng sâu rộng hơn, quan điểm đói nghèo cũng được hiểu sâu rộng hơn, theo nhiều hướng tiếp cận nên có những góc nhìn, đánh giá và phương thức giải quyết đói nghèo khác nhau

Tại Hội nghị về giảm nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (9-1993) ở Băng Cốc - Thái Lan do ESCAP tổ chức đã đưa ra khái niệm về

đói nghèo: “Đói nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được

hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [69, tr.9]

Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch, năm 1995, đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về đói nghèo như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới

1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại

Trong báo cáo Khắc phục sự nghèo khổ của con người, năm 1998,

UNDP cho rằng:

Trang 16

- Sự nghèo khổ của con người: là thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định của cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ

- Sự nghèo khổ về tiền tệ là thiếu thu nhập chính đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu

- Sự nghèo khổ cực độ là sự khốn cùng không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của con người

- Sự nghèo khổ chung là mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu về lương thực, chi phí lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác

Khác với cách tiếp cận trên, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt qua khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Như vậy, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập, mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến phúc lợi xã hội: dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, nhà

ở, khả năng bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có tiếng nói Ngân hàng thế giới cũng đưa ra tháp tiếp cận nghèo năm 2000 như sau:

1 Tiêu dùng

2 Tiêu dùng + Tài sản

3 Tiêu dùng + Tài sản + Con người

4 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa - xã hội

5 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa - Xã hội + Chính trị

6 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa - Xã hội + Chính trị + Bảo vệ

1.1.1.2 Quan niệm về đói nghèo ở nước ta và một số nước trên thế giới

Đối với cách nói và trả lời của người nghèo, chúng ta có những cảm nhận cụ thể, giản đơn, trực diện hơn về các khía cạnh của đói nghèo Khi trả lời một số cuộc tham vấn, người dân nước ta cho rằng: Nghèo đói là gì ư?

Trang 17

Chính là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân Một số người khác thì trả lời rằng, nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát, không

đủ đất đai sản xuất, con cái thất học, khi ốm đau không có tiền chạy chữa…

Còn người nghèo của Kênia đã nói về sự nghèo đói của họ như sau: Hãy quan sát ngôi nhà và đếm xem có bao nhiêu lỗ thủng trên đó Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và quần áo tôi đang mặc trên người Hãy quan sát tất

cả và ghi lại những gì ông thấy Cái mà ông thấy chính là nghèo đói

Như vậy, từ việc nghiên cứu các quan niệm về đói nghèo trên cho chúng ta thấy ba khía cạnh của người nghèo:

Thứ nhất, người nghèo là những người không được hưởng thụ những

nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người

Thứ hai, người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của

Theo cách tiếp cận hẹp, đói nghèo là một phạm trù chỉ mức sống thấp

nhất của một cộng đồng hay một nhóm dân cư so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác Cách tiếp cận này còn phiến diện, chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của đói nghèo, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn đói nghèo tương đối Trên thực tế, đói nghèo lúc nào cũng tồn tại trong xã hội hiện đại, cho dù ở nước giàu nhất Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm thấp nhất, các nhóm trung bình và nhóm cao nhất Đó là đói nghèo tương đối Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng

Trang 18

đã xuất hiện tiểu nhóm nghèo tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực chạy ăn từng bữa mà con số thống kê bình quân không thể phản ánh đầy

đủ Hơn thế nữa, theo cách tiếp cận hẹp và phổ biến hiện nay, tăng trưởng kinh

tế thường kéo theo thu nhập trung bình của nhóm nghèo nhất xã hội Nhưng có một thực tế là dù thu nhập của nhóm nghèo đó có được cải thiện thì vẫn có một khoảng cách ngày càng xa giữa thu nhập của nhóm nghèo và nhóm giàu khi nền kinh tế có sự tăng trưởng nhanh Chính khoảng cách của nhóm nghèo so với nhóm giàu mới nói lên mức độ bất bình đẳng của xã hội

Theo cách tiếp cận rộng, vấn đề đói nghèo xuất phát từ căn nguyên sâu

xa của đói nghèo là do trong xã hội có sự phân hoá, chính sự phân hoá này là

hệ quả của chế độ kinh tế và chế độ xã hội Khi loài người còn ở thời kỳ mông muội thì chưa phân ra kẻ giàu - người nghèo Sự phân công lao động xã hội càng diễn ra mạnh mẽ thì sự phân hoá xã hội cũng bắt đầu và phát triển

Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, Ph.Ăngghen đã viết: “Sự phân biệt giữa kẻ giàu người nghèo đã xuất hiện

bên cạnh sự phân biệt giữa người tự do và người nô lệ: cùng với sự phân công mới là sự phân chia mới xã hội thành các giai cấp Sự chênh lệch về tài sản giữa người chủ gia đình riêng rẽ đã phá vỡ cộng đồng gia đình cộng sản

cũ, ở bất cứ đâu mà nó còn được duy trì cho đến bây giờ; đồng thời việc canh tác chung ruộng đất bằng những phương tiện của cộng đồng cũng tiêu tan”

[41, tr.243]

Ở Việt Nam, khái niệm nghèo đói được mở rộng Năm 1990, nhu cầu hỗ

trợ của người nghèo chỉ được giới hạn đến nhu cầu “ăn no, mặc ấm” thì ngày

nay người nghèo còn có nhu cầu về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hoá… Đây chính

là nhu cầu “giảm nghèo và phát triển” Điều này có nghĩa là: các chính sách

phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo, người nghèo cần được quan tâm trong việc hoạch định các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

Trang 19

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thuộc Chính phủ được Nhà nước giao trách nhiệm tiến hành xây dựng chuẩn nghèo qua các thời

kỳ Chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang

sử dụng chi tiêu thu nhập, mục đích là xác định được đối tượng cụ thể của chương trình tại thôn, xã, lên danh sách được hộ nghèo Chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố đã điều chỉnh qua

5 giai đoạn phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của đất nước

Giai đoạn 1993-1995: Hộ đói: thu nhập bình quân đầu người quy gạo

dưới 13kg/người/tháng khu vực thành thị, dưới 8 kg gạo/người/tháng khu vực nông thôn Hộ nghèo: thu nhập bình quân quy theo gạo dưới 20 kg/người/tháng ở khu vực thành thị và dưới 15 kg/người/tháng ở khu vực nông thôn

Giai đoạn 1995-1997: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu

người quy ra gạo dưới 13kg/người/tháng tính cho một vùng Hộ nghèo là hộ

có thu nhập: dưới 15kg/người/tháng ở vùng nông thôn miền núi, hải đảo; dưới

20 kg/người/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng trung du; dưới 25kg/người/tháng ở khu vực thành thị

Giai đoạn 1998-2000 (theo Công văn số 1721/LĐTBXH): Hộ đói: là

hộ có thu nhập một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997 tính cho mọi vùng) Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương đương: vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng; vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg/người/tháng, tương đương 70.000 đồng; vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng, tương đương 90.000 đồng

Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ/LĐTBXH):

vùng nông thôn miền núi, hải đảo: thu nhập bình quân 80.000 đồng/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng: thu nhập bình quân 100.000

Trang 20

đồng/người/tháng; vùng thành thị: thu nhập bình quân 150.000 đồng/người/tháng

Giai đoạn 2006-2010 (Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg): Hộ đói

nghèo vùng thành thị: thu nhập bình quân 260.000đồng người/tháng; vùng nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): thu nhập bình quân 200.000đồng/ người/tháng

Với những sự điểu chỉnh chuẩn nghèo của nước ta như trên, chứng tỏ rằng chuẩn mực nghèo đói là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận, nó phụ thuộc cả vào thời gian và không gian

Khi xem xét tình trạng hoặc mức độ đói nghèo, chúng ta cần chú ý bốn vấn đề sau:

Thứ nhất, xem xét hiện tượng đói nghèo trước hết phải xem xét ở lĩnh

vực kinh tế, do đó phải đặc biệt chú ý tới những biểu hiện về mức sống thông qua các nhu cầu cơ bản, tối thiểu về đời sống vật chất

Thứ hai, xác định tiêu chí mức độ đói nghèo dựa theo thu nhập bình

quân đầu người trong tháng hoặc trong năm theo hai khu vực điển hình là vùng thành thị và vùng nông thôn, miền núi, hải đảo

Thứ ba, quy ra hiện vật, vật phẩm tiêu dùng được tính bằng gạo hoặc

quy thành giá trị được tính bằng tiền

Thứ tư, xem xét các khoản tiêu dùng từ thu nhập phản ánh mức độ thoả

mãn các nhu cầu tối thiểu để xem đối tượng dân cư nghèo đói và độ chênh lệch có tính chất vùng và giữa các khu vực, giữa các đối tượng khác nhau để

có chính sách thích hợp giải quyết có hiệu quả về vấn đề xoá đói, giảm nghèo

Như vậy, từ lý luận và thực tiễn của đói nghèo, chúng ta thấy đói nghèo

là một hiện tượng phổ biến và nan giải Đây là một bài toán khó đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Nếu không giải quyết được bài toán này thì hậu quả của nó là rất lớn, đói nghèo sẽ gây trở ngại đến sự phát triển mọi mặt của đất nước, tạo ra nhiều bức xúc trong xã hội Cho nên Việt Nam phải có bước đi

Trang 21

vững chắc và nhanh chóng trong vấn đề này Công cuộc xoá đói, giảm nghèo

ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang trở thành một phong trào sâu rộng, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, đã đạt được những thành tựu

to lớn về mọi mặt, song cuộc chiến chống đói nghèo còn gặp phải rất nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện Cho nên, phải tìm ra nhiều hướng giải quyết có hiệu quả và thiết thực hơn để nhanh chóng đẩy lùi những nguy cơ

mà đói nghèo gây ra

1.1.2 Tình hình đói nghèo và chủ trương của Đảng

1.1.2.1 Tình hình đói nghèo

Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đất nước ta không ngừng lớn mạnh và đi lên Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế luôn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân mỗi năm trên 7%; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực; các vấn đề xã hội được giải quyết, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Từ khi có chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt là thực hiện Chỉ

thị số 23 - CT/TW ngày 29-11-1997 của Bộ Chính trị về Lãnh đạo thực hiện

công tác xoá đói, giảm nghèo, công tác xoá đói, giảm nghèo đã được triển

khai mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh, huyện, nhất là những vùng, xã nghèo; đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ và đạt kết quả khá Nhà nước đã đầu tư thông qua các chương trình quốc gia có liên quan đến chương trình xoá đói, giảm nghèo khoảng 21 nghìn tỉ đồng, đã tăng cường đầu tư cho những địa bàn gặp khó khăn Trong đó dành riêng cho phần xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc Chương trình xoá đói, giảm nghèo khoảng 2000 tỉ đồng

Trong cả nước, các cấp, ngành, cơ quan đoàn thể đã triển khai nhiều công việc cụ thể giúp đỡ các hộ nghèo bớt khó khăn, từng bước vươn lên trong cuộc sống Tỉ lệ đói nghèo trên tổng số hộ giảm xuống nhanh chóng

Trang 22

Thành quả to lớn trên cho thấy chúng ta đạt được mục tiêu đề ra và được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước giảm tỉ lệ đói nghèo nhanh nhất Chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng đã đi đúng hướng với những

mô hình xoá đói, giảm nghèo phù hợp, nhiều dự án được triển khai thực hiện

ở các địa phương làm cho đời sống của người dân được nâng cao, mức tiêu dùng bình quân đầu người đạt 4,3 triệu đồng năm 2000 Thực hiện thành công mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến nay, tỉ lệ hộ nghèo trong toàn quốc giảm từ 17,2% xuống còn 8% vào cuối năm 2004 (còn 1,42 triệu hộ nghèo), giảm được 1,3 triệu hộ so với năm 2001, bình quân mỗi năm giảm 32 vạn hộ

Bên cạnh những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đạt được như trên nhưng tình hình đói nghèo vẫn đang là vấn đề nóng bỏng đặt ra cần phải tìm cách giải quyết ở nhiều địa phương trong cả nước Việt Nam

là một nước nông nghiệp, trình độ dân cư còn thấp, thụ động dễ bị tổn thương trước biến động của mỗi gia đình và cộng đồng Nhiều hộ tuy có mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo nhưng vẫn giáp ranh giới với ngưỡng nghèo và có nguy cơ tái nghèo Đến năm 2001, cả nước có tổng số 2.800 nghìn hộ nghèo chiếm 17,2% dân số, điều đó phản ánh mức độ đói nghèo của nước ta vẫn còn cao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới Thu nhập bình quân đầu người của nước ta còn thấp mới đạt 501,5 nghìn đồng/ người dân Chênh lệch giàu nghèo giữa các hộ, khu dân cư, vùng đang dần trở thành một vấn đề nan giải Tại Đại hội lần IX (2001) Đảng ta đã đánh

giá: “Tỉ lệ đói nghèo trong toàn quốc mấy năm gần đây tuy có giảm mạnh,

nhưng chưa vững chắc, nếu rơi vào thiên tai, mất mùa thì nhiều hộ vẫn có thể rơi vào tình trạng đói nghèo trở lại Đời sống của nhân dân ở một số vùng sâu, vùng xa, vùng thường bị thiên tai còn rất khó khăn” [20, tr.256]

Đứng trước những vấn đề mà quá trình thực hiện chiến lược xoá đói, giảm nghèo đặt ra, Đảng ta tiếp tục đưa ra những chủ trương mới phù hợp với

Trang 23

tình hình trong nước và quốc tế để nhanh chóng đẩy lùi đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội Đây là điều kiện quan trọng để chúng chống lại nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và thế giới

1.1.2.2 Chủ trương của Đảng về xoá đói, giảm nghèo

Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chủ trương

đã thu hút được sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức quốc

tế và đông đảo quần chúng nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu

về xoá đói, giảm nghèo được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Đây là tiêu chí quan trọng góp phần phát triển bền vững của mỗi quốc gia Để phát huy các thành quả to lớn đã đạt được, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề đưa các chủ trương, biện pháp phù hợp với tình hình mới nhằm đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã tổng kết 5 năm

thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII: “Công tác xoá đói, giảm nghèo đã

được triển khai mạnh mẽ ở hầu hết các tỉnh, nhất là ở các vùng nghèo, xã nghèo; đã thu hút được nhiều nguồn lực hỗ trợ và đạt được kết quả khá” [20,

tr.244] Trên cơ sở những thành tựu đạt được qua 5 năm (1996-2001), trong

Mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2001-2005, Đảng ta đã đề ra: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững;

ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các

tệ nạn xã hội Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 24

Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia” [20, tr.90]

Đại hội lần thứ IX của Đảng cũng đề ra chỉ tiêu đến 2005: "Cơ bản xoá

hộ đói, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 10%” [20, tr.29] Định hướng của

Đảng là: "Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói, giảm nghèo

Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm của những vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo,

xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập Phấn đấu đến năm 2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn 10% số hộ thuộc diện nghèo Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, các huyện đồng bằng miền Trung và các tỉnh Nam Bộ về cơ bản không còn hộ nghèo Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo, tránh tình trạng tái nghèo" [20, tr.299]

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ 2001- 2010 của Đảng, coi lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo là một chiến lược dài hơi của Đảng, nhằm định hướng cho sự phát triển lâu dài, bền vững cho đất nước Đảng ta đã

khẳng định: "Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư

xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm… đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp

xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản

Trang 25

không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo”

[20, tr.211-212]

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, đất nước ta đã đạt được một số thành tựu trong công tác xoá đói, giảm nghèo Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (4-2006) về phương hướng, nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Đảng ta đã khẳng định:

“Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức, đã thu được nhiều kết quả tốt thông qua việc trợ giúp điều kiện sản xuất, tạo việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng, nhà ở; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản, tăng thu nhập, cải thiện đời sống; động viên các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng và các tầng lớp dân cư tham gia Đến cuối năm 2005, tỷ lệ nghèo còn 7% (kế hoạch 10%, theo chuẩn Việt Nam giai đoạn 2001- 2005)” [21, tr.157] Đồng thời, Đảng ta đã đề ra mục tiêu

tổng quát: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến

quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và phát triển kinh tế tri thức, tạo được nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế” [21, tr.186]

Phương hướng về xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn tiếp theo, Đảng ta

tiếp tục đẩy mạnh: “Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức thực hiện xoá

đói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kết hợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức

Trang 26

sống một cách bền vững; kết hợp chính sách của Nhà nước với sự trợ giúp trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo,

hộ nghèo, nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Có chính sách khuyến khích mạnh các doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là nông thôn vùng núi Phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia công cuộc xoá đói, giảm nghèo” [21, tr.217]

Chỉ tiêu đặt ra về tỉ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) giảm xuống còn

10 - 11% vào năm 2010

Những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn này là cơ sở, nền tảng để Nhà nước, các cấp, ban, ngành triển khai thực hiện công cuộc xoá đói, giảm nghèo một cách sâu rộng, có hiệu quả cao

Tháng 9-2000, tại Hội nghị thượng đỉnh của các Nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tham dự và phát biểu cam kết thực hiện

“Mục tiêu thiên niên kỷ” do Liên hợp quốc khởi xướng, trong đó có mục tiêu

giảm một nửa số người nghèo vào năm 2015 Với việc ký tuyên bố “Mục tiêu

thiên niên kỷ”, một lần nữa Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự cam kết mạnh

mẽ trong việc cải thiện hơn nữa phúc lợi của nhân dân trong đó đặc biệt chú ý đến người nghèo

Tháng 5-2001, Thủ tướng Chính phủ đã thông qua “Chiến lược toàn

diện tăng tưởng và giảm nghèo”, trong đó xoá đói, giảm nghèo, an sinh xã

hội được xác định là một phần quan trọng của Chiến lược

Ngày 4-10-2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, thời gian hoạt động là 99 năm kể từ ngày 01-01-2003 Ngân hàng Chính sách xã hội có nhiệm vụ thực hiện chính sách tín

Trang 27

dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo Đây là một bước cải cách quan trọng nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại và nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước

Ngày 23-9-2004, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 33/2004/CT-TTg

về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, trong đó

ghi rõ: “Đảm bảo xoá đói, giảm nghèo giảm nhanh số hộ nghèo theo Chuẩn

quốc tế nhất là những vùng đặc biệt khó khăn, phát triển mạng lưới an sinh

xã hội để trợ giúp người nghèo, xây dựng kết cấu xã hội bền vững”

Từ tháng 5-2005, trên cơ sở Quyết định số 170/TTg của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí hộ nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương tổ chức khảo sát xác định

hộ nghèo theo tiêu chí mới, làm cơ sở để xây dựng chương trình và các chính sách dự án giảm nghèo

Ngày 5-7-2005, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Quyết định số 2128/LĐTBXH- KHTC về chuẩn nghèo mới giai đoạn

2006 - 2010

Ngày 28-2-2007, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 04/2007/TT- LĐTBXH về hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hàng năm, đây là cơ sở xây dựng quản lý hộ nghèo trên toàn địa bàn

Thông qua việc nghiên cứu các văn kiện, quyết định, chỉ thị trên có thể thấy, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác xoá đói, giảm nghèo tập trung ở một số nội dung cụ thể nhằm chỉ đạo thực tiễn, đó là:

Một là, xoá đói, giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh,

hiệu quả và bền vững, tạo nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo

Trang 28

Hai là, xoá đói, giảm nghèo là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước cùng toàn

thể nhân dân, mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phải tự ý thức vươn lên

Ba là, phải triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói, giảm

nghèo bằng các nguồn lực trong và ngoài nước

Bốn là, việc hỗ trợ và cho vay phải gắn với đào tạo, hướng dẫn và phải

căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng, từng vùng

Năm là, phải luôn quan tâm đến vấn đề tái nghèo trong nhân dân

Như vậy, căn cứ vào thực trạng đói nghèo của cả nước trong giai đoạn này, Đảng, Nhà nước đã đưa ra nhiều quan điểm mới phù hợp với điều kiện

cụ thể Dựa trên những quan điểm chỉ đạo này, Đảng bộ tỉnh Hải Dương, đặc biệt là Đảng bộ huyện Kim Thành quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn 2001 - 2007, nên đã đạt được nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi diện mạo của tỉnh nói chung, của huyện Kim Thành nói riêng

1.2 Một số đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương)

1.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Kim Thành trước năm 1997

Kim Thành là một huyện có vị trí chiến lược quan trọng - chiếc cầu nối giữa hai Thành phố Hải Dương và Thành phố Hải Phòng Người dân ở đây rất cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh, có tinh thần tự lực, tự cường và ý thức cộng đồng sâu sắc, luôn kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước

Trước đó Kim Thành là một huyện độc lập, đến năm 1979, thực hiện Quyết định của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hai huyện Kim Thành và Kinh Môn hợp nhất lấy tên là huyện Kim Môn

Kim Môn là huyện nằm ở phía Đông tỉnh Hải Dương có điều kiện tự nhiên và vị trí giao thông thuận lợi: phía Bắc giáp Đông Triều (Quảng Ninh),

Trang 29

phía Đông giáp huyện An Dương (Hải Phòng) Toàn huyện có diện tích hành chính tự nhiên 28.708 ha

Về kinh tế - xã hội, Kim Môn là huyện có diện tích rộng, địa hình đa

dạng, đồng bằng xen lẫn núi, sông nên vừa có thuận lợi vừa có khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Trong giai đoạn này, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Môn lần thứ V và lần thứ VI, kinh tế - xã hội của huyện có sự chuyển biến quan trọng:

Sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng trung bình 7.63%/năm,

năng suất lúa không ngừng được nâng cao Bình quân lương thực đầu người

430 kg/năm Diện tích đất canh tác tăng từ 2,02 lần lên đến 2,14 lần Chăn nuôi tăng nhanh, trong đó nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh mẽ, bình quân tăng 7%/năm Phong trào vật nuôi đặc sản được mở rộng, nhờ đó mà tỉ trọng chăn nuôi chiếm 25% cơ cấu nông nghiệp

Trong nông thôn ngày càng có nhiều hộ đầu tư hàng chục triệu đồng để phát triển chăn nuôi, làm dịch vụ, cải tạo vườn tược, trồng cây đặc sản: vải, cam, quýt,… nghề trồng dâu nuôi tằm được khôi phục Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc đem lại hiệu quả, toàn huyện trồng được 120 ha rừng

Tuy nhiên, Kim Môn là một huyện có trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu, việc tiếp thu ứng dụng khoa học - kỹ thuật còn hạn chế

Vì vậy, nền nông nghiệp của huyện còn mang tính chất độc canh, phụ thuộc nhiều vào thời tiết Lương thực bình quân đầu người còn thấp, đạt 410 kg/năm Giá trị thu nhập 1ha canh tác mới đạt 20.700.000 đồng Thu nhập bình quân là 235 USD/người/năm So với các huyện trong tỉnh Hải Dương, huyện Kim Môn có tốc độ tăng trưởng chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi Kết quả trên chưa tương ứng xứng với tiềm năng của huyện, thu nhập bình quân đầu người thấp Trong giai đoạn này số hộ nghèo đói của huyện tương đối cao

Trang 30

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ sau nhiều năm giảm sút đã

dần được phục hồi Cơ cấu sản xuất thời kỳ này đang chuyển dần sang cơ chế thị trường Một số ngành sản xuất chế biến gỗ, may mặc, xay xát… tăng khá nhanh, ngành nghề truyền thống được khôi phục, số hộ làm công nghiệp nhỏ, vận tải, khai thác vật liệu xây dựng, dịch vụ nông thôn tăng nhanh Năm 1997

có 412 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm gần 80% giá trị tiểu thủ công nghiệp của huyện, đảm bảo trên 70% hàng hoá bán ra thị trường, toàn huyện

có một doanh nghiệp tư nhân, ba xưởng tư doanh và một công ty trách nhiệm hữu hạn đã giải quyết được một lực lượng lao động đáng kể cho người dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do chưa đổi mới đồng bộ thiết bị công nghệ và trình độ quản lý tay nghề, vốn, thị trường tiêu thụ còn chưa được mở rộng, nên một số ngành nghề truyền thống chưa được phát triển mạnh Đầu tư cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa cao, chất lượng sản phẩm còn thấp, doanh thu mà ngành này mang lại cho nhân dân trong huyện chưa tương xứng với tiềm năng, nên chưa góp phần quan trọng vào phong trào xoá đói, giảm nghèo

Xây dựng cơ sở hạ tầng được huyện ưu tiên hàng đầu, tiến hành tu sửa

đường giao thông liên huyện, liên xã, tu sửa đê điều và xây dựng công trình điều tiết nước qua đê, nạo vét một số kênh mương; đồng thời đầu tư nâng cấp các trạm biến áp, tu sửa và mở rộng mạng lưới điện, nâng cao chất lượng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Thực hiện chủ trương “điện đi trước một bước”, Kim Môn đã xây dựng

hai hệ thống đường dây điện 35 kv phục vụ cho thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cuối năm 1996, huyện đã xây dựng thêm một trạm trung gian 35/10kv với biến áp 1000KVA và 75 trạm gồm 77 biến áp 35/04 KVA Tổng dung lượng lên tới 3.345 KVA và 148 đường dây, 42/45 xã trong huyện nhân dân được dùng điện Huyện có một bưu điện trung tâm và 6 bưu điện khu vực, 10 tổng đài điện thoại, 43/45 xã có hệ thống loa đài phát thanh với hàng

Trang 31

trăm loa công cộng công suất 25 KW Tuy nhiên, xây dựng kết cấu hạ tầng thời

kỳ này chưa đạt yêu cầu, công tác quy hoạch quản lý xây dựng nhà còn yếu kém, lãng phí thất thoát nhiều, nhân dân chưa thực sự được hưởng những lợi ích thiết thực từ những dự án trên

Về văn hoá - xã hội, Kim Môn là một huyện có dân số đông, trình độ

dân trí thấp, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giáo dục thấp Thiếu việc làm là vấn đề bức xúc chưa được giải quyết Trang thiết bị phục vụ cho giáo dục và y tế còn yếu và thiếu, ít được chú trọng nên đời sống văn hoá ở cơ sở còn lạc hậu, sức khoẻ của người dân chưa được quan tâm Một số hủ tục và tệ nạn tăng nhanh, đời sống của nhân dân trong huyện vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn

Với tình trạng trên, Đảng bộ huyện cùng với các cấp, ban, ngành trong huyện đã nỗ lực và thường xuyên quan tâm tới đời sống tinh thần của nhân dân So với các năm học trước, từ năm học 1991 - 1992, chất lượng giáo dục toàn diện đã được nâng cao, tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giảm, trình độ giáo viên được chú trọng hơn, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân được huyện quan tâm hơn cả về vật chất và chuyên môn, hàng năm thăm khám và điều trị cho trên dưới một ngàn người Nhiều hộ có công trình vệ sinh đảm bảo, chính sách kế hoạch hoá gia đình bắt đầu có hiệu quả Đời sống văn hoá của nhân dân được nâng lên đáng kể Tuy nhiên, so với nhiều huyện khác trong tỉnh, tệ nạn trong huyện vẫn còn nhiều làm cho đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Chính sách xã hội cũng được quan tâm đáng kể, tuy nhiên vẫn cần phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân

Có thể khẳng định, trước năm 1997, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Kim Môn, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, mức sống tăng, nhưng chưa xứng với tiềm năng của huyện, còn nhiều bất cập đặt ra: tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân người dân còn thấp chủ yếu dựa

Trang 32

vào nông nghiệp; dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống chậm phát triển, lao động thiếu việc làm, tệ nạn xã hội gia tăng, cơ sở hạ tầng thấp kém; công tác đầu tư xoá đói, giảm nghèo còn chưa được quan tâm nên sự chênh lệch ở mức sống của người dân còn cao Trong toàn huyện còn nhiều hộ nghèo, khó khăn chồng chất khó khăn nên huyện cần quan tâm nhiều hơn nữa tới đời sống nhân dân Muốn làm được điều đó, huyện cần phải đẩy mạnh phong trào xoá đói, giảm nghèo, phải coi đây là chìa khoá để cải thiện và nâng cao mức sống cho nhân dân trong huyện Tuy nhiên, đây là một vấn đề khó khăn và phức tạp trước năm 1997 đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Thành giai đoạn sau khi tách huyện

1.2.2 Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội huyện Kim Thành (tỉnh Hải Dương) từ năm 1997 đến năm 2007

Năm 1997, do điều kiện cần thiết chuyển sang thời kỳ phát triển theo đường lối đổi mới của Đảng, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định tách huyện Kim Môn để tái lập hai huyện Kim Thành và Kinh Môn

Từ ngày 1-4-1997, huyện Kim Thành bắt đầu làm việc theo đơn vị hành chính như trước khi hợp nhất Huyện lỵ được đặt ở thị trấn Phú Thái Thực hiện Quyết định của Quốc hội kỳ họp thứ 10 khoá IX, tháng 11-1996, tỉnh Hải Hưng đã chia tách để lập hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương, huyện Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương

Trải qua nhiều lần phân hợp, đến nay Kim Thành gồm có 20 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 113.16km2, trong đó diện tích canh tác là 14.552 ha, còn lại là đất thổ cư, ao hồ và kênh rạch Dân số tính đến ngày 1-4-1999 là 124.111 người, mật độ 1.096 người/km2

Kim Thành nằm ở phía Đông tỉnh Hải Dương nơi có vị trí địa lý giao thông thuận tiện Phía Bắc giáp huyện Kinh Môn, phía Tây giáp huyện Thanh

Hà, phía Đông Nam giáp huyện An Hải - Thành phố Hải Phòng

Trang 33

Kim Thành có hệ thống sông ngòi dày đặc rất thuận lợi cho việc tưới tiêu, phát triển kinh tế và giao thông đường thuỷ Các con sông như sông Vận (sông Kinh Môn), sông Rạng, sông Lai Vu, sông Lạch Tray bao quanh huyện dài 55km Những con sông này đã bồi đắp nên những cánh đồng phì nhiêu, màu mỡ của huyện Từ những con sông này, người dân Kim Thành còn khai thác được nguồn thực phẩm khá phong phú với các đặc sản: tôm, cá, rươi, ruốc, cáy…

Bên cạnh giao thông đường sông, Kim Thành còn có thuận lợi về giao thông đường sắt, đường bộ Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng đi qua 3 ga (Phú Thái, Phạm Xá, Lai Khê) trong huyện với chiều dài 18km từ Lai Vu đến Kim Lương; có đường quốc lộ số 5 chạy dài 18 km song song với đường sắt nối ba thành phố Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng; có đường 188 chạy qua địa phận của huyện từ Phúc Thành đến Tam Kỳ dài 14,5km; đường 186 chạy qua địa phận huyện từ Lai Khê đến Phà Mây dài 1,5km nối liền với khu Đông Triều (Quảng Ninh) Những con đường này đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân Kim Thành phát triển kinh tế - văn hoá, mở rộng giao lưu với các huyện và các tỉnh bạn

Kim Thành có bốn tuyến đê lớn là: đê tả sông Lai Vu từ Tuần Mây đến cầu Lai Vu dài 4.511m; đê tả sông Rạng từ cầu Lai Vu đến Liên Hoà dài 22.240m; đê hữu sông Kinh Môn từ Tuần Mây đến Kim Lương dài 20.838m;

đê tả sông Lạch Tray từ Liên Hoà đến Tam Kỳ dài 7.345m Đây là những tuyến

đê quan trọng của tỉnh Hải Dương Ngoài tác dụng chống lũ lụt ngăn nước cho các huyện Kinh Môn, Nam Sách, Thanh Hà,… những con đê này còn là các tuyến đường giao thông thuận lợi cho nhân dân trong huyện

Nhìn chung, các tuyến giao thông đường sông, đường bộ, đường sắt đã tạo điều kiện thuận lợi cho Kim Thành tiếp xúc, liên kết và giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng trong tỉnh, trong huyện và cả với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hải Dương và Thành phố Hải Phòng Tuy vậy, sông ngòi nhiều

Trang 34

cũng tạo nên sự chênh lệch của đồng ruộng cao thấp khác nhau gây nhiều khó khăn trong quá trình canh tác như hạn hán, úng ngập

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Kim Thành hàng năm có hai mùa tương đối rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 Nhiệt độ trung bình khoảng 23oC, lượng mưa trung bình khoảng 1.500 - 1.600 mml Với khí hậu

đó, Kim Thành có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp một cách đa dạng, nhất là nghề trồng lúa nước Đây là nghề chính của nhân dân địa phương từ lâu đời với các giống lúa: Tám, Dâu, Nếp cái hoa vàng, Ré đỏ… là những giống lúa được nhân dân nơi đây lựa chọn gieo cấy và trồng đại trà Ngày nay, nhân dân huyện Kim Thành đã đưa nhiều giống lúa mới cho năng suất, chất lượng cao vào đồng ruộng Ngoài ra, nhân dân Kim Thành còn trồng xen canh nhiều loại rau màu: ngô, khoai, đỗ tương, củ đậu, ớt,… cây màu vụ đông đã góp phần cải thiện được đời sống của nhân dân Cây ăn quả cũng được người dân Kim Thành đặc biệt chú trọng Nhiều xã trong huyện đã trồng nhiều vải thiều, chuối, cam… Các sản phẩm này đã được trao đổi rộng rãi trên thị trường trong và ngoài tỉnh

Cùng với nghề trồng trọt, nhân dân huyện Kim Thành còn rất chú trọng nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi đặc sản nước ngọt như: lợn, gà, cá,

ba ba,… Tuy chăn nuôi không tập trung thành vùng mà rải rác trong các hộ gia đình với hiệu quả kinh tế chưa thật cao nhưng nó đã góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện, nâng cao đời sống nhân dân

Song song với việc phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện Kim Thành còn phát triển các nghề thủ công truyền thống như nghề: làm quạt, dệt chiếu, dệt vải ở Bất Nạo (Kim Anh), trồng dâu nuôi tằm, dệt vải ở Cổ Dũng… Ngoài

ra, còn có các nghề như mộc, rèn, thêu ren ở rải rác ở các xã trong huyện Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi nên nghề buôn bán ở huyện Kim Thành phát triển sớm, tập trung ở một số nơi trung tâm như: Bằng Lai, Phú Thái, Đồng

Trang 35

Xá, Phạm Xá, Lai Khê… Điều này thể hiện rõ qua các chợ ở Kim Thành như chợ Vàng (Liên Hoà), chợ Đồng Gia, chợ Kim Anh… Các chợ này thường họp theo phiên, đây không chỉ là trung tâm buôn bán trao đổi hàng hoá của nhân dân trong huyện mà còn là nơi giao lưu, buôn bán của nhân dân các huyện, và các tỉnh khác Từ các chợ này, hàng hoá nông sản được chuyển đi nhiều nơi trong huyện, trong tỉnh, đặc biệt được chuyển đi Thành phố Hải Dương, Thành phố Hải phòng và tỉnh Quảng Ninh…

Cộng đồng người Kim Thành chủ yếu là người Kinh, làng nào cũng có một ngôi chùa, còn lại rất ít người theo đạo Thiên chúa Trong suốt quá trình lịch sử, nhân dân Kim Thành luôn đoàn kết, thương yêu đùm bọc, gắn bó bên nhau chống giặc ngoại xâm, chinh phục thiên nhiên vượt qua mọi thử thách

để xây dựng quê hương

Đời sống văn hoá - tinh thần của người dân Kim Thành khá phong phú Các hội làng, đình đám, hội thi hát dân ca, diễn kịch… là những nét văn hóa truyền thống đáng quý của nhân dân nơi đây Kim Thành là huyện có nhiều đình, đền, chùa, miếu là nơi ghi công những người con của quê hương đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh và giải phóng của quê hương, đất nước Nơi đây mọi người có thể trao đổi kinh nghiệm về thời vụ, về tâm tư tình cảm… Tập tục này đã gắn kết mọi người với nhau thành những cộng đồng làng

xã “tối lửa tắt đèn có nhau” và từ đó tình đoàn kết của nhân dân ngày càng được củng cố bền chặt hơn

Nhân dân Kim Thành không chỉ siêng năng, cần cù chịu khó mà còn nổi tiếng là hiếu học và đã có nhiều cống hiến cho quê hương đất nước Tất

cả được viết lên những trang sử hào hùng của huyện Kim Thành Ngày nay, dưới sáng của nền giáo dục mới, truyền thống hiếu học của nhân dân Kim Thành lại được phát huy, nơi đây đã cống hiến cho đất nước thuộc mọi ngành, lĩnh vực trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của nước nhà

Trang 36

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN KIM THÀNH (TỈNH HẢI DƯƠNG)

để phát triển kinh tế - xã hội làm cho dân giàu, huyện mạnh Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tại Đại hội đại biểu lần thứ XX (1997)

của Đảng bộ Kim Thành đã nêu: “Trong quá trình đổi mới phải biết kết hợp

đúng đắn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với từng bước đổi mới hệ thống chính trị theo phương châm: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phải gắn với sự tăng cường quản lý của Nhà nước” [2, tr.185] Để phát huy

bài học trên, Đảng bộ huyện Kim Thành luôn coi xoá đói, giảm nghèo là vấn

đề quan trọng để thực hiện chính sách xã hội, tạo động lực để phát triển kinh

tế Trong phương hướng tổng quát của Đại hội lần thứ XX của Đảng bộ Kim

Thành đã nêu: “Cải thiện đời sống nhân dân, nhất là vùng có nhiều khó khăn,

người nghèo và đối tượng chính sách… tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn ở thế kỷ XXI” [2, tr.186]

Trang 37

Căn cứ vào tình hình thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo của giai đoạn trước, trong nhiệm kỳ này, Đảng bộ huyện Kim Thành đã đề ra mục tiêu đến năm 2000 giảm hộ nghèo xuống dưới 5%, tăng hộ giàu lên 25% Phấn đấu mỗi năm giải quyết cho 2000 lao động, 99% hộ có nhà xây lợp ngói, 99,5% hộ dùng điện sinh hoạt, 90% hộ có phương tiện nghe nhìn

Sau bốn năm lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, huyện Kim Thành đã thu được nhiều kết quả về kinh tế - xã hội, trong đó phải kể đến thành công của chính sách xoá đói, giảm nghèo Một số xã trên địa bàn huyện đã giảm tỷ lệ đói nghèo xuống thấp hơn so với mục tiêu đề ra như: thị trấn Phú Thái, xã Kim Anh, xã Tuấn Hưng… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kinh tế -

xã hội và chính sách xoá đói, giảm nghèo, trong huyện cũng bộc lộ ra nhiều hạn chế: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công tác xoá đói, giảm nghèo ở một số địa phương: xã Kim Khê, xã Liên Hoà, xã Cẩm La… còn gặp nhiều khó khăn Đại hội Đảng bộ huyện Kim Thành lần thứ XXI đã phân tích thành tựu và hạn chế quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua, đặc biệt là vấn đề xoá đói, giảm nghèo Đảng bộ Kim thành đã đề ra quyết tâm trong nhiệm kỳ tới

“tăng thêm việc làm, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo còn 2%” [2, tr.200]

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ Hải Dương, số 15-CTr/TU về

Chương trình xoá đói, giảm nghèo tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2005,

Đảng bộ huyện Kim Thành đã thành lập Ban Chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 cấp huyện và cấp xã, đưa ra nhiều quyết định mang tính chất định hướng và chỉ đạo thực tiễn nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo ở địa phương

Qua nghiên cứu, từ năm 1997 đến năm 2001 chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành tập trung ở một số vấn đề sau:

Một là, xoá đói, giảm nghèo trong huyện là nhiệm vụ của Đảng bộ,

chính quyền, các cấp, ngành từ huyện đến xã, thôn và của toàn thể nhân dân

Trang 38

Hai là, xây dựng nhiều mô hình xoá đói, giảm nghèo; khôi phục làng

nghề truyền thống; xây dựng mô hình cây con ở một số xã có điều kiện

Ba là, hỗ trợ nguồn vốn cho người dân thông qua nhiều kênh thực hiện Bốn là, mở nhiều lớp để đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động Năm là, phát huy nguồn lực tại chỗ, tính sáng tạo, đoàn kết của nhân dân

2.1.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Kim Thành thực hiện xoá đói, giảm nghèo 1997 -2001

Dưới ánh sáng đường lối của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) Sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự hỗ trợ tích cực có hiệu quả của các sở, ban, ngành tỉnh Hải Dương, trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân huyện, sự phối kết hợp chặt chẽ đồng bộ của các cơ quan, ban, ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội, Đảng bộ, nhân dân trong huyện trong

5 năm từ khi tái lập (1-4-1997 đến năm 2001) đã thực hiện Chương trình xoá

đói, giảm nghèo một cách tích cực, đồng bộ trên nhiều lĩnh vực khác nhau

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Đảng bộ huyện Kim Thành luôn xác định xây dựng cơ sở hạ tầng phải

đi trước một bước, vì đây là một trong số các dự án được quan tâm và chỉ đạo đồng bộ các nguồn vốn do Trung ương, Tỉnh Hải Dương trợ giúp Các nguồn vốn xây dựng cơ bản được lấy từ các chương trình dự án của Chính phủ và do đóng góp của nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng Từ năm 1997 đến năm

2001, huyện Kim Thành đã đầu tư được 51 tỉ 120 triệu đồng (không kể vốn xây dựng đường 5, đường 188) cho xây dựng cơ bản và xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là người nghèo có

cơ hội giao lưu buôn bán, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của mình

Về giao thông: Đây là một trong những dự án đầu tư mà huyện Kim

Thành rất quan tâm và tập trung cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong giai đoạn này Huyện đã mở mới một số

Trang 39

tuyến đường, nâng cấp đường giao thông nông thôn, xây dựng nhiều cầu dân sinh… Toàn huyện đã xây dựng được 64.5 km đường giao thông nông thôn với kinh phí 4,663 tỉ đồng và 32.800 công lao động Trong 5 năm (1997-2001), huyện Kim Thành đã xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều công trình phúc lợi công cộng trọng điểm trong địa bàn: cầu An Thái, cầu Kim Khê - Kim Lương; nâng cấp 4 km đường 188 (đoạn đường Kim Anh - Ngũ Phúc) thành đường trung tâm huyện, bắt tay vào triển khai dự án WB2 làm hai tuyến đường Cổ Dũng - Thượng Vũ và Đồng Gia - Đại Đức… Việc nâng cấp xây dựng các tuyến đường mới tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội trong huyện, nhất

là các xã Kim Khê, xã Kim Đính, xã Tuấn Hưng Cùng với đầu tư cho làm đường, các phương tiện vận chuyển cũng tăng nhanh nhất là xe công nông, ô tô các loại, đảm bảo mỗi năm vận chuyển hàng trăm ngàn tấn hàng hoá, hàng chục ngàn lượt khách

Như vậy, trong giai đoạn 1997 - 2001, hệ thống giao thông từ huyện đến các xã, liên xã, liên thôn không ngừng được mở rộng, bộ mặt của nông thôn thay đổi từ đó góp phần tích cực vào chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Kim Thành

Về thủy lợi: Đảng bộ huyện Kim Thành chỉ đạo tập trung nguồn vốn và

nhân lực để thực hiện xây dựng, sửa chữa, đắp mới nhiều đoạn đê mỗi năm từ 120.000 đến 150.000m3 Trong giai đoạn này, toàn huyện đã đắp được khoảng 630.840m3 đê (trong đó đắp đê cơ giới khảng 254.000m3); trồng được khoảng 17.500 mống tre chắn sóng; hàng chục điếm đê được xây dựng và tu sửa; làm

kè đê chắn sóng, nhất là ở các điểm xung yếu như kè Việt Hưng, khu cống Tường Vu; tu sửa, nâng cấp các trạm bơm điện, kênh mương cấp I, cấp II và nạo vét kênh mương nội đồng Chương trình kiên cố kênh mương được triển khai Uỷ ban nhân dân huyện Kim Thành có nhiều quyết định phân vốn cho bốn xã nghèo theo chương trình, trong đó xã Cẩm La đã hoàn thành được 1.000

Trang 40

mét và triển khai thực hiện trên diện rộng Chương trình 773 làm kênh mương

ở thị trấn Phú Thái; cải tạo đồng ruộng ở hai xã Thượng Vũ và Ngũ Phúc

Về xây dựng trường học: Ngoài nguồn vốn do sự hỗ trợ của Nhà nước

và nhân dân đóng góp Đảng bộ huyện Kim Thành đã lãnh đạo toàn dân trong giai đoạn này đầu tư hàng chục tỉ đồng xây dựng một số trường học trong huyện: Trường Trung học cơ sở Kim Đính, Trường Tiểu học xã Đại Đức,… xây dựng thêm 97 phòng học bậc phổ thông, 17 phòng học mẫu giáo kiên cố cao tầng, đưa tỷ lệ phòng học kiên cố, cao tầng ở bậc học phổ thông từ 40,7% (năm 1997) lên 61,7% (năm 2000); ở bậc học mẫu giáo từ 3,7% (năm 1997) lên 12,1% (năm 2000) Trang thiết bị dạy học được làm mới, nâng cấp và hoàn thiện, cảnh quan trường học cũng được đổi mới theo hướng xanh - sạch

- đẹp tạo điều kiện cho lĩnh vực giáo dục của huyện phát triển, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực

Về y tế: Trong giai đoạn này đã tu bổ, nâng cấp 19 trạm y tế xã, hoàn

thành nhà mổ cho khoa sản bệnh viện Kim Thành, mua nhiều trang thiết bị cho bệnh viện trung tâm và các trạm y tế xã Tiếp tục thực hiện các chương trình y tế cộng đồng nhằm đưa các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ vào phục vụ đời sống nhân dân trong huyện

Về thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông: Được sự quan tâm của các

cấp, các ngành và sự đóng góp mang tính chất xã hội hoá, vì thế hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông tiếp tục được củng cố, phát triển Riêng năm 2000, toàn huyện Kim Thành đã lắp đặt thêm 340 máy điện thoại vượt kế hoạch 8%, nâng mức bình quân lên 1,4 máy điện thoại/100 dân, tăng

so với năm 199 là 0,36 máy Chương trình đưa điện thoại đến các thôn, làng trong các xã được đẩy mạnh Tính đến cuối năm 2000, cả huyện Kim Thành

đã có 76/82 thôn có máy điện thoại Huyện đã xây mới 9 điểm Bưu điện - Văn hoá xã, đưa tổng số Bưu điện - Văn hoá xã trong huyện lên 11 điểm phục

vụ thiết thực cho nhân dân trong huyện Bảo đảm thông tin liên lạc, cấp phát

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kim Thành (2002), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Thành (1930-1954), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Thành (1930-1954)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kim Thành
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kim Thành (2006), Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Thành (1997-2005), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Kim Thành (1997-2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kim Thành
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
3. Ban Chấp hành Trung ương (1997), Chỉ thị số 23-CT/TW Về lãnh đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị "số 23-CT/TW
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 1997
5. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương (2006), Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương, tập 3 (1975 - 2000), Nxb. Giao thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sự kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb. Giao thông
Năm: 2006
7. Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000, Việt Nam - tấn công đói nghèo (2002), Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000, Việt Nam - tấn công đói nghèo
Tác giả: Báo cáo phát triển của Việt Nam năm 2000, Việt Nam - tấn công đói nghèo
Năm: 2002
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (9-1993), Báo cáo tổng thuật về giảm nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng thuật về giảm nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (5-1997), Thông báo số 1751/LĐTBXH Về xác định chuẩn mực đói nghèo năm 1997 - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo" số 1751/LĐTBXH
10. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xoá đói, giảm nghèo, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xoá đói, giảm nghèo
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 1999
12. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001), Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm 2001; Tài liệu tập huấn dành cho cán bộ công tác xoá đói, giảm nghèo cấp tỉnh và huyện, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm 2001
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2001
13. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Xoá đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế , Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2005
14. Bộ Tài chính (2005), “Việt Nam đạt những thành tựu to lớn trong xoá đói, giảm nghèo”, Báo điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam đạt những thành tựu to lớn trong xoá đói, giảm nghèo”
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
15. Bộ Tài chính (2005), “Xoá đói, giảm nghèo - “Cuộc chiến” vẫn tiếp tục”, Báo điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá đói, giảm nghèo - “Cuộc chiến” vẫn tiếp tục”
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
16. Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang (1999), Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đỉnh, Nghèo đói và xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1999
17. Bùi Cảnh (2010), “Góp phần xoá đói, giảm nghèo bảo đảm an sinh xã hội”, Báo điện tử Bà Ria - Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xoá đói, giảm nghèo bảo đảm an sinh xã hội”
Tác giả: Bùi Cảnh
Năm: 2010
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Xuân Triều (1993), Đói nghèo ở Việt Nam, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đói nghèo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Xuân Triều
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 1993
23. Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thanh (1997), Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thanh
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Số hộ nghèo huyện Kim Thành qua một số năm - đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007
Bảng 3.1. Số hộ nghèo huyện Kim Thành qua một số năm (Trang 70)
Bảng 3.2. Tỉ lệ hộ nghèo huyện Kim Thành so với các huyện - đảng bộ huyện kim thành lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 1997 den nam 2007
Bảng 3.2. Tỉ lệ hộ nghèo huyện Kim Thành so với các huyện (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm