Bản chất của công tác XHHGD được xác định trong Nghị quyết số 04/NQ- HNTW ngày 14/1/1993 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:“Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ -o0o -
NGUYỄN THỊ HỒNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH HÀ TÂY TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ -o0o -
NGUYỄN THỊ HỒNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH HÀ TÂY TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2008
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 66 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG BÁ MINH
Trang 3
MỤC LỤC
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công
tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
15
1.1 Sự cần thiết và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã
hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
15
1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác xã hội hoá giáo dục từ năm
1996 đến năm 2000
30
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về đẩy
mạnh công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 2001 đến năm 2008
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh
Hà Tây lãnh đạo công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm
3.2 Kinh nghiệm và kiến nghị rút ra từ quá trình Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo
công tác xã hội hoá giáo dục tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008
101
Trang 5TTKTTH- HN Trung tâm kỹ thuật tổng hợp- hướng nghiệp
Trang 6MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VỀ
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
Để giải trình sâu sắc những nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu, tôi
đã tìm hiểu một số khái niệm cơ bản, mỗi khái niệm có thể diễn đạt nhiều cách khác nhau xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau Vì vậy, tôi xin phép trình bày khái niệm theo đúng cách hiểu phổ biến nhất
- Theo Minh Tâm xã hội hoá là làm cho sự vật, hiện tượng trở thành của chung xã hội Nội hàm của khái niệm nhấn mạnh 2 mặt
+ Làm cho xã hội có được nội dung của sự vật, hiện tượng đó
+ Làm cho sự vật, hiện tượng đó trở thành của chung của xã hội
- Xã hội hoá giáo dục theo Phạm Minh Hạc cần được hiểu theo những nội hàm sau:
+ Trước hết làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, thực trạng giáo dục của địa phương, nhận thức rõ trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục
+ Làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
XHHGD là tạo ra được nhiều nguồn lực để làm cho giáo dục mở ra một con đường ở trong nhà trường, phá thế đơn độc của nhà trường, thực hiện việc kết hợp của nhà trường và ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục; nhà trường, gia đình và xã hội, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục
Từ nghiên cứu lý luận cũng như trong chỉ đạo hoạt động giáo dục, cần phân biệt rõ tính chất xã hội của giáo dục và XHHGD không phải là một, nếu không có định hướng rõ, thì tự thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất
xã hội, nhưng không bao giờ đạt tới trình độ XHH đích thực theo ý nghĩa xã
Trang 7Vậy XHHGD là gì? Là tính chất xã hội của giáo dục, tính chất này phụ thuộc vào bản chất của giáo dục, mà hoạt động giáo dục bình thường nào cũng có nhưng chỉ thừa nhận cái vốn có, có tính thống nhất không thể tạo ra động lực mạnh mẽ, mới mẻ của hoạt động giáo dục trong xã hội luôn phát triển năng động
Bản chất của công tác XHHGD được xác định trong Nghị quyết số 04/NQ- HNTW ngày 14/1/1993 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam:“Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước”
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thể nhân loại Lịch sử phát triển xã hội ngày càng khẳng định vai trò, tác dụng của giáo dục đối với kinh tế- xã hội Giáo dục là điều kiện cơ bản và là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hoá, con người nổi lên hàng đầu Ở nhiều nước vấn đề này đã trở thành vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển đất nước
Hồ Chí Minh từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, muốn
đất nước phát triển thì phải phát triển giáo dục- đào tạo Một nền giáo dục- đào tạo toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải là nền giáo dục mang tính nhân dân sâu sắc, nền giáo dục không chỉ dành riêng cho một số người, hoặc
một giai cấp mà của toàn thể quốc dân Việt Nam:“Ai cũng được học hành”
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trước những khó khăn của
sự chuyển đổi cơ chế nền kinh tế, để ổn định và duy trì ngành học, Bộ GD&
ĐT đã đổi mới cách chỉ đạo, quản lý và đẩy mạnh XHHGD Đảng đã huy động nhiều nguồn lực để tập trung chỉ đạo việc xây dựng nhiều loại chương trình, đẩy mạnh công tác đào tạo giáo viên, xây dựng hệ thống trường trọng điểm chất lượng cao, nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho các bậc cha mẹ và cả cộng đồng Chủ trương XHH dần được hình thành Quan điểm XHHGD được thể hiện trong nhiều Văn kiện, Nghị quyết của Đảng ta Trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng, Đảng luôn coi trọng việc huy động lực lượng toàn dân, toàn xã hội vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị như một đường lối vận động quần chúng, tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội Tuỳ từng thời kỳ cách mạng, tư tưởng về XHHGD được thể hiện trong những khẩu hiệu khác
nhau như “Toàn dân chăm lo đến giáo dục- đào tạo ”, “Nhà nước và nhân
Trang 9dân cùng làm” trong giai đoạn đất nước gặp những khó khăn nghiêm trọng
về kinh tế- xã hội Đến Đại hội lần thứ VIII( 6/1996) thì “Xã hội hoá” trở
thành một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã
hội:“Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” {21, Tr.114}
Như vậy, sau nhiều năm đổi mới đất nước, thuật ngữ “Xã hội hoá”
được dùng chính thức trong Văn kiện của Đảng Nó chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước tiến hành CNH- HĐH đất nước
Kinh nghiệm cho thấy để có thể phát triển “đi tắt, đón đầu”, phải có
con người Yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển đó là những con người
có tri thức, có năng lực, có trình độ khoa học công nghệ để làm chủ được xã hội Vì vậy hơn bao giờ hết, trước mắt cũng như trong tương lai, vấn đề
XHHGD luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng và phải coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu” Đầu tư cho giáo dục được coi như đầu tư cho sự phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”
Trong bối cảnh chung của đất nước, Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD trong những năm 1996 - 2008 đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả bước đầu Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng
và phát triển một cách hợp lý Chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến tích cực, chất lượng học sinh giỏi ổn định và phát triển Việc triển khai thực hiện dạy và học theo chương trình sách giáo khoa mới đạt kết quả tốt Hệ thống trường chuẩn quốc gia ngày một tăng và phát huy hiệu quả Kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS được duy trì và
Trang 10nâng cao chất lượng, hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông đạt hiệu quả cao Công tác nghiên cứu khoa học và chăm lo các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất có nhiều tiến bộ Công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đổỉ mới Kỷ cương nề nếp, học đường được giữ vững Phong trào thi đua
“Dạy tốt- học tốt” trong các nhà trường được phát triển sâu rộng và đạt hiệu quả thiết thực
Tuy nhiên do số lượng học sinh tăng nhanh khiến cho các trường công lập không đáp ứng được nhu cầu Với điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh có nhiều địa hình khác nhau nên cơ sở vật chất trường lớp, các trang thiết bị phục vụ cho dạy và học chưa đáp ứng được yêu cầu tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong các trường, đội ngũ cán bộ giáo viên còn thiếu về số lượng, không đồng bộ
về cơ cấu và trình độ đào tạo, chậm đổi mới về phương pháp Chế độ chính sách cho giáo viên mặc dù đã có những cải tiến nhưng vẫn còn nhiều bất cập Đời sống của giáo viên còn khó khăn Công tác quản lý cán bộ bộc lộ không ít những yếu kém
Sau nhiều năm xây dựng và phát triển cùng với sự lớn mạnh của nền giáo dục cách mạng, giáo dục Hà Tây đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu quan trọng trên cả 3 mặt: Quy mô, chất lượng và hiệu quả
Sự lớn mạnh của giáo dục đã đóng góp to lớn và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mỗi giai đoạn có đặc điểm lịch sử riêng, khó khăn riêng song dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, sự ủng hộ của toàn xã hội, sự cố gắng hết mình của các thế
hệ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, giáo dục Hà Tây vẫn không ngừng phát triển về mọi mặt
Là người con sinh ra đất Hà Tây, cùng với những năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học, với những kiến thức lý luận đã nhận thức được
cùng với vốn sống thực tiễn, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Công tác xã hội
hoá giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008” làm
Trang 11luận văn thạc sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho các ban, ngành trong quá trình thực hiện công tác XHHGD của tỉnh Hà Tây
Trong quá trình triển khai đề tài, Hà Tây còn là đơn vị hành chính độc lập, đến năm 2008, Hà Tây sáp nhập Hà Nội Việc Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh thực hiện quá trình xã hội hoá giáo dục là một thực tế với những chủ trương, kế hoạch giải quyết và hiệu quả cụ thể Nay Hà Tây không còn là đơn vị hành chính độc lập, một Đảng bộ riêng nhưng vấn đề trên đã trở thành một phần lịch sử của Đảng bộ và nhân dân Hà Tây trong sự nghiệp đổi mới
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
XHHGD là một khái niệm không mới, nhưng để hiểu đúng bản chất của nó thì không phải ai cũng hiểu, đôi khi có người chỉ hiểu một khía cạnh nào đó của vấn đề, nên đã hiểu sai bản chất của nó Hiện nay vẫn còn nhiều
ý kiến xung quanh vấn đề này Do vậy vấn đề XHHGD đã được sự quan tâm của rất nhiều các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học
- Nhóm những tác phẩm bài viết, bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học về vấn đề XHHGD:
Trong thời kỳ đổi mới, thuật ngữ xã hội hoá ngày càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu, nhiều nhà quản lý giáo dục đã bàn luận về xã hội hoá giáo dục Bài phát biểu của Nguyễn Tấn Phát khai mạc Hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện XHHGD bằng con đường Đại hội giáo dục các cấp Trong bài phát biểu đã cho chúng ta thấy quan điểm của Đảng về vai trò quan trọng của công tác XHHGD thông qua các Nghị quyết TW 4 (khoá VII), Nghị quyết TW 2 (khoá VIII), thông tư liên tịch số 35/TT-LT và đã nêu ra các nội dung của công tác XHHGD Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện XHHGD thông qua tổ chức Đại hội giáo dục các cấp của Lê Hồng Sơn
đã cho chúng ta thấy: Quá trình hình thành chủ trương tổ chức Đại hội giáo dục các cấp, quá trình triển khai, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đánh giá
Trang 12những kết quả đạt được, đồng thời đề ra phương hướng tổ chức ĐHGD các cấp trong thời gian tới Đặng Ngọc Tiến trong bài phát biểu tại tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hoá giáo dục một lần nữa khẳng định giá trị thiết thực trong công tác XHHGD, thông qua việc tổ chức Đại hội giáo dục các cấp và cho thấy, đây là một động lực để thúc đẩy công tác XHHGD phát triển Đồng chí Vũ Oanh đã nhấn mạnh vai trò của Hội khuyến học trong công tác XHHGD
Đặc biệt Phạm Minh Hạc, đã viết nhiều tài liệu về xã hội hoá giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào xã hội hoá giáo dục Trong cuốn
“Xã hội hoá công tác giáo dục” xuất bản năm 1997, do ông làm tổng chủ biên đã khẳng định “Xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta” [31.16] Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” ông một lần nữa khẳng định “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân” [32.330} Trong cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục” ông Phạm Tất Dong, có nói đến nội hàm khái niệm xã
hội hoá công tác giáo dục và coi xã hội hoá là một khái niệm vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam Qua mỗi giai đoạn, khái niệm đó
đã được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn Trong lời giới thiệu cuốn
sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới”, ông đã nhấn mạnh “Phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá” [66.12] Ông đề
cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp giáo dục, coi đó là tư tưởng chiến lược của Đảng Tư tưởng đó được đúc kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý của cách mạng Việt
Nam Tư tưởng “Xã hội hoá” sẽ tạo ra những điều kiện để sự nghiệp giáo
dục không ngừng phát triển
Trang 13Viện khoa học giáo dục đã triển khai nhiều năm hệ thống đề tài về xã hội hoá giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế xã
hội hoá giáo dục Năm 1999, cuốn sách “Xã hội hoá công tác giáo dục- nhận thức và hành động” của Viện khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi
Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình, là một bước hoàn thiện về
nhận thức và hướng dẫn thực tiễn Bộ giáo dục tạo đào tạo cũng có “Đề án
xã hội hoá giáo dục”, đánh giá thực trạng và đưa ra biện pháp xã hội hoá
giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong GD& ĐT, chuẩn
bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện khoa học giáo dục-
năm 2001, từ góc độ giáo dục học, cuốn sách “Xã hội hoá giáo dục” do Võ
Tấn Quang chủ biên cùng tập thể tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình,
Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Duy Ngân khẳng định: xã hội hoá công tác giáo dục- một phương thức thực sự giáo dục nhằm
xã hội hoá cá nhân Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã
đề cập đến đặc trưng của XHHGD ở các cấp học, bậc học và địa bàn ở nông thôn, vấn đề quản lý Nhà nước trong việc thực hiện xã hội hoá để có định hướng đúng đắn hoạt động xã hội hoá giáo dục ở nhà trường và địa phương
Bàn về xã hội hoá giáo dục còn nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả:
Hà Nhật Thăng, Lê Khanh, Nguyễn Nghĩa Dân, Hồ Hương, Nguyễn thanh Phong, Mai Hắc Lương, Vũ Văn Tảo
- Nhóm những đề tài luận văn, luận án
Luận văn thạc sĩ lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (1975- 2000) năm 2007 của Trương Thị Hoa Luận văn thạc sĩ lịch sử: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ năm 1997- 2005 năm 2006 của Lý Trung Thành
- Nhóm các bài báo, tạp chí:
Bài “Đổi mới giáo dục- đào tạo theo đường lối chủ trương của Đảng” của Dương Thu Hiền trên TCLSĐ số 4-1999 Bài “Xây dựng xã hội học tập-
Trang 14một vấn đề giáo dục cơ bản trong Văn kiện Đại hội X của ĐCSVN” của Phạm Tất Dong trên TCGD số 145- 2006 Bài “Hồ Chí Minh với việc xây dựng một nền giáo dục mới của Việt Nam” của Phan Ngọc Liên trên TCLSĐ số 1/2008
Các công trình nêu trên đã phân tích làm rõ một số nội dung về mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa của XHHGD nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ lịch sử Đảng về XHHGD của tỉnh
Hà Tây Song những đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nêu trên là tài liệu quý để tác giả tham khảo trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Để làm sáng tỏ thêm vấn đề XHHGD, thiết thực phục vụ cho nhiệm
vụ chuyên môn của bản thân sau này, tôi muốn vận dụng những kiến thức đã
học và những kinh nghiệm thực tiễn của mình để nghiên cứu đề tài “Công
tác xã hội hoá giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008” Đây là một đề tài nhỏ chưa được đề cập trong một luận văn, luận án
nào, đặc biệt từ góc độ công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây, trong
mã ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ tình hình xã hội hoá giáo dục trong điều kiện phát triển của
Hà Tây; Trên cơ sở đó làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2008
Rút ra những kinh nghiệm để thực hiện công tác XHHGD đạt kết quả tốt, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển GD&ĐT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Tây hoạch định chủ trương, chính
sách đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện công tác XHHGD của tỉnh
Trang 15- Làm sáng tỏ chủ trương, chính sách và quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác XHHGD trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH từ năm
1996 đến năm 2008
- Làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và từ
đó rút ra một số kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian : Đề tài được giới hạn trên địa bàn tỉnh Hà Tây
- Về thời gian : Nghiên cứu sự lãnh đạo công tác XHHGD của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008
- Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về thực hiện chủ trương của Đảng về công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
* Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp đó Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, lệch đại, đồng đại, so sánh Phương pháp phân kỳ, khảo sát
* Nguồn tài liệu nghiên cứu:
- Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Tỉnh uỷ Hà Tây
- Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Tây về giáo dục
- Các công trình khoa học đã được công bố, các tài liệu về XHHGD của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Trang 166 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
- Cung cấp thêm tư liệu, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008, nêu lên những kinh nghiệm có ý nghĩa vận dụng
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến XHHGD ở địa phương
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu 3 chương 6 tiết
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 2001 đến năm 2008
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm rút ta từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
Trang 17CHƯƠNG I
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ
TÂY VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1 1 Sự cần thiết và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã
hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
1.1.1 Sự cần thiết của công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà
Tây thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Hà Tây:
Năm 1991, Hà Tây được thành lập từ tỉnh Hà Sơn Bình và 6 huyện
của Hà Nội Hà Tây, là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng bao bọc phía Tây và
Nam thủ đô Hà Nội Hà Tây có 12 huyện, 2 thị xã với 325 xã, phường, thị
trấn Diện tích tự nhiên khoảng 2.192 km2, dân số 2,39 triệu người Địa hình
chia làm hai vùng khác nhau: Địa hình đồng bằng tập trung ở phía đông
gồm 8 huyện, thị xã với diện tích tự nhiên là 1.488 km2, địa hình đồi núi
phía tây gồm 6 huyện, thị xã với diện tích tự nhiên 704 km2
Hà Tây là tỉnh nằm cạnh Thủ đô Hà Nội và trong khu vực kinh tế
trọng điểm phía bắc, tạo cho Hà Tây có nhiều thuận lợi: Có một thị trường
tiêu thụ lớn để có thể tiêu thụ các nông sản hàng hoá, hàng tiểu thủ công mỹ
nghệ, Hà Tây có đồng bằng phì nhiêu có mức thâm canh cao, có vùng đồi
gò với sinh thái đa dạng nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú có thể phát
triển thành khu vực bảo tồn thiên nhiên động thực vật quý hiếm, tạo môi
trường cảnh quan thiên nhiên cho du lịch, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí
Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 1999, thì dân số của tỉnh
Hà Tây là 2.378.438 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm là
1,5%/năm Mật độ dân số trung bình tỉnh Hà Tây 1.083 người/Km2, trong
Trang 18đó khu vực đồng bằng trên 1.000 người/Km2, vùng đồi núi 791 người/Km2 Dân số sống ở nông thôn 2,2 triệu người chiếm gần 90%, sống ở thành thị hơn 10% Hà Tây có 9 xã đồng bào dân tộc, trong đó có 7 xã ở vùng núi Ba
Vì, 1 xã thuộc huyện Quốc Oai, 1 xã thuộc huyện Mỹ Đức với số dân khoảng 30.000 người, chủ yếu là người dân tộc Mường [ 47, Tr.20}
Lao động trong độ tuổi năm 1996 là 1.147.800 người, năm 1999 là 1.292.000 người, trong đó 80% là lao động nông nghiệp, tốc độ tăng bình quân là 2% Hà Tây là tỉnh có nguồn lao động dồi dào, số người lao động trong độ tuổi có xu hướng trẻ hoá, có 1/3 số xã trong tỉnh có làng nghề tiểu thủ công nghiệp với 200.000 lao động có tay nghề, chất lượng lao động ở nông thôn có trình độ văn hoá khá, chất lượng lao động trong các cơ quan quản lý nhà nước và khối kinh doanh đáp ứng được với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới
Kể từ năm 1996 đến nay, nền kinh tế Hà Tây đã có những bước chuyển biến tích cực Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân hàng năm 7,3%, năm 2000 GDP bình quân đầu nguời đạt 315 USD/năm, khu vực nông thôn đạt khoảng 150 USD/năm Bình quân GDP/người của Hà Tây năm
2000 gần bằng 60% mức bình quân cả nước và 48% bình quân vùng trọng điểm Bắc Bộ
Hà Tây là tỉnh có trình độ dân trí cao, sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, cả tỉnh có hơn 70.000 người
đi học, chiếm gần 30% dân số Là tỉnh được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về XMC và phổ cập giáo dục tiểu học năm 1992, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2000, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2001 Người lao động được đào tạo chiếm 14,5%
Hà Tây lại có những thuận lợi hết sức cơ bản
Trang 19Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ tỉnh đến xã, phường luôn quan tâm, chỉ đạo và đưa ra những chính sách phù hợp giúp cho công cuộc phát triển GD&ĐT ngày càng đạt hiệu quả
Nhân dân trong tỉnh có truyền thống hiếu học, đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển nền giáo dục tỉnh nhà kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Nằm trong vị trí thuận lợi: là sát thủ đô Hà Nội, trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Bắc- khu tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh Nhờ vậy, kinh tế Hà Tây phát triển không ngừng, môi trường xã hội
ổn định, lành mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất
lẫn tinh thần, tạo ra các nguồn lực cơ bản đảm bảo phát triển GD& ĐT
Những khó khăn trong phát triển sự nghiệp GD&ĐT
Có mật độ dân số cao, hiện tại kinh tế chủ đạo của toàn tỉnh là nông nghiệp, trong khi đó bình quân đất nông nghiệp trên đầu người rất thấp chỉ
Do đặc điểm địa hình, mật độ dân cư giữa các khu vực trong Tỉnh không đều, trình độ dân trí giữa các địa phương trong tỉnh còn chệnh lệch khá lớn, CSVS hạ tầng của các địa phương nhất là các trường học còn nghèo
Những đặc điểm trên, khiến cho Hà Tây gặp phải những khó khăn trong việc quy hoạch mạng lưới trường lớp, thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục, chống mù chữ nói riêng
* Thực trạng tình hình xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây trước năm 1996:
Trang 20Từ khi có Nghị quyết 4 của BCHTW khoá VII của Đảng về xã hội hoá giáo dục Tỉnh Hà Tây cũng có những chỉ đạo nhằm phát triển xã hội hoá giáo dục tỉnh nhà UBND tỉnh có Chỉ thị 24 CT/UB ngày 12/7/1993 về xây dựng trường sở thuộc ngành giáo dục- đào tạo, Nghị quyết 73- NQ/HĐND ngày 6/5/1994 khoá XI kỳ họp XI xác định rõ trách nhiệm của các cấp, ngành, các đoàn thể và nhân dân tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm XHH sự nghiệp giáo dục- đào tạo, y tế, dân số
Đại hội Đảng bộ Tỉnh họp đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh, nhờ những chỉ đạo đúng đắn của tỉnh Hà Tây về phát triển giáo dục, do vậy quy mô giáo dục của tỉnh không ngừng phát triển
Từ năm 1990-1991 hàng năm Tỉnh có trên 3.000 người trong độ tuổi 15- 35 được XMC Công tác XMC từ 15- 35 tuổi đạt tỷ lệ 90%, từ 10-14 tuổi đạt tỷ lệ 87% Sau XMC học chương trình lớp 4, lớp 5 có 41 lớp với
724 học sinh, học chuyên đề có 195 lớp với 33.991 học sinh, lớp học tình thương có 35 lớp với 602 học sinh Các lớp BTVH được mở ở 12 trung tâm GDTX ở các huyện, thị và các trường BTVH, có 66 lớp với 2.363 Giáo dục chuyên nghiệp có 3 trường sư phạm với 35 lớp và 4.200 học sinh Trung tâm KHTH HN-DN có 1 trung tâm cấp tỉnh, 5 trung tâm cấp huyện, học sinh nghề có 1.039, học sinh hướng nghiệp nghề phổ thông 14.042 Giáo dục tại chức có 97 lớp
Năm 1995, học sinh giỏi toàn diện có 32.000 học sinh, học sinh đạt giải cấp tỉnh 614 học sinh, học sinh đạt giỏi cấp quốc gia 51 học sinh, học sinh đạt giải quốc tế 1 học sinh Là một trong 5 tỉnh có số học sinh thi đỗ cao đẳng, đại học cao nhất nước Trong cuộc thi Hội khoẻ Phù Đổng đạt 96 huy chương vàng, 96 huy chương bạc, 96 huy chương đồng
Năm 1995 số giáo viên hiện có 19.366, tổng số học sinh phổ thông 531.597 Số trường tiểu học có 349 trường, THCS có 321 trường, THPT có
44 trường trong đó có 30 trường THPT, 8 trường THPT chuyên ban, 5
Trang 21trường THPT cấp 2-3, 1 trường bán công Học sinh hệ công lập ở THPT là 44.447, ở hệ bán công có 6.111 học sinh
Năm 1994-1995 lao động giỏi cấp tỉnh 2%, cấp ngành 35%, cấp cơ sở 38%, 228 tổ lao động giỏi, 138 trường tiên tiến xuất sắc
Sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển, tương đối toàn diện, số học sinh phổ thông, mẫu giáo hàng năm tăng 5% Năm 1992 toàn tỉnh được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và XMC, các trường chuyên lớp chọn được mở rộng, bước đầu đưa nội dung dạy nghề, giáo dục dân số, tin học vào nhà trường Chất lượng dạy và học có tiến bộ, 83% số trường được ngói hoá gần 30% được xây dựng kiên cố
Kinh phí chi thường xuyên, cho giáo dục 110.000 triệu, chi cho đào tạo 11.550 triệu Về đầu tư phát triển, vốn trong nước: ngân sách Trung ương 10.298 triệu, ngân sách địa phương 3.700 triệu, huy động vốn dân 23.000 triệu, vốn viện trợ và vay của nước ngoài 7.000 triệu
Trong năm 1995 Tỉnh đầu tư kinh phí cho 175 điểm trường, xây dựng
200 phòng học mới, củng cố 500 phòng học và phòng làm việc, cả Tỉnh không có phòng học 3 ca Năm 1995 phòng học hiện có là 6.708 phòng, có 1.567 phòng kiên cố, 4.572 phòng cấp 4, 569 phòng học tạm, 444 phòng học xây mới, 1.389 phòng học sửa chữa, 7.701 bàn ghế đống mới
Trong những năm đầu đổi mới, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng
sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh vẫn giữ được thế ổn định Chất lượng dạy và học hầu hết ở các trường được nâng cao Hoạt động hướng nghiệp bước đầu gắn với phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Song nhiệm vụ GD&ĐT nói chung và công tác XHHGD nói riêng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, nhất là phát triển chất lượng, số lượng GD&ĐT đòi hỏi ngày càng cao nhưng nguồn kinh phí hạn hẹp Do vậy, cần có đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực của tất cả lực lượng trong xã hội để phát triển
GD&ĐT
Trang 22* Yêu cầu đòi hỏi của công tác xã hội hoá giáo dục thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá:
Sau khi có chỉ đạo của Đảng, nền giáo dục của Hà Tây đã có bước khởi sắc, thu được những thành tựu nhất định Tuy nhiên nền giáo dục Hà Tây vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của mình Trong thời kỳ thực hiện CNH- HĐH đã đặt ra những yêu cầu đối với công tác XHHGD:
Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Như vậy, muốn kinh tế- xã hội phát triển chỉ có con đường duy nhất là phát triển giáo dục, đáp ứng trước yêu cầu cao về nhân lực trong thời đại CNH- HĐH Phải thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với GD&ĐT, thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu
Trong thời kỳ CNH- HĐH, yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao Nên người dân luôn có nhu cầu đi học, học thường xuyên, học suốt đời Cần đa dạng các loại hình giáo dục để đáp ứng nhu cầu của người dân Khuyến khích để mọi người chăm lo cho giáo dục, đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể Coi GD&ĐT là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và nhân dân
Đảng chủ trương hội nhập kinh tế với thế giới nên nhu cầu về nhân lực cao càng ngày càng trở lên bức thiết Muốn đáp ứng được yêu cầu mới thì người dân cần phải học Như vậy, chúng ta mới có thể hợp tác với thế giới đạt hiệu quả cao Phát triển GD&ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-
xã hội, những tiến bộ khoa học- công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Coi trọng cả ba mặt; mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia
Trang 23đình và xã hội Nội dung giáo dục phải đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ CNH- HĐH
Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT Tạo điều kiện ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng Đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí , đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục:
1.1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xã hội hóa giáo dục:
Nhìn từ bản chất vấn đề xã hội hoá giáo dục không phải là vấn đề hoàn toàn mới Đó là bước phát triển của một chủ trương giáo dục được thực thi trong nhiều năm qua Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Tư tưởng đó đã thể hiện trong công tác giáo dục và trở thành quan điểm xã hội hoá, trong truyền thống giáo dục Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng lần thứ VI (1986), mở đầu thời kỳ đổi mới, xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, vận hành đất nước theo quy luật khách quan để phát triển kinh tế- xã hội Trong đó giáo dục cũng bước sang một giai đoạn phát triển mới Đến Đại hội VII (1991), trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học xã hội, trên sách báo ta thường gặp
thuật ngữ “Xã hội hoá” đối với các lĩnh vực hoạt động như: Giáo dục, y tế,
thể thao, văn hoá, tuy nhiên thuật ngữ xã hội hoá này chưa thật sự được mọi người quan tâm nhiều và chưa được triển khai hoạt động nhiều trong các lĩnh vực
Tháng 06/1996 ĐHĐBTQ lần thứ VIII của ĐCSVN đã khẳng định
“Xã hội hoá” là một quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã
hội Đại hội Đảng lần thứ VIII, GD- ĐT tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 24Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả
Nghị quyết TW2 (khoá VIII) ngày 24/12/1996 về “Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH- HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000” của Ban chấp hành TW Đảng một lần nữa khẳng định rõ:
“Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Mọi người chăm lo cho giáo dục Các cấp uỷ Đảng, các tổ chức kinh tế- xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục và đào tạo Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể”{20, Tr.19}
Điều 11, Luật giáo dục ban hành năm 1998 có quy định về xã hội hoá
sự nghiệp giáo dục cụ thể như sau:
“Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho
sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, các nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
{66, Tr.5}
Biến hệ thống giáo dục và nhà trường từ một hệ thống thiết chế hành chính khép kín thành thiết chế thực sự của dân Qua đó, có sự trao đổi thông tin một cách thường xuyên giữa phụ huynh học sinh và nhà trường Góp ý vào những vấn đề nhạy cảm từ các khoản thu giữa nhà trường và phụ huynh học sinh đến việc sử dụng các nguồn kinh phí từ nhân dân đóng góp
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về XHH là thực hiện đồng bộ, hiệu quả trên cả ba mặt: Tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước, đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập, phát triển các cơ sở ngoài công lập để
Trang 25đảm bảo vừa phát triển về quy mô, vừa từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân
Xã hội hoá không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, mà vai trò, trách nhiệm của Nhà nước phải được tăng cường thông qua việc tiếp tục tăng tỷ trọng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, đồng thời đổi mới mục tiêu, phương hướng cơ cấu và nguồn đầu tư, đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế chính sách và đổi mới công tác quản lý của Nhà nước
Nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo, định hướng phát triển XHH, tiếp tục tăng cường đầu tư phát triển giáo dục, tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia; hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo trên cơ sở đổi mới chế độ miễn giảm học phí theo hướng công khai, hợp lý
và cấp trực tiếp tới đối tượng thụ hưởng Từng bước nâng cao mức hưởng thụ cơ bản, thiết yếu của nhân dân và thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách xã hội trong lĩnh vực GD&ĐT
Hoàn thiện các quy định về mô hình, quy chế hoạt động của các đơn
vị ngoài công lập theo hướng: quy định rõ trách nhiệm, mục tiêu hoạt động, nội dung chất lượng và cơ chế hoạt động; quy định chế độ tài chính chặt chẽ
và trách nhiệm thực hiện chính sách và nghĩa vụ của các tổ chức hoạt động ngoài công lập Mô hình và cơ chế hoạt động phải được cụ thể hoá cho mỗi ngành và ngay trong mỗi ngành, đối với từng lĩnh vực cụ thể cũng có những tính chất khác nhau cần được quy định cho phù hợp Thể chế hoá vai trò và chức năng của các tổ chức xã hội, các cơ sở tham gia vào quá trình XHHGD Đơn giản hoá các thủ tục hành chính trong việc thành lập các cơ
sở ngoài công lập, trên cơ sở quy định chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết điều kiện thành lập và cơ chế hậu kiểm Đổi mới cơ chế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo Từng bước tạo điều kiện để người hưởng thụ lựa chọn môi trường học tập, không phân biệt công lập hay ngoài công lập
Trang 26Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở công lập và ngoài công lập, tạo điều kiện để các cơ sở đó phát triển ổn định, lâu dài, đảm bảo lợi ích của từng cá nhân, tập thể và của toàn xã hội Phân cấp quản lý, gắn quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng tập thể và từng cá nhân người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước các cấp; gắn phân cấp nhiệm vụ với phân cấp quản lý về tài chính, tổ chức nhân sự và đảm bảo các điều kiện vật chất
Tách quản lý Nhà nước, quản lý ngành khỏi việc điều hành công việc thường xuyên của cơ sở xác định rõ trách nhiệm xã hội của các cơ sở, một mặt trao cho cơ sở đầy đủ quyền tự chủ và trách nhiệm, mặt khác đảm bảo quyền sở hữu và vai trò của đại diện chủ sở hữu trong các cơ sở công lập và ngoài công lập Hoàn thiện việc phân cấp quản lý, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của các huyện thị, thành Các địa phương căn cứ vào quy chế, chính sách chung, chính sách cụ thể trên địa bàn quản lý, xây dựng kế hoạch phát triển xã hội đối với công tác XHHGD
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra Quy định chế độ và trách nhiệm thanh tra, xử lý vi phạm của các cấp, đồng thời phát huy dân chủ để giám sát công việc quản lý của các cấp Xây dựng cơ chế phát huy vai trò giám sát của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, các hội nghề nghiệp về chất lượng giáo dục của các đơn vị Khen thưởng kịp thời các cá nhân, cơ quan,
tổ chức tốt công tác XHHGD
Cần đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục theo hướng tự chủ, không bao cấp tràn lan, không vì mục đích lợi nhuận để nâng cao chất lượng giáo dục, tăng hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho phúc lợi xã hội và giữ vai trò nòng cốt của các cơ sở công lập Phát triển các trường ngoài công lập theo định hướng và mục tiêu phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế-
xã hội của tỉnh, của ngành, địa phương trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo Khuyến khích các trường hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò giám sát của mặt trận Tổ
Trang 27quốc và các đoàn thể nhân dân đối với các trường công lập cũng như các trường ngoài công lập Tạo môi trường phát triển lành mạnh và cạnh tranh bình đẳng theo quy định của pháp luật để thúc đẩy các cơ sở công lập cũng như các cơ sở ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng hoạt động Cụ thể như:
Đối với công lập Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang hoạt động cơ chế mới: Tự chủ trong cung ứng giáo dục, có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ, hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi; thường xuyên nâng cao chất lượng dạy và học và đảm bảo cơ hội tiếp cận bình đẳng cho mọi người
Với các cơ sở ngoài công lập Khuyến khích thành lập các cơ sở ngoài công lập, hạn chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển; có giải pháp và bước đi phù hợp để không tiếp tục duy trì các cơ sở bán công, các bộ phận bán công trong các cơ sơ công lập; có cơ chế hợp lý
để chuyển các cơ sở ngoài công lập với hai hình thức: dân lập và tư nhân Quyền sở hữu của các cơ sở ngoài công lập được xác định và đảm bảo theo
Bộ luật dân sự và các quy định pháp lý khác của Nhà nước
Cơ sở ngoài công lập có thể hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc theo cơ chế lợi nhuận Theo cơ chế lợi nhuận thì ngoài phần được dùng để đảm bảo lợi ích hợp lý của các nhà đầu tư, phần để tham gia thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, trợ giúp người nghèo, lợi nhuận chủ yếu được dùng để đầu tư phát triển Nhà nước có chính sách hỗ trợ ban đầu có thời hạn cho các cơ sở công lập chuyển sang loại hình ngoài công lập; khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập bình đẳng trong mọi vấn đề
1.1.2.2 Quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá của tỉnh Hà Tây (1996-2000)
* Một số quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hà Tây:
Trang 28Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã quán triệt sâu sắc đường lối giáo dục toàn diện của Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) về GD&ĐT, Nghị quyết 90 của chính Phủ năm 1997 về phương hướng, chủ trương XHHGD Đồng thời Tỉnh uỷ
Hà Tây đã tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của các cơ quan, ban ngành trung ương, học hỏi có chọn lọc những kinh nghiệm của các địa phương trong cả nước Căn cứ vào đặc điểm tình hình thực tế của Tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hà Tây
đã chủ trương tiến hành công tác XHHGD Chủ trương đó được thể hiện trong Đại hội Đảng bộ lần thứ XII năm 1996, đặc biệt là Nghị quyết 03 của
Tỉnh uỷ “về phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH” Thực
hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ngày càng cao
Để làm được điều đó, Đảng bộ Hà Tây đã đề ra những giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh xây dựng một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội học tập suốt đời, góp phần nâng cao trình độ phổ cập giáo dục phổ thông, tạo điều kiện cho việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tri thức và khả năng thích ứng với thị trường lao động
Huy động các lực lượng xã hội, các tập thể và cá nhân làm công tác giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.Công tác XHHGD của tỉnh nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của các cấp chính quyền, đoàn thể, các lực lượng xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, tích cực tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở các địa phương Thông qua công tác XHHGD để xây dựng được mối liên kết, phối hợp chặt chẽ và đồng
bộ các lực lượng xã hội, phát huy được vai trò của các tổ chức trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp tốt giáo dục Nhà trường- Gia đình- Xã hội Tạo môi trường phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các cơ sở giáo dục công lập và
Trang 29ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng, xây dựng các cơ sở giáo dục đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trong thế giới
Đảng bộ tỉnh đã ra chủ trương thực hiện cuộc vận động “hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa” Công tác XHHGD ở Hà Tây tiến hành trong điều kiện có những khó khăn, nhưng Tỉnh uỷ yêu cầu các ban ngành, các cấp nêu cao trách nhiệm xây dựng phong trào học tập sôi nổi ở từng địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu GD&ĐT XHHGD là chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, đồng thời góp phần tăng cường dân chủ hoá nhà trường, dân chủ hoá giáo dục XHHGD là để nhân dân tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, làm cho giáo dục đáp ứng yêu cầu của nhân dân và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Đẩy mạnh dân chủ hoá trong trường học, để mọi người có thể đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực nhằm đẩy mạnh công tác XHHGD phát triển Tạo điều kiện để ai cũng được học hành theo nhu cầu của mình
Tăng cường cơ sở vật chất và các nguồn lực cho giáo dục, chăm lo đời sống của giáo viên Cụ thể hoá các chính sách đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, tăng nguồn lực đầu tư, đồng thời đổi mới mục tiêu phương thức,
cơ cấu và nguồn vốn đầu tư; tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục; hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, phát triển mạnh các cơ sở giáo dục ngoài công lập với hai hình thức dân lập và tư thục Khuyến khích đầu
tư trong và ngoài nước bằng hình thức phù hợp với quy hoạch phát triển, yêu cầu, đặc điểm giáo dục ở từng vùng, miền Chuyển các cơ sở giáo dục công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi, thường xuyên nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục; đảm bảo quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người học
Trang 30Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và các ban ngành đối với sự nghiệp GD&ĐT Thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật; phát huy vai trò của đoàn thể giám sát các hoạt động XHHGD
Đảng bộ Hà Tây luôn xác định công tác XHHGD phải đạt chất lượng hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất quản lý Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân, gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
* Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu thực hiện, phát triển công tác
xã hội hoá giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá:
- Phương hướng, nhiệm vụ phát triển công tác XHHGD
Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, có cơ chế thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi với GD&ĐT riêng của tỉnh Ngành GD&ĐT phải khắc phục những tồn tại, thiếu sót nâng cao chất lượng dạy và học để vươn lên đáp ứng yêu cầu mới
GD&ĐT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Mọi người được học, học thường xuyên, học suốt đời Thực hiện tốt cuộc vận động xã hội hoá giáo dục để mọi tổ chức, mọi người trong tỉnh đều chăm lo cho sự nghiệp GD&ĐT Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi
Phát triển GD&ĐT gắn với phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh cuả tỉnh Coi trọng phát triển cả về số lượng, chất lượng và phát huy hiệu quả Giáo dục phải phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, góp phần vào sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Tạo điều kiện để ai cũng được học hành, người nghèo được giúp đỡ học tập, người giỏi được phát triển tài năng
Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện Từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học: Mầm
Trang 31non, THPT, THCN, dạy nghề Mở rộng hình thức không tập trung: Đào tạo tại chức, đào tạo từ xa theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT
- Mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá giáo dục
Mục tiêu chủ yếu là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, ngành học; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách
và khả năng thích ứng với thực tiễn, năng lực thực hành Đồng thời tiếp tục
mở rộng quy mô ở tất cả các ngành học, cấp học, thu hút số đông người đi học ở tất cá các bậc học, các loại hình GD&ĐT
Phát triển bậc học mầm non: Huy động 35% trở lên số cháu nhà trẻ, 65% số cháu tuổi mẫu giáo đến lớp, hầu hết số trẻ 5 tuổi đến lớp và được chăm sóc giáo dục theo chương trình của Bộ GD&ĐT Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông; Giữ vững và nâng cao chất lượng PCGDTH, học sinh được học 9 môn, từng bước phấn đấu để học sinh được học 2 buổi trong ngày Hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2000, phát triển THPT Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, sức khoẻ, hướng nghiệp dạy nghề, ngoại ngữ, tin học, nâng cao năng lực tự học, thực hành cho học sinh
Phát triển ngành học thường xuyên (bổ túc văn hoá và tại chức) Giữ vững và nâng cao chất lượng XMC Phát triển chuyên đề sau XMC (Giáo dục dân số- kế hoạch hoá gia đình, giáo dục pháp luật, giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội ).Nâng cao chất lượng các lớp bổ túc văn hoá theo cấp, lớp, phục vụ cho việc phổ cập tiểu học, THCS và nâng cao trình độ cho cán
bộ cơ sở thanh niên Tăng cường mở các lớp tại chức, đào tạo từ xa nhằm nâng cao trình độ cán bộ, công nhân viên chức của tỉnh, huyện theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT
Nâng cao chất lượng các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh Chú trọng chất lượng tuyển sinh và đào tạo của 3 trường sư phạm Phấn đấu mỗi huyện có một TTHN-DN, mở các trường nghề Cố gắng có trên 25% số người lao động được đào tạo nghề vào năm 2000
Trang 32Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý Đào tạo đủ giáo viên cho các cấp học, môn học Tăng cường giáo dục chính trị, đạo đức cho giáo viên Phấn đấu 60% giáo viên mần non và giáo viên phổ thông đạt tiêu chuẩn mới, đồng thời nâng cao chất lượng bồi dưỡng thường xuyên, theo chương trình của Bộ GD&ĐT Phấn đấu 100% cán bộ quản lý được đào tạo bồi dưỡng qua các trường, lớp quản lý của Bộ GD&ĐT của tỉnh
Tích cực huy động mọi nguồn lực để xây dựng CSVC các trường học, các trung tâm giáo dục Các trường đều đảm bảo cảnh quan sư phạm Tập trung xây dựng các trường trọng điểm: Mầm non, phổ thông, TTGDTX, TTKTHN- DN để làm nòng cốt cho việc xây dựng trường, đơn vị giáo dục trong tỉnh Phấn đấu xây dựng hoàn chỉnh các trường sư phạm, trường Đại học cộng đồng
1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
1.2.1 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo xây dựng một xã hội học tập:
Tư tưởng chỉ đạo của Đảng bộ là coi GD- ĐT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, đó là một giải pháp quan trọng để phát triển giáo dục Một trong những chủ trương đó của ngành giáo dục là đẩy mạnh XHHGD, bằng con đường Đại hội giáo dục các cấp Sau quá trình nghiên cứu, chỉ đạo thí điểm thành công, ngày 10/10/1990 Bộ GD& ĐT và Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 35/TT- LT chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục và công đoàn giáo dục các cấp tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương mở Đại hội giáo dục nhằm huy động các lực lượng xã hội và nhân dân tham gia xây dựng, phát triển giáo dục, ban hành các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy nhiệm vụ XHHGD, khuyến khích các hình thức học tập cộng đồng tại thôn, xã Mô hình kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, thực hiện công bằng trong giáo dục Tạo điều kiện để mọi người được học, học thường xuyên, học suốt đời
Trang 33Thực hiện tốt cuộc vận động XHHGD để mọi tổ chức, mọi người trong Tỉnh đều chăm lo cho sự nghiệp GD- ĐT Tạo điều kiện để ai cũng được học hành, mọi người nghèo được giúp đỡ để học tập, người giỏi đựơc phát triển tài năng, từng bước xây dựng xã hội học tập, chú trọng xây dựng trường chuẩn quốc gia ở các bậc học, ngành học, củng cố và tăng cường hoạt động của HĐGD và HKH các cấp Công tác XHHGD thể hiện thông qua ĐHGD các cấp
Để làm được điều đó Đảng bộ Hà Tây đã đẩy mạnh xây dựng một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội học tập suốt đời, góp phần nâng cao trình độ phổ cập giáo dục phổ thông, tạo điều kiện cho việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tri thức và khả năng thích ứng với thị trường lao động Thực hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ngày càng cao
UBND Tỉnh đã tập trung chỉ đạo làm chuyển biến mạnh mẽ công tác XHHGD Đồng thời UBND tỉnh đã ra Quyết định 649/QĐ-UB thực hiện chế độ miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho người nghèo đi học Nhằm xây dựng một xã hội học tập, tạo điều kiện để ai cũng có thể học tập, Tỉnh đã có chính sách khuyến khích học sinh giỏi, tạo điều kiện học tập cho con em các gia đình nghèo và con em đồng bào ở vùng nông thôn, vùng núi, phấn đấu đến năm 2000 đạt phổ cập THCS Phấn đấu đến năm 2010 có
ít nhất 80% số xã có TTHTCĐ
Thực hiện chủ trương của Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Chính Phủ), Tỉnh chủ trương mở ĐHGD các cấp sớm đã được quán triệt trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, đồng thời lại được chính các đồng chí Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND, UBND các cấp chỉ đạo Do đó, hầu hết các huyện, thành, thị đều có văn bản của các cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND, các xã, phường để tổ chức ĐHGD Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ và các
Trang 34huyện uỷ đã chủ động, trực tiếp cùng các cơ quan giáo dục chỉ đạo ĐHGD đến từng huyện, xã, phường ĐHGD các cấp đã đề ra những nội dung thiết thực, phù hợp với thực trạng giáo dục và điều kiện kinh tế- xã hội của từng địa phương ĐHGD các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở đã phát huy trí tuệ, tình cảm của mọi gia đình, mọi thành viên trong xã hội chăm lo cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện cho mọi người dân được biết, được bàn, được làm, được hưởng thụ và được kiểm tra về GD-ĐT Từ đó cùng nhau đoàn kết xây dựng một cơ chế hợp lý, thống nhất để cùng làm giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, chính quyền địa phương
XHHGD nói chung, ĐHGD các cấp nói riêng đã giúp cho việc tuyên truyền, quán triệt các quan điểm đổi mới GD&ĐT của Đảng đến từng gia đình, ngay tại các cơ sở xã, phường, thị trấn, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, lợi ích của GD&ĐT trong nhân dân Trong quá trình chỉ đạo thực hiện XHHGD, nhiều cấp uỷ Đảng, HĐND, UBND đã thực sự coi giáo dục
là một bộ phận trọng yếu trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương; nên đã thường xuyên đưa công tác XHHGD vào các chương trình hội nghị, giao ban của cấp mình Nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong xã hội và vai trò của GD&ĐT đối với sự phát triển của đất nước, của địa phương, của mỗi dòng họ, gia đình và mỗi người dân
Thông qua ĐHGD, toàn ngành đã làm chuyển biến các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các cấp quản lý giáo dục, có nhận thức sâu sắc về XHHGD, coi đây là một việc có tính chiến lược tác động toàn diện và mạnh
mẽ tới sự phát triển giáo dục đào tạo của tỉnh nhà
Tỉnh tiến hành ĐHGD& thành lập HĐGD cấp tỉnh từ 1997, sớm nhất trong toàn quốc Đến nay có 100% huyện, thị xã, phường đều thành lập HĐGD và tiến hành ĐHGD lần 2, lần 3 Từ năm 1995-1996 HĐGD tiến hành họp 2 lần vào đầu năm học và đầu kỳ hai hàng năm Tỉnh Hà Tây là một trong những tỉnh có tỷ lệ cao nhất toàn quốc về mở ĐHGD, (Theo Thông tư liên tịch số 09 ngày 16/5/1992 của Bộ giáo dục và đào tạo và
Trang 35Công đoàn giáo dục Việt Nam) đưa Hà Tây trở thành một trong những tỉnh đầu tiên tổ chức ĐHGD cấp tỉnh Tỉnh thực hiện công tác XHHGD phát triển mạnh mẽ và triển khai rộng rãi tới các cấp, ngành, các đoàn thể xã hội
và nhân dân Thể hiện là sự phân cấp trách nhiệm của các cấp, ngành, các thành viên tham gia HĐGD trong việc tham gia quản lý và tăng nguồn lực cho giáo dục Nhiều địa phương đã vận dụng quyết định của tỉnh công khai, dân chủ, bàn bạc với dân để xây dựng trường lớp
Thông qua việc tổ chức ĐHGD và hoạt động của HĐGD các cấp đã góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền,
các tầng lớp nhân dân trong Tỉnh về GD-ĐT Chủ trương coi “GD-ĐT là quốc sách hàng đầu” của Đảng đã được thấm nhuần trong nhân dân và tự
giác thực hiện, là nền tảng vững chắc để phát triển sự nghiệp GD-ĐT của Tỉnh.Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể xã hội đã đưa việc thực hiện các chương trình, mục tiêu giáo dục vào Nghị quyết, kế hoạch công tác của mình, coi đó là nhiệm vụ, là tiêu chí đánh giá cá nhân và đơn vị Công tác XHHGD đã xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển giáo dục, quỹ khuyến học để động viên, khen thưởng giáo viên giỏi, học sinh giỏi, các cháu học sinh khuyết tật, các cháu có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập
Năm 1997, Tỉnh đã chỉ đạo thành lập các HĐGD từ cấp xã đến cấp Tỉnh để tiến hành công tác XHHGD.Với nhiều hình thức đa dạng và phong phú HĐGD các cấp đã tích cực xây dựng quỹ khuyến học Trung bình quỹ
ở HĐGD huyện có 200 triệu, các cấp cơ sở có từ 10 đến 15 triệu
Thực hiện Chỉ thị 29/1999 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phát huy vai trò của HKH Việt Nam trong sự nghiệp giáo dục, Tỉnh uỷ có Thông
tri số 27-TTr/TU ngày 22/6/2000 “Về việc thành lập tổ chức HKH các cấp”
Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đưa trẻ đến trường” do Bộ
GD&ĐT phát động nhằm từng bước thực hiện luật phổ cập giáo dục Tiểu học Công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện, đặc biệt đối với trẻ
em gái, người dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng
Trang 36bị thiệt thòi ngày càng được quan tâm Về cơ bản Tỉnh đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục phổ thông Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển
Đã thành nề nếp hàng năm, ngày 1- 6 tuyên dương khen thưởng học sinh giỏi, ngày 20- 11 tuyên dương khen thưởng giáo viên Công tác thi đua khen thưởng đã bước đầu xã hội hoá, thể hiện: Cơ quan nào cũng tổ chức khen thưởng học sinh giỏi là con em cán bộ đơn vị mình; địa phương nào cũng tổ chức khen thưởng thầy giáo giỏi và thầy giáo có học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp Quốc gia với mức từ 100.000 đến 1 triệu đồng
HKH Tỉnh đặc biệt coi trọng xây dựng phong trào gia đình hiếu học, gắn chặt với dòng họ, khu phố, làng khuyến học.Từ nhiều năm nay, Hội đã thưởng và trao bảng vàng khuyến học cho các gia đình hiếu học Nhân dịp đại hội các gia đình hiếu học từ cơ sở đến các huyện, thành phố, được Hội thưởng trên 30 triệu đồng, cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, vượt lên học giỏi hàng năm Nhờ vậy, tỷ lệ người đi học so với số dân đạt gần 28% tổng dân số trong Tỉnh, là Tỉnh có tỷ lệ số người đi học cao trong cả nước
1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo thực hiện đa dạng hoá các loại hình giáo dục:
Để thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác XHHGD Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn năm 1996- 2000 và có những chỉ đạo cụ thể để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước
Đảng bộ tỉnh Hà Tây đã chủ trương giữ gìn vai trò nòng cốt của các trường công lập, đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT Phát triển các trường bán công, dân lập ở nơi có điều kiện Từng bước mở các trường
tư thục ở một số bậc học: Mầm non, THPT, Trung học chuyên nghiệp, Dạy nghề Mở rộng hình thức đào tạo không tập chung: Đào tạo tại chức, đào tạo
từ xa theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, từng bước hiện đại hoá hình thức giáo dục Khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước bằng hình thức phù hợp
Trang 37với quy hoạch phát triển, yêu cầu, đặc điểm giáo dục ở từng vùng, miền Chuyển các cơ sở giáo dục công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi, thường xuyên nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục; đảm bảo quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người học
Củng cố các ngành học, cấp học hiện có, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, nâng cao phẩm chất năng lực của giáo viên và chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh, giữ vững và nâng cao chất lượng các trường chuyên, lớp chọn, có biện pháp đồng bộ để giảm số học sinh bỏ học nhất là ở cấp THCS Toàn tỉnh hoàn thành phổ cập cấp THCS tiến tới đa dạng hoá hình thức học cấp 2 để đạt phổ cập THPT Mở rộng dạy nghề trong các trường trung học, phát triển cấp 3, tổ chức học tin học, ngoại ngữ để tăng cường giao lưu quốc tế Mở rộng các cơ sở dạy nghề bằng mọi hình thức, đáp ứng yêu cầu về nhân lực và kỹ thuật
UBND tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo thành lập ở mỗi xã, phường một trường mầm non do UBND xã quản lý UBND xã chịu trách nhiệm xây dựng CSVC và chăm lo những trang thiết bị trọng yếu Sở GD-ĐT đã có trách nhiệm hướng dẫn việc thành lập trường mầm non ở tất cả các xã, phường trên phạm vi toàn Tỉnh Theo Chỉ Thị mỗi xã, phường có ít nhất một trường mầm non và 2 biên chế nhà nước làm công tác quản lý Nhờ vậy, giáo dục mầm non được duy trì phát triển các trường, lớp tư thục, dân lập được phát triển dưới nhiều dạng phong phú, nhất là các nhóm trẻ gia đình
Năm 1996 Về GDMN, trong Tỉnh khắc phục ngay tình trạng xã trắng
về giáo dục mầm non, số cháu ra nhà trẻ, đến trường mẫu giáo vượt quy định theo vùng tại Quyết định 161/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ; chất lượng chăm sóc trẻ em phải được nâng cao về mặt chất lượng Hầu hết các
cơ sở giáo dục mầm non đều nghiên cứu thực hiện chương trình giáo dục do
Bộ GD-ĐT ban hành, thông qua việc tổ chức các chuyên đề và những hội
Trang 38thi Qua kết quả khảo sát đánh giá trẻ 5 tuổi Sở GD-ĐT đã động viên, chỉ đạo các trường, các cơ sở mầm non cải tiến phương pháp chăm sóc, giáo dục các cháu, tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình, phát triển việc tuyên truyền phương pháp giáo dục trẻ em theo khoá học cho các bậc phụ huynh ông bà, cha mẹ
Năm 1997, mạng lưới trường học mầm non phát triển rộng khắp trong Tỉnh Toàn Tỉnh có 347 trường công lập, bán công, dân lập, tư thục tăng 74 trường so với năm ngoái
Tỉnh chỉ đạo lập lại trật tự kỷ cương trong GD&ĐT, không tổ chức lớp chọn ở các cấp học, không tổ chức trường chuyên ở bậc Tiểu học và THCS, cấm dạy thêm tràn lan, quy định các khoản thu phí
Năm 1992, toàn Tỉnh có 305 trường tiểu học, đến năm 2002 có 350 trường, bình quân tăng 0,6%/năm Mỗi xã, phường trong tỉnh đều có ít nhất
1 trường tiểu học, một số nơi ở mỗi cụm dân cư có 1 cụm lớp học, đảm bảo thuận tiện cho học sinh đi học Nhìn chung, việc đa dạng hoá các loại hình giáo dục ở hệ tiểu học còn hạn chế Toàn tỉnh mới có 1 trường tiểu học dân lập với quy mô còn rất nhỏ Quá trình đa dạng hoá các loại hình trường lớp
ở cấp tiểu học của Tỉnh còn diễn ra chậm, chưa phát triển Nguyên nhân là
do số trường công lập đã đáp ứng đủ nhu cầu học tập của con em nhân dân trong tỉnh và số lượng học sinh hàng năm không tăng mà có xu hướng giảm
do thực hiện kế hoạch hoá gia đình Số học sinh từ năm 1991 đến năm 2001 giảm 39,792 học sinh (khoảng 4000 học sinh/năm), nhịp độ giảm bình quân
số học sinh vào giai đoạn 1996-2000 là 2,4%
Hệ thống các trường THCS đã đảm bảo nhu cầu học tập của con em nhân dân trong Tỉnh Mỗi xã, phường trong Tỉnh đều có ít nhất một trường THCS, hầu hết là các trường công lập, số trường THCS tăng đều hàng năm, nhưng ở mức thấp Năm 1992 có 318 trường đến năm 2001 có 328 trường, như vậy trung bình hàng năm tăng 0,31%, tức là trung bình mỗi năm có một trường THCS mới
Trang 39Từ năm 1999, ngành giáo dục Tỉnh bắt đầu thí điểm tuyển sinh hệ bán công tại 14 trường THCS chất lượng cao trong Tỉnh, song việc đa dạng hoá các loại hình trường lớp còn chậm Toàn Tỉnh chỉ có một trường dân lập liên cấp 2-3, với quy mô còn rất nhỏ, trường chỉ có 4 lớp với 113 học sinh và số lượng học sinh không tăng qua 2 năm học 2000-2001 Sau khi bắt đầu thí điểm tuyển sinh hệ bán công vào năm 1999 thì đến năm 2001 đã có 44 lớp, với 2244 học sinh Số lượng và quy mô trường bán công còn hạn chế, năm
2001 số lớp bán công chỉ bằng 0,86% số lớp công lập và chỉ thu hút được 1,06 tổng số học sinh THCS toàn Tỉnh.Tuy nhiên so với năm 2000 số lớp đã tăng 120%, và số học sinh tăng 136%.{84, Tr.2}
Nhìn chung, công tác thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp THCS bước đầu đã có kết quả tốt, phát triển nhanh về số lớp cũng như số học sinh Tuy nhiên các quy mô của loại hình bán công, dân lập còn nhỏ bé, chỉ có lớp bán công chứ chưa có trường bán công, cơ sở vật chất của loại hình bán công chủ yếu vẫn là của các trường công lập
Năm 2000 toàn Tỉnh có 58 trường THPT, mỗi huyện, thị xã đều có ít nhất 2 trường, so với năm 1997 tăng 17 trường Việc đa dạng hoá các hình thức giáo dục đối với bậc THPT đã bước đầu có kết quả, tỷ lệ trường bán công, dân lập chiếm 19% Từ năm 1999 đến năm 2000 có thêm 2 trường bán công mới, tăng 33,3% so với năm trước
Nhìn chung, quá trình đa dạng hoá các loại hình trường lớp ở cấp THPT phát triển khá mạnh mẽ cả về quy mô, tốc độ và chất lượng Các trường, lớp bán công này đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của Tỉnh trong những năm qua Hàng năm thu hút hàng chục nghìn học sinh, góp phần làm giảm sự quá tải cho các trường công lập Tuy nhiên, các trường dân lập quy mô còn nhỏ, mới chỉ có 3 trường với 17 lớp học, các trường dân lập này chưa thu hút được nhiều học sinh (ở cả 3 lớp chỉ thu hút được 885 học sinh), các trường bán công vẫn chưa tách được cơ sở vật chất
ra khỏi trường công lập
Trang 40Tỉnh chỉ đạo xây dựng mô hình trường Tiểu học và Trung học trọng điểm chất lượng cao được xây dựng, áp dụng phương pháp dạy học tích cực
để nhân rộng trong toàn Tỉnh, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu của công cuộc CNH- HĐH đất nước Bước đầu đưa nội dung dạy nghề, giáo dục dân số, tin học vào nhà trường Chất lượng dạy và học có tiến bộ
Có 716.877 học sinh phổ thông chiếm 28% dân số của Tỉnh, là Tỉnh có tỷ lệ người đi học cao
Duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng các trường THPT hiện có (trong mỗi trường có bộ phận bán công) Năm 1997-1998 trường chuyên Nguyễn Huệ được tập hợp từ các lớp chuyên của THPT Lê Quý Đôn, Quang Trung, Quốc Oai thành trường chuyên của Tỉnh; hai trường trọng điểm chất lượng cao là trường trung học chuyên ban Lê Quý Đôn thị xã Sơn Tây và trường trung học chuyên ban thị xã Sơn Tây
Nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo cho phù hợp với từng địa phương, Tỉnh chỉ đạo về cơ chế quản lý, trước 1998 Hà Tây thực hiện chính sách phân cấp quản lý, Sở GD&ĐT quản lý trực tiếp trên 3 lĩnh vực chuyên môn, tài chính, tổ chức cán bộ ở tất cả các cấp học Từ 11/1998 theo phân cấp của UBND tỉnh, ngành chỉ quản lý các trường THCS, các TTGDTX, TTKHTH-HN và trường cao đẳng sư phạm cả về chuyên môn, tài chính và
tổ chức Đối với mầm non, tiểu học, THCS ngành chỉ quản lý về chuyên môn còn tài chính và tổ chức cho UBND các huyện, thị xã trực tiếp quản lý sang trường bán công
Các trung tâm như Tin học, ngoại ngữ, trung tâm giáo dục thường xuyên tiếp tục phát triển, phục vụ nhu cầu học tập của nhân dân để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH
Tỉnh chỉ đạo mỗi huyện, thị xã thành lập một trung tâm hướng nghiệp- dạy nghề Mở TTHN-DN để làm nhiệm vụ hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS, THPT, mở rộng việc dạy nghề cho nhân dân, đặc biệt là các tầng lớp thanh niên, góp phần thực hiện mục tiêu