1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh điện biên lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo tu nam 2004 den nam 2011

127 467 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quá trình “Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011”, nhằm khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ đạo của Đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ HƯƠNG GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ HƯƠNG GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

4.2 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Nguồn tư liệu 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Bố cục luận văn 9

Chương 1 : ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2006 .11

1.1 Yêu cầu khách quan thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trong những năm 2004-2006 .11

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Điện Biên tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo .11

1.1.2 Thực trạng đói nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trước năm 2004 .15

1.1.3 Các nhân tố tác động và yêu cầu thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong những năm mới tách tỉnh (2004 – 2006) .18

Trang 4

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo

từ năm 2004 đến năm 2006 .21

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo 21

1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo 25

Chương 2 : ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 33

2.1 Thời kỳ phát triển mới tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên 33

2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2011 38

2.2.1 Chủ trương Đại hội X của Đảng (tháng 4 năm 2006) về xóa đói, giảm nghèo .38

2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo 39

2.2.3 Đảng bộ tỉnh Điện biên chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2011 49

Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2011 .69

3.1 Kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên thực hiện xóa đói, giảm nghèo 69

3.1.1 Thành tựu 69

3.1.2 Hạn chế 81

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 86

3.2.2 Tuyên truyền, vận động, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn 88

Trang 5

3

3.3.3 Phát huy sức mạnh tổng hợp và huy động mọi nguồn lực trong cuộc vận động

xóa đói, giảm nghèo 88

3.3.4 Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao năng lực giám sát thực hiện xóa đói, giảm nghèo, tổ chức giao ban, tổng kết, rút kinh nghiệm định kì ở các cấp quản lý 90

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 105

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đã đi qua mười năm đầu thế kỷ XXI, nhưng đói nghèo vẫn là vấn

đề cấp thiết mang tính toàn cầu Đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội không phải của riêng quốc gia nào Không một quốc gia nào lại không quan tâm đến chính sách đói nghèo trong quá trình phát triển của mình Vì thế, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế luôn giành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề giải quyết đói nghèo hiện nay

Qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về công tác xóa đói, giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương, chính sách xã hội rộng lớn của Đảng và Nhà nước Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: giặc đói là thứ giặc nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm Từ quan điểm đó, Đảng và Nhà nước

đã có nhiều chủ trương, biện pháp để giải quyết nạn đói, góp phần quan trọng vào việc chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh, các địa phương theo nhịp điệu chung của đất nước và đã giành được những thành tựu quan trọng, song bên cạnh đó vấn đề đói nghèo và giải quyết đói nghèo vẫn còn nhiều bất cập cả trong nhân thức và chỉ đạo thực tiễn Hiện trạng đó đặt ra cho Đảng, Nhà nước cùng các địa phương nhiều nhiệm vụ mới cần được nghiên cứu, giải quyết để thực hiện đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân để thực hiện ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành

Điện Biên, là một tỉnh có số đông bà con các dân tộc thiểu số cư trú; điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, do đó để ổn định cuộc sống cho nhân dân các dân tộc, xóa được đói, giảm được nghèo ở Điện Biên là một vấn đề hết sức cấp thiết, đòi hỏi phải có sự đầu tư mạnh mẽ về cả trí lực và vật lực Công

Trang 7

Nghiên cứu quá trình “Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa

đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011”, nhằm khẳng định sự đúng đắn,

sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh thực hiện xóa đói, giảm nghèo; đánh giá thành tựu, hạn chế chỉ ra nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm

để vận dụng vào giai đoạn mới là một việc làm cần thiết

Với ý nghĩa nêu đó, tôi lựa chọn đề tài trên làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề xóa đói, giảm nghèo là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa chính trị, kinh tế - xã hội to lớn, đã thu hút nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu là các nhóm công trình nghiên cứu sau

Thứ nhất: các công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo trên phạm vi cả nước và các tỉnh bạn đã được công bố: Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam

(1996), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi

Trọng Thành (1997), vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội; Đào Tấn Nguyên (2004), Giải pháp tín dụng

góp phần thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế; Bộ lao động thương binh xã hội (1999), Những giải pháp tăng cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo,

Trang 8

Hội thảo khoa học, Hà Nội; Bộ lao động thương binh xã hội (2000), chuẩn nghèo

đói ở Việt Nam, Hội thảo khoa học, Hà Nội

Bùi Minh Đạo (2000), giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện

nay, Tạp chí Cộng sản, số 597, tháng 6 năm 2000; Trần Đình Đàn (2001), những giải pháp kinh tế, xã hội chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh, luận án

tiến sỹ kinh tế, Học viện Quốc Gia Hồ Chí Minh; Đỗ Thị Diệu (2007), Đảng bộ

Thái Bình lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo tronh những năm 1991-2005, luận văn thạc sỹ lịch sử Đảng; Hoàng Trường Giang (2009), Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 1996 đến năm

2006, luận văn thạc sỹ lịch sử Đảng

Các công trình trên nghiên cứu những vấn đề chung nhất về xóa đói, giảm nghèo Một số công trình tập trung trình bày quá trình thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong những năm đổi mới và đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong thời gian tới đạt kết quả cao hơn Một số công trình nghiên cứu về xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương phản ảnh tính đặc thù của từng địa phương

Thứ hai: các công trình nghiên cứu của tỉnh Điện Biên

Hai công trình đầu tiên có đề cập tới vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Điện

Biên Đông là hai cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu (của Tỉnh ủy Lai Châu phát

hành vào năm 2002, tập 1 và 2 Tuy nhiên đây là hai tác phẩm nghiên cứu lịch sử Đảng, nội dung chủ yếu là phân tích vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng qua các giai đoạn lịch sử, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đổi mới Vấn đề xóa đói, giảm nghèo chỉ là một phần rất nhỏ, được trình bày khái quát,

sơ lược, chưa mang tính tổng thể về xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh Điện Biên

Cuốn Điện Biên 100 năm xây dựng và phát triển, cho chúng ta những dấu ấn

cụ thể về toàn cảnh Điện Biên trong 100 năm qua, trong đó có đề cập đến vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội, có đề cập đến chính sách xóa đói, giảm nghèo Nhưng

Trang 9

Năm 2009, Đề án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Điện Biên Đông giai đoạn 2009-2020, Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Mường Ẳng giai đoạn 2009-2020, Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền

vững huyện Mường Nhé giai đoạn 2009-2020, Đề án phát triển kinh tế - xã hội

nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững huyện Tủa Chùa giai đoạn 2009-2020 Thông qua đó chúng ta có được số liệu cụ thể về mục tiêu xóa đói giảm nghèo của các huyện trong giai đoạn 2009-2020

Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình hoàn chỉnh nào nghiên cứu về “ Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011” dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng Nhưng các công trình khoa học trên là những tài liệu quý, tác giả có thể tham khảo, vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ tính đúng đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên trong vận dụng chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo ở Tỉnh; đánh giá thành tựu, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng vào giai đoạn mới để thực hiện xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả cao hơn

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

- Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong những năm 2004-2011

- Phân tích, luận giải, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên trong quá trình thực hiện xóa đói, giảm nghèo(2004-2011)

- Đánh giá thành tựu, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra những kinh ngiệm chủ yếu vận dụng vào thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn cách mạng mới đạt hiệu quả cao hơn

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên thực hiện xóa đói, giảm nghèo ( 2004-2011)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo, đánh giá kết quả, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Điện Biên thực hiện xóa đói, giảm nghèo

- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Điện Biên

- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Điện Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến 2011, những trong quá trình thực hiện luận văn tác giả cũng đề cập đế một số vấn đề có liện quan đến

đề tài trước năm 2004 và sau năm 2011

5 Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Trang 11

9

Luận văn sử dụng các nguồn tư liệu sau :

+ Hệ thống các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Đảng bộ tỉnh Điện Biên và các huyện trong tỉnh có liên quan; các quy định của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên và các huyện ở Điện Biên

+ Các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan đã được công bố

+ Tư liệu khảo sát của tác giả

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp này là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như

so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia, từ đó rút ra những luận điểm khoa học để thực hiện luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đện Biên thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2011, qua đó khẳng định

sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ địa phương lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở cơ sở, góp phần làm phong phú hơn hoạt động lãnh đạo của Đảng về một lĩnh vực rất nhậy cảm đang được xã hội quan tâm – xóa đói, giảm nghèo

Luận văn đánh giá về kết quả của Đảng bộ tỉnh Đện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo; rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng vào giai đoạn cách mạng mới

Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng trong các học viện và nhà trường

7 Bố cục luận văn

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết:

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm

2004 đến năm 2006

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Điện Biên lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2011

Trang 13

11

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM

NGHÈO TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2006 1.1 Yêu cầu khách quan thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trong những năm 2004-2006

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Điện Biên tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo

* Điều kiện tự nhiên:

Về vị trí địa lý: Tỉnh Điện Biên được thành lập theo Nghị quyết số

22/2003/QH11 của Quốc hội khóa XI về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh (ngày 26-11- 2003), Tỉnh Lai Châu cũ được chia thành tỉnh Lai

Châu mới và tỉnh Điện Biên

Điện Biên là tỉnh miền núi, vùng biên giới, nằm ở phía Tây Bắc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trên tọa độ 20o54’ - 22o33’ vĩ Bắc, 102o10’ -

103o56’kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu; phía Đông – Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), với đường biên giới dài 38,5km; phía Tây – Tây Nam giáp với tỉnh Luông Pha Băng và Phong Xa Lỳ (Lào), với đường biên giới dài 360km

Điện Biên có diện tích tự nhiên 9.562,9 km2 (chiếm 2,9% diện tích cả nước); có 9 đơn vị hành chính là: Thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay, các huyện : Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên Đông, Mường Trà, Mường Nhé, Tủa Chùa Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Điện Biên Phủ.[27]

Địa hình: Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt

ngang và chia cắt sâu lớn, được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp và dốc, phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh Núi cao tập trung ở phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo Đó là

Trang 14

các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú Huổi Luông (2.178m).[27]

Khí hậu: Điện Biên có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh,

suốt mùa đông duy trì tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, còn mùa

hè có nhiều mưa Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820 -2.035 giờ/năm Nhiệt độ trung bình năm thay đổi theo độ cao địa hình Vùng thấp dưới 300m nhiệt

độ trung bình năm cao, đạt 23 độ Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: gió, khô nóng,

sương mù – sương muối, dông lốc, mưa đá có tần suất tương đối lớn gây ảnh

hưởng đáng kể dến sản xuất, đời sống và sức khỏe con người.[27]

Thủy văn: Điện Biên nằm trong khu vực đầu nguồn thuộc 3 con sông lớn:

sông Đà, sông Mã, sông Mê Kong Đặc điểm chung của sông suối trong tỉnh Điện Biên là độ dốc lớn, lắm thác, nhiều ghềnh (nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà, sông Nậm Rốm), có tiềm năng về thủy điện Lưu lượng dòng chảy phân

bố không đều trong năm chủ yếu tập trung vào mùa lũ nên việc khai thác sử dụng khó khăn, đòi hổi đầu tư lớn Vì vậy cần có giải pháp hợp lý về công tác thủy lợi kết hợp tăng độ che phủ của rừng, nhất là rừng đầu nguồn để đảm bảo nguồn nước cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong tương lai.[27]

Thổ nhưỡng: Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng qua nhiều quá

trình hình thành khác nhau Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia thành 7 nhóm chính, đó là: đất phù sa (12-622, 13ha), đất đen và nhiệt đới (95,22ha), đất feratit (629.806,26ha), đất mùn - vàng đỏ trên núi (291.818,08ha), đất mùn Atit trên núi cao (1.136, 35ha), đất đỏ vàng (1.467, 04ha), đất dốc tụ (1.460, 64ha)

Tài nguyên đất ở Điện Biên khá rộng về diện tích, phong phú đa dạng về chủng loại Sự phong phú này cho phép hoạch định phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng đa dạng tầng cây, đa dạng nghành nghề, đa dạng sản phẩm hàng hóa, kết hợp sản xuất nông - lâm nghiệp, với phát triển du lịch sinh thái, du lịch

Trang 15

13

cộng đồng Bên cạnh đó, sự phát triển về chủng loại đất còn tạo điều kiện cho Điện Biên đa dạng về thảm thực vật Bên cạnh đó Đất đỏ hoang hóa chưa sử dụng còn nhiều Hiện tại, toàn tỉnh có 195.902,6ha đất trống, đồi trọc chưa được khai thác chiếm 20,39% quỹ đất.[27]

Tài nguyên khoáng sản: Việc điều tra địa chất và khoáng sản, địa bàn tỉnh

đã được Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường tiến hành điều tra Kết quả đã ghi nhận có 83 mỏ, điểm mỏ khoáng sản và biểu hiện khoáng sản gồm 17 loại khoáng sản rắn, và một số nguồn nước nóng, nước khoáng Cụ thể như: mỏ đồng ở huyện Mường Trà, mỏ kẽm ở huyện Tủa Chùa, nhà máy xi măng Điện Biên; mỏ sắt, vàng ở Điên Biên Đông….[27]

* Tình hình kinh tế - xã hội

Sản xuất nông- lâm nghiệp, công nghiệp, thương mai – dịch vụ: có bước

phát triển cả về quy mô và chất lượng theo hướng sản xuất hàng hóa Sản lượng lương thực bình quân đầu người năm 2008 đạt 420kg/ người/ năm, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ; hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh như lúa, gạo Điện Biên, Tuần Giáo; chè, cây cao su Tủa Chùa; cà phê Mường Ảng Việc quy hoạch và phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh đã tạo bước đi đột phá trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; nhiều sản phẩm nông nghiệp địa phương đã tạo dựng được uy tín trên thị trường Sản xuất công nghiệp phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 13-15%/ năm, đã thu hút các thành phần kinh tế đầu tư khai thác tiềm năng thủy điện, khoáng sản, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, chế biến nông, lâm sản tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thương mại dịch vụ phát triển nhanh cả về mạng lưới, quy mô và chất lượng; tiềm năng du lịch lịch sử, du lịch sinh thái, bản sắc văn hóa dân tộc, lợi thế cửa khẩu biên giới đã

và đang được đầu tư, khai thác và phát triển để trở thành ngành kinh tế quan trọng

trong cơ cấu kinh tế địa phương.[27]

Trang 16

Cơ sở hạ tầng: Các tuyến quốc lộ trên địa bàn tỉnh đã và đang được nâng

cấp, cải tạo; hệ thồng giao thông, trường học, bệnh viện, trạm xá, lưới điện nông thôn, cấp nước sinh hoạt tiếp tục được quan tâm đầu tư cải tạo, nâng cấp, mở rộng bằng nhiều nguồn vốn Đến nay, toàn tỉnh đã có 104/106 xã, phường có đường ô tô đến trung tâm xã với 70/106 xã đi lại được quanh năm; các xã, phường, thị trấn đều có điện thoại và điểm bưu điện văn hóa xã; 70% dân số được sử dụng điện, 80% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và 75% dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt, 100% xã có trạm y tế; bộ mặt đô thị và vùng dân cư nông thôn có nhiều đổi thay theo hướng hiện đại kết hợp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là thị xã Điện Biên Phủ trước đây đã phát triển thành thành phố trực

thuộc tỉnh.[27]

Dân số, dân tộc: Tính đến ngày 31-12-2007, dân số của tỉnh Điện Biên là

468.282 người, mật độ dân số bình quân 49 người/ km2, là một trong những tỉnh

có mật độ dân số thấp nhất cả nước (mật độ dân số trung bình cả nước 254 người/km2) và thấp hơn nhiều so với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (69 người/km2) Tuy vậy dân số phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Điện Biên Phủ 750,9 người/km2, thị xã Mường Lay 124,1 người /km2,

Mường Nhé 16,3 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 17,20%

Điện Biên có 21 dân tộc cùng chung sống (Thái, Mông, Kinh, Giao, Khơ

Mú, Hà Nhì, La hủ, Giáy, Lào, Phù lá, Cống, Si la, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh Mun, Mảng) Trong đó dân tộc Thái chiếm tỉ lệ cao nhất 40,43%, tiếp đến dân tộc H’Mông 30,86%, dân tộc kinh 19,11%, còn lại các dân tộc khác chiếm 9,6%.[27]

Văn hóa: Văn hóa – xã hội được chăm lo phát triển, có nhiều tiến bộ Đã duy

trì và củng cố được kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, chất lượng dạy và học được nâng lên, hệ thống trường lớp được mở rộng đến các xã, bản và đang từng bước kiên cố hóa Chất lượng khám

Trang 17

15

chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng lên, làm tốt công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra Các hoạt động văn hóa thể thao phát triển mạnh, hướng về cơ sở phục vụ nhu cầu văn hóa cho đồng bào; phát thanh, truyền bình, báo chí xuất bản, văn học, nghệ thuật có nhiều đổi mới về chất lượng và nội dung Tỷ lệ dân số được phủ sóng phát thanh đạt 100%, tỷ lệ dân số được phủ sóng truyền hình đạt 82% góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng lên một bước, hàng năm đã giải quyết việc làm cho hơn 5.000 lao động, giảm tỷ lệ đói nghèo bình quân hàng

năm 5%.[27]

1.1.2 Thực trạng đói nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trước năm 2004

* Một số khái niệm về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo

Nghèo, là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa

mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp Đó là một bộ phận dân

cư có mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống

Nghèo đói, là tình trạng một bộ phận không được hưởng và thảo mãn những

nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế -

xã hội và phong tục tập quán của địa phương

Chuẩn đói nghèo: các quốc gia khác nhau đã có các chỉ tiêu khác nhau đánh giá mức độ giàu nghèo Việt Nam đưa ra chuẩn đói nghèo, nhưng ở mỗi giai đoạn

có chuẩn khác nhau: từ tháng 02 năm 1997 đến tháng 01 năm 2000, Hộ đói là hộ

có thu nhập dưới 13kg gạo/người/ tháng, tương đương với 45.000 đồng Năm

2000, Bộ Lao động Thương binh xã hội đưa ra ngưỡng nghèo mới làm căn cứ xác định mục tiêu đói nghèo cho giai đoạn 2001-2005 Ngưỡng nghèo đó được ấn định cho từng khu vực: nông thôn, miền núi, hải đảo là 80.000 đồng/ người/ tháng; nông thôn đồng băng 100.000 đồng/ người/ tháng; thành thị 150.000 đồng/ người/ tháng

Trang 18

Giai đoạn 2006-2010 chuẩn đói nghèo được chia làm hai khu vực thành thị và nông thôn Ở nông thôn hộ có thu nhập thấp hơn 200.000 đồng/ người/ tháng; ở thành thị hộ có thu nhập thấp hơn 260.000 đồng/ người/ tháng

* Đói nghèo ở Điện Biên trước năm 2004

Trước năm 2004, tỉnh Điện Biên thuộc tỉnh Lai Châu cũ, Phong trào xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Lai Châu đã có từ cuối năm 1992, nhưng còn nhiều vấn đề bất cập, chưa trở thành trương trình, mục tiêu cụ thể Đến năm 1993, Chính phủ tổ chức điều tra đời sống nông thôn và thành thị trên phạm vi toàn quốc Kết quả điều tra được công bố trên toàn quốc năm 1994 và được sử dụng để nghiên cứu các chính sách kinh tế xã hội trong tình hình mới

Theo hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh xã hội, tỉnh đã tiến hành khảo sát và xây dựng chương trình xóa đói, giảm nghèo cho 4 huyện: Tủa Chùa, Sìn Hồ, Tuần Giáo, Điện Biên, mỗi huyện khảo sát ở 8 xã Từ đó hình thành chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Lai Châu và được Ban thường vụ Tỉnh ủy thông qua (khóa 8), ra Nghị quyết 15 về xóa đói, giảm nghèo từ 1996-2000 Từ đó đến nay xóa đói, giảm nghèo ở Lai Châu đã trở thành một chương trình có mục tiêu rõ ràng

Về ưu điểm: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ X đã xác định mục tiêu

xóa đói, giảm nghèo 2000-2004 Đảng bộ huyện, thị xã có nghị quyết phát triển kinh tế xã hội và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo Một số huyện, thị xã có nghị quyết chuyên đề về xóa đói, giảm nghèo

Nguồn lực phục vụ trực tiếp cho xóa đói, giảm nghèo đã đáp ứng được một phần nhu cầu về vốn cho vay Ngân hàng phục vụ người nghèo ra đời hoạt động hiệu quả cao Nguồn vốn 120, nguồn vốn Việt – Đức đã góp phần đáng kể trong việc cho vay đầu tư sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông thôn Đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo đã được tập huấn nghiệp vụ và

đã có kinh nghiệm bước đầu về tổ chức xóa đói, giảm nghèo ở xã, bản Được sự

Trang 19

17

giúp đỡ tích cực của Bộ Lao động Thương binh xã hội và mốt số ngành Trung ương về nguồn lực và hướng dẫn nghiệp vụ Về phối hợp giữa một số ngành trong công tác xóa đói, giảm nghèo chặt chẽ hơn, một số đoàn thể đã hoạt dộng có hiệu quả (hội nông dân, hội phụ nữ) Nhân dân đã quen với việc vay trả và tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Về hạn chế: Một số cấp ủy, chính quyền chưa đặt công tác xóa đói, giảm

nghèo vào chương trình điều hành của mình hàng quý, hàng năm; việc ủy thác cho các ngành chuyên môn, nên việc tổ chức phối hợp và tháo gỡ khó khăn còn nhiều vưỡng mắc

Ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo của tỉnh chưa thường xuyên duy trì sinh hoạt để thống nhất hành động Một số cơ quan thành viên được phân công phụ trách địa bàn chưa tích cực hoạt động Mới có 32/106 xã có Ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo, trong đó còn một số Ban chỉ đạo hoạt động yếu

Công tác hướng dẫn nông dân sản xuất, phòng trừ dịch bệnh còn yếu; quy

mô sản phẩm nhỏ, phân tán, lưu thông khó khăn Phần lớn nhân dân vùng cao chưa chấp nhận cơ chế vay để sản xuất kinh doanh

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo như: do tập quán sống du canh, du

cư, do lười biếng, nghiện hút thuốc phiện, do không biết cách làm ăn và do thiếu vốn Song ở đây tỉnh mới chỉ giải quyết được bước đầu về tạo vốn sản xuất, có một

số trường hợp vốn cho vay chưa đúng với đối tượng và hộ đói nghèo đã sử dụng sai mục đích Việc hướng dẫn sản xuất kinh doanh theo mô hình kinh tế hộ còn quá yếu Nhiều hộ chưa biết tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế hộ, phòng chống dịch bệnh trong sản xuất còn chưa tốt Việc phối hợp giữa xóa đói, giảm nghèo với tuyên truyền giáo dục xóa bỏ cây thuốc phiện, với định canh định cư chưa chặt chẽ nên hiệu quả trong công tác xóa đói, giảm nghèo trước 2004 còn nhiều hạn chế [56, tr.1-4]

Trang 20

1.1.3 Các nhân tố tác động và yêu cầu thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong những năm mới tách tỉnh (2004 – 2006)

* Tác động của tình hình thế giới và trong nước

Tác động của tình hình thế giới: Thế giới đang đứng trước thời khắc trọng

đại của lịch sử là đã tiến vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu Nó chứa đựng trong mình cả niềm vui và sự bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, cả hạnh phúc

và lo toan Một trong những nỗi lo toàn cầu, nỗi đau nhân loại là sự đói nghèo trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn Như thế đủ thấy đói nghèo và giải quyết vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến, không chỉ là công việc của riêng Việt Nam Tuy nhiên, để hiểu về chương trình xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam một cách đầy

đủ, cần thiết phải có cách nhìn tổng quan, cần “biết người biết ta” để rút ra những bài học và tìm ra những phương pháp hữu hiệu Cho đến đầu thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người Thế giới đã chứng kiến những thảm hoạ của chiến tranh, thảm hoạ của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm hoạ do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa

Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn Trong khi nền văn minh thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về tiến bộ khoa học - công nghệ, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói Hàng tỷ người, thực tế là một phần ba số dân thế giới vẫn khốn cùng và đói khát Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em, hằng ngày có gần 100 triệu trẻ em không có cái ăn, trên 100 triệu trẻ

Trang 21

19

em vô gia cư chỉ sống nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng trăm triệu trẻ em tuổi từ 6 - 11 không được cắp sách đến trường Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo Sự nghèo đói thì ai cũng thấy và không nước nào thiếu những chương trình hoặc những chính sách để thực hiện việc xoá đói, giảm nghèo

Có rất nhiều các tổ chức của Liên Hợp Quốc và của cộng đồng quốc tế thực hiện

sứ mệnh vẻ vang này trên phạm vi hành tinh Người ta đã tổ chức những chiến dịch lớn với hàng vạn tấn lương thực, hàng triệu USD để cứu giúp những người hoạn nạn ở các nước châu Phi, châu Á vừa qua Sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần là rất đáng kể Tuy nhiên, thực tế cho thấy, dù đây là công việc mà toàn cầu quan tâm nhưng rồi các nước đói vẫn hoàn đói, sự trợ giúp của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư khốn khó cũng chỉ như muối bỏ biển, chưa đủ độ, chưa triệt để

Vấn đề xoá đói, giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau Hiện tượng bị tha hoá và tự tha hoá con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với công việc xoá đói, giảm nghèo Chính xã hội, mà mục tiêu duy nhất và cuối cùng là lợi nhuận, là tiền bạc đã làm phân hoá xã hội, đẩy nhiều người vào cảnh nghèo nàn khốn khó Khoảng cách chênh lệch mức sống giữa sự xa xỉ với sự bần hàn càng bị nặng nề hơn bởi chính sự vô trách nhiệm của các nước phát triển phương Tây, của giai cấp những người giàu có Thái độ “sống chết mặc bay” vẫn phổ biến trong hành vi cư

xử ở xã hội của những kẻ say lợi nhuận Vì vậy, quan điểm cũng như hành động của giới chức phương Tây trong việc giải quyết nghèo đói trên thế giới hiện nay chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, chỉ là để làm giảm cơn đau khốn khó, hoặc cùng lắm đó là việc làm mang tính nhân đạo mà thôi

Trang 22

Tác động của tình hình trong nước: Theo số liệu của chương trình phát triển

Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm 2004 Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam xếp hàng 112 trên 117 nước, chỉ số phát triển thế giới xếp 87 trên 144 nước

và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo số liệu của chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, tỉ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12,9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỉ lệ hộ nghèo lương thực là 10,87% Vào đầu thập niên 90 Chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình xóa đói giảm nghèo cùng với lời kêu gọi của ngân hàng thế giới UNDP cho rằng, mặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỉ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, Việt Nam cần phải giải quyết tình trạng nghèo cùng cực

* Yêu cầu đặt ra đối với vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trong những năm 2004- 2006:

Ðiện Biên hiện có 6 huyện, 1 thị xã, 1 thành phố trực thuộc tỉnh với 93 xã, phường, thị trấn, (có 64 xã trong diện đặc biệt khó khăn) Những năm qua kinh tế

xã hội tỉnh Ðiện Biên tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước được cải thiện Tuy vậy, còn nhiều khó khăn: là tỉnh miền núi, xa các trung tâm kinh tế lớn; xuất phát điểm về kinh tế thấp, sản xuất hàng hoá phát triển chậm; điều kiện sản xuất, đời sống một bộ phận đồng bào vùng cao còn nhiều khó khoan Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu đầu tư phát triển Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, toàn tỉnh có 64 xã và 918 bản đặc biệt khó khăn với 46.492 hộ thuộc diện đặc biệt khó khăn, trong đó: 26.483 hộ nghèo theo chuẩn mới, tỷ lệ nghèo vùng đặc biệt khó khăn là 56,96% (cao hơn tỷ lệ nghèo chung của

tỉnh là 12,9%); trình độ dân trí không đồng đều; năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đã tác động đến việc tổ chức

thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo.[60, tr.1]

Trang 23

21

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2004 đến năm 2006

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo

* Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo

Quan điểm về xóa đói, giảm nghèo: Đảng cộng sản Việt Nam coi cơ sở

phương pháp luận quan trọng và cơ bản nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xoá đói giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội Trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, Đảng ta đã khẳng định “khuyến khích làm giầu hợp pháp, đồng thời ra sức xóa đói, giảm nghèo”.[24, tr 163]

Quan điểm giảm nghèo bền vững đã được đề cập và thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trục giao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho vùng nghèo, vùng khó khăn phát triển Đi đôi với việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo nguồn lực cần thiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, tăng nhanh thu nhập…Nâng dần mức sống của các hộ đã thoát nghèo tránh tình trạng tái nghèo”

Mục tiêu về xóa đói, giảm nghèo: Thực hiện chủ trương của Đảng, đầu

năm 2000, Chính phủ chính thức phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói, giảm nghèo (Chương trình 133) cho giai đoạn 2001-2005 Tháng 7/2001, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ sung Chương trình 135, chương trình hỗ trợ phát triển

cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Mục tiêu chính của chương trình này là hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như: hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế tại 1715 xã

Trang 24

nghèo Kết quả là đến năm 2000 tỷ lệ nghèo của cả nước còn 10% theo chuẩn cũ Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy, không thể chỉ theo đuổi mục tiêu giảm nhanh

tỷ lệ hộ nghèo mà cần giữ vững kết quả giảm nghèo đã đạt được, tăng khả năng bền vững, hiệu quả của công tác giảm nghèo, đặc biệt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường Mục tiêu chiến lược xóa đói, giảm nghèo thời kỳ 2001-2010 do Đại hội IX đề ra là: “phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo”.[24,

tr 211]

Những giải pháp thực hiện: Để thực hiện quan điểm, phương hướng, mục

tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam (2001-2005), Đảng đã đề ra một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, xoá đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ

trọng tâm trước mắt

Tính lâu dài của xoá đói giảm nghèo là do: xoá đói, giảm nghèo là nội dung,

và nhiệm vụ cần thực hiện để bảo đảm công bằng xã hội Thực tiễn cho thấy, có những nguyên nhân nảy sinh nghèo đói không phải do môi trường xã hội, không

do điều kiện kinh tế - địa lý, mà do hoàn cảnh và đặc điểm của từng cá nhân, từng

hộ gia đình Những trường hợp này luôn có khả năng xuất hiện và việc xoá đói giảm nghèo mang tính thường trực Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển kinh tế nhiều thành phần là một định hướng chiến lược Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường luôn có xu hướng phân hoá hai cực giàu nghèo Vì vậy, cùng với việc tăng cường sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thường xuyên và liên tục, lâu dài, thì nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo, nhất là giảm nghèo, cũng là vấn đề liên tục và lâu dài mới giải quyết được Dân giàu nước mạnh là mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu này là một quá trình phấn đấu gian khổ, lâu dài

Xoá đói, giảm nghèo vừa có tính cơ bản và cần thực hiện liên tục, lâu dài, lại là một công việc cần kíp, trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc

Trang 25

23

đổi mới luôn đặt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sống của nhân dân; bởi vì đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc “thương người như thể thương thân”, mà còn là nhiệm vụ để bảo đảm ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Hai là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc xoá đói, giảm nghèo,

nhưng đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đối và không phải là một giải pháp duy nhất Có người cho rằng, muốn xoá đói, giảm nghèo trước hết phải đầu tư phát triển sản xuất để tăng trưởng kinh tế Chỉ đến khi kinh tế đã phát triển đến giai đoạn nhất định sẽ hết đói nghèo, vì thế không nên đặt vấn đề xoá đói, giảm nghèo

là nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu Thực ra tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến việc giải quyết vấn đề nghèo đói, bởi vì nguyên nhân chính yếu của đói nghèo nói chung là do kinh tế chưa phát triển Tuy nhiên, đói nghèo lại do nhiều nguyên nhân khác mang tính đặc thù Vả lại trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, chúng ta chấp nhận kinh tế nhiều thành phần cùng vận động, phát triển cũng là phải chấp nhận tình trạng phân hoá giàu nghèo tương đối Vì vậy, xoá đói, giảm nghèo không những là công việc cần thiết mà là nhiệm vụ cấp bách và quan trọng Chúng ta xác định sự phân hoá giàu nghèo không thể tránh khỏi, nên cũng quyết tâm không để xảy ra tình trạng làm giàu vô tội vạ trên lưng người khác, cũng như tình trạng “kẻ

ăn không hết, người lần không ra”, không thể để người nghèo bị bỏ rơi trước con mắt của cộng đồng

Ba là, xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa là

kìm hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng

Kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu trước đây đã cho thấy, nếu đặt công bằng xã hội lên trên hết và tách rời với phát triển kinh tế thì trước hết dẫn tới sự triệt tiêu các động lực phát triển Tuy nhiên, nếu đặt hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất thì sẽ làm tăng tình trạng phân hoá hai cực, làm tăng sự khốn khó đối với không ít quần chúng nhân dân Bởi vậy, trong khi

Trang 26

thực hiện bài toán phát triển đất nước, làm sao phải tạo mọi điều kiện và tăng nguồn lực cho sự phát triển, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặt vấn đề xoá đói, giảm nghèo thành công việc thường xuyên, liên tục

Bốn là, xoá đói, giảm nghèo là công việc của toàn xã hội: Cần khẳng định

một cách mạnh mẽ rằng, xoá đói, giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành Lao động thương binh xã hội, hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân Muốn thực hiện thành công việc xoá đói, giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ các cấp và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng

* Đảng bộ tỉnh Điện Biên vận dụng chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo Quan điểm về xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ Tỉnh: Xóa đói, giảm

nghèo là nhiệm vụ mang tầm vóc chiến lược và là vấn đề kinh tế - xã hội cần giải quyết, để tiếp tục đổi mới và phát triển nền kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó cần quán triệt những quan điểm sau: Đói nghèo đi liền với lạc hậu, chậm phát triển và là trở ngại lớn đối với phát triển Xóa đói giảm nghèo không phải là vấn đề kinh tế thuần túy mà là vấn đề kinh tế xã hội, do đó phải thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội

Xuất phát từ thực tế của tỉnh Điện Biên, xóa đói, giảm nghèo về kinh tế là điều kiện tiên quyết để xóa đói, giảm nghèo về văn hóa, xã hội Muốn xóa đói, giảm nghèo có kết quả thiết thực, tích cực và vững chắc cần thực hiện tốt phương châm chủ động, tích cực vượt lên giải quyết tại chỗ, cộng đồng phải có trách nhiệm

và kết hợp với sự hỗ trợ phát triển Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo tiến hành, quản lý thống nhất các cấp chính quyền trên phạm vi cả tỉnh bằng chương trình quốc gia về xóa đói, giảm nghèo

Trang 27

25

Mục tiêu, phương hướng về xóa đói, giảm nghèo: Phấn đấu bình quân mỗi

măm giảm 5% hộ nghèo, không còn hộ đói kinh niên, hạn chế tối đa hộ đói giáp hạn Phấn đấu 100% xã, phường, thị trấn có Ban xóa đói, giảm nghèo vững mạnh; 100% nguời nghèo được khám chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế; 80-90% hộ nghèo được tiếp nhận vốn vay ưu đãi; 100% xã, phường, thị trấn được tấp huấn, đào tạo cán bộ về chương trình xóa đói, giảm nghèo đến tận bản; người nghèo được hướng dẫn khuyến nông khuyến lâm; 100% hộ, gia đình chính sách, người có công với cách mạng thoát nghèo, để có cuộc sống như hộ trung bình trở lên

Những giải pháp thực hiện xóa đói, giảm nghèo: Đẩy mạnh công tác giáo

dục tư tưởng chính trị về công tác xóa đói, giảm nghèo đến các cấp, các ngành và

nhân dân các dân tộc trong tỉnh cùng tham gia thực hiện Đẩy mạnh phát triển

ngành, lĩnh vực kinh tế, thực hiện chương trình phát triển kinh tế, xã hội ở nông

thôn Thực hiện các chương trình, dự án xóa đói, giảm nghèo (dự án đầu tư xây

dựng cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), xây dựng trung tâm cụm xã, dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn khuyến nông, khuyến lâm;

dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo; chương trình quốc gia nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường; dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã nghèo; chương trình phát triển kinh tế, xã hội vùng cao, dự án

tín dụng ưu đãi hộ nghèo) Thực hiện các chính sách xã hội đối với người nghèo (về bảo hiểm y tế, giáo dục, nhà ở…) Tăng cường công tác đào tạo nâng cao năng lực cán bộ các cấp Tăng cường sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp sự phối

kết hợp giữa các đoàn thể quần chúng các cấp với Uỷ ban nhân dân các cấp trong

công tác xóa đói, giảm nghèo

1.2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo

Những năm qua kinh tế xã hội tỉnh Ðiện Biên tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước được cải thiện Tuy vậy, còn nhiều khó khăn: là tỉnh miền núi xa các trung tâm kinh tế lớn; xuất phát điểm về kinh tế thấp, sản xuất

Trang 28

hàng hoá phát triển chậm; điều kiện sản xuất, đời sống một bộ phận đồng bào vùng cao còn nhiều khó khăn Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu đầu tư phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao

* Chỉ đạo thực hiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo:

Về hỗ trợ đất sản xuất: Thực hiện Quyết định số 186/QÐ-CP trong 3 năm

(2002-2004) tỉnh hỗ trợ 18.786 triệu đồng, đã khai hoang 3.869 ha, đến năm 2005

hỗ trợ 23.786 triệu đồng để khai hoang trên 4.799 ha Ðến hết năm 2004 đã thực

hiện việc giao và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đất chưa sử

dụng cho 25 xã với 15.927 hộ, diện tích 188.3 16 ha.[60, tr 3]

Hỗ trợ tư liệu sản xuất: Đến năm 2005, đã đầu tư 34.298 triệu đồng để hỗ

trợ giá mua giống, phân bón, thức ăn gia súc, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y cho nhân dân các dân tộc vùng sâu, vùng cao, biên giới Trong đó ngân sách Địa phương 25.087 triệu, ngân sách Trung ương 9.211 triệu đồng.[60, tr 3]

Hỗ trợ giống, vật tư : Tính đến năm 2005 đã đầu tư 34.298 triệu đồng để hỗ

trợ giá mua giống phân bón, thức ăn gia súc, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y cho nhân dân các dân tộc vùng sâu, vùng cao, biên giới Trong đó ngân sách địa

phương 25.087 triệu, ngân sách Trung ương là 9.211 triệu đồng

Hỗ trợ về nhà ở: Ðã hỗ trợ cho 6.758 hộ nghèo về nhà ở, trị giá 25.570,7

triệu đồng, Quỹ "Ngày vì người nghèo": 773 nhà mới, 144 mái nhà trị giá gần

6.218,8 triệu đồng; Tổng Công ty Xi măng Việt Nam và Tổng Công ty Hàng không Việt Nam: 72 nhà mới tương đương 1 tỷ đồng; Quỹ Hội phụ nữ: 91 nhà

mới, 27 mái nhà tương đương 658,9 triệu đồng; Công ty UNILEVER Việt Nam:

37 nhà mới tương đương 370 triệu đồng (trong đó có kinh phí địa phương 111 triệu

đồng); Chương trình 186 hỗ trợ tấm lợp 3.912 hộ tương đương 7.824 triệu đồng; Thực hiện Quyết định 134/2004: hỗ trợ 1.623 hộ, kinh phí 8.115 tỉ đồng.[60, tr 3]

Trang 29

27

Hỗ trợ về y tế: Ðến 2005 đã cấp 36/750 thẻ Bảo hiểm y tế cho người

nghèo; thực hiện 5 năm 2001-2005 khám chữa bệnh cho trên 1.700.000 lượt người nghèo với tổng kinh phí 50.051 triệu đồng.[60, tr 4]

Hỗ trợ về giáo dục, đào tạo: Đến năm 2005 cấp sách giáo khoa, giấy và vở

viết cho 370.000 học sinh với tổng kinh phí 27.300 triệu Đồng.[60, tr 4]

* Chỉ đạo thực hiện các dự án xóa đói, giảm nghèo:

Dự án tín dụng ưu đãi hộ nghèo: đến năm 2005, bằng nhiều nguồn vốn huy

động đã giải quyết cho 8.685 lượt hộ vay 534.808 triệu đồng

Dự án khuyến nông, khuyến lâm hướng dẫn người nghèo cách làm ăn: Tổng kinh phí thực hiện trong giai đoạn (2001-2005) là 5.691 triệu đồng để mở 27 lớp

tập huấn với 17.200 hộ được tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, trong đó có 9.540 hộ trực tiếp tham gia thực hiện các mô hình kinh tế cụ thể

Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo, đặc biệt khó khăn: tổng số vốn thực

hiện đến 2005 là 138.99 triệu đồng để đầu tư xây dựng 406 công trình cơ sở hạ

tầng cho 59 xã đặc biệt khó khăn, vùng biên giới Trong đó: Giao thông nông thôn:

86 công trình; Nước sinh hoạt: 120 công trình, phục vụ cho 55.000 người; Thuỷ lợi: 107 công trình, tưới tiêu 2 100 ha ; Trường học: 73 công trình với 18.834 m2 nhà cấp 4; Ðường điện hạ thế: 14 công trình; Phòng khám đa khoa: 6 công trình

Dự án hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề: Trong 4 năm (2002-2005) đã

đầu tư 6.521 triệu đồng để phát triển vùng cây nguyên liệu và chế biến sắn, chè cây cao, tại các huyện Tủa Chùa, Tuần Giáo; gieo trồng cây đậu tương gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ nhân dân về thiết bị, vật tư để khôi phục ngành

nghề truyền thống như dệt thổ cẩm

Dự án nâng cao năng lực cán bộ xóa đói, giảm nghèo: thực hiện đến năm

2005 đào tạo 14.860 lượt cán bộ của 64 xã, với tổng kinh phí 1.799 triệu đồng,

Trang 30

trong đó Từ Chương trình 135 có 14.025 lượt người, tương đương 1.507 triệu đồng; Từ Chương trình 143 có 835 lượt người, tương đương 292 triệu đồng

Dự án định canh, định cư: thực hiện đến năm 2005 đạt 38.468 triệu đồng

để quy hoạch và xây dựng một số cơ sở hạ tầng yếu như: giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt, hỗ trợ sản xuất phục vụ ổn định xắp xếp lại 9.82 hộ dân cư ở các xã nghèo, di dân ra biên giới và từ vùng cao xuống vừng thấp, của Dự án định canh định cư, ổn định dân cư vùng kinh tế mới (thuộc chương trình xóa đói, giảm nghèo,

việc làm): Ðến hộ năm 2004 đã đầu tư 19.075 triệu đồng để ổn định 7.868 hộ dân tương đương 31.472 nhân khẩu, ước thực hiện đến năm 2005 đầu tư 23.045 triệu đồng để ổn định 8.868 hộ dân tương đương 36.472 nhân khẩu

Dự án di dân ra biên giới và từ vùng cao xuống vùng thấp (chương trình

l86) Ðến năm 2004 đã đầu tư 7.808 triệu đồng để thực hiện hỗ trợ di chuyển 396

hộ dân cư bằng 1.761 nhân khẩu, giai đoạn 2001-2005 đầu tư 11.058 triệu đồng để

thực hiện di chuyển 546 hộ dân bằng 2.511 nhân khẩu

Dự án Quy hoạch bố trí lại dân cư những nơi cần thiết (chương trình 135) Ðến hết năm 2004 đã đầu tư 3.825 triệu đồng để bố trí lại 357 hộ dân bằng 1.400

nhân khẩu, đến năm 2005 đầu tư 4.365 triệu đồng để bố trí lại 407 hộ dân tương đương 1 600 nhân khẩu

Dự án xây dựng trung tâm cụm xã: Đến năm 2005 xây dựng 10 trung tâm

cụm xã với 37 công trình, kinh phí thực hiện 43.250 triệu đồng Các công trình trung tâm cụm xã như: Chợ thương mại, phòng khám đa khoa khu vực, trường học,

nước sinh hoạt, trạm phát thanh truyền hình đã phát huy hiệu quả thiết thực góp

phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc

Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng cao: Đây là chương trình riêng

của tỉnh đầu tư cho 252 bản vùng cao, trong 4 năm 2002 – 2005 đã đầu tư 50.058

Trang 31

29

triệu đồng để đầu tư xây dựng 806 công trình (đường giao thông dân sinh, nước sinh hoạt, thủy lợi nhỏ, lớp học) Có thể nói, chương trình đã giải quyết được một bước những vấn đề cấp bách của các bản góp phần giải quyết khó khăn về đời sống

và sản xuất, mở rộng giao lưu giữa các bản, xã trong vùng, thực hiện mục tiêu xóa

đói, giảm nghèo

Chương trình nước sạch, về sinh môi trường nông thôn: Trong 5 năm

2001- 2005 đã đầu tư 10.709 triệu đồng (Vốn Trung ương và địa phương 10.129 triệu đồng, vốn do tổ chức quốc tế tài trợ 296 triệu đồng, vốn nhân dân đóng góp

284 triệu đồng) để xây dựng 40 công trình đầu mối cấp nước sinh hoạt, 11 mó

nước tự chảy, cấp nước sinh hoạt cho 40.989 người

Dự án xây dựng mô hình xóa đói, giảm nghèo vùng đặc thù: Năm 2004 đã

xây dựng 2 mô hình xóa đói, giảm nghèo vùng đặc thù tại xã Tả Phình huyện Tủa Chùa và xã Na Son Huyện Điện Biên Đông, với tồng số vốn 2.350 triệu đồng để xây dựng chùa 2 công trình thủy lợi với năng lực thiết kế tưới tiêu cho 50 ha ruộng,

hỗ trợ 4 mô hình thâm canh lúa, ngô và chăn nuôi trâu, bò, dê cho 534 hộ nghèo

[60, tr 4-20]

* Kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo (2004-2006): Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo

sát sao của tỉnh, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, chương trình xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Điện Biên đạt được những hiệu quả cao:

Hiệu quả xã hội: Thông qua việc thực hiện các mục tiêu của chương trình

xóa đói, giảm nghèo đã ổn định và sắp xếp lại dân cư đang sống phân tán ở các vùng núi cao thiếu đất canh tác cây lương thực, thiếu nước sinh hoạt, đi lại khó khăn… đến nơi đảm bảo ổn định lâu dài và có điều kiện phát triển kinh tê Việc thực hiện chương trình khuyến nông khuyến lâm, chương trình khai hoang và hỗ trợ sản xuất, cho vay vốn giải quyết việc làm… đã bước đầu tạo cho đồng bào biết

Trang 32

cách làm ăn mới, hạn chế được nạn phá rừng làm rương rẫy, giải quyết việc làm

mới cho 5.000 lao động/ năm

Các mặt văn hóa xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn có bước phát triển, đã duy trì được kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, tỷ lệ học sinh trong

độ tuổi đi học ở các xã tăng đáng kể Việc thực hiện chính sách khám chữa bệnh không thu tiền cho người nghèo đã tạo điều kiện cho đồng bào được khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe tốt hơn Đặc biệt là chính sách hỗ trợ nhà ở cho người nghèo đã tạo điều kiện cho người nghèo ổn định chỗ ở để sản xuất

Việc thực hiện các mục tiêu chương trình xóa đói, giảm nghèo đã củng cố được lòng tin của đồng bào các dân tộc đối với đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đảng, Nhà Nước và của địa phương

Hiệu quả về kinh tế: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, góp phần

quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, cải thiện điều kiện sản xuấn và đời sống cho nhân dân, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo Cụ thể là: Năm 2005, đã có hàng trăm công trình thủy lợi, kênh mương được đầu tư, kiêm cố hóa Mở mới nhiều tuyến đường huyện và giao thông nông thôn, nâng cấp tuyến quốc lộ, gần 100 số xã có đường ô tô đên trung

tâm xã

Các trung tâm đô thị, cụm xã và nhiều cụm dân cư được quy hoạch, đầu tư xây dựng khang trang hơn Đến năm 2005, 75% xã phường, thị trấn có lưới điện 53% hộ dân được sử dụng điện, 100% xã, phường, thị trấn có điện thoại, 52% dân

số nông thôn được cấp nước sinh hoạt, 75/79 xã có bưu điện văn hóa xã

Hệ thống trường học, bệnh viện tỉnh, các trung tâm y tế, phòng khám đa khoa khu vực ở các trung tâm cụm xã được đầu tư nâng cấp và từng bước kiên cố hóa 100% số xã có trạm y tế, chương trình 159 về xóa phòng học tranh tre đang

Trang 33

mô chặt chẽ, có hiệu quả hơn Chính vì thế trong 5 năm qua 2001-2005, đặc biệt trong 2 năm 2004 đến hết 2005 chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đạt được các mục tiêu: 100% xã, phường, thị trấn có xóa đói, giảm nghèo (đạt 100%/kế hoạch, 100% người nghèo, dân tộc thiểu số, nhân dân các xã thuộc chương trình 135 được cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí (đạt 100%/kế hoạch), 100% hộ gia đình chính sách người có công với cách mạng thoát nghèo (theo tiêu chuẩn cũ), 80% cán bộ

xã, bản được đào tạo, tập huấn xóa đói, giảm nghèo (đạt 80%/kế hoạch), 80% hộ nghèo có nhu cầu được vay vốn(đạt 100%/kế hoạch)

Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 43.3% năm 2000 xuống 14.6% (Theo tiêu chuẩn cũ) vào năm 2005, bình quân mỗi năm trên 5% (đạt 100%/kế hoạch), kết quả điều tra hộ nghèo 2005 theo tiêu chí mới là 44.06% Công tác xóa đói, giảm nghèo đã góp phần tích cực làm chuyển biến nền kinh tế, văn hóa xã hội trong tỉnh, đời sống nhân dân các dân tộc từng bước ổn định và năng lên Chính trị, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được giũ vững

* *

* Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, từ thực trạng đói nghèo của tỉnh trước khi tách tỉnh và yêu cầu về xóa đói, giảm nghèo thời kỳ mới 2004-2006;

từ sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về xóa đói, giảm nghèo, Đảng bộ tỉnh Điện Biên đã đề ra chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo phù hợp với

Trang 34

thực tiễn địa phương Nhờ đó, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên trong những năm 2004-2006 đã đạt được những thành tựu đáng nghi nhận Qua đó khẳng đinh chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo

là hoàn toàn đúng đắn, được nhân dân đồng tình ủng hộ và thực hiện có hiều quả Những kết quả đạt được về xóa đói, giảm nghèo đã tạo ra tiền đề, cơ sở để Đảng bộ tỉnh tiếp tục lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong những năm tiếp theo đạt kết quả ổn định, vững chắc hơn

Trang 35

33

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH ĐIỆN BIÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN XÓA

ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2011 2.1 Thời kỳ phát triển mới tác động đến thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Điện Biên

* Sự tác động của tình hình thế giới: Thực trạng đói nghèo trên thế giới

đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ kinh tế suy giảm trong năm 2009, đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm tăng cao Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa thêm mạng sống của 200.000 đến 400.000 trẻ em trong giai đoạn 2010-2015, theo đó 1,4 đến 2,8 triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ bản: tỉ lệ người thiếu ăn, mức độ phổ biến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi; tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi Nhìn chung, trong những năm từ 1990 đến 2009, GHI trung bình của thế giới đã giảm gần 1/5 Nhiều quốc gia đã giải quyết tốt vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi và tỉ lệ người thiếu ăn vẫn còn khá cao

Đói nghèo giết chết hơn 30.000 trẻ dưới 5 tuổi trên khắp thế giới mỗi ngày, báo cáo của Manos Unidas - một tổ chức phi chính phủ (NGO) Tây Ban Nha cho biết điều này có nghĩa là có khoảng 11 triệu trẻ em chết mỗi năm vì nghèo đói, trong đó có 7 triệu trẻ dưới 5 tuổi; 130 triệu trẻ không được đi học và 82 triệu trẻ bị mất tuổi thơ bởi phải kết hôn quá sớm

Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu

Trang 36

hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác Nghèo đói, đe dọa đến sự sống của loài người bởi "đói nghèo đã trở thành một vấn đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh" không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi, những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế; và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh

Mặt khác, đói nghèo còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhân loại Thay vì con người có thể tập trung toàn bộ nguồn lực cho phát triển, thì một phần lớn nguồn lực đó phải dành ra để giải quyết vấn đề đói nghèo và các vấn đề toàn cầu khác do đói nghèo mang lại Nghèo đói, bất công là nguyên nhân của tội phạm quốc tế (khủng bố, nạn buôn bán ma túy và rửa tiền); nghèo đói cộng với thiếu hiểu biết kéo theo đó là gia tăng dân số, cạn kiệt nguồn nước, khan hiếm nguồn năng lượng (do sự gia tăng nhanh chóng những hoạt động kinh tế của con người); lương thực, thực phẩm ngày càng thiếu hụt; bệnh tật (nhất là đại dịch HIV/AIDS) ngày càng lan tràn, khó kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự do đang ngày càng trở nên phức tạp

Như vậy, đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người Tác động của nó trong quan hệ quốc

tế là rất lớn và vì vậy vấn đề này không phải của một quốc gia riêng lẻ nào mà là của toàn nhân loại, đòi hỏi thế giới phải chung tay để giải quyết một cách triệt để

và toàn diện Ngăn chặn tình trạng đói nghèo sẽ không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nước đang phát triển mà còn mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu

Trang 37

35

* Sự tác động của tình hình trong nước: Do tác động khách quan của tình

hình kinh tế - xã hội trong nước, dẫn đến nghèo đói thay đổi theo hướng: Tốc độ

giảm nghèo có xu hướng chậm lại: Do tác động tăng trưởng kinh tế đến giảm

nghèo có giảm, hệ số co giãn giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo từ 1-0.7 giai

đoạn 1992-1998, giảm xuống còn khoảng 1-03, giai đoạn 1998-2006 nhất là các xã

vùng cao, vùng sâu, biên giới, hạ tầng kém và dân trí chưa phát triển, điều kiện sản

xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn Vì vậy, cần phải tìm các động lực mới cho

tương lai đó là chính sách phát triển và chuyển giao công nghệ sinh học để nâng

cao năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị trên một héc ta gieo trồng, chính

sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên

canh phục vụ cho xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp

chế biến (bông, cà phê, gỗ, tre, lúa, ngô, khoai, sắn, đậu , tương…), chính sách

phát triển kinh tế trang trại, chính sách phát triển các ngành nghề tiểu thủ công

nghiệp, doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ

cấu, đưa chăn nuôi đại gia súc có hiệu quả kinh tế cao thành ngành sản xuất

chính…

Khoảng cách chênh lệnh về thu nhập có xu hướng gia tăng giữa các vùng,

khoảng cách chênh lệch về thu nhập khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng

ngày càng cao: Công tác xóa đói, giảm nghèo đã đạt được những kết quả tích cực,

song chưa vững chắc, tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao, số hộ cận nghèo còn lớn Nguy cơ tái nghèo có thể tăng do nhiều nguyên nhân: Thiên tai, dịch bệnh, biến

động giá cả, tác động của hội nhập và phát triển kinh tế thị trường… cơ hội của

người nghèo về việc làm ngày càng khó khăn hơn do đổi mới khoa học, công nghệ,

biến động về đầu tư phát triển kinh tế giữa các vùng không đồng đều.[73, tr 13-14]

* Vấn đề đặt ra cho tỉnh Điện Biên về xóa đói, giảm nghèo trước tình hình mới

Thực trạng nghèo đói của tỉnh năm 2006: Tỉnh Điện Biên có 36.394 hộ

nghèo, tỷ lệ hộ nghèo 44.06%, trong đó: Khu vực thành thị: có 1.065 hộ nghèo, tỷ

Trang 38

lệ hộ nghèo 6,33% tổng số hộ dân thành thị ( chiếm 1,29%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Khu vực nông thôn: có 35.329 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo 54,59% tổng hộ dân nông thôn ( chiếm 43,48% /tổng hộ dân toàn tỉnh Hộ nghèo là dân tộc thiểu số: có 34.242 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 41.45% tổng số hộ dân toàn tỉnh

Phân loại hộ nghèo theo khu vực, xã đặc biệt khó khăn , xã biên giới: Khu

vực I: 22 xã với 29.433 hộ, có 5.120 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo 17.39%/ tổng số hộ dân khu vực I (Chiếm 6.2%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Khu vực II: 17 xã với 16.708 hộ, có 8.780 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo 52.55%/ tổng số hộ dân khu vực II (chiếm 10.63%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Khu vực III: 59 xã với 36.449 hộ, có 22.494 hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo 6.71%/ tổng số dân khu vực III (Chiếm 27.23%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Xã biên giới: 21 xã với 15.794 hộ, có 8.630 hộ nghèo, tỷ

lệ hộ nghèo 54.56%/tổng số xã biên giới ( chiếm 10.44%/ tổng số hộ dân toàn

tỉnh)

Phân nhóm xã theo tỷ lệ hộ nghèo: Có 20 xã tỷ lệ hộ nghèo trên 70% Có 39

xã, tỷ lệ hộ nghèo từ 50-70% Có 18 xã, tỷ lệ hộ nghèo từ 30 đến dưới 50% Có 12

xã, tỷ lệ hộ nghèo từ 10 đến dưới 30% Có 9 xã, tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%

Phân theo điều kiện sinh hoạt và thu nhập của hộ nghèo: Số hộ ở nhà tạm, dột

nát hoặc không có nhà:18.946 hộ, chiếm 52.05%/tổng số hộ nghèo ( chiếm 23.93%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Hộ nghèo sử dụng nước tự nhiên để sinh hoạt: 36.192 hộ, chiếm 99.44%/tổng số hộ nghèo ( chiếm 43.81%/ tổng số hộ dân toàn

tỉnh) Hộ nghèo chưa sử dụng điện để sinh hoạt: 17.792 hộ, chiếm 48.88%/tổng số

hộ nghèo ( chiếm 21.53%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh)

Phân theo thu nhập hộ nghèo: Khu vực nông thôn: Số hộ có thu nhập bình

quân từ 120.000 đồng/ người/tháng trở xuống 31.796 hộ, chiếm 87,29%/tổng số hộ nghèo toàn tỉnh (chiếm 38.46%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Số hộ có thu nhập bình quân từ trên 200.000 đồng/ người/tháng trở xuống 3560 hộ, chiếm 9.78%/tổng số

hộ nghèo toàn tỉnh (chiếm 4.30%/ tổng số hộ dân toàn tỉnh) Khu vực thành thị: Số

Trang 39

Đứng trước tình hình thế giới và trong nước, cũng như thực trạng đói nghèo

ở Điện Biện năm 2006, đã đặt ra yêu cầu mới cho Đảng bộ tỉnh Điện Biên trong công tác xóa đói, giảm nghèo làm sao để có thể giảm nghèo nhanh và bề vững Với những nhiệm vụ cụ thể như sau nhằm thực hiện được mục tiêu xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước giao phó:

Tiếp tục đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng: sự phối hợp

giữa các đoàn thể quần chúng với chính quyền trong công tác xoá đói giảm nghèo: Đảng bộ, chi bộ Đảng cơ sở phải là nòng cốt trong chỉ đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo; chỉ đạo sát sao các hoạt động của Ban chỉ đạo xoá đói, giảm nghèo cấp mình trong quản lý, tổ chức thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn

Về cơ chế phân cấp quản lý: Tăng cường phân cấp cho địa phương, đặc biệt

là cấp xã trong việc quản lý và tổ chức thực hiện chương trình, theo hướng: Cấp xã xác định hộ nghèo, công nhận hộ thoát nghèo, huy động nguồn lực tại chỗ, tổ chức thực hiện các chính sách và dự án trên địa bàn, tự giám sát đánh giá; Cấp tỉnh, cấp huyện: thực hiện việc xác nhận xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo, công nhận xã thoát nghèo; huy động và phân bổ nguồn lực theo thẩm quyền, chỉ đạo cấp xã thực hiện;

tự đánh giá giám sát

Về cơ chế giám sát và đánh giá: Cần phải thiết lập, xây dựng hệ thống chỉ

tiêu giám sát, đánh giá phù hơp và đồng bộ để phục vụ nhiệm vụ giám sát, đánh giá

ở các cấp

Trang 40

2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Điện Biên về thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2011

2.2.1 Chủ trương Đại hội X của Đảng (tháng 4 năm 2006) về xóa đói, giảm nghèo

Quan điểm về xóa đói, giảm nghèo: Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ:

"Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân, đặc biệt

là đối với người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách Nhà nước tăng đầu

tư từ ngân sách tiếp tục phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội và bảo đảm cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trước hết là

về y tế, giáo dục cho người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách và dịch

vụ công cộng liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định, phát triển xã hội Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI ( tháng 1 năm 2011) của Đảng đã khẳng định: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa nguồn lực và phương thức

để đảm bảo giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn, khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có các chính sách và giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [25]

Mục tiêu về xóa đói, giảm nghèo: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ X của Đảng xác định “Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống Bảo hiểm xã hội, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, tạo cơ hội cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, các chính sách ưu đãi xã hội” Những vấn đề xã hội đã được Đại hội

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Lê Xuân Đình, Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
5. Báo cáo phát triển của Việt Nam (2000), Việt Nam – tấn công đói nghèo (2002), Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam – tấn công đói nghèo (2002)
Tác giả: Báo cáo phát triển của Việt Nam (2000), Việt Nam – tấn công đói nghèo
Năm: 2002
8. Bộ lao động - Thương binh xã hội (1999), hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xóa đói, giảm nghèo, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về xóa đói, giảm nghèo
Tác giả: Bộ lao động - Thương binh xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
Năm: 1999
9. Bộ lao động - Thương binh xã hội (1999), “Những giải pháp tăng cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo”, hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp tăng cường nguồn lực thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo”
Tác giả: Bộ lao động - Thương binh xã hội
Năm: 1999
10. Bộ lao động - Thương binh xã hội (2001), Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo và việc làm 2001, Tài liệu tập huấn dành cho cán bộ công tác xóa đói, giảm nghèo cấp tỉnh và huyện, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo và việc làm 2001
Tác giả: Bộ lao động - Thương binh xã hội
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
Năm: 2001
11. Bộ lao động - Thương binh xã hội (2005), Xóa đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, Nxb.Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Bộ lao động - Thương binh xã hội
Nhà XB: Nxb.Lao động – Xã hội
Năm: 2005
14. Cục thống kê tỉnh Điện Biên: Niên giám thồng kê 2007, xuất bản thánh 6- 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thồng kê 2007
15. Chính phủ, Số 1202/CP-NN, Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa năm 1999và kế hoạch năm 2000, Hà nội, Ngày 15 tháng 11 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa năm 1999và kế hoạch năm 2000
16. Chương trình người dân vùng cao Việt Nam (lưu hành nội bộ). Ủy ban dân tộc miền núi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình người dân vùng cao Việt Nam
18. Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà Nước về Dân tộc (2000), Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà Nước về Dân tộc
Tác giả: Chính sách pháp luật của Đảng và Nhà Nước về Dân tộc
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
19. Nguyễn Văn Cừ, Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc dổi mới ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ổn định chính trị - xã hội trong công cuộc dổi mới ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
20. Phan Hữu Dật (1975), Về phát triển các tộc người ở miền Bắc Việt Nam. Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển các tộc người ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã hội
Năm: 1975
21. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1996
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các Nghị Quyết của Trung ương Đảng 2001-2004, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị Quyết của Trung ương Đảng 2001-2004
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2004
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
26. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991-2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991-2011)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
27. Điện Biên 100 năm xây dựng và phát triển (1909-2009), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện Biên 100 năm xây dựng và phát triển (1909-2009)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
28. Lờ Hải Đường (2004)á Đổi mới phương thức chuyển giao khoa học và cụng nghệ vào vùng dân tộc và miền núi, Ủy ban Dân tộc – Viện Dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương thức chuyển giao khoa học và công nghệ vào vùng dân tộc và miền núi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm