1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công tác vận động phụ nữa của đang ở vùng tự do trong kháng chiến chông thực dân pháp xâm lược từ 1946 1954

139 611 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi đã khẳng định đường lối cách mạng của Đảng trong đó có việc lãnh đạo Hội LHPN Việt Nam và vận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

1.1 Chủ trương vận động phụ nữ của Đảng giai đoạn 1946 - 1950 9

1.1.1 Vài nét về công tác vận động phụ nữ của Đảng trước năm 1946 9 1.1.2 Chủ trương vận động phụ nữ của Đảng giai đoạn 1946 - 1950 13

1.2 Quá trình Đảng chỉ đạo công tác vận động phụ nữ ở vùng tự do giai đoạn 1946 - 1950 25 1.2.1 Quá trình chỉ đạo công tác vận động phụ nữ của Đảng từ năm

2.1.2 Chủ trương vận động phụ nữ của Đảng giai đoạn 1950 - 1954 49

2.2 Quá trình Đảng chỉ đạo công tác vận động phụ nữ ở vùng tự do

Trang 3

2.2.1 Quá trình chỉ đạo công tác vận động phụ nữ của Đảng từ năm 1950

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Vị trí và vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam đã được lịch sử khẳng định và ghi nhận Ngay khi ĐCSVN được thành lập, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã

ghi “nam nữ bình quyền” Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng đối với phụ

nữ trong vấn đề bình đẳng giới Xác định phụ nữ là lực lượng to lớn của cách mạng, Đảng đã đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ; phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ

nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng Ngày 20/10/1930, Phân hội Đông Dương phụ nữ Liên hiệp hội (sau này là Hội LHPN Việt Nam) chính thức được thành lập thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với phụ nữ và

sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Từ năm 1930 - 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã trực tiếp tham gia diệt giặc và tham gia các phong trào cách mạng khác do Đảng lãnh đạo Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19 - 12 - 1946), hình thái chiến trường dần dần được phân thành hai vùng khá rõ đó là vùng bị thực dân Pháp chiếm đóng và VTD VTD là vùng dân cư không bị đối phương chiếm đóng trong chiến tranh,

là một bộ phận của hậu phương quốc gia đồng thời là hậu phương trực tiếp cho chiến trường kế cận Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), trên địa bàn cả nước có nhiều VTD rộng lớn hàng vạn kilômét vuông và hàng triệu dân như: Việt Bắc, Liên khu IV (Thanh Hoá - Nghệ An - Hà Tĩnh), Liên khu V (Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên) Đại hội II ĐCSĐD họp, quyết định đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam, công khai trực tiếp lãnh đạo và tổ chức công cuộc kháng chiến Từ đây hậu phương kháng chiến được mở rộng, đặc biệt là các VTD ở Việt Bắc, Khu IV và Khu V được củng cố vững chắc thành hậu phương chiến lược của kháng chiến

Trang 6

Ở các tỉnh trong VTD, một lực lượng lớn thanh niên khoẻ mạnh được huy động ra tuyến trước Một số đi làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào, Campuchia Lực lượng ở lại sản xuất, chăn nuôi, chăm lo gia đình, nuôi dạy con cái, phục vụ tiền tuyến, hoàn thành mọi mặt công tác hậu phương, phần lớn do phụ nữ đảm nhận

Vì vậy, làm thế nào để vận động quần chúng (chủ yếu là phụ nữ) tăng gia sản xuất tích cực xây dựng và bảo vệ hậu phương kháng chiến và tham gia chi viện cho tiền tuyến là một vấn đề hết sức quan trọng của Đảng

Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi đã khẳng định đường lối cách mạng của Đảng trong đó

có việc lãnh đạo Hội LHPN Việt Nam và vận động phụ nữ tham gia kháng chiến là một nhân tố quan trọng

Chính vì vậy, nghiên cứu những chủ trương của Đảng đối với công tác vận động phụ nữ ở VTD trong kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến năm 1954, không chỉ làm sáng tỏ sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo của Đảng đối với PTPN nói riêng, phong trào cách mạng của cả nước nói chung mà còn có ý nghĩa góp phần nghiên cứu lịch sử PTPN - một bộ phận của lịch sử dân tộc Giá trị thực tiễn to lớn của đề tài là góp phần thay đổi cách nhìn của xã hội về vai trò và vị trí của phụ nữ, từ đó góp phần đẩy mạnh tiến trình bình đẳng giới ở Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và dưới sự hướng dẫn của

PGS TS NGƯT Ngô Đăng Tri, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Công tác

vận động phụ nữ của Đảng ở vùng tự do trong kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến năm 1954” làm đề tài luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chủ trương vận động phụ nữ của ĐCSVN là một vấn đề có giá trị lý luận

và thực tiễn rất lớn nên đã thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu

Trước hết phải kể đến những quan điểm cơ bản về công tác vận động phụ nữ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong các tác phẩm của Người in

Trang 7

phụ nữ nhân dịp xuân Bính Tuất 1946 (Tập 4), Phụ nữ kiểu mẫu (Tập 6), Thư gửi phụ nữ (tập 6)… Hay quan điểm vận động phụ nữ của cố tổng bí thư Lê

Duẩn (1967) trong cuốn Phải đứng lên trên quan điểm giai cấp mà nhận xét

vấn đề phụ nữ (In lần 3), Nxb Phụ nữ

Những công trình tìm hiểu và giới thiệu về các phong trào đấu tranh của

phụ nữ cả nước cũng như của phụ nữ từng vùng, từng địa phương như: Những

nét sơ lược về phong trào phụ nữ từ ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Nxb phụ nữ, 1961; Nguyễn Thị Thập (Cb) (1980), Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam (tập1), Nxb Phụ nữ; Lê Hải Triều (Cb), Nguyễn Tiến Hải, Lê

Thị Xuân (2007), Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và

công cuộc giải phóng đất nước, Nxb Văn hoá Thông tin; Hội LHPN Việt

Nam, Thành hội LHPN Liên khu 3 (2002), Lịch sử phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ

trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954), Nxb

Lao động xã hội; Lịch sử phong trào phụ nữ Hà Nội (từ 1927 đến 1945), Nxb

Hà Nội, 1983; Lịch sử phong trào phụ nữ Hà Tĩnh (Sơ thảo), tập 1; Trần Mạnh Tường, Trần Thị Hà Nhi (2004), Truyền thồng cách mạng của phụ nữ

tỉnh Bình Thuận (1913 - 2000),… Những công trình này chủ yếu giới thiệu về

hoạt động của Hội LHPN các tỉnh và các phong trào do Hội phát động cũng như thành tích đã đạt được

Bên cạnh đó còn có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu về các VTD của cả nước trong kháng chiến chống Pháp như: Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân

sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân; Ngô Đăng Tri (2001), Vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh trong

kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), Nxb Chính trị Quốc gia; Lê Văn Đạt

(2002), Vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -

1954), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội…

Những công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu về vấn đề vận động phụ nữ cũng như về quan điểm của Hồ Chí Minh về vận động phụ nữ như:

Đặng Thị Vân Chi (2007), Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách

Trang 8

mạng tháng 8 năm 1945, LATS Lịch sử; Lê Thị Hà (2008), Đảng với cuộc vận động phụ nữ thời kỳ 1930 - 1945, LVTH Lịch sử; Dương Thoa (1982), Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ Nữ; Trường Diệu Hải An (2009),

“Chủ Tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, Tạp chí lý luận

chính trị và truyền thống (số tháng 12 1859 - 145); Nguyễn Văn Dương (2008),

“Bác Hồ với vấn đề phụ nữ”, Tạp chí kiểm toán (số 3 - 88)…

Tuy nhiên, các văn kiện và những công trình nghiên cứu này chỉ nghiên cứu về các vấn đề riêng lẻ hoặc chung chung mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống các chủ trương, quan điểm lãnh đạo và sự chỉ đạo của Đảng về công tác vận động phụ nữ ở VTD trong kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến năm 1954

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Tập hợp hệ thống tư liệu về công tác vận động phụ nữ trong kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng

- Trình bày quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác vận động phụ nữ ở VTD từ năm 1946 đến năm 1954

- Khẳng định những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo thực hiện công tác vận động phụ nữ của Đảng ở VTD từ năm 1946 đến năm 1954

- Rút ra những đặc điểm và những kinh nghiệm phục vụ công tác vận động phụ nữ của Đảng trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 9

Quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác vận động phụ nữ và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác vận động phụ nữ của Đảng ở VTD từ năm 1946 đến năm 1954

Về không gian: ở các VTD lớn của cả nước như: Liên khu Việt Bắc, Liên

khu IV (Thanh - Nghệ - Tĩnh), Liên khu V (Nam - Ngãi - Bình - Phú)…

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh về công tác vận động quần chúng

Phương pháp nghiên cứu là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, và

các phương pháp khác như phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh…

Nguồn tư liệu là: Các văn kiện Đại hội, các NQ của BCH TW Đảng, các

văn kiện Đại hội, NQ Hội nghị của Hội LHPN Việt Nam, các bài viết của Hồ Chí Minh và các tài liệu khác có liên quan đến công tác vận động phụ nữ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nguồn tài liệu bảo tàng là các hồi ký của các cán

bộ lão thành cách mạng của Hội LHPN Việt Nam, những người trực tiếp làm công tác phụ vận, từng tham gia hoạt động từ thời kỳ tiền khởi nghĩa và trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 10

nghiệp kháng chiến kiến quốc và rút ra các đặc điểm, kinh nghiệm phục vụ thực tiễn hiện nay

- Góp thêm nguồn sử liệu phục vụ công tác nghiên cứu về lịch sử Đảng nói chung và lịch sử PTPN nói riêng

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1: CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ CỦA ĐẢNG

Ở VÙNG TỰ DO GIAI ĐOẠN 1946 - 1950

1.1 Chủ trương vận động phụ nữ của Đảng giai đoạn 1946 - 1950

1.1.1 Vài nét về công tác vận động phụ nữ của Đảng trước năm 1946

Từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhiều phong trào yêu nước của nhân dân ta trong đó có phụ nữ tham gia đã nổi lên mạnh mẽ nhằm chống lại ách thống trị của thực dân phong kiến Tiêu biểu như bà Tư So trong phong trào Cần Vương, bà Ba Cẩn trong cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, bà Ấu Triệu,

bà Đinh Phu nhân trong phong trào Đông kinh nghĩa thục, phong trào Đông Du Tuy nhiên tất cả các phong trào yêu nước đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối sâu sắc, đòi hỏi phải có một đường lối chính trị đúng đắn và một người chèo lái vững vàng cho con thuyền cách mạng Việt Nam

Là người cộng sản đầu tiên, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại, vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, khẳng định con đường duy nhất đúng đắn để đánh đổ

thực dân phong kiến là con đường cách mạng vô sản Người đã chỉ rõ: “Phụ nữ

Việt Nam chiếm số đông trong nhân dân lao động không những bị áp bức về dân tộc, về giai cấp mà họ còn bị giáo lý phong kiến kìm hãm trói buộc nên họ

có tinh thần đấu tranh cách mạng mạnh mẽ Có phụ nữ tham gia thì cách mạng mới thành công, mặt khác, chỉ khi nào cách mạng thành công, dân tộc được độc lập, giai cấp được giải phóng, thì phụ nữ mới được giải phóng” [85, tr 31]

Trong các bài giảng cũng như trong các hoạt động thực tiễn, đồng chí còn chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa sự nghiệp giải phóng phụ nữ với giải phóng dân

tộc và giải phóng giai cấp: “giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng dân

tộc và giải phóng giai cấp” và “giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cũng là con đường giải phóng phụ nữ”

Trang 12

Từ nước ngoài, đồng chí đã viết nhiều sách báo để chuyển về nước, mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo những cán bộ đầu tiên cho phong trào cách mạng Việt Nam, trong đó có cán bộ phụ nữ Hai đại diện nữ được Người trực tiếp đào tạo là bà Lý Phương Thuận và bà Lý Phương Đức Người đã tổ chức ra

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, tiền thân của Đảng Cộng sản Tổ chức này

đã thu hút nhiều hội viên phụ nữ từ Bắc chí Nam

Ngày 3 - 2 - 1930, ĐCSVN được thành lập, trong Chính cương, sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo được thông qua tại Hội nghị thành

lập Đảng cũng đã khẳng định, về phương diện xã hội thì “nam nữ bình quyền”

Trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Thanh niên Đoàn (từ địa phương đến Trung ương) cần phải tổ chức ra ban phụ nữ hoặc là người chuyên môn phụ trách Trong Đảng thường phải thảo luận công việc phụ

nữ vận động và cách làm việc Phải đem phụ nữ công nông vào công nông hội cho đông; lại cần phải đem họ vào các cơ quan chỉ huy để tập làm công việc lãnh đạo quần chúng… Muốn thâu phục cho được hết các phần

tử phụ nữ thì ngoài sự cộng tác trong phụ nữ công nông ra, Đảng lại phải

cần tổ chức ra các đoàn thể Phụ nữ hiệp hội mục đích là mưu quyền lợi

cho phụ nữ, làm cho phụ nữ được triệt để giải phóng, để thâu phục cho hết đám phụ nữ lao khổ như vợ công nhân, người buôn gánh, bán bưng và tất

cả những đám phụ nữ mà không thể tổ chức vào công nông hội được” [98,

Trang 13

Về việc thành lập Ban vận động phụ nữ, NQ chỉ rõ: Trong các Đảng bộ thượng cấp (từ thành và tỉnh uỷ trở lên) phải tổ chức các ban chuyên môn về các giới vận động: công nhơn vận động, nông dân vận động, quân sự vận động, phụ nữ vận động… Phải chú ý lấy thợ thuyền vào Đảng và đem phụ nữ vào các ban cán sự Phải chú ý huấn luyện các đồng chí phụ nữ ở trong các cơ quan và không nên ép họ ở lâu trong cơ quan [98, tr 113-114]

Ngày 9 tháng 12 năm 1930, Thư của TW gửi cho các cấp bộ Đảng có nói

về Phụ nữ vận động như sau: “công việc về phụ nữ vận động thì từ Đảng cho

đến công, nông hội phải lưu ý hơn trước, phải tổ chức ra bộ phận phụ nữ vận động và kiếm cách mà tổ chức những cuộc hội nghị phụ nữ để mà bàn định kế hoạch phát triển phụ nữ vận động” [98, tr 241]

Tháng 3 - 1931, trong Án Nghị quyết của Hội nghị TW lần thứ hai có

nêu ra công việc trong chi bộ: “Nếu trong nhà máy có công nhân là đàn bà thì

chi bộ phái một hay hai đảng viên để công tác trong đám họ, theo kế hoạch của hội phụ nữ khu ủy hay thành ủy Dầu trong nhà máy không có phụ nữ công nhân cũng cần cử người vận động trong đám vợ con công nhân Mấy người phụ trách đó lại hết sức liên lạc với phụ nữ ở công hội” [99, tr 111]

Ngày 28 - 3 - 1935, trong NQ về Phụ nữ vận động, TW Đảng ghi: Mỗi cấp đảng bộ phải lập một ban ủy viên phụ nữ, người phụ trách ban ấy được quyền tham dự các hội nghị của đảng ủy trong Đảng, được biểu quyết về các vấn đề phụ nữ Nếu người ấy không có chân trong đảng ủy thì đối với các vấn

đề khác chỉ có quyền thảo luận và đề nghị Tốt nhất là lấy đàn bà làm người phụ trách, nhưng nếu không có đàn bà thì lấy đồng chí đàn ông vào thế…

Phải có tài liệu tuyên truyền riêng cho phụ nữ, các cấp ủy viên phụ nữ của Đảng nên thiết pháp ra báo riêng cho quần chúng phụ nữ đọc, các báo của Đảng, của Đoàn và của các đoàn thể cách mạng khác, mỗi lần cần bàn đến vấn

đề phụ nữ vận động

Chống các xu hướng đầu cơ, miệt thị phụ nữ vận động Chống hết các lý thuyết phản động của bọn tư sản và phong kiến ngăn cản cuộc tranh đấu cách

Trang 14

mạng của phụ nữ vận động Hết sức gỡ mặt nạ bọn “Phụ nữ tân văn”, “Đàn bà

mới”, “Phụ nữ tân tiến”, các bọn lãnh tụ quốc gia cải lương vừa cả đàn ông,

đàn bà; các “bà” lãnh tụ các HPN tư sản Phụ nữ là một lực lượng cách mạng

rất lớn Đảng ta phải hết sức chú ý đem phụ nữ vào trường tranh đấu, phải kéo

họ tham gia các hình thức công tác cách mạng tranh đấu [100, tr 63-68]

Cuối năm 1935, Trong dự thảo Cương lĩnh của ĐCSĐD và vấn đề phụ

nữ chỉ rõ: Chống những tập quán duy trì người phụ nữ trong cảnh nô lệ, trong tình trạng bất bình đẳng với nam giới Bình đẳng nam giới Tiền công ngang nhau đối với nam và nữ công nhân; cấm dùng đàn bà, trẻ con làm ban đêm, ở những nơi độc hại; bốn giờ lao động mỗi ngày đối với trẻ con từ 10 đến 14 tuổi,

và sáu giờ đối với trẻ con từ 16 đến 18 tuổi Xây dựng trường dạy nghề, dạy chữ cho những người lao động trẻ Nghỉ hai tháng trước và hai tháng sau khi sinh đẻ với tiền lương đầy đủ do chủ và nhà nước trả Xây dựng vườn trẻ cho con cái người lao động mà không phải trả tiền [100, tr 456]

Trước những vận hội mới của đất nước, thời kì vận động dân chủ 1936 -

1939, Đảng ta đã kịp thời đưa ra những chủ trương mới về công tác tổ chức, cụ thể đối với phụ nữ, nhấn mạnh: cần lập ra các HPN công khai và bán công khai… để binh vực quyền lợi chung cho các lớp dân chúng và riêng cho phụ nữ

như: “Hội phụ nữ dân chủ”, “Hội phụ nữ giải phóng”, “Hội phụ nữ tân tiến”,

“Hội phụ nữ hỗ trợ”… Ở những địa phương có nhiều tổ chức phụ nữ với các tên

gọi khác nhau thì lập ra “Phụ nữ liên hiệp hội” để thống nhất lại [101, tr 244]

Tháng 11 - 1939, trước tình hình chính trị thế giới và trong nước có sự thay đổi, Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 6 đã quyết định thành lập MTDT thống nhất phản đế nhằm đánh đổ thực dân Pháp và bọn tay sai Đảng chủ

trương: “Vận động phụ nữ tổ chức hội phụ nữ phản chiến, phản đế, các hội cứu

tế để giúp đỡ nhau, nhất là giúp đỡ những nạn nhân do chiến tranh gây ra; đòi trợ cấp đầy đủ cho vợ con binh lính, đòi trả chồng con, chống đế quốc chiến tranh, đòi hòa bình” [45, tr 45]

Trang 15

Cuối năm 1939, trong Những chính sách mới của Đảng, TW Đảng đã thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ về chỉnh đốn phụ nữ: Những nơi nào có

đồng chí và HPN phải có tổ chức ngay ủy ban phụ nữ để lôi kéo tất cả các giai

cấp phụ nữ vào hội, điều cần hơn hết là phải liên lạc cho được những người vợ lính và những người chồng họ sắp vào lính lấy danh nghĩa giúp đỡ nhau trong khi chồng hay con vắng mặt, địa phương nào chưa có phụ nữ, các đồng chí phải đem

hết năng lực ra hoạt động tổ chức cho được các ủy ban phụ nữ [101, tr 758]

Từ ngày 25 đến 27 - 9 - 1941, trong NQ của cuộc Hội nghị cán bộ toàn

xứ Bắc Kỳ đề ra nhiệm vụ của Đảng trong thời gian này là động viên phụ nữ gia nhập mặt trận Việt Minh, gia nhập các đoàn thể cứu quốc, đánh Pháp đuổi Nhật Cụ thể là vận động phụ nữ tham gia luyện tập quân sự; nuôi dấu, bảo vệ cán bộ; tham gia khởi nghĩa giành chính quyền; góp phần xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân và đóng góp sức người sức của cho kháng chiến

Trước năm 1946, đặc biệt là trong giai đoạn 1930 - 1941, về cơ bản, quan điểm, đường lối của Đảng về vận động phụ nữ là nằm trong đượng lối chung của Đảng về vận động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh đánh đuổi thực dân Pháp Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức Hội PNVN đã căn bản thành lập có hệ thống từ cấp TW đến các xứ, tỉnh, thành, huyện và cơ sở Chính hệ thống tổ chức đó đã có vai trò quan trọng trong tuyên truyền, giác ngộ, vận động, tập hợp chị em phụ nữ vào trong tổ chức của giới và tham gia các tổ chức khác, tham gia các mặt trận dân tộc, dân chủ như một thành viên quan trọng, không thể thiếu

1.1.2 Chủ trương vận động phụ nữ của Đảng giai đoạn 1946 - 1950

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa được thành lập đã phải đối mặt với những khó khăn vô cùng to lớn Sau nhiều năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân lực, vật lực, tài lực của đất nước ta đã bị vơ vét đến cạn kiệt Trong khi đó, bọn thực dân Anh và quân Tầu Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa là quân Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật nhưng thực chất là để giúp

Trang 16

quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, đồng thời giúp bọn phản động trong nước chống phá cách mạng Việt Nam, phá hoại chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ Những khó khăn to lớn đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái

quát bằng ba loại giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW Đảng một mặt tìm cách

đưa dần những đội quân nước ngoài ra khỏi đất nước, cố kéo dài thời gian hoà hoãn để chuẩn bị lực lượng và tập trung vào cuộc chiến tranh lâu dài chống thực dân Pháp, một mặt xây dựng và kiến thiết quốc gia, tổ chức các cuộc vận động, các phong trào chống giặc đói, giặc dốt

Để thực hiện được mục tiêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ ta đã lãnh đạo toàn dân thiết lập và củng cố bộ máy và cơ chế hoạt động của toàn bộ hệ thống chính quyền cách mạng trên phạm vi cả nước Đồng thời đưa ra những chủ trương thành lập, xây dựng và phát triển nhiều tổ chức, nhiều đoàn thể nhằm tập hợp, huy động rộng rãi; động viên, khích lệ mạnh mẽ đông đảo quần chúng yêu nước ở mọi lĩnh vực, mọi thành phần, mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi đảng phái đoàn kết, tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc của đất nước, tạo thêm thế và lực đối phó với những diễn biến phức tạp của tình

hình “ngàn cân treo sợi tóc” lúc đó

Về công tác phụ vận Đảng chủ trương: Công tác chính của phụ nữ là tăng gia sản xuất, vì nam giới phải ra trận nhiều, thiếu nhân công Các công tác phụ thuộc của phụ nữ là cứu tế nạn dân, úy lạo bộ đội, phá hoại, chống nạn mù chữ, vận động đời sống mới, tuyên truyền kháng chiến, đánh du kích Chú ý cải thiện sinh hoạt cho phụ nữ công nhân và nông dân [104, tr 41-42] Tuy nhiên, tuỳ vào tình hình chính trị của từng vùng, từng giai đoạn cụ thể mà chúng ta đề ra những chủ trương công tác phụ vận cho phù hợp

Đối với Đoàn PNCQ, Đảng chủ trương củng cố hệ thống tổ chức từ TW đến địa phương, phát triển hội viên và tiến tới thành lập một tổ chức rộng rãi hơn cho phụ nữ Việt Nam với mục đích tập hợp, thống nhất lực lượng phụ nữ

Trang 17

Nhận Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng đã gặp đồng chí Lê Thu Trà, Chủ tịch Hội PNCQ thành Hoàng Diệu (Hà Nội) kiêm Trưởng ban Liên lạc Phụ nữ Bắc Bộ đề nghị xúc tiến việc thành lập Hội LHPN Việt Nam Đồng chí Lê Thu Trà đã viết đơn gia nhập Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ thế giới và báo cáo với TW Đảng xin thành lập Hội LHPN Việt Nam Ngay sau đó, vào ngày 17 - 10 - 1946, xuất hiện Hiệu triệu của Hội LHPN Việt

Nam Hiệu triệu có đoạn: “Hội phụ nữ Việt Nam thành lập, nhận lấy sứ mệnh

đoàn kết toàn thể phụ nữ Việt Nam để cùng nhau giải quyết bao nỗi lo sợ, băn khoăn, đau xót ấy Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quyết tâm tạo điều kiện cho chị em bạn gái tiến mạnh về đức dục và trí dục để chóng thực hiện triệt để nguyên tắc nam nữ bình quyền Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tự nguyện làm người bạn của những người cùng khổ và người mẹ của các trẻ em nghèo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đứng trong Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, tự nguyện hết sức ủng hộ nền dân chủ cộng hòa của nước Việt Nam, cái chính thể thuận tiện cho việc phát triển tài năng của phụ nữ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tự coi mình là một bộ phận của Hội phụ nữ Quốc tế, kiên quyết ủng hộ nền hòa bình thế giới ” [48, tr 16]

Ngày 20 - 10 - 1946, Hội LHPN Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội Bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Ở các cấp địa phương, công tác thực hiện chủ trương thành lập Hội LHPN Việt Nam được tiến hành mau lẹ, khẩn trương từ cuối năm 1946 đến đầu năm 1947

Có thể nói, thành công của cuộc vận động gia nhập Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế và sự ra đời của Hội LHPN Việt Nam gắn liền với vai trò, tâm huyết của các vị lãnh đạo Đảng, đặc biệt là của Chủ tịch Hồ Chí Minh Không những thế sự thành lập Hội LHPN Việt Nam đã dánh dấu bước trưởng thành vượt bậc trong tư duy của Đảng về công tác vận động phụ nữ Thực tế đã chứng minh rằng việc vận động quần chúng nói chung và vận động phụ nữ nói riêng,

Trang 18

hữu hiệu nhất là thu hút họ vào tổ chức Chỉ khi vào tổ chức, khả năng của chị

em mới được phát huy đầy đủ nhất

Từ ngày 3 đến 6 - 4 - 1947, NQ của Hội nghị cán bộ TW đã đề ra chủ trương chấn chỉnh Hội LHPN Việt Nam và một số nhiệm vụ quan trọng của

công tác phụ vận trong giai đoạn này là: “Cổ động phụ nữ tham gia các việc úy

lạo binh sỹ, cứu thương, tuyên truyền xung phong, tiếp tế, tăng gia sản xuất, Giúp đỡ các gia đình chiến sỹ Chấn chỉnh Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Triệt để bài trừ nạn xích mích đố kỵ trong các cơ quan phụ vận, hay giữa các cán bộ phụ nữ Đào tạo cán bộ phụ nữ, dần dần đưa cán bộ phụ nữ lên các cơ quan chỉ đạo của đoàn thể” [103,tr 193] NQ Hội nghị quyết định thành lập

Ban phụ vận Bắc Bộ tại Việt Bắc

Chấp hành NQ TW, ngày 12 - 7 - 1947, Hội nghị khu ủy II và các bí thư tỉnh ủy họp cũng đề ra NQ về công tác phụ vận nêu chủ trương: Phải trả cán bộ phụ nữ trở về phụ vận Thành lập ban phụ vận khu, các tỉnh Định rõ sự liên lạc, nhiệm vụ giữa Ban phụ vận khu và các tỉnh Mở những lớp huấn luyện để đạo tạo cán bộ phụ nữ theo chương trình đã có sẵn Hội nghị còn nhấn mạnh đến vấn đề: giải quyết vấn đề cán bộ phụ nữ có con, và cất nhắc cán bộ phụ nữ vào

các cấp chỉ đạo [103, tr 234-238]

Ngày 31 - 8 - 1947, TW Đảng lại ra NQ về nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và phương pháp làm việc của tổ chức Hội đoàn cũng như các cơ quan chuyên môn của Hội, các chi bộ đặc biệt của các cấp Theo đó, nguyên tắc tổ chức là từ trên xuống dưới, các cấp bộ Hội có những cơ quan chuyên môn như:

tổ chức, kiểm soát, tuyên truyền, huấn luyện, tài chính, dân vận TW Đảng có các tiểu ban vận động giới như Công vận, Thanh vận, Phụ vận [103, tr 264]

Ngày 1 - 9 - 1947, TW đưa ra Chỉ thị cho các cấp khu, tỉnh, phủ, huyện

về công tác dân vận như sau: Mỗi giới cần phải tổ chức ra tiểu ban chuyên môn

phụ trách như ban thanh vận, ban phụ vận… Các tiểu ban chuyên môn này ở các cấp đều phải có người nằm trong BCH của các tổ chức quần chúng để làm

Trang 19

cáo lên tiểu ban phụ vận khu Các tiểu ban phụ vận có quyền và phải năng đề nghị cấp bộ hội triệu tập các cuộc hội nghị cán bộ phụ vận để trao đổi kinh nghiệm và phát triển công tác [103, tr 285]

Ngày 15 - 10 - 1947, TW tiếp tục ra Chỉ thị về công tác dân vận, trong

đó nhấn mạnh đến việc động viên các tầng lớp nhân dân, nhất là công nhân,

thanh niên, phụ nữ, nhi đồng ở các VTD tham gia vào việc tác chiến, tăng gia sản xuất, giúp đỡ đồng bào tản cư, điều tra tin tức cho bộ đôi, tuyên truyền kháng chiến,…

Đánh giá về tình hình chỉ đạo công tác phụ nữ của các Khu uỷ, ngày 16 -

12 - 1947, BTV TW cho rằng: nhận thấy từ trước tới nay, nhiều cán bộ phụ nữ

đã thành lập gia đình rồi, thường bận việc trông nom con cái và không trở lại hoạt động Hội nghị cán bộ phụ vận vừa rồi đã thảo luận và quyết nghị phương pháp làm cho các chị em trên đây có thì giờ trở lại làm việc cho đoàn thể, đã được TW thông qua như sau:

“1 Các cán bộ phụ nữ nhất là các cấp bộ của Hội phải giúp đỡ các chị em

có con tổ chức ra những nơi gửi trẻ bằng cách:

a) Cổ động những gia đình có cảm tình với cách mạng nhất săn sóc nuôi nấng giúp cho các con cán bộ

b) Đoàn thể tổ chức những chỗ nuôi con cán bộ nhưng chú ý là những tổ chức này phải thu hẹp trong phạm vi từng địa phương một và mỗi nơi chỉ nuôi năm, ba em nhỏ thôi

2 Trong khi chưa thi hành chế độ lương cán bộ theo Nghị quyết của Trung ương phải đặc biệt thi hành ngay những khoản trong Nghị quyết đó về việc trợ cấp cho các đồng chí cán bộ phụ nữ trước và sau khi sinh nở, hoặc những cán bộ phụ nữ có con rồi

Trung ương mong các đồng chí thi hành ngay Nghị quyết này

Chào quyết thắng” [97, tr 39-40]

Trong việc kêu gọi, động viên nhân dân tham gia bình các lớp dân học vụ

nhằm chống nạn thất học, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Những người đã

Trang 20

biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học

vụ, như các anh chị em trong sáu, bảy năm nay đã gây phong trào truyền bá quốc ngữ, giúp đồng bào thất học… Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị

em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức” [63, tr 36-37]

Từ năm 1948, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng sang “đánh lâu

dài” với âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt” Chúng ráo riết bình định vùng tạm chiếm, đẩy mạnh xây dựng chính phủ

bù nhìn, mở rộng ngụy quân (năm 1948 có 8 vạn ngụy binh, chiếm gần 50% tổng số quân địch) Trước tình hình này, BCH TW đã họp Hội nghị mở rộng (từ

ngày 15 đến 17 - 1 - 1948), có bàn về công tác phụ vận đã nhận định: PTPN

trong cuộc kháng chiến của nhân dân ta hiện nay đã có tiến bộ Các tầng lớp phụ nữ đã gây được ít nhiều thành tích trong các công tác như tăng gia sản xuất, giúp đỡ đồng bào tản cư, tiếp tế, úy lạo bộ đội Nhưng nói chung PTPN vẫn hẹp, cán bộ thiếu, tuyên truyền cổ động kém và nhất là tổ chức phụ nữ trong các vùng địch kiểm soát còn yếu Vậy về tổ chức, phát triển Hội LHPN Việt Nam rộng hơn nữa và đặt ra những hình thức thấp khiến chị em dễ tham gia, ví dụ:

“Hội mẹ chiến sỹ”, “Hội ủng hộ thương binh”, “Lớp bình dân học vụ”, “Ban học hát”,… Chấn chỉnh BCH các cấp nhất là cấp xã Giúp đỡ các cán bộ phụ

nữ về sinh hoạt cũng như về học tập…

Về tuyên truyền phải có kế hoạch rộng hơn trước Phát hành những sách nhỏ kể tiểu sử các nữ chiến sỹ oanh liệt hồi bí mật, trong khởi nghĩa tháng Tám cũng như trong kháng chiến hiện nay Báo của phụ nữ phải nêu thành tích của phụ nữ, nhất là của những đội nữ du kích, như đội Minh Khai (Hải Kiến), đội

Trưng Trắc (Bắc Ninh) [104, tr 41-42]

Nhận định đúng đắn tình hình sau chiến thắng Việt Bắc, Hội nghị đã đề

ra nhiệm vụ và các biện pháp về quân sự chính trị, kinh tế, văn hoá nhằm thực

Trang 21

du kích, coi du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ; củng cố khối

đoàn kết toàn dân, chống âm mưu "dùng người Việt trị người Việt”, phát triển

sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tịch thu ruộng đất của bọn phản quốc cấp cho dân nghèo, thực hiện giảm tô, chia lại công điền; phát triển văn hoá, giáo dục; tăng cường công tác xây dựng Đảng Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 27/3/1948, BTV TW Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào Thi đua

ái quốc Hướng thi đua chủ yếu là tăng gia sản xuất và luyện quân lập công

NQ Hội nghị Cán bộ TW lần thứ tư (miền Bắc Đông Dương ngày 20 - 5

- 1948) đã đề ra chủ trương chấn chỉnh các tổ chức Việt Minh trong đó có tổ

chức phụ nữ bao gồm: Chú ý củng cố và phát triển thống nhất các tổ chức cứu

quốc như Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, tới khu để đi tới thống nhất toàn quốc PNCQ tham gia vào LHPN Việt Nam Các hội viên PNCQ phải làm mọi công tác của LHPN Việt Nam Ngoài ra, PNCQ có sinh hoạt riêng, nhưng những kỳ sinh hoạt riêng ấy chỉ để làm những công tác có tính chất riêng của mặt trận Việt Minh và là trụ cột thúc đẩy mọi công tác của LHPN Việt Nam Ở các địa phương miền núi thì cứ để PNCQ có lợi hơn Niên phí đóng cho LHPN Việt Nam thì BCH PNCQ huyện thu và đóng cho LHPN Việt Nam trong một năm…

Đối với công tác cán bộ phụ nữ, NQ nêu rõ: Đặc biệt thi hành chế độ cán bộ, đối với cán bộ phụ nữ sinh đẻ, và chú ý giải quyết vận động quần áo cho cán bộ (sửa lại nghị quyết về thời hạn nghỉ và trợ cấp cho cán bộ phụ nữ như sau đây: nghỉ trước khi sinh nở 2 tháng và sau khi sinh nở 2 tháng Tiền trợ cấp khi sinh nở 1000đ, con lên 1 tuổi 15đ một tháng) Tổ chức ban cứu tế giúp đỡ cán bộ đau yếu, gia đình cán bộ tản cư và gia đình cán bộ đã hy sinh Hàng năm nên cho cán bộ có vợ con nghỉ một thời hạn để về thăm gia đình Giúp đỡ các cán bộ thành lập gia đình và cán bộ có con có thể đi hoạt động (nhà nuôi con) [97, tr 41-43]

Về việc chấn chỉnh các tổ chức quần chúng, TW cho rằng: Phải kịp chấn

chỉnh và phát triển Liên Việt… đem thêm những đoàn thể không có chân trong Việt Minh như HPN Liên hiệp gia nhập hội Liên Việt, cử đại biểu vào các BCH

Trang 22

Liên Việt các cấp TW chủ trương: từ nay coi Hội LHPN Việt Nam như MTDT thống nhất của phụ nữ Tổ chức đó có thể kết nạp cá nhân hay đoàn thể thanh niên và phụ nữ

Từ ngày 8 đến 16 - 8 - 1948, khi bàn về công tác dân vận và công tác

MTDT thống nhất, Đảng nhận định: phong trào thanh niên nam nữ đã hồi phục,

phụ nữ đã gây được hội tương tế, đã thành lập các nhà hộ sản để cấp cứu các sản phụ Ngoài ra, phụ nữ Trung Bộ đã tổ chức hội mẹ chiến sỹ, Hội mẹ và chị chiến

sỹ để giúp Vệ quốc đoàn, đã lập ra các đội nữ du kích Ở Bắc Bộ cũng như Nam Trung Bộ, có chị em đã tham gia trong các ban kháng chiến và hành chính

Các hội viên phụ nữ được 121 vạn, con số to nhất so với tổ chức các giới khác PTPN có đặc sắc ấy là vì chị em không phải ra trận như các giới khác, nhất là cán bộ phụ nữ không bị điều động sang các ngành công tác khác Do đó

mà tổ chức của phụ nữ tương đối có cơ sở vững chắc hơn là thanh niên và nông dân Song, nhìn chung mà nói thì PTPN đang ở trong một hoàn cảnh bế tắc nên chúng tôi thấy cần phải xét mấy điểm này:

1 Về phụ vận:

a) Thống nhất các tổ chức phụ nữ trong mặt trận LHPN Việt Nam Đào tạo cán bộ tăng gia sản xuất (chăn nuôi, chăn tằm, dệt vải ) và cán bộ công tác

xã hội để lãnh đạo hai công tác chính ấy Đào tạo lãnh tụ cho PTPN

b) Đề cao thành tích Kháng chiến của phụ nữ trong cuộc kháng chiến c) Đem lại những quyền lợi thiết thực cho những phụ nữ có khả năng chuyên môn vào làm công tác công sở, hay vào các uỷ ban kháng chiến hành chính xã để thực hiện đàn ông đàn bà ngang quyền

d) Giáo dục phụ nữ nhằm vào mấy điểm sau đây (làm cho phụ nữ hiểu quyền lợi và nhiệm vụ của người công dân)

- Nhiệm vụ của người phụ nữ đối với gia đình (như đối với chồng, con)

và nhiệm vụ với xã hội

- Nâng cao sự hiểu biết về văn hoá và nghề nghiệp, kiến thức phổ thông về vệ

Trang 23

đ ) Công tác chính của phụ nữ lúc này: Tăng gia sản xuất (chăn nuôi, dệt vải ); Công tác xã hội: lập nhà hộ sinh, lập nhà nuôi trẻ em mồ côi [104, tr 255]

Ngày 5 - 2 - 1949, trong Chỉ thị về việc cổ động tham gia kháng chiến,

BTV TW chỉ ra rằng: Các cấp bộ cần chú ý: bộ đội, du kích thoát ly và phụ nữ

được miễn đóng “Tham gia kháng chiến” Song đối với phụ nữ phải vận động

các chi hội gây một phong trào đòi đóng quỹ tham gia kháng chiến, đòi quyền được góp phần công lao trong cuộc kháng chiến cứu quốc này [105, tr 187]

Từ 21 - 1 đến 3 - 2 - 1950, NQ Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của BCH

TW bàn về việc củng cố MTDT thống nhất và xúc tiến công tác Dân vận đã đặc biệt chú trọng đến đoàn thể phụ nữ với những việc dưới đây: Hội nông dân cứu quốc phải bao gồm cả phụ nữ nông thôn và đưa họ vào cơ quan chỉ đạo của Hội Hòa hợp Đoàn PNCQ vào Hội LHPN Việt Nam, giản đơn tổ chức và thống nhất lực lượng phụ nữ Đối với đồng bào thiểu số, ở những nơi tương đối tập trung thì tổ chức theo giới: nông dân, thanh niên, phụ nữ,…[106, tr 207-208]

Tháng 4 năm 1950, Đảng chủ trương triệu tập Đại hội phụ nữ lần thứ

nhất ở tại chiến khu Việt Bắc với nội dung: xác định HPN là mặt trận đoàn kết rộng rãi các lực lượng phụ nữ, công nhận sự sáp nhập Đoàn PNCQ và Hội, tiếp nhận bộ phận nữ công nhân viên chức của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

là một bộ phận của Hội Từ đó, đề ra phương hướng nhiệm vụ của Hội là động viên mạnh mẽ hơn nữa các tầng lớp phụ nữ tham gia các mặt hoạt động của kháng chiến (công tác hậu phương quân đội, động viên chồng con tòng quân,

chăm lo quyền lợi của phụ nữ…)

Tại Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bên cạnh quyết định hợp nhất Đoàn PNCQ vào Hội LHPN Việt Nam, thống nhất các lực lượng phụ

nữ trong cả nước thành một khối thì Đại hội cũng giải quyết nhiều vấn đề quan trọng khác nữa Đó là tuyên ngôn điều lệ, xây dựng phương hướng, chương trình hoạt động cho PTPN trong nhiệm kì mới, nhiệm kì 1950 - 1956

Trang 24

Ngày 3 - 7 - 1950, BTV TW Đảng ra thông tri thông báo về việc hợp nhất Đoàn PNCQ vào Hội LHPN Việt Nam như sau: TW quyết định hợp nhất Đoàn PNCQ vào Hội LHPN Việt Nam Đại hội PNCQ và Đại hội LHPN Việt Nam toàn quốc đã tán thành chủ trương này

Thông tri chỉ rõ lý do hợp nhất: Xét về mặt chính trị, hai tổ chức phụ nữ

cùng chung mục đích là giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ Công tác nói

chung không có gì khác nhau Nếu cứ để riêng rẽ ra hai tổ chức thì Đoàn PNCQ không tránh khỏi tình trạng cô độc hẹp hòi và Hội LHPN Việt Nam cũng chỉ chơi vơi, hình thức PTPN không thể lớn mạnh vững chắc được

Hơn nữa, việc giải phóng phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và nhi đồng, thực hiện nam nữ bình quyền phải gắn liền với việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp

Do đó, phải hướng phụ nữ về các tổ chức theo sinh hoạt và quyền lợi của

họ Tùy theo thành phần xã hội, lứa tuổi và sinh hoạt hàng ngày mà đưa họ vào các tổ chức nông dân, công nhân, thanh niên, học sinh, sinh viên…

Tổ chức phụ nữ vì vậy có thể giản đơn và chỉ cần tập hợp các khối phụ

nữ, các tổ chức và cá nhân phụ nữ lẻ tẻ, chậm tiến trong Hội LHPN Việt Nam [106, tr 375-377]

Nội dung của Thông tri cũng khẳng định tổ chức phụ nữ Hội LHPN Việt Nam hiện nay vừa là một hội, vừa là một mặt trận Lực lượng cốt cán của hội là khối nữ lao động và nữ nông dân Ngoài việc huy động phụ nữ cùng với toàn dân tham gia kháng chiến, nhiệm vụ chính của Hội là giáo dục, nâng cao trình

độ văn hóa, chính trị, tư tưởng cho phụ nữ, bảo vệ quyền lợi phụ nữ, nhi đồng, thực hiện nam nữ bình quyền, giải phóng hoàn toàn cho phụ nữ Hội sẽ phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể công, nông, thanh và Bộ giáo dục, y tế, Cứu tế,

Xã hội để thực hiện những nhiệm vụ trên

Đến đây, mọi vấn đề liên quan chủ trương hợp nhất Đoàn PNCQ cũng như các tổ chức phụ nữ khác vào Hội LHPN Việt Nam đã được làm sáng tỏ

Trang 25

Nam cũng như nhân dân ở các địa phương đã được giải thích và hiểu rõ sự cần thiết, tầm quan trọng của việc hợp nhất các tổ chức phụ nữ vào trong Hội LHPN Việt Nam Nhờ đó, quá trình thực hiện chủ trương hợp nhất Đoàn PNCQ vào Hội LHPN Việt Nam ở các tỉnh được tiến hành khẩn trương từ cuối trong năm

1950 và 1951

Ở các VTD Việt Bắc, Thanh - Nghệ - Tĩnh, Nam - Ngãi - Bình - Phú, các

tổ chức HPN đã huy động cán bộ tuyên truyền, vận động hội viên vào công tác cứu trợ, giúp đỡ đồng bào tản cư, nhất là đối với chị em phụ nữ, bà già, con trẻ

Căn cứ vào chủ trương vận động phụ nữ của Hội nghị cán bộ TW Đảng, ngày 4 - 8 - 1949, trong Chỉ thị của Thường vụ TW Liên khu ủy IV về tuyên

truyền cổ động chuẩn bị tổng phản công cũng chỉ ra rằng: Vận động phụ nữ

tăng gia sản xuất và cải thiện dân sinh để tự cung tự túc, để tiếp tế cho mặt trận, tích cực bao vây và phá hoại kinh tế địch Kêu gọi phụ nữ tham gia các đội

xung phong tuyên truyền và công tác ở miền bị chiếm, ở Đông Lào

Tháng 4 - 1947, dựa vào những ý kiến chỉ dẫn trực tiếp như trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ giữa năm 1947, Thanh Hoá và các tỉnh đã chuyển hướng toàn diện về mọi hoạt động kháng chiến, kiến quốc phù hợp với hoàn cảnh địa phương mình, hoàn cảnh của một VTD Thực chất, sau những xáo động của những ngày tháng đầu kháng chiến, để thực hiện nhiệm vụ được giao, Thanh - Nghệ - Tĩnh đã tích cực khẩn trương tiến hành chuyển hướng mọi hoạt động sang thời kháng chiến và bước đầu giải quyết những vấn đề của vùng căn cứ địa, hậu phương, đó là vừa xây dựng và bảo vệ mình vừa đón nhận nhân dân các vùng tạm bị chiếm đến sơ tán, các cơ quan, đơn vị của TW, của UBHC và

xứ uỷ Trung Bộ đến đứng chân, công tác, củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng

Riêng công cuộc xây dựng và bảo vệ, theo sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên khu uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu IV, các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh đã tiến hành xây dựng và bảo vệ hậu phương đồng thời tất cả các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá

xã hội, với mục tiêu là làm cho địa phương mình ngày càng “mô phạm”, “kiểu

Trang 26

mẫu”, vững chắc và có khả năng về sức người, sức của cung cấp cho kháng chiến Đây là một quá trình phấn đấu kiên cường của Đảng bộ, quân dân ba tỉnh, là cuộc đấu tranh toàn diện giữa địch và ta trong chiến tranh Quá trình đó gắn bó hữu cơ với tiến trình chung của kháng chiến của cả nước dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của TW Đảng, Chính phủ, của Liên khu [94, tr 46-47]

Mùa hè 1948, hội nghị Đảng bộ Liên khu IV lần thứ nhất đã xác định phải tập trung bảo vệ và xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành vùng hậu phương của liên khu, thống nhất quan điểm lãnh đạo kháng chiến, tăng cường công tác cán bộ Đến tháng 7 - 1949, Hội nghị Đảng bộ Liên khu nhấn mạnh hơn nữa việc bảo vệ và xây dựng Thanh - Nghệ - Tĩnh thành hậu phương của cả nước, uốn nắn một số lệch lạc trong việc phát triển Đảng, trong việc đoàn kết kháng chiến, trong việc thực hiện các chính sách của Đảng [94, tr 54-55]

Cuối năm 1949, Đại hội Phụ nữ Liên khu V tiến hành tại Ân Thường (huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định) đã tập hợp hơn 100 đại biểu đại diện các tổ chức các tầng lớp phụ nữ, nhân sĩ, trí thức, tôn giáo, dân tộc, phụ nữ quân đội,

nữ viên chức, học sinh về dự Đại hội chính thức phát động phong trào “Phụ nữ

chức nghiệp” và “Mẹ hiền dân tốt” với khẩu hiệu “Mỗi phụ nữ phải có một nghề và mỗi phụ nữ phải là một mẹ hiền dân tốt”; tiếp tục động viên các tầng

lớp phụ nữ tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc,

ra sức đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng

chính quyền cách mạng, xây dựng “người phụ nữ mới”

Cuối năm 1949, tại thôn Vạn Thắng huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, Đại hội PNCQ Liên khu V họp Hội nghị lần thứ nhất bầu BCH PNCQ Liên khu

V gồm 13 chị do chị Trương Thị Dũng làm bí thư và đề các nhiệm vụ:

- Ra sức tham gia củng cố VTD, chú trọng xây dựng cơ sở vùng bị tạm chiếm: tăng gia sản xuất, tiết kiệm, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, tự cấp, tự túc, lập quỹ nuôi quân, duy trì và phát triển hũ gạo kháng chiến, nuôi gà, trồng rau màu, trồng dâu, trồng bông kháng chiến đảm bảo cái ăn và mặc cho nhân

Trang 27

- Phát động phong trào “Phụ nữ chức nghiệp”, phụ nữ đảm nhận công việc hậu phương để nam giới ra mặt trận Bên cạnh khẩu hiệu: “Mỗi thanh niên

là một người lính”, HPN đề ra khẩu hiệu “Mỗi phụ nữ phải có một nghề”

- Tiếp tục động viên phụ nữ tham gia dân quân tự vệ, ra sức chống càn, chống địch hãm hiếp, đấu tranh kinh tế với địch, nuôi giấu cán bộ ở vùng tạm

bị chiếm

- Phát triển Hội Mẹ chiến sĩ, phát động phong trào ủng hộ bộ đội, chăm sóc thương binh, tổ chức mẹ nhận bộ đội, thương binh làm con [43, tr 154-155]

Năm 1949, BCH PNCQ Liên khu V đã đề ra nhiệm vụ huấn luyện phụ

nữ về công tác y tế Lớp học y tế này tập trung một số cán bộ phụ nữ cốt cán của Hoà Vang, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên… và dạy cho các chị em cách khám chữa bệnh làm thuốc Đặc biệt, các chị em được hướng dẫn kỹ bệnh phụ khoa thường gặp Học xong chị em đã về xã và xin tiền mua dụng cụ chữa bệnh cho chị em Lớp học được mở ở Điện Bàn do hai y tá lâu năm y tế Quảng Nam

Hoạt động chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với PNVN đầu năm 1946 là tham gia cuộc Tổng tuyển cử Lần đầu tiên trong lịch sử người PNVN, từ 18 tuổi trở lên được thực hiện quyền công dân của một nước độc lập, tích cực tham gia công tác tuyên truyền vận động và tự mình cầm lá phiếu để lựa chọn người đại

Trang 28

diện cho mình Riêng tại các đô thị ở Nam Bộ đã có một số chị em đã ngã xuống trong khi đi làm nghĩa vụ công dân, bầu cử Quốc hội Trong Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có 48% tổng

số cử tri đi bầu là phụ nữ 10 đại biểu nữ đã trúng cử đại biểu Quốc hội 1

Chiến sự ngày càng lan rộng, đông đảo nam thanh niên và cả những người chưa đến 18 tuổi cùng lớp trung niên, được động viên, hoặc tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân

du kích) Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và đa phần dân quân du kích là lực lượng trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường - ở tuyến trước, tiền tuyến Bộ phận dân cư còn lại, trong đó đa phần là phụ nữ, không trực tiếp chiến đấu, mà hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội, phục vụ chiến đấu - ở tuyến sau, hậu phương Tiền tuyến và hậu phương trong kháng chiến chống Pháp chỉ là một cách phân định tương đối

Đảm nhận công tác hậu phương, hậu cần chiến tranh nhân dân để nam giới

ra tiền tuyến đánh giặc, là điều mà PNVN đã từng đảm nhiệm mỗi khi đất nước phải đứng lên chống giặc ngoại xâm Nét đẹp truyền thống đó được phát huy và nhân lên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Phụ nữ ở khắp mọi miền đất nước từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi đến miền ngược, trên từng lĩnh vực công tác cụ thể đều tích cực phấn đấu hoàn thành trách nhiệm của mình

Xây dựng và bảo vệ hậu phương về chính trị là một nhiệm vụ quan trọng, giữ vững vị trí hàng đầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong chiến tranh cách mạng Trên thực tế, trong thời kỳ 1946 - 1948, ở các VTD, Đảng bộ, chính quyền các tỉnh cũng đã rất chú trọng về lĩnh vực này Cùng với việc củng cố, phát triển Đảng, các tỉnh cũng đã chú trọng công tác củng cố, phát triển các tổ chức quần chúng Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, những tổ chức đoàn thể kháng chiến phát triển rộng rãi nhất ở VTD Thanh - Nghệ - Tĩnh

1

Trang 29

Đến đầu năm 1948, công cuộc xây dựng VTD Thanh - Nghệ - Tĩnh về chính trị

đã có những bước phát triển phù hợp với tình hình của cuộc kháng chiến và đến đầu năm 1949 thì cơ bản ba tỉnh thực sự trở thành một vùng hậu phương khá vững mạnh về mặt này

Chị em phụ nữ không chỉ là một thành phần trong hệ thống chính quyền các cấp từ TW đến cơ sở mà chính phụ nữ tham gia xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền các cấp Năm 1948, từ Khu IV trở ra, đã có hàng trăm chị em tham gia trong HĐND, Uỷ ban KCHC các cấp Trong thành phần dân quân du kích ở các làng bản, xóm thôn, phụ nữ chiếm tỷ lệ ngày càng tăng, trong số đó, có nhiều chị tham gia cấp chỉ huy, lãnh đạo

Việc củng cố về tổ chức Hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho PTPN phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới của cách mạng Tuy nhiên, do trình độ dân trí còn có hạn nên cán bộ nữ ở cấp huyện và các làng xã còn nhiều hạn chế về trình độ lý luận, kinh nghiệm công tác Tình hình đó đòi hỏi phải có nhiều lớp bồi dưỡng ngắn ngày về chính trị, về nghiệp vụ cho các chị em cán bộ Hội các cấp để đáp yêu cầu của Hội, của cách mạng Tỉnh uỷ Hà Tĩnh chủ trương giao cho huyện mở các lớp huấn luyện ngắn ngày để bồi dưỡng công tác tuyên huấn

và công tác phụ vận cho cán bộ phụ nữ Các lớp huấn luyện phụ vận ở tất cả các huyện đều do Huyện uỷ chủ trì, cấp HPN các huyện tham gia với tư cách tham mưu, tổ chức điều hành Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, chị em cán bộ phụ

nữ các huyện tham gia học tập rất tích cực, phần lớn là các cán bộ nòng cốt hạt nhân của các huyện và xã

Ở 2 tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, từ tháng 11 - 1946 đến đầu năm 1947, Thường vụ Tỉnh uỷ phân công đồng chí Phan Tốn cùng đồng chí Trương Thị Dũng liên tiếp mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho các đồng chí cảm tình Đảng và cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện, thị Nội dung học tập tình hình nhiệm vụ

và năm bước công tác vận động quần chúng… các cấp HPN cử nhiều cán bộ đi học Riêng HPN tỉnh từ năm 1946 - 1949 cũng đã mở được 15 lớp: 2 lớp cảm

Trang 30

tình Đảng; 3 lớp cho cán bộ vùng bị tạm chiếm; 2 lớp cho nữ dân quân; 8 lớp về công tác phụ vận ở các huyện, gồm 250 cán bộ thụ huấn [35, tr 100]

Dưới sự chỉ đạo của tỉnh uỷ, tỉnh HPN Quảng Ngãi cũng đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ nữ Các đồng chí trong thường trực tỉnh uỷ (Nguyễn Đôn, Nguyễn Chánh…) đã tham gia giảng dạy Ngoài ra nhiều cán bộ phụ nữ Quãng Ngãi2

tham gia lớp huấn luyện do phụ nữ Trung Bộ tổ chức với

sự giúp đỡ của xứ uỷ [36, tr 103]

Chiến sự ngày càng lan rộng, nhiều vùng bị địch chiếm đóng, để thu hút phụ nữ cả VTD và tạm chiếm, nhiều tổ chức đoàn thể, HPN được thành lập với các tên gọi khác nhau Hoà cùng toàn dân cả nước, phụ nữ các tỉnh VTD hăng hái tham gia xây dựng thực lực của nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới, giải

quyết các vấn đề quốc kế, dân sinh, diệt “Giặc đói”, “Giặc dốt”, thực hiện “Đời

sống mới” Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, chị em phụ nữ đã

tham gia nhiệt thành trong phong trào quyên góp “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ

vàng”, “Quỹ đảm phụ quốc phòng”, các cuộc vận động “Ngày đồng tâm”, “Hũ giạo cứu quốc”

Trong phong trào diệt giặc đói: Ở nông thôn, đặc biệt là phụ nữ nông thôn ở các VTD trở thành thành phần lao động chính trên đồng ruộng, nhiều chị

em đảm nhiệm cả việc cày, bừa vốn là công việc của đàn ông Phụ nữ trong các ngành nghề công nghiệp, trong các binh công xưởng cũng tích cực hưởng ứng

phong trào thi đua “giảm giờ làm”, “giảm động tác thừa”, tăng mức sản xuất

hàng tiêu dùng, quân trang, quân dụng, thuốc men

PTPN cày bừa phát triển mạnh ngay trong những năm đầu kháng chiến Ở tỉnh Tuyên Quang hầu hết phụ nữ từ 16 đến 35 tuổi đều biết cày Ở miền núi phụ

nữ các dân tộc thiểu số cũng tham gia cày bừa thay thế nam giới kháng chiến

Ở nhiểu tỉnh, lực lượng phụ nữ tham gia lao động sản xuất nông nghiệp đến 60% đến 70% Phụ nữ không chỉ cày bừa cấy gặt mà còn đắp đê, đào

Trang 31

mương, đắp đập… Ở Hà Tĩnh có 5 vạn phụ nữ (trong số 8 vạn dân công) đắp đê

La Giang chống lụt

PTPN tham gia sản xuất đã mang lại những kết quả cụ thể Chỉ tính trong

3 năm (1947 - 1949) riêng ở Bắc Bộ, diện tích trồng trọt đã tăng trên 6 vạn

héc-ta, và nuôi trên 6 vạn trâu bò… góp phần to lớn trong việc vượt qua được nạn đói và cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội địa phương Ngoài ra phụ nữ

còn tích cực tham gia mua “công phiếu kháng chiến” [85, tr 137-138]

Phong trào thi đua yêu nước của chị em phụ nữ phát triển nhanh chóng ở

Quảng Ngãi Những khẩu hiệu, những chỉ tiêu thi đua được nêu “mỗi phụ nữ

trồng 20 cây bông kháng chiến”, “thi đua trồng vồng khoai kháng chiến”, “thi đua nuôi con gà kháng chiến”… Tinh thần, sức lực của phụ nữ tăng lên gấp bội

trong các hoạt động sản xuất (đắp đập, khơi mương, vét giếng, đào ao, chống hạn bằng gàu sòng, gàu giai, cả máy bơm chạy than…) Cùng với nhân dân trong tỉnh, phụ nữ Quảng Ngãi lập nhiều thành tích xuất sắc trong thi đua sản xuất Chị em đã góp nhiều công sức cùng với nam giới để phá đá, đào đất làm nên con kênh Bầu Sung nổi tiếng, kênh Sơn Tịnh, kênh Tư Nghĩa, kênh Bình Minh (Bình Sơn) đắp được các đập Cà Rinh (Bình Sơn) ngăn nước mặn, đập

Đá Sơn (Tư Nghĩa), đập An Thọ (Đức Phổ)…[36, tr 122-123]

Trong trào thi đua “diệt giặc dốt”, phụ nữ là lực lượng đông nhất, tích

cực nhất Trong phong trào này, đông đảo chị em đã ra sức thực hiện lời dạy

của Hồ Chủ tịch “vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ

không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo…” Vì

vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả các thôn xóm, đường phố, xí nghiệp, quần chúng già, trẻ, gái, trai đều nô nức đến lớp học Nhờ vậy, nạn mù chữ được giải quyết, số người biết đọc biết viết tăng lên từng năm một Năm 1948,

đã có chừng 4 triệu phụ nữ đựơc thanh toán nạn mù chữ

Ở các tỉnh VTD, hầu hết phụ nữ, chủ yếu ở nông thôn, miền núi, đều mù chữ chị em hăng hái đi học, vận động chồng con đến lớp Thật cảm động khi thấy những người vừa thoát đời nô lệ, vùng lên làm chủ với tinh thần hiếu học

Trang 32

hiếm có: học vào lúc rảnh rỗi, giữa giờ lao động sản xuất, trên các nẻo đường, với mọi phương tiện sẵn có (bảng đen, mo cau, phấn, than…)

Ở Hà Tĩnh, không chỉ phụ nữ, thanh thiếu niên, trung niên hăng hái đi học mà ở các làng xóm thôn bản còn có những bà mẹ đã 60 - 70 tuổi vẫn tham gia học bình dân đều đặn Chị em phụ nữ miền núi, vùng sâu, vùng xa như Kim Cương, Đá Gân, Kẻ De (Hương Sơn), Kim Quang (Hương Khê), miền Tây Kỳ Anh… cũng tích cực tham gia bình dân học vụ

Ở Quảng Ngãi, chỉ trong một thời gian, số phụ nữ thoát nạn mù chữ ngày càng nhiều Đến cuối tháng 6 - 1946 có 94.838 người thoát nạn mù chữ Xã Bình Chánh (Bình Sơn), Nghĩa Lộ (Tư Nghĩa) được công nhận là những xã thanh toán nạn mù chữ của tỉnh được đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Chính phủ TW tại Nam Bộ khen Xã Trà Giang (Trà Bồng) là xã miền núi đầu tiên xoá nạn mù chữ, xã Phổ Thuận (Đức Phổ) xuất sắc về công tác này, trong đó phụ nữ đóng góp khá lớn vào những thành tích trên Gương hiếu học của Huỳnh Thị Chánh (Tịnh An, Sơn Tịnh) được cả nước ngợi khen Chị bị cụt cả hai tay,

vì tai nạn lao động, đã bền bỉ dùng chân tập viết Chị vừa sản xuất giỏi, vừa tham gia dạy bình dân học vụ [36, tr 106]

Về xây dựng đời sống mới: 20 - 3 - 1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh có bài

báo Đời sống mới: “Hỏi: khẩu hiệu đời sống mới một năm nay đã có kết quả

chưa? Đáp: Đã có kết quả Trong nhiều làng, các cụ phụ lão đã giảm bớt việc cúng tế; đem tiền đó hoặc giúp dân học vụ, hoặc làm việc ích chung Dân ta phải biết ơn các cụ đã hăng haí làm gương như thế Trong bài báo, người biểu dương: Nhiều nơi, chị em phụ nữ đã sửa đổi cách ăn mặc gọn gàng, đã biết chung nhau nuôi gà, nuôi lợn…” [64, tr 96)]

Đoàn PNCQ coi việc thực hiện “Đời sống mới” là một nhiệm vụ trọng

tâm, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng con người mới, mang tính chất xã hội rộng lớn, nhằm phá bỏ những tập tục lạc hậu, giúp phụ nữ nâng cao trình độ hiểu biết, xóa bỏ những trói buộc của chế độ cũ, vươn lên thành người phụ nữ

Trang 33

Cuộc vận động “Mẹ hiền, Dân tốt” do Khu Đoàn PNCQ phát động được

triển khai khá sâu rộng ở nhiều nơi, động viên toàn thể phụ nữ vươn lên khắc phục những tàn tích phong kiến lạc hậu, cải thiện quan hệ mẹ chồng, nàng dâu, xây dựng gia đình hòa thuận, tiến bộ, mẹ hiền, vợ đảm, khắc phục những thành kiến lạc hậu giữa mẹ chồng và nàng dâu, lối sống hẹp hòi, đố kỵ giữa em chồng

và chị dâu; xóa bỏ cách đối xử bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng; tạo sự đoàn kết, hòa thuận trong mỗi gia đình để xây dựng xã hội mới; phát huy tinh thần tự chủ của phụ nữ, đảm việc nhà, giỏi công tác xã hội, động viên chồng con đi chiến đấu

Đoàn PNCQ còn vận động bà con xóa bỏ những tập quán lạc hậu trong việc sinh đẻ như: kiêng đẻ trong nhà, cắt cuống rốn bằng cật nứa, bằng lưỡi liềm, bọc trẻ sơ sinh bằng quân áo cũ, bẩn thỉu; người đẻ không được tắm, phải hơ lửa hàng tháng, kẻ cả mùa nóng nực, chỉ ăn muối rang, không được ăn cá, thịt, rau tươi ; phối hợp với ngành y tế bồi dưỡng kiến thức vệ sinh cho các bà mụ vườn;

Trang 34

binh HPN huyện Nguyên Bình huy động tới 4.435 chị em tham gia vận tải, sửa đường tiếp tế [31, tr.97-98] và ủng hộ phong trào mùa đông binh sĩ 1.854.343 đồng, ủng hộ bộ đội địa phương 4.225 đồng, ủng hộ thương binh 25.899 đồng

HPN Nghệ An cũng có chủ trương nhận đỡ đầu các đơn vị bộ đội trong tỉnh Cơ quan Tỉnh HPN Nghệ An bấy giờ đã nhận đỡ đầu trung đoàn 57, bộ đội chủ lực của tỉnh Ngay từ đầu năm 1947 Tỉnh đoàn PNCQ đã cử đoàn đại biểu do chị Hồng Phương dẫn đầu lên mặt trận Mường Xén để thăm hỏi động viên anh em chiến sĩ của trung đoàn Việc làm này có tác dụng thắt chặt tình đoàn kết quân dân và cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội Trong phong trào đỡ đầu bộ đội, TW giao cho Nghệ An huy động 21 triệu đồng HPN các cấp đã có đóng góp lớn trong việc tuyên truyền, vận động chị em tích cực hưởng ứng Kết quả toàn tỉnh đã đạt được 28 triệu đồng

Trong các cuộc vận động đóng Đảm phụ quốc phòng (1947), mua công phiếu kháng chiến (6 - 1948), cuộc vận động hiến điền và cấp dưỡng cho bộ đội địa phương (4 - 1949) do HPN và Hội mẹ chiến sĩ làm nòng cốt, các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đã hăng hái tích cực tham gia và đã có những đóng góp xuất sắc, một số chị em đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi

“Tôi gửi lời thân ái khen ngợi phụ nữ nghệ An đã hăng hái góp quĩ “tham gia kháng chiến” Đặc biệt là bà Hồ Lưu xã Đại Đồng đã góp 16.000đ, bà Lê Thị Hồng, bà Lương Thị Linh, bà Lê Thị La mỗi bà được 1.000đ Tôi chưa nhận được báo cáo của Thanh Hoá, Hà Tĩnh Nhưng tôi chắc rằng: phụ nữ hai tỉnh ấy sẽ không chịu thua chị em Nghệ An”

[57, tr 123]

Phụ nữ Hà Tĩnh đã tổ chức tuần lễ “quân dân nhất trí” vận động từng hộ

mời bộ đội về nhà mình ăn tết; đồng thời viết thư, gửi quà bánh cho các đơn vị

bộ đội đang chiến đấu ở Quảng Bình Các huyện còn có sáng kiến thành lập Hội

Mẹ chiến sĩ, tổ chức “quán quân nhân” phục vụ từng chặng đường hành quân

Tiêu biểu là quán quân nhân Linh Cảm của Hội mẹ chiến sĩ huyện Đức Thọ,

Trang 35

quán quân nhân Cầu Giát của Hội mẹ chiến sĩ của huyện Quỳnh Lưu có thành tích lớn đều được Chính phủ tặng huân chương kháng chiến hạng 3 [33, tr 71]

Cuối năm 1946 Hội PNCQ Quảng Nam - Đà Nẵng lập ra “Hội mẹ binh

sĩ” tổ chức uỷ lạo binh sĩ, xin đồng bào cho rất nhiều bánh, lương thực, thực

phẩm, nước chè… rồi bố trí dọc theo các ngả đường để chào mừng và uý lạo anh em hành quân ra trận Sau đó, chị em còn vận động áo quần, khăn mùi soa, túi kim chỉ gửi ra cho anh em ở mặt trận và đặt ra nhiều câu thơ, bài vè động viên tinh thần kiên quyết giết giặc bảo vệ quê hương

Năm 1947 - 1948, hội Mẹ chiến sĩ được tổ chức đều khắp tỉnh Hơn 5.000 bà Mẹ chiến sĩ nhận đỡ đầu 2.130 anh em bộ đội xa nhà hoặc từ ngoài Bắc vào Tính đến cuối năm 1947 đã có 280 hội Mẹ chiến sĩ ở các cơ sở với 35.000 hội viên Lễ mẹ nhận con được tổ chức trọng thể: có đại biểu bộ đội, đại biểu Uỷ ban địa phương, đại biểu phụ nữ Có cha, mẹ, anh em gia đình được nhận con đến dự HPN phổ biến các điều quy ước và dặn dò đôi bên Buổi lễ

diễn ra trong không khí thắm đượm tình nghĩa Sau đó những “người con mới” trở về liên hoan vui vẻ cùng với “gia đình mới của mình” [58, tr 112]

HPN tỉnh Quảng Ngãi cũng tích cực trong phong trào ủng hộ kháng

chiến bằng việc thành lập “Hội mẹ binh sĩ”, gồm những bà mẹ từ 50 tuổi trở lên Nhiều người trong “Hội mẹ binh sĩ” đã tham gia BCH HPN các cấp “Hội

mẹ binh sĩ” đã đóng góp 153.737 đồng và 1.044 ang lúa Quỹ đồng tâm kháng

chiến 700.834 đồng Tuần lễ “Mùa đông kháng chiến” 616.510 đồng Ủng hộ

Đại hội luyện quân lập công của liên khu V tổ chức tại thị xã Quảng Ngãi 100.000 đồng Ngoài ra còn đóng góp nuôi dân quân, du kích trong những lần luyện tập gần bốn triệu đồng; đóng góp hàng triệu đồng cho các bệnh viện, bệnh xá, ngoài tuyền tuyến, chưa kể 3.991 thương binh được đưa về từng địa phương, cho từng gia đình nuôi dưỡng [36, tr 118]

Hội PNCQ Phú Yên thì phát động phong trào động viên chồng con anh

em tòng quân chống giặc với các khẩu hiệu “Chồng tôi là vệ quốc quân”, “Con

tôi là vệ quốc quân” Phong trào đã động viên nhiều nữ thanh niên hăng hái lên

Trang 36

đường tòng quân, đông đảo chị em được bổ sung vào những đội nữ cứu thương phục vụ các đơn vị bộ đội của Phú Yên do chị Nhồng, chị Cầm phụ trách Hàng nghìn phụ nữ Phú Yên sẵn sàng tiễn đưa những đứa con khoẻ mạnh, hiên ngang

và đón về từ mặt trận những đứa con ốm đau, thương tật vì một phần cơ thể để lại chiến trường [34, tr 50-51]

Việc giúp đỡ đồng bào tản cư cũng được nhân dân VTD thực hiện nghiêm túc Ngày 8 - 1 - 1947, uỷ ban giúp đỡ đồng bào tản cư, di cư tỉnh Ninh Bình được thành lập, bao gồm đại diện các ngành, đoàn thể trong đó có cán bộ công đoàn và ngành nông nghiệp Uỷ ban đã vận động nhân dân, công nhân xây dựng các khu cư trú có điều kiện thuận lợi về đất đai canh tác, nguồn nước đường xá đi lại, địa thế bảo vệ an toàn… để đón đồng bào, các cơ quan công xưởng từ các nơi tản cư, di cư, sơ tán đến Ninh Bình Ngày 10 - 2 - 1947, được

sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Canh nông, UBHC tỉnh Ninh Bình đã mở Hội nghị giúp đỡ đồng bào tản cư Hội nghị họp tại xã Lạng Phong (Nho Quan), do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chủ trì Phát biểu với Hội nghị, Người đã nhấn mạnh nhiệm vụ của Ninh Bình trong việc giúp đỡ đồng bào tản cư có nơi ăn chốn ở, nơi sản xuất để ổn định cuộc sống và tham gia cuộc kháng chiến trường

kỳ Nhiều người đã tự quyên góp tiền, thóc, ruộng đất để giúp đồng bào và đang tản cư đến Ninh Bình Đến tháng 3 - 1947, Ninh Bình đã đón 3 vạn người từ Hà Nội, Nam Định và các tỉnh phía Bắc vào sơ tán, chủ yếu là các trại Duyên Mậu, Cống Thuỷ, Quyết Trung, Yên Liêu, Đồng Phú, (Yên Khánh), chợ Bút, núi Bảng, Nộn Khe (Yên Mô) [59, tr 70-71]

Tổ chức HPN các cấp của tỉnh Quảng Nam - Đà nẵng cũng một mặt lãnh đạo động viên chị em phụ nữ chiến đấu và phục vụ kháng chiến chống giặc; mặt khác động viên theo gia đình tản cư bảo vệ tài sản và tính mạng của gia đình, nhân dân Các huyện chưa có chiến sự thì lo ổn định nơi ăn ở cho đồng bào và phụ nữ tản cư Tỉnh HPN phân công các chị Phan Thị Nễ, Lê Thị Kinh, Trương Thị Dũng bám sát cùng các cơ quan tỉnh theo dõi tình hình diễn biến

Trang 37

của tình hình quân sự tỉnh góp phấn chỉ đạo PTPN, tổ chức quyên góp quà để thăm viếng thương binh động viên các chiến sĩ

Trong công tác tham gia kháng chiến, cùng phụ nữ cả nước, các mẹ, các chị em phụ nữ tỉnh Cao Bằng đã tiễn đưa chồng con, em mình lên đường Nam tiến quyết đem mồ hôi xương máu của mình cùng đồng bào Nam Bộ bảo vệ chủ quyền của đất nước Ban giao thông của tỉnh cũng được thành lập gồm 7 người, trong đó có 2 người là phụ nữ Đó là chị Ngô Thị Thìn và Bế Thị Hằng Mặc dù

là nữ mới tham gia công việc này nhưng các chị đều tỏ ra là những người gan

dạ, linh hoạt, dũng cảm [31, tr 76] Nhiều chị em giao thông viên khác cũng mưu trí sáng tạo và dũng cảm Chị Nông Thị Chi đã nhiều lần mang tài liệu vượt qua vùng địch kiểm soát trót lọt Có lần chị phải đóng giả với anh Bế Văn Đồng là vợ chồng hoặc cải trang theo người địa phương để chuyển công văn an toàn Chị em là những giao thông viên đã đưa đón cán bộ qua lại an toàn trong vùng địch kiểm soát Nổi bật là chị em nhân viên trạm trung chuyển và phong bưu điện Trà Lĩnh Chị Bế Thị Lựu là đảng viên đã về hẳn làng Bản Pát (xã Cao Chương) trong vùng địch kiểm soát, bí mật dựng cây nêu trước nhà làm ám hiệu cho cán bộ qua lại an toàn Các chị cùng các anh giao thông viên huyện Trà Lĩnh đã tổ chức đưa đón hàng trăm đại biểu của các huyện miền đông vượt qua vùng địch kiểm soát đi dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất an toàn tuyệt đối [31, tr 87-88]

Trong những năm tháng địch chiếm đóng ở tỉnh nhà, chị em rất căm phẫn nhiều chị em đòi thành lập các đội du kích nữ Năm 1948 ở tỉnh tổ chức một trung đội du kích nữ thoát ly do chị Phan Thị Xuân và chị Bích Mai chỉ huy đã đánh nhiều trận và lập được nhiều chiến công, nhất là trận đánh ở Làng Đền (Hoà An) và trận đánh ban ngày ở phố Trà Lĩnh, các chị cải trang thành các cô gái Tày mặc áo dài vấn khăn đi vào phố sát địch mới đánh Các nữ du kích Cao Bằng còn sát cánh với bộ đội chủ lực làm nên những chiến thắng tại

xã Đề Thám (9 - 10 - 1947)

Trang 38

Ngay trong tháng 6 năm 1948, hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh phát động phong trào thi đua luyện quân lập công trong các lực lượng vũ trang với các nội dung học tập chính trị, luyện tập kỹ thuật chiến đấu và chiến thuật đánh du kích Các cuộc đại hội luyện quân lập công được tổ chức từ huyện, tỉnh lên toàn liên

khu Nhân dịp này, Hà Tĩnh phát động phong trào thi đua “một năm xây dựng

dân quân” kể từ ngày 18 - 6 - 1948, Nghệ An phát động phong trào thi đua

“một tháng gia nhập dân quân” và phổ biến chiến thuật du kích với khẩu hiệu

“mỗi người dân là một người lính”, toàn dân xung phong gia nhập dân quân,

nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi đều ra nhập dân quân du kích Các

cụ phụ lão cũng hăng hái xung phong vào đội lão quân Nhiều cụ già sáu mươi, bảy mươi tuổi, nhiều chị em phụ nữ có con mọn vẫn xin gia nhập dân quân

Sau một tháng vận động, số lượng dân quân Nghệ An phát triển nhảy vọt

từ 166.460 người lên 387.530 người, lão quân trước còn lẻ tẻ nay lên tơí 43.380

người, nữ quân từ lúc chưa có, nay có tới 67.229 người Cuộc vận động “một

năm xây dựng dân quân” kết thúc, tổng số dân quân Hà Tĩnh lên tới 93.672

người, trong đó dân quân du kích thường trực có 18.060 người dân quân du kích không thoát ly có 75.054 người, lão quân có 2.251 người, nữ quân có 2.185 người Ngoài việc đưa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương về luyện tập cho các đơn vị dân quân, Hà Tĩnh còn chủ trương lựa chọn những hội viên biết chữ

lập ra “Đội dân quân văn hoá” để dạy học cho dân quân

Thực hiện chủ trương “vũ trang toàn dân”, phụ nữ Phú Yên cùng nhân dân

các làng ai nấy tự làm cho mình một thứ vũ khí Nhiều phụ nữ bỏ dao tiêm trầu trong giỏ đi chợ để làm vũ khí Những đội nữ tự vệ được đổi thành các đội nữ du kích, thu hút đông đảo lực lượng thanh niên tham gia Tính đến đầu năm 1947, có 1.450 nữ tham gia quân du kích và 6.800 nữ trong các đội tự vệ [34, tr 52-53]

Bên cạnh các hoạt động xây dựng và bảo vệ hậu phương, phụ nữ VTD bước đầu tham gia trong việc góp phần chi viện cho tiền tuyến Tiêu biểu phải

kể đến sự tham gia của phụ nữ Nghệ An Hưởng ứng sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ,

Trang 39

Thiên kháng chiến Ngoài lạc quyên đóng góp của từng cá nhân và từng gia đình, nhiều nơi còn tổ chức diễn kịch, thi đấu bóng, tổ chức ngày hội sản xuất

để lấy tiền mua quần áo, chăn đồng bào, chủ trương này được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt Đồng bào ở Vinh đã mua đấu giá chiếc áo, màn, thuốc men gửi vào giúp đồng bào Theo đề nghị của Liên khu, Uỷ ban tỉnh Nghệ An đã tổ chức bán đấu giá chiếc áo lụa của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tặng Bình - Trị - Thiên để lấy tiền gửi vào giúp này là 300.000 đồng (giá cao nhất trong tỉnh)

Hà Tĩnh thì được giao nhiệm vụ làm đường Goòng từ ga Thanh Luyện (huyện Hương Khê) vào Đò Vàng (Tuyên Hoá, Quảng Bình) để vận chuyển hàng hoá vào Bình - Trị - Thiên Hàng trăm công nhân đường sắt được huy động đến xây dựng công trình này Anh chị em đã ngày đêm đội nắng, dầm mưa, thu nhặt từng thanh ray thanh ta vẹt từng chiếc bu lông để tự thiết kế xây dựng lại cầu đường, sửa chữa lại đầu máy, toa xe Sau ba tháng phấn đấu khẩn trương, tháng 10 năm 1948, cùng một lúc hai đầu máy mang tên BTT1 và BTT2 được đưa vào sử dụng trên tuyến đường goòng này Cho đến cuối năm

1948, tuyến đường goòng này đã chuyển 400 tấn gạo, 12 tấn đường, 20 tấn bong và 9.000 mét vải vào Quảng Bình Xí nghiệp đường goòng này được vinh

dự đón nhận huân chương lao động hạng 3 Đây là đơn vị đầu tiên ở hai tỉnh được Chính phủ tặng Huân chương [53, tr 262]

1.2.2 Quá trình chỉ đạo công tác vận động phụ nữ của Đảng từ năm 1949 đến

năm 1950

Trong công tác sản xuất phục vụ đời sống, cuộc vận động giảm tô 25% và chia lại công điền, công thổ cho cả nam và nữ cử tri cùng với việc chia ruộng vắng chủ cho nông dân cày cấy được tiến hành một cách tích cực và tập trung Đến cuối năm 1949 đầu năm 1950 chúng ta đã hoàn thành việc phân cấp công điền, công thổ cho cả nam, nữ cử tri và trên 100 hộ nông dân đã được chia ruộng vắng chủ nhận giảm từ 10% - 25% địa tô trên một diện tích 15.894 mẫu (Trung Bộ) cho 11.997 tá điền Việc chia ruộng đất đã đẩy mạnh vai trò của phụ nữ trong sản xuất nhất là khi nam giới đã được huy động vào quân đội và các nhiệm vụ khác

Trang 40

Nông dân được giảm tô, có thêm ruộng đất càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Họ tự nguyện tham gia vào các tổ chức hợp công, đổi công, hình thức tổ chức ban đầu để đưa nông dân lao động vào con đường sản xuất tập thể

xã hội chủ nghĩa Tháng 5 năm 1949, toàn tỉnh đã có 2.258 tổ đổi công Từ hình thức tổ đổi công, Đảng bộ đã dần dần tổ chức nông dân vào HTX sản xuất nông nghiệp Đến năm 1950, toàn tỉnh Thanh Hoá đã xây dựng được 504 HTX Những tổ chức này đã giúp nông dân trong tỉnh chiến thắng thiên tai, địch họa, giải quyết được khó khăn về nhân lực, thời vụ và từng bước biến đổi được cách canh tác cũ kỹ lạc hậu, đưa năng xuất và sản lượng nông nghiệp tăng lên, đáp ứng được yêu cầu của kháng chiến và đời sống nhân dân trong tỉnh

Được sự chăm lo của Đảng bộ chính quyền dân chủ nhân dân, sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hoá đã có những bước phát triển vững chắc Đến năm 1949, toàn tỉnh đã thu được 260.000 tấn lúa, 7.800 tấn ngô, 45.000 tấn khoai, 517 tấn bông Diện tích đất nông nghiệp không ngừng được tăng lên Vụ chiêm năm 1949 so với năm 1948 tăng 10.000 mẫu lúa và 6.149 mẫu bông Chăn nuôi gia súc và đại gia súc được chú trọng đến năm 1949 đã có 15 vạn con trâu bò, là nguồn sức kéo quan trọng trong sản xuất nông nghiệp

Tại Nghệ An, phong trào vận động chị em học cày bừa thay thế nam giới bận đi chiến đấu cũng đạt được những kết quả quan trọng không chỉ trong việc đảm bảo diện tích canh tác mà còn cả trong việc nâng cao ý chí tự lực, tự cường của chị em Ở huyện Nghi Lộc bấy giờ đã có 6.217 chị em học cày bừa đến độ thành thục Tại các huyện miền núi như Quỳ Châu, Con Cuông, Tương Dương, chị em cũng mạnh dạn học cày bừa và dùng phân chuồng bón ruộng Chị Lương Thị Mại (dân tộc thái) ở xã Yên Khê (Con Cuông) và các chị ở xã Khủn Tinh (nay thuộc Quỳ Hợp) là những người đi đầu trong phong trào ở miền núi Nghệ An

Cùng với sản xuất nông nghiệp, các ngành nghề sản xuất hàng tiêu dùng cũng được các Đảng bộ quan tâm xây dựng và phát triển như nghề dệt vải và

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. V. Binsaisoan, Nguyệt Tú, Dương Thị Khiển dịch (1959), Vấn đề phụ nữ đã được giải quyết ở Liên Xô như thế nào?, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ đã được giải quyết ở Liên Xô như thế nào
Tác giả: V. Binsaisoan, Nguyệt Tú, Dương Thị Khiển dịch
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1959
13. Bộ Chỉ huy quân sự Nghĩa Bình (1988), Quảng Ngãi - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975), Nxb Tổng hợp Nghĩa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ngãi - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Chỉ huy quân sự Nghĩa Bình
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Nghĩa Bình
Năm: 1988
14. Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Viện lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1997
15. Đào Trọng Cảng (1993), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng các vùng tự do lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, Luận án PTS khoa học lịch sử 5.03.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng các vùng tự do lớn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954
Tác giả: Đào Trọng Cảng
Năm: 1993
16. Đặng Thị Vân Chi (2007), Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Luận án tiến sĩ Lịch sử: 62.22.54.05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước cách "mạng tháng Tám năm 1945
Tác giả: Đặng Thị Vân Chi
Năm: 2007
17. Đặng Thị Vân Chi (2000), “Báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX với việc đánh giá vai trò và địa vị phụ nữ Việt Nam trong lịch sử” (Kỷ yếu hội nghị khoa học ĐHQGHN), Hà Nôi, tr5 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX với việc đánh giá vai trò và địa vị phụ nữ Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Đặng Thị Vân Chi
Năm: 2000
19. Lê Duẩn (1967), Phải đứng trên quan điểm giai cấp mà nhận xét vấn đề phụ nữ (In lần 3), Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải đứng trên quan điểm giai cấp mà nhận xét vấn đề phụ nữ (In lần 3)
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1967
20. Nguyễn Văn Dương (2008), “Bác Hồ với vấn đề phụ nữ”, Tạp chí Kiểm toán, (Số 3 - 88, 0868 - 3227) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với vấn đề phụ nữ”, "Tạp chí Kiểm toán
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Năm: 2008
21. Đảng bộ L.K.IV (1949), Phương châm lớn về dân vận ở vùng tạm chiếm năm 1949, Chỉ thị của BCH Liên khu Đảng bộ L.K.IV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương châm lớn về dân vận ở vùng tạm chiếm năm 1949
Tác giả: Đảng bộ L.K.IV
Năm: 1949
22. Đảng đoàn Bộ Giáo dục (1967), Nghị quyết về một số chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện những nghị quyết của Đảng và Chính phủ về công tác phụ nữ, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về một số chủ trương, biện pháp nhằm thực hiện những nghị quyết của Đảng và Chính phủ về công tác phụ nữ
Tác giả: Đảng đoàn Bộ Giáo dục
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1967
23. Lê Văn Đạt (1999), Quá trình hình thành, phát triển của kinh tế tự túc ở vùng tự do Liên khu IV trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Đề tài KHCN cấp Bộ, Mã số B96-43-06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành, phát triển của kinh tế tự túc ở vùng tự do Liên khu IV trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 1999
24. Lê Văn Đạt (2000), “Tình hình sản xuất nông nghiệp ở vùng tự do Liên khu V trong những năm 1947 - 1954”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sản xuất nông nghiệp ở vùng tự do Liên khu V trong những năm 1947 - 1954”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2000
25. Lê Văn Đạt (2001), “Vùng tự do Phú Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954”, Tạp chí Khoa học Sư phạm, ĐHSP Hà Nội, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng tự do Phú Yên trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954”, "Tạp chí Khoa học Sư phạm
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2001
26. Lê Văn Đạt (2001), “Vài nét về tình hình giáo dục ở vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình giáo dục ở vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2001
27. Lê Văn Đạt (2001), “Những đóng góp của vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954”, Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954”, "Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2001
28. Lê Văn Đạt (2002), Vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2002
29. Lê Văn Đạt (2005), Tìm hiểu quá trình xây dựng, phát triển giáo dục ở vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Đề tài KHCN cấp Bộ, Mã số: B2004-43-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quá trình xây dựng, phát triển giáo dục ở vùng tự do Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954)
Tác giả: Lê Văn Đạt
Năm: 2005
30. Lê Thị Hà (2008), Đảng với cuộc vận động phụ nữ (1930 - 1945), Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 56, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng với cuộc vận động phụ nữ (1930 - 1945)
Tác giả: Lê Thị Hà
Năm: 2008
31. Hội LHPN tỉnh Cao Bằng (2000), Lịch sử đấu tranh cách mạng phụ nữ tỉnh Cao Bằng 1930 - 1975, Nxb Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đấu tranh cách mạng phụ nữ tỉnh Cao Bằng 1930 - 1975
Tác giả: Hội LHPN tỉnh Cao Bằng
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2000
32. Hội LHPN Hà Đông (1955), Tầm quan trọng của công tác vận động phụ nữ, Tài liệu học tập của cán bộ phụ nữ thôn xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm quan trọng của công tác vận động phụ nữ
Tác giả: Hội LHPN Hà Đông
Năm: 1955

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w