1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại tu nam 2006 den nam 2013

124 411 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một bộ phận hợp thành đường lối đổi mới của Đảng, đường lối và chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã cho phép khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế, kết h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Li ̣ch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đình Lê

Hà Nội-2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Bích Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả sau thời gian học tập và nghiên cứu của tôi tại khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Để có được kết quả này, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt, cho tôi gửi lời cảm ơn đến thầy – PGS.TS Nguyễn Đình Lê đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

LÊ THỊ BÍCH THỦY

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ODA Viện trợ phát triển chính thức

UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

Trang 6

4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong thắng lợi to lớn đó, đường lối đối ngoại đóng một vai trò quan trọng

Bước vào thế kỷ XXI, chiến tranh lạnh đã chấm dứt được mười năm, thế giới ở trong giai đoạn quá độ tiến tới một trật tự mới Ngay sau khi Liên

Xô tan vỡ, Mỹ bắt đầu theo đuổi mục tiêu thiết lập một thế giới đơn cực do

Mỹ đứng đầu và thao túng Việc Mỹ lấy cớ chống khủng bố đưa ra học thuyết quân sự mới "đánh đòn phủ đầu", bất chấp có chứng cứ hay không, rồi lại dùng các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, phớt lờ vai trò của Liên hợp quốc khiến các nước phải cảnh giác Tình hình đó cho thấy, nhận định của Đại hội X: "Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp, các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt "[13, tr73-74] là hoàn toàn đúng đắn Trong bối cảnh thế giớ i hai cực bị phá vỡ, quan hệ quốc tế dường như đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại và nảy sinh xu hướng đa dạng hoá, đa phương hoá trong tiến trình toàn cầu hoá, phát triển và phụ thuộc lẫn nhau.Toàn cầu hoá về kinh tế tác động đến mọi mặt của đời sống quốc tế theo hai chiều thuận nghịch buộc các quốc gia, các tổ chức quốc tế không thể không tính đến trong quá trình hoạch định đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao của mình

Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới, đến năm 1988 Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam đổi mới tư duy đối ngoại Đường lối đối ngoại đổi mới được công bố tại diễn đàn Đại hội VII, các Đại hội VIII, IX, X và XI đã khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo, nhạy

Trang 7

5

bén trong việc hoạch định và thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, đồng thời bổ sung và phát triển các quan điểm trong đường lối này Sau hơn hai mươi lăm năm tiến hành đổi mới toàn diện, Viê ̣t Nam đã thu được nhiều thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử Là một bộ phận hợp thành đường lối đổi mới của Đảng, đường lối và chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã cho phép khai thác có hiệu quả các nhân tố quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chống chiến lược "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch hòng phá hoại thành quả cách mạng Việt Nam, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN và đưa cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên Tuy những nguy cơ đối với nước ta mà Đảng Cộng sản Viê ̣t Nam chỉ ra vẫn tồn tại, diễn biến ngày càng phức tạp, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào nhưng nước ta còn những cơ hội lớn được tạo

ra bởi các nhân tố như thế và lực của đất nước ta đã tăng lên sau hơn hai thập niên đổi mới Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển;

đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;

là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế;

vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giầu mạnh"[14, tr235-236]

Những biến đổi to lớn trên thế giới và đặc biệt là trong nước trong thời gian qua đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đòi hỏi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải tìm ra những giải pháp ngang tầm với những biến đổi đó Nghiên cứu sự lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2011 chẳng những làm rõ thêm đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn rút ra một số kinh nghiệm cho công tác đối ngoại hiện nay

Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay thể hiện bản sắc, truyền thống ngoại giao Việt Nam, phong cách ngoại giao

Hồ Chí Minh - một nền tảng vững chắc của trường phái ngoại giao Việt Nam

Trang 8

6

hiện đại - bám sát đặc điểm tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là đặc điểm tình hình trong nước cũng như nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhiều nhà ngoại giao, nhiều cơ quan nghiên cứu tiến hành trong nhiều năm qua Những công trình chuyên khảo, luận văn nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này thể hiện dưới những góc độ khác nhau Đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:

Bộ Ngoại giao, “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Vũ Dương Huân, “Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự

nghiệp đổi mới (1975-2002)”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Bộ

Ngoại giao, “Tổng kết chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng và

Nhà nước ta qua 20 năm đổi mới”, Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm

cấp bộ, Vụ Chính sách đối ngoại, Hà Nội, 2004; Trình Mưu - Nguyễn Thế

Lực - Nguyễn Hoàng giáp (đồng chủ biên) “Quá trình triển khai thực hiện

chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam”, Nxb Lý luận

chính trị, Hà Nội, 2005; Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần KhắcViệt, Lê Ngọc Tòng (đồng chủ biên), Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng (1986-2005),Tập 2, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; Hội đồng lý

luận Trung ương, “Tổng kết lý luận, thực tiễn 20 năm đổi mới của Đảng

(1986-2006)”, Hà Nội, 2006; Lê Công Phụng, Đinh Xuân Quý, “Ngành ngoại giao Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước đến năm 2010, Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010”,

Nxb Thống kê, Hà Nội, 10/2007; Trình Mưu, Nguyễn Hoàng Giáp (đồng chủ

biên), “Quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Việt Nam hiện nay (Hỏi -

đáp)”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007); Nguyễn Mạnh Hùng - Phạm

Minh Sơn (đồng chủ biên), “Đối ngoại Việt Nam: Truyền thống và hiện đại”,

Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; 2008; Học viện Ngoại giao, Phạm Bình Minh,

Trang 9

7

“Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010; Phạm Gia Khiêm, “Nền ngoại giao toàn diện Việt

Nam trong thời kỳ hội nhập”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 8/2012

Bên cạnh đó, còn có một số luận án, luận văn đã bảo vệ đề cập đến chủ

đề này: Vũ Quang Vinh, “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối

ngoại (1986 -2000)”, Luận án tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh, 2001; Vũ Đình Công, “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt

Nam (1986-1995)”, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Đại học Quốc gia Hà

Nội, 1997; v.v

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập đến các khía cạnh của đường lối đối ngoại của Đảng ta từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên chưa có một công trình nào tổng kết, đặc tả đường lối đối ngoại của Đảng ta trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013 Chính vì lý do đó,

tác giả chọn đề tài “Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác đối ngoại

từ năm 2006 đến năm 2013” làm luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

- Hệ thống, khái quát, phân tích những chủ trương, chính sách, trình bày sự độc lập, sáng tạo của Đảng trong việc hoạch định đường lối đối ngoại đổi mới

- Nêu bật những nội dung , quyết sách về đối ngoại của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) và Đại hô ̣i Đảng lần thứ XI (1/2011), quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách đối ngoại từ năm 2006 đến năm 2013; những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm rút ra từ hoạt động đối ngoại

trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cùng nội dung những quyết sách về đối ngoại của Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ X (04/2006) và Đại hội Đảng lần thứ XI (01-2011)

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Nghiên cứu đường lối, chủ trương và quá trình tổ chức chỉ đạo công tác đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2013

- Phạm vi:

+ Nội dung: Làm rõ sự lãnh đạo công tác đối ngoa ̣i của ĐCSVN + Không gian : ĐCSVN lãnh đa ̣o công tác đố i ngoa ̣i ta ̣i Viê ̣t Nam (trong và ngoài nước)

+ Thờ i gian: Từ năm 2006 đến năm 2013

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đối ngoại

- Nguồn tư liệu:

+ Các Văn kiện của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về đường lối đối ngoại

+ Bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao

+ Một số sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước đã xuất bản

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận li ̣ch sử, phương pháp lôgíc, tổng hợp, phân tích, so sánh

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống những nô ̣i dung chủ yếu quá trình hoạch định và lãnh đạo công tác đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2013

Trang 11

9

- Góp phần tổng kết đường lối đối ngoại của Đảng trong hơn 25 năm đổi mới của Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 12

10

Chương 1

CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG HOẠCH ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐỐI NGOẠI TỪ

NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013 1.1 Cơ sở lý luận sự phát triển đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.1.1 Xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc tế

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học, cách mạng về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới là tiến hành cuộc cách mạng xã hội để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người Đây là cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, toàn diện và triệt để, vừa mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính quốc tế Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của cuộc cách mạng đó đòi hỏi các Đảng Cộng sản và công nhân phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của mỗi nước Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc tế tập trung ở một số luận điểm cơ bản dưới đây:

Thứ nhất, cách mạng vô sản là cuộc cách mạng mang tính dân tộc và tính quốc tế

Cách mạng vô sản nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là cuộc cách mạng xã hội sâu sắc, toàn diện và triệt để, vừa mang tính giai cấp, tính dân tộc và tính quốc tế rộng rãi, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, về nội dung không phải

là cuộc đấu tranh dân tộc Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”[7, tr 661] Sự nghiệp cách mạng đó chỉ có thể hoàn thành khi các Đảng cộng sản và công nhân kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp; đoàn kết giữa giai cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức và cả loài người tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: giai cấp vô sản

Trang 13

11

ở mỗi nước phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc và dân chủ, đưa phong trào giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản Khẩu hiệu đoàn kết quốc tế đã được Mác - Ăngghen nêu lên: “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại” và sau này được Lênin phát triển “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức

toàn thế giới đoàn kết lại”

Thứ hai, tôn trọng, đấu tranh cho quyền bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc

Đấu tranh cho quyền bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc là một nội dung quan trọng trong học thuyết Mác - Lênin Nghiên cứu vấn đề dân tộc

và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I Lênin đã chỉ

rõ xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập và sự liên hiệp của các dân tộc trong một quốc gia, các dân tộc của nhiều quốc gia nhằm mở rộng, tăng cường quan hệ kinh tế, phá bỏ ngăn cách về kinh tế giữa các dân tộc Hai xu thế này vận động trong một thể thống nhất, mỗi nước vừa có nhu cầu độc lập, tự chủ… nhưng đồng thời vừa phải mở rộng quan hệ với bên ngoài, hòa nhập với cộng đồng quốc tế và ngày càng xích lại gần nhau trên các lĩnh vực

Trong “Cương lĩnh dân tộc”, V.I.Lênin đã chỉ rõ: quyền bình đẳng là quyền thiêng liêng của mọi dân tộc, là mục tiêu phấn đấu của các dân tộc trong

sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; các dân tộc có quyền tự quyết

về chính trị và con đường phát triển cho dân tộc mình, thực hiện quyền làm chủ vận mệnh dân tộc mình mà không một dân tộc nào được quyền dùng áp lực can thiệp vào công việc nội bộ của dân tộc khác; đoàn kết công nhân tất cả các dân tộc làm mục tiêu phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc

và giải phóng nhân loại

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền bình đẳng, quyền tự quyết của các dân tộc trong cách mạng vô sản là cơ sở lý luận, nền tảng tư

Trang 14

12

tưởng chỉ đạo các Đảng Cộng sản và công nhân, các nhà nước xã hội chủ nghĩa giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ quốc tế

Thứ ba giương cao ngọn cờ hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới

Trong quan hệ quốc tế, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn giương cao ngọn cờ hoà bình, lên án các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc, tích cực đấu tranh bênh vực và bảo vệ quyền lợi chân chính của các dân tộc và coi đó là những vấn đề có tính nguyên tắc đối với một Đảng cộng sản chân chính Các nhà kinh điển Mácxít và những người cộng sản chân chính phải có thái độ đấu tranh, phê phán không khoan nhượng với các trào lưu

cơ hội, xét lại, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa dân tộc đủ mọi màu sắc để bảo vệ, phát triển tình đoàn kết, sự ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau của phong trào cộng sản quốc tế với các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp hành động của những người cộng sản

và cách mạng trong quan hệ quốc tế

Trong hoạt động chính trị thực tiễn, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt quan tâm tới xây dựng tình đoàn kết và sự phối hợp hành động chung của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên thế giới, sáng tạo nên nhiều hình thức liên hệ phong trào cộng sản, công nhân quốc tế

C.Mác và Ph.Ăngghen đã trực tiếp tổ chức chỉ đạo hoạt động của Quốc

tế I, Quốc tế II tổ chức phát động phong trào công nhân quốc tế ủng hộ Công

xã Pari, bảo vệ các chiến sĩ công xã trước sự khủng bố trả thù của giai cấp tư sản; lên án các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa tư bản V.I.Lênin đã tổ chức, chỉ đạo hoạt động Quốc tế III, hướng các hoạt động của Quốc tế vào mục tiêu chuyên chính vô sản và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, chống chiến tranh thế giới Về sau, Hội nghị các đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới (1957, 1960, 1969 ) cũng là những hình thức liên hệ đa dạng, tích cực của phong trào cộng sản quốc tế nhằm phối hợp hành động thực hiện chiến lược chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

* Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế

Trang 15

13

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là “hệ thống quan điểm và đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước, là bộ phận hữu cơ của tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam”[19, tr130-131] Nội dung tư tưởng đối

ngoại Hồ Chí Minh thể hiện trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Xuất phát từ luận điểm: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải tiến hành cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân giành độc lập dân tộc không chỉ bằng lòng yêu nước, mà muốn thành công cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản và là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng đó Theo Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập dân tộc là lợi ích cao nhất, tiên quyết nhất của các nước thuộc địa và phụ thuộc Lợi ích của dân tộc Việt Nam trước hết là độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc, là chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước; đó cũng là quyền

tự quyết, quyền bình đẳng của dân tộc trước các nước trong quan hệ quốc tế Cùng với mục tiêu thiêng liêng là giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc, Người còn hướng cách mạng Việt Nam tiến lên CNXH - đó là con đường đúng đắn nhất bảo đảm giá trị thực sự của độc lập dân tộc trong nền hòa bình chân chính

Quan điểm độc lập dân tộc và CNXH đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào

thực tế cách mạng một cách toàn diện từ mục tiêu cách mạng, phương pháp cách mạng đến vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Độc lập dân tộc, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đi lên CNXH là tư tưởng cốt lõi, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối đối ngoại và ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta trong các thời kỳ cách mạng cũng như thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới hiện nay

Thứ hai, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế

Độc lập tự chủ trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh còn thể hiện ở phương diện “sức mạnh nội lực” mà Người thường gọi là “thực lực” Đó

Trang 16

14

chính là sức mạnh ý chí tự lực, tự cường, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh của kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước Tuy nhiên, Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng: “Nước ta là một bộ phận của thế giới Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”[18 ,tr173]. Do vậy, để chiến thắng kẻ thù, để phát triển đất nước, Hồ Chí Minh luôn chủ trương mở rộng biên độ đoàn kết và hợp tác quốc tế, mà trước hết là tình đoàn kết quốc tế giữa Đảng Cộng sản, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới trên cơ sở phương châm kiên trì về nguyên tắc, giữ vững chiến lược, nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược theo tinh thần

“dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu, “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[17, tr 220] Người

coi yếu tố quốc tế có ý nghĩa quan trọng cho thắng lợi của cách mạng nhưng yếu tố độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường luôn giữ vai trò quyết định mọi thắng lợi Do vậy, việc xây dựng thực lực tổng hợp của đất nước - sức mạnh nội lực chính là nền tảng vững chắc để đoàn kết, hợp tác quốc tế một cách có hiệu quả, bền vững

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế là hệ thống quan điểm thể hiện các nội dung về kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; về mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực và các phương châm, phương pháp nhằm phát huy hiệu quả của kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta Đây là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh,

là cơ sở lý luận và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Thứ ba, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ cho sự nghiệp cách mạng

Xuất phát từ quan điểm cách mạng Việt Nam là một phận của cách mạng thế giới, trên cương vị là Người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại, dân tộc với quốc tế, tranh thủ thời cơ và sự giúp đỡ bên ngoài, tập

Trang 17

15

hợp lực lượng nhiều tầng nấc khác nhau, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng nước ta lớn mạnh, chủ động vươn lên tự giải phóng cho mình, qua đó góp phần vào cách mạng thế giới

Xác định thực chất của việc giải quyết mối quan hệ này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “thực lực” tổng hợp của dân tộc là nhân tố quyết định sức mạnh, hiệu quả và vị thế của đất nước trong quan hệ quốc tế; sức mạnh của thời đại

là xu thế vận động phát triển tất yếu của xã hội loài người, là sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới và sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến

bộ trên thế giới đối với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân ta Do vậy, trong quan hệ đối ngoại phải phân tích đúng đắn tình hình thế giới, hiểu rõ đối tác quan hệ, hiểu rõ nền chính trị thế giới, sự tác động trực tiếp và gián tiếp của nó đến cách mạng nước ta để đề ra những đối sách xử lý các vấn đề của đất nước cũng như quan hệ quốc tế phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

sẽ giúp cách mạng nước ta phát triển nhanh và nhận được sự hợp tác quốc tế thuận lợi hơn, tạo sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta

Thứ tư, ngoại giao tâm công hòa bình, chống chiến tranh phi nghĩa theo truyền thống nhân văn của dân tộc

Tư tưởng ngoại giao tâm công là một trong những tư tưởng, phong cách, nghệ thuật ngoại giao đặc sắc của Hồ Chí Minh Là lãnh tụ của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam thời kỳ hiện đại, là nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc và nhà ngoại giao kiệt xuất của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, tư tưởng ngoại giao tâm công của Hồ Chí Minh là sự phát triển lên tầm cao mới lịch sử đối ngoại chính nghĩa, nhân văn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến cứu nước Đó chính là nghệ thuật tâm công đánh vào lòng người, thuyết phục người, chinh phục trái tim, khối óc, mối thiện cảm của người bằng chính nghĩa và đạo lý

Cơ sở của tâm công theo Hồ Chí Minh là tình cảm yêu hòa bình, tôn trọng lẽ phải và đạo lý của nhân dân tiến bộ trên thế giới gắn liền với cuộc

Trang 18

16

đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng CNXH ở nước

ta Đồng thời, cuộc đấu tranh đó gắn kết với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN trên phạm vi thế giới, xu thế thời đại hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội Mặt khác, trong hai cuộc kháng chiến cứu nước mà Hồ Chí Minh là tư lệnh tối cao, nhân dân ta thường phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh Trong hoàn cảnh đó, ngoại giao tâm công đã được thể hiện ở tầm cao mới, dưới nhiều hình thức và nội dung phong phú, da dạng Đó là ngoại giao thể hiện tình cảm chân thành “vừa là đồng chí, vừa là anh em” trên tinh thần trong sáng, thủy chung, phát huy đoàn kết, hữu nghị, hợp tác với bạn

bè quốc tế, láng giềng Với đối phương, Hồ Chí Minh đấu tranh lý lẽ, đề cao chính nghĩa, lẽ phải, thức tỉnh lương tâm, đồng thời tỏ rõ mong muốn hòa bình, hợp tác cùng có lợi, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nước đối phương Với các cá nhân bạn bè quốc tế, Hồ Chí Minh chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của họ bằng những cứ chỉ tượng trưng hoặc xử thế tinh tế, mang tính biểu tượng cao… Thực tiễn chứng minh ngoại giao tâm công hòa bình, chống chiến tranh phi nghĩa theo truyền thống nhân văn của dân tộc của Hồ Chí Minh đã làm tăng sức tiến công của ngoại giao Việt Nam phục vụ cho những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta

1.1.2 Từ truyền thống ngoại giao của dân tộc

Việt Nam có truyền thống ngoại giao lâu đời, chống giặc mạnh, giao thiệp với nước lớn, cùng với đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao luôn luôn được các thế hệ cha ông ta sử dụng như một công cụ, một phương thức và biện pháp đấu tranh quan trọng, sắc bén và hiệu quả, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đấu tranh giữ nước và dựng nước Lịch sử ngoại giao của ông cha ta để lại những bài học thực tiễn phong phú, quý giá cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam:

Thứ nhất, nêu cao ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đề cao và bảo vệ lợi ích quốc gia, bản sắc văn hoá, danh dự dân tộc

Trang 19

17

Đây là thể hiện sâu sắc chủ nghĩa yêu nước trong quan hệ quôc tế, thực

tế lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng ở bất cứ thời kỳ nào, tổ tiên ta giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, phát huy được ý thức tự cường, kiên quyết bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia thì thời kỳ đó giành được nhiều thắng lợi trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, đất nước phát triển ổn định, vững chắc, có vị thế cao trong quan hệ quốc tế Trái lại, các triều đại và vua chúa nào hạ thấp hoặc hy sinh lợi ích dân tộc, chạy theo lợi ích của các dòng họ và ngôi báu, thì sẽ tỏ ra thiển cận, sai lầm và ươn hèn trong hoạt động đối ngoại, làm tổn thất đến lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự

và đấu tranh trên các lĩnh vực khác

Sự kết hợp đó là một đặc điểm nổi bật trong lịch sử ngoại giao của dân tộc Đó là việc kết hợp giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự, giữa

“giao” và “công” một cách mưu trí, sáng tạo Nghĩa là, vừa duy trì quan hệ bang giao hoà hoãn vừa thường xuyên cảnh giác, tích cực chuẩn bị lực lượng, không để bất ngờ, kịp thời đánh trả khi bị tiến công và kiên quyết tiến công địch với tinh thần quyết thắng

Kết hợp giữa “đánh" và "đàm” Trong khi tiến hành các hoạt động quân

sự tiêu diệt, tiêu hao địch trên chiến trường vẫn đẩy mạnh ngoại giao đấu tranh với đối phương, tranh thủ các điều kiện, thời cơ có lợi khi địch bị suy yếu, hoang mang dao động để đánh tan ý chí xâm lược của chúng, giành thắng lợi cao nhất, nhanh nhất và ít đổ máu nhất Kết hợp giữa “đánh” và “đàm” còn là dịp để vạch trần tội ác của địch, gương cao ngọn cờ chính nghĩa của ta, chỉ rõ thất bại tất yếu của chúng; đánh vào tinh thần tư tưởng của địch, hoặc phân hoá, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù Kết hợp giữa "đánh" và "đàm" còn được ông cha ta chủ động kết thúc chiến tranh một cách có lợi nhất cho ta

và mở ra cục diện mới trong quan hệ giữa hai bên sau chiến tranh, giải quyết các vấn đề hậu quả sau chiến tranh

Trang 20

18

Kết hợp giữa “lễ” với “binh”, Trong quan hệ giữa nhà nước phong kiến trước đây, lễ nghi, lễ nghĩa thường được các bên coi trọng Trong tiếp xúc ngoại giao, ông cha ta tiếp đón sứ thần đối phương rất trịnh trọng, đúng nghi

lễ cần có, cả lúc trước, sau và trong chiến tranh Ta cũng đòi hỏi đối phương khi tiếp xúc ngoại giao với ta cũng phải đúng lễ nghĩa và trân trọng Ông cha

ta trong tiếp đón, đàm phán với địch đúng nghi lễ, vừa khôn khéo nhún nhường của nước nhỏ, vừa kiên quyết giữ vững nguyên tắc kết hợp binh lực thị uy, phô trương thanh thế, khuyếch trương lực lượng răn đe chúng, kiên quyết đánh địch giành và giữ độc lập dân tộc, nâng cao vị thế của đất nước

Thứ ba, kiên định mục tiêu chiến lược, giữ vững nguyên tắc song mềm dẻo khôn khéo về sách lược

Trong đấu tranh ngoại giao, phương châm xử lý của ông cha ta là luôn quán triệt sâu sắc tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Không bao giờ từ bỏ, nhân nhượng những vấn đề về chiến lược, quan hệ đến lợi ích cơ bản, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và danh dự dân tộc

Đấu tranh ngoại giao rất khó khăn, phức tạp và căng thẳng Đây thực sự

là vấn đề mưu lược, đấu trí, đấu tài, đòi hỏi sự thông tuệ, sáng suốt, bản lĩnh

và cả sự khôn khéo, mềm dẻo, tính kiên trì theo đuổi mục tiêu Ông cha ta đã cung cấp cho chúng ta nhiều kinh nghiệm phong phú về nghệ thuật đàm phán

và hoạt động ngoại giao Trên cơ sở đặt quyền lợi tối cao của dân tộc lên trên hết, nhất quán với mục tiêu đã xác định, song biết thắng từng bước, từng phần, biết cái gì, khi nào có thể nhân nhượng, cái gì không thể nhân nhượng, dùng lời lẽ sắc sảo, nhún nhường nhưng không quỵ lụy Đặc biệt bằng thực tiễn lịch sử, tổ tiên ta cho thấy trong quan hệ với kẻ thù, không bao giờ được

lơ là mất cảnh giác, ảo tưởng mơ hồ bản chất, âm mưu của chúng Đồng thời phải luôn cảnh giác cao, kịp thời nắm bắt mọi diễn biến và động thái của đối phương, nhận rõ ý đồ, thủ đoạn của chúng để có phương sách đúng đắn, đấu tranh đạt được kết quả cao nhất, nhờ đó ta thắng địch về ngoại giao góp phần

to lớn về thắng lợi chung của dân tộc

Trang 21

19

Thứ tư, nắm chắc đặc điểm, tình hình đối phương, tình hình thực lực của đất nước để đề ra chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp, đem lại hiệu quả cao nhất

Cha ông ta thường nói “Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng” Điều

đó không chỉ đúng trong đấu tranh quân sự mà cũng đúng cả trong đấu tranh ngoại giao Mặt khác, hoạt động đối ngoại bao giờ cũng bị chi phối bởi sự tác động của các đặc điểm tình hình các nước liên quan, của thời, thế và tương quan so sánh lực lượng Trong lịch sử, ông cha ta đã từng lợi dụng thời gian hoà hoãn, quan hệ bang giao để nắm chắc nội tình đối phương, ý đồ và khả năng của chúng, chủ động tiến công ngăn chặn địch từ trước như Lý Thường Kiệt đã dùng chiến lược “tiên phát chế nhân” Vua Trần đã chủ động đưa phái

bộ sang đàm phán với Nguyên Mông để nắm tình hình quân sự của chúng, vận dụng phương lược cương, nhu tuỳ lúc, tuỳ thời Lê Lợi - Nguyễn Trãi trong lúc vây hãm Đông Quan và đánh viện binh địch đã hiểu rõ tình hình khốn quẫn, tâm trạng hoang mang, dao động của chúng, sử dụng đòn tiến công tâm lý làm cho quân trong thành hoàn toàn suy sụp tinh thần chiến đấu Quang Trung, Nguyễn Huệ sau khi giành thắng lợi về quân sự đã chủ động hoạt động ngoại giao bình thường hoá quan hệ với nhà Thanh, tạo điều kiện hòa bình phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng chính quyền, chuẩn bị lực lượng tiêu diệt quân Nguyễn Ánh ở Gia Định và quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút…

Thứ năm, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng các nhà ngoại giao có đủ phẩm chất và năng lực thực hiện nhiệm vụ đối ngoại với các nước

Lịch sử ngoại giao của dân tộc ta đã chứng minh thành bại trong hoạt động ngoại giao tuỳ thuộc một phần rất quan trọng vào phẩm chất và năng lực của các nhà ngoại giao Trong lịch sử dân tộc, chúng ta đã có nhiều nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là nhà chính trị, nhà quân sự lớn như Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh, Trần Nhật Duật, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm … Đây là những nhà ngoại giao tài giỏi, nhạy bén về chính trị, có

Trang 22

20

lòng yêu nước, thương dân, ý chí kiên cường dũng cảm, bản lĩnh vững vàng, tinh thần lạc quan, tinh thần chịu đựng khó khăn nguy hiểm, tuyệt đối trung thành với dân tộc, với đất nước… Và những hoạt động đấu tranh ngoại giao của họ đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của dân tộc trong lịch sử giữ nước và cứu nước

1.1.3 Tư ̀ kinh nghiệm thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế

Hơn hai mươi lăm năm, một khoảng thời gian không dài trong quá trình tiếp tục lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới của ĐCSVN, nhưng xét trên lĩnh vực đối ngoại, là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng to lớn, để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cả về lý luận và thực tiễn cho đối ngoại Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

Thứ nhất, đánh giá đúng sự biến đổi của tình hình quốc tế, khu vực; bám sát thực tiễn đất nước, nhạy bén phân tích và dự báo chính xác xu thế vận động của thế giới, kịp thời điều chỉnh chính sách đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Trong quá trình hoạch định đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng, việc đánh giá đúng đắn tình hình thế giới và khu vực, dự báo chính xác thời cuộc, vận nước là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt của công tác đối ngoại Đảng ta đã chỉ rõ: nhiệm vụ công tác đối ngoại là “Cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp”[3, tr 38] Thực hiện nhiệm vụ đó, trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới diễn ra vào lúc đất nước đang lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng; tình hình thế giới có nhiều biến động với những diễn biến phức tạp, bất lợi cho cách mạng Việt Nam; trong quan hệ quốc tế xuất hiện các xu thế mới khác với thời kỳ chiến tranh lạnh Tỉnh táo và sáng suốt, Đảng ta đã phân tích sâu sắc thực trạng đất nước, tìm được nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội và lý do dẫn đến các nước bao vây, cấm vận Việt Nam Đảng ta

Trang 23

21

đã kịp thời đề ra đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới phù hợp với yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thế giới và khu vực Việc chủ động chuyển sang giai đoạn đấu tranh mới dưới hình thức cùng tồn tại hòa bình với các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau có ý nghĩa chính trị quan trọng Trên cơ sở đó, Đảng chủ trương mở rộng quan hệ với tất

cả các nước, tạo ra những thành công trong lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới

Trải qua hơn 25 năm thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ trong nước và xu thế quốc tế Về quan hệ quốc tế, Đảng tiến hành điều chỉnh chính sách đối ngoại, lấy mục tiêu hòa bình và phát triển làm chuẩn mực trong mọi hoạt động quốc tế, thực hiện mở rộng liên kết, hợp tác, thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ của các nước

để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế

Thứ hai, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh

đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, xử lý đúng đắn các vấn đề quốc tế phù hợp điều kiện khả năng của ta và tình hình quốc tế cũng như các đối tác quan hệ

Trở ngại lớn nhất của Việt Nam trong những năm 80 thế kỷ XX là quan

hệ giữa nước ta với phần lớn các quốc gia trong khu vực không thuận lợi, thậm chí có lúc đối đầu, thù địch; một số nước thực hiện chính sách bao vây, cấm vận chống Việt Nam Để tháo gỡ tình trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã

có những chủ trương và đối sách khôn khéo, phù hợp với tình hình thực tế Trước hết, là việc rút quân khỏi Campuchia, để tránh việc các nước lợi dụng vấn đề Campuchia gây khó khăn cho Việt Nam Kiên trì và chủ động tạo điều kiện để bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc năm 1991, từng bước mở rộng sự hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng Tiếp đó, Đảng và Nhà nước ta đã nỗ lực tìm kiếm khả năng, tháo gỡ những vướng mắc đẩy nhanh tiến trình gia nhập

Trang 24

Thứ ba, xác định rõ mục tiêu, biện pháp đối ngoại thích hợp cho từng giai đoạn; không ngừng hợp tác quốc tế, đấu tranh trong những trường hợp cần thiết nhằm tìm kiếm thị trường, tranh thủ vốn, khoa học - công nghệ hiện đại; nắm vững phương châm vừa hợp tác vừa đấu tranh trong quan hệ quốc tế

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, cục diện thế giới đã có sự thay đổi sâu sắc khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới hai cực tan vỡ, những quan hệ truyền thống với nước ta không còn Trước tình hình đó, để phá thế bị bao vây cấm vận, từng bước mở rộng quan hệ quốc tế, Đảng ta đã kịp thời điều chỉnh tư duy và chính sách đối ngoại từ chỗ nhấn mạnh nhân tố chính trị sang chú trọng phát triển kinh tế, giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc và mở rộng hợp tác quốc tế Đảng và Nhà nước ta hết sức kiên trì đối thoại bằng nhiều hình thức, biện pháp ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để giải quyết vấn đề Campuchia từ đó làm cho các nước hiểu rõ hơn thiện chí và lập trường của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề khu vực, giải toả sự nghi kỵ và trở ngại trong quan hệ của Việt Nam với các nước Trong quá trình bình thường hóa quan hệ giữa nước

ta với Mỹ, Trung Quốc, mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức quốc tế trên thế giới cho thấy, Đảng ta đã xử lý một cách khéo léo, tế nhị các mối quan hệ quốc tế chồng chéo, phức tạp Đảng nhận thức rõ vai trò, vị trí của từng đối tác quan hệ, nhất là với các nước lớn, từ đó hoạch định chính sách

Trang 25

ổn định và phát triển kinh tế trước sự sụp đổ của các thị trường truyền thống, đồng thời tạo ra những tiền đề, điều kiện để nước ta từng bước tham gia hợp tác kinh tế khu vực và quốc tế

Có thể nói, trong quá trình lãnh đạo thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới, Đảng ta luôn đặt ra mục tiêu là tích cực hợp tác quốc tế, giữ vững độc lập

tự chủ, nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng trong quan

hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng lợi ích của nhau, tạo thế đan xen về lợi ích, thực hiện nghiêm những điều ước ký kết, không vi phạm luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc

Thứ tư, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ hợp tác quốc tế, hoàn thiện luật pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội

Ở bất kỳ một thời đại nào cũng vậy, lợi ích dân tộc luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu trong hoạch định chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng ta

đã phát huy ở mức cao nhất tinh thần độc lập tự chủ, giành thắng lợi to lớn giải phóng dân tộc Ngay sau khi đất nước thống nhất, đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với những khó khăn chồng chất, nhất là quan hệ đối ngoại chưa được mở rộng, bị đế quốc Mỹ bao vây, cấm vận, hệ thống XHCN thì hầu như

Trang 26

24

“đóng kín” cửa với thế giới bên ngoài Để phát triển đất nước, Đại hội VI đề

ra đường lối đối ngoại rộng mở, xác định nhiệm vụ hàng đầu của công tác đối ngoại là “củng cố và giữ vững hòa bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế, sự xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Đây

là một bước ngoặt đổi mới tư duy, nhận thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại của Đảng ta trên một loạt vấn đề chiến tranh và hòa bình, an ninh và phát triển, lợi ích quốc gia và nghĩa vụ quốc tế

Đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới của Đại hội VI tiếp tục được

bổ sung trong các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Với quan điểm:

“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập,tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.[14, tr 83] Đảng và Nhà nước ta tiến hành một loạt các biện pháp như bổ sung, sửa đổi luật pháp với những điều luật thông thoáng hơn; đẩy mạnh cải cách hành chính, hạn chế và tiến dần đến loại bỏ những thủ tục hành chính phiền hà, gây khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế, cũng như các thiết chế kinh tế thế giới và khu vực mà Việt Nam tham gia

Đường lối đối ngoại luôn xuất phát từ đường lối đối nội, phục tùng và phục vụ đường lối đối nội Hiện nay, lợi ích cao nhất của dân tộc mà mọi hoạt động đối ngoại phải thực hiện đó là bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Để hoàn thành nhiệm vụ đó phải phát huy tối

đa sức mạnh của dân tộc Hồ Chí Minh đã viết: “Nếu tự mình không có thực

Trang 27

25

lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao”[15, tr 459], “thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là các tiếng Chiêng có to tiếng mới lớn”[16, tr 126] Thực lực (nội lực) tạo ra thế và lực cho ngoại giao, đó là sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, an ninh quốc phòng Đảng ta cũng cho rằng, muốn ngoại giao được thắng lợi thì phải biểu dương phát huy nội lực, coi việc xây dựng thực lực chính trị, kinh tế, quân sự là nhân

tố bên trong quyết định sức mạnh của đối ngoại Thực tiễn cách mạng Việt Nam những năm qua đã thể hiện Đảng ta luôn kết hợp một cách chặt chẽ và

có hiệu quả giữa mặt trận ngoại giao với các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng làm cho sức mạnh nội lực của đất nước ngày càng được nhân lên gấp bội, tạo đà cho đất nước phát triển Nghị quyết Hội nghị Trung ương bốn khóa VIII nhấn mạnh vấn đề phát huy nội lực là phương châm xuyên suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và là nhân tố bảo đảm sự bền vững của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 Cơ sở thực tiễn của sự phát triển đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.2.1 Xuất phát từ tình hình thế giới và khu vực

* Tình hình thế giới và khu vực

Kể từ đầu thập kỷ 90, thế giới bước vào thời kỳ quá độ từ trật tự thế giới

cũ sang hình thành một trật tự thế giới mới Sự tan rã chế độ XHCN ở các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô (1991) đã làm cho cục diện thế giới có sự thay đổi căn bản sang hướng có lợi cho Mỹ và các nước tư bản phát triển, bất lợi cho phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới Xu thế hòa hoãn, hòa bình, ổn định trở thành xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế Cuộc chạy đua về kinh tế giữa các nước trên thế giới đang thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang, ưu tiên phát triển kinh tế trở thành một trong những xu hướng chung của mọi quốc gia dân tộc Tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh đường lối, tập trung sức phát triển kinh tế - xã hội, giữ ổn định chính trị, củng cố sức mạnh quốc gia, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ,

Trang 28

26

tăng cường hợp tác quốc tế nhằm phục vụ cho sự phát triển đất nước Kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia, đảm bảo vai trò, vị trí của quốc gia đó trong đời sống quốc tế

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước tiến nhảy vọt tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay chủ yếu

diễn ra trên bốn lĩnh vực: sinh học, vật liệu thay thế, năng lượng và thông tin

Đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học tiếp tục phát triển mạnh

mẽ, dần dần đi vào chiều sâu và gắn với nhu cầu phát triển của kinh tế thế giới

Khoa học công nghệ trở thành tiền đề để “tri thức trở thành lực lượng sản xuất

trực tiếp” và thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế

phát triển, mở ra những triển vọng mới cho mỗi nền kinh tế tham gia vào sự phân công lao động toàn cầu

Đứng trước bối cảnh toàn cầu hoá trong đó toàn cầu hoá về khoa học công nghệ buộc các nước đang phát triển đứng trước những lựa chọn khắt khe, hoặc bị tụt hậu (nếu không biết nắm lấy cơ hội) hoặc có thể bị làn sóng toàn cầu hoá nhấn chìm nếu buông xuôi, “Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn, nhưng cơ hội cũng rất nhiều Không tham gia vào tiến trình ấy, trở thành người ngoài cuộc sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường về hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.”[4]

Đối với nước ta trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, “Phát triển khoa học công nghệ ở nước ta phải phù hợp với xu thế phát triển nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới Cố gắng

đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước

mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ dùng nhiều lao động để giải quyết việc làm”[13, tr 31]; tích cực đào tạo nguồn nhân lực đủ trình độ, đồng thời đổi mới và hình thành đồng

Trang 29

27

bộ các thị trường trong đó có thị trường khoa học công nghệ theo hướng tập trung phát triển công nghệ ở các lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học

Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi phải các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng Vấn đề quốc phòng, an ninh của một quốc gia phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào an ninh

ở khu vực và trên thế giới Hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ cũng đã làm

xuất hiện nhiều khái niệm mới như “biên giới thông tin”, “biên giới mềm” và nhiều vấn đề mới về quốc phòng, an ninh phức tạp như “an ninh tư tưởng, an

ninh kinh tế, an ninh văn hóa, an ninh mạng, an ninh lượng thực ” Những

vấn đề mới đó làm cho khả năng kiểm soát của nhà nước bị thách thức, rất khó ngăn chặn có hiệu quả các cuộc xâm nhập, tấn công từ bên ngoài bằng các thủ đoạn “mềm” như thông tin, tư tưởng, văn hóa Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ thực hiện chiến lược

“diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống các nước XHCN còn lại và các nước đang phát triển khác, càng đặt ra thách thức mới về quốc phòng, an ninh đối với những những quốc gia không “thân thiện” với Mỹ Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra cho các quốc gia nhiều vấn đề phải xử lý liên quan đến độc lập chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc, giai cấp, sự ổn định của hệ thống chính trị

và thiết chế xã hội khác; sự gia tăng tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia,

sự hạn chế chủ quyền độc lập của các quốc gia

Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, can thiệp lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới lãnh thổ, biển đảo và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 30

28

vẫn diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Xung đột dân tộc, tôn giáo trên thế giới vẫn tiếp tục diễn ra gay go, quyết liệt và ngày càng nóng bỏng, phức tạp Hiện nay các quan hệ dân tộc, sắc tộc lại đan kết vào nhau và xoắn bện với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội khác làm cho vấn đề này vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp Những khuynh hướng ly khai làm tan

rã các dân tộc, các mâu thuẫn tôn giáo… gây nên tình hình bất ổn trong nhiều quốc gia dân tộc, tạo nên các điểm nóng ở các khu vực và làm phức tạp thêm các quan hệ quốc tế Có thể nói, tình hình thế giới và khu vực đang đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải có sự điều chỉnh lớn về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại của mình

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng Mặc dù còn có khác biệt về chế độ chính trị xã hội nhưng các quốc gia trong khu vực đều nhận thức được rằng muốn phát triển đất nước phải có hòa bình, ổn định, mở rộng hợp tác liên kết trong khu vực để phát triển Hợp tác và liên kết về kinh

tế giữa các nước trong khu vực tạo nên tính đan xen lợi ích, bổ sung, hỗ trợ và làm tăng thêm lợi thế trong cạnh tranh quốc tế, nhất là với các nước lớn, đồng thời để chống lại sự lệ thuộc và khống chế từ bên ngoài Tuy nhiên, khu vực này đang tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnh hưởng

và quyền lực, về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước; những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nước Mặt khác, cạnh tranh kinh tế - thương mại, thị trường, nguồn vốn, công nghệ… giữa các nước trong khu vực ngày càng gay gắt Trong quan hệ với các nước ngoài khu vực, cách nhìn nhận giữa về những vấn đề chung như: vấn đề chống khủng bố, an ninh khu vực, những vấn đề toàn cầu, chủ quyền quốc gia còn thiếu thống nhất… Các nước lớn

Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ đều điều chỉnh chiến lược đối ngoại theo hướng gia tăng ảnh hưởng và giành giật lợi ích trong khu vực càng làm cho tình hình quan hệ quốc tế khu vực này phức tạp, gay gắt thêm

* Những xu thế chủ yếu trong quan hê ̣ quốc tế hiện nay:

Trang 31

đề trung tâm của thời đại và là một nội dung cốt lõi trong chiến lược phát triển của tất cả các nước nhằm thiết lập một thế giới hòa bình, ổn định, dân chủ và thịnh vượng

Hiện nay, cuộc chạy đua toàn cầu về kinh tế và khoa học kỹ thuật trong bối cảnh các nước đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình ngày càng gay gắt Nhân

tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế Nhu cầu tập trung sức lực phát triển kinh tế đã và đang trở thành một động lực thúc đẩy các mối quan hệ quốc tế, nhất là hợp tác liên kết kinh tế khu vực và quốc tế

Thứ hai, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa

Một trong những đặc trưng quan trọng của thế giới đương đại là quá trình toàn cầu hóa đang được đẩy mạnh và phát triển với một tốc độ lớn, nó lôi kéo sự tham gia của hầu như tất cả các quốc gia và trở thành một xu thế phát triển của thế giới hiện nay

Trang 32

30

Toàn cầu hóa mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế là biểu hiện sự xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Giữ vai trò trung tâm của toàn cầu hóa là các nước tư bản phát triển đó là các nước thuộc nhóm G8, các nước OECD…, quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là quan hệ kinh tế chủ đạo trong quá trình này

Toàn cầu hóa tạo ra cơ hội phát triển cho các quốc gia dân tộc Tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, các nước sẽ tiếp cận được nguồn vốn, khoa học công nghệ; tiếp cận thị trường, sự phân công lao động quốc tế rộng rãi … Nhưng cũng có nghĩa rằng, các nước phải đối mặt với sự cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ …một cách gay gắt, bất bình đẳng Điều này xuất phát từ việc toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn, chứa đựng trong nó hai mặt tích cực và tiêu cực, thời cơ và thách thức đan xen Những tác động của quá trình này đối với các quốc gia trên thế giới về cụ thể không giống nhau, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, do tiềm lực kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn thì thách thức sẽ gay gắt hơn Toàn cầu hóa tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối lợi ích và vị thế quan hệ quốc tế, mà phần lợi nhiều hơn thuộc về các nước công nghiệp phát triển trong khi các nước đang phát triển phải chịu nhiều thua thiệt

Cùng với quá trình toàn cầu hóa là xu thế khu vực hóa Toàn cầu hoá và khu vực hoá là hai xu hướng hỗ trợ, bổ sung cho nhau và cùng nhằm mục tiêu thúc đẩy trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động Liên kết kinh tế khu vực vừa củng cố quá trình toàn cầu hoá vừa giúp các nước trong từng khu vực bảo

vệ lợi ích của mình và đối phó với những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa

Đối với Việt Nam, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh

tế quốc tế và khu vực tạo ra những cơ hội tốt để tiếp cận thị trường rộng lớn

để tiêu thụ sản phẩm; thu hút vốn đầu tư đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước; có điều kiện để tiếp nhận công nghệ sản xuất tiên tiến và công nghệ quản lý hiện đại thông qua các dự án đầu tư của nước

Trang 33

biện pháp “trừng phạt” bằng thuế quan vẫn liên tục diễn ra Bên cạnh đó, sự

tranh chấp và giành giật nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường giữa các nước ngày càng gay gắt, tạo nên những bất ổn chính trị trong quan hệ quốc tế tác động sâu sắc đến nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế…

Như vậy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vừa đem đến cơ hội nhưng cũng tạo ra rất nhiều thách thức đối với nước đang phát triển trong đó

có nước ta Thách thức là sức ép trực tiếp, còn cơ hội tự nó không chuyển thành lực lượng vật chất trên thị trường mà phải thông qua hoạt động của các chủ thể Cơ hội và thách thức luôn vận động và biến đổi, tận dụng được cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra những cơ hội lớn hơn; trái lại, không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội phát triển

Thứ ba, xu thế đa cực hoá, dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế

Sau chiến tranh lạnh, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất với ưu thế vượt trội cả về kinh tế, quân sự mà không một cường quốc nào so sánh được Chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm xác lập một trật tự thế giới một cực do Mỹ chi phối Tuy nhiên, hiện nay trước những khó khăn về đối nội, nhất là hậu quả của khủng hoảng tài chính năm 2008 và sự khủng hoảng nợ hiện nay… làm cho quyền lực của Mỹ bị phân tán hơn bao giờ hết Mỹ vẫn không thể chi phối toàn bộ công việc của thế giới và áp đặt giá trị của mình trong đời sống quan hệ quốc tế Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, sức mạnh và khả năng phục hồi của Nga, tính độc lập ngày càng cao của Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) cũng như sự lớn mạnh của Ấn Độ, và đặc biệt là sự hình thành những tập hợp

Trang 34

Âu Xu thế đa cực hoá thế giới tuy còn nhiều khó khăn, nhưng là xu thế không thể đảo ngược, các lực lượng thúc đẩy đa cực hoá vẫn đang phát triển, đây không phải là công việc của các nước lớn mà là nhiệm vụ của tất cả các nước, trước mắt là đấu tranh củng cố và tăng cường các cơ chế đa phương, lấy việc củng cố và tăng cường vai trò của Liên hợp quốc trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh thế giới làm trọng tâm

Cùng với xu thế đa cực hóa, xu thế dân chủ hoá phát triển mạnh mẽ Trong quan hệ quốc tế, xu thế dân chủ hóa được thể hiện ở sự gia tăng số lượng các quốc gia tham gia vào giải quyết các vấn đề quốc tế trên cơ sở tự do hoá nền kinh tế, thừa nhận quyền con người, quyền công dân Ở mỗi nước đó là việc xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân chủ với sự đa dạng các lực lượng chính trị tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi vào xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế- xã hội…

Xu thế dân chủ hoá phản ánh sự phát triển, tiến bộ của xã hội đương đại Tuy nhiên, cần phân biệt dân chủ hóa với việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các nước đang phát triển không thân phương Tây

Thứ tư, xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các nước độc lập

Xu thế vươn lên, độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các nước độc lập

dân tộc là một trong những xu thế quan hệ quốc tế đang phát triển mạnh mẽ

Xu thế này được biểu hiện, trước hết là bảo vệ chủ quyền kinh tế, khai thác mọi tiềm năng tập trung cho phát triển; lên án và chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chống áp đặt can thiệp từ bên ngoài,

Trang 35

33

chống lại đói nghèo, bệnh tật, tụt hậu về kinh tế, bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên; tích cực tham gia, tập hợp lực lượng trong nhiều tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế như Phong trào Không liên kết, Liên hợp quốc, Quan hệ Bắc - Nam, Quan hệ Nam - Nam v.v nhằm mở rộng, gây ảnh hưởng vị trí của mình trên trường quốc tế… Thực tế cho thấy rằng, không có sự kiện lớn nào trên thế giới, các diễn đàn nào quan hệ tới lợi ích của mọi quốc gia dân tộc mà không có tiếng nói của các nước độc lập dân tộc, đang phát triển

Thứ năm, xu thế khôi phục và phát triển phong trào xã hội chủ nghĩa

Với thành tựu của Trung Quốc, Việt Nam và các nước XHCN khác trong công cuộc cải cách, đổi mới, mở cửa, có thể nói rằng, CNXH thế giới đang dần thoát ra khỏi thế bế tắc cả về lý luận và thực tiễn Trong tương lai không xa, Trung Quốc sẽ trở thành một nước công nghiệp phát triển tầm trung, Việt Nam cũng sẽ có bước phát triển đáng kể, phong trào cộng sản, phong trào cánh tả vẫn tiếp tục phát triển Vai trò và vị thế quốc tế các nước XHCN ngày càng được nâng cao, trở thành những chủ thể quan trọng của quan hệ quốc tế hiện đại, đóng góp to lớn vào quá trình hình thành một trật tự thế giới mới theo hướng dân chủ, công bằng và phát triển Trong tương lai, sự phát triển của phong trào XHCN không thể hiện ở sự gia tăng về số lượng các nước XHCN mà chủ yếu ở sự phồn vinh về chất lượng ở các nước XHCN còn lại Phong trào cộng sản và phong trào xã hội - dân chủ sẽ gạt bỏ bất đồng, tìm kiếm sự hợp tác, liên kết với nhau thành lực lượng chính trị quan trọng trong quan hệ quốc tế

1.2.2 Từ những thành tựu, hoạt động đối ngoại của hơn 25 năm đổi mới

Đại hội XI của Đảng đã khẳng định chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Trong những thành tựu đó có đóng góp không nhỏ của công tác đối ngoại Các hoạt động đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường

Trang 36

34

ổn định chính trị - xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng, đưa đất nước vượt qua những thách thức và đi vào giai đoạn phát triển mới; vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao

Trong hơn hai thập kỷ thông qua đàm phán hòa bình, ta đã giải quyết được một số vấn đề do lịch sử để lại về biên giới, lãnh thổ, vùng chồng lấn trên biển với các nước liên quan, phấn đấu xây dựng đường biên giới trên đất liền và trên biển thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác cùng phát triển Nước ta đã ký kết Hiệp ước phân định biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đã ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 với Cam-pu-chia; ký kết các hiệp định về phân định thềm lục địa, phân định vùng chồng lấn trên biển với Ma-lai-xi-a, Thái Lan và In-đô-nê-xi-a Việt Nam cùng các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố

về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), thúc đẩy việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Đông

Việt Nam đã tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới; góp phần tích cực vào sự hồi phục của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vào việc củng cố phong trào Không liên kết, vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội Đường lối chính trị của Đảng ta và những thành tựu đổi mới của Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá cao Nhiều đảng cộng sản và công nhân trên thế giới cho rằng, đổi mới của Việt Nam là sự phát triển sáng tạo và đóng góp về lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH Đồng thời, các hoạt động đối ngoại của Đảng, của các đoàn thể

và tổ chức nhân dân ta đã góp phần làm cho dư luận thế giới hiểu đúng về Việt Nam, đồng tình và ủng hộ công cuộc đổi mới, tăng cường hậu thuẫn chính trị quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta

Trang 37

35

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hóa Chúng ta tích cực tham gia hình thành các khu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA), ASEAN và Trung Quốc (CAFTA), xây dựng quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản, phối hợp chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên APEC, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2006… Hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đã có mặt trên 200 thị trường quốc gia, khu vực và quốc tế Trong vòng hai thập kỷ qua, từ một nước nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Với sự ổn định về chính trị - xã hội, truyền thống văn hóa, sự phát triển kinh tế năng động và chính sách đối ngoại rộng mở, môi trường đầu tư thông thoáng, Việt Nam ngày càng trở thành một điểm đến an toàn và hấp dẫn cho hợp tác và đầu tư quốc tế Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp gần 15% GDP và 4,9% tổng thu ngân sách nhà nước, chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo ra hàng vạn công ăn việc làm [xem phụ lục 2]

Việt Nam đã được các nước ủng hộ đăng cai tổ chức và đã tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp năm 1997, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 1998, Hội thảo quốc tế về hợp tác

và phát triển Việt Nam và châu Phi năm 2003, Hội nghị cấp cao ASEM-5 năm 2004, Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Hà Nội 2006, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 2010 Qua các hội nghị cấp cao này, Việt Nam đã để lại dấu ấn của mình trong đời sống chính trị quốc tế đương đại

Các mặt công tác thông tin đối ngoại, công tác đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng đạt được nhiều kết quả quan trọng Đội ngũ cán

bộ làm công tác đối ngoại đã có bước trưởng thành nhất định, triển khai thực hiện có kết quả đường lối và các chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng

Những thành tựu trên đã khẳng định sự đúng đắn đường lối đối ngoại đổi mới rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và là cơ sở

Trang 38

về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng Những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, „tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu „diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta

Trang 39

37

Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TẠI ĐẠI HỘI LẦN THỨ X (04/2006)

VÀ ĐẠI HỘI LẦN THỨ XI (01/2011) 2.1 Nội dung chính sách đối ngoại của Đảng tại Đại hội X

2.1.1 Những đổi mới về nhận thức tình hình thế giới của Đảng tại Đại hội X

Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu lớn có ý nghĩa lịch sử Đây là kết quả của một quá trình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới tư duy của Đảng ta trên mọi lĩnh vực, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại để hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại đúng đắn Nhờ vậy, quan hệ quốc tế của nước ta được mở rộng, vị thế của đất nước trên trường quốc tế được củng cố, nâng cao, tạo điều kiện kết hợp một cách hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X tiếp tục đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy và đường lối đối ngoại của Đảng Văn kiện Đại hội X nêu rõ: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời

mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực"[13, tr 112]

Nước ta bước vào công cuộc đổi mới trong bối cảnh quốc tế có những biến động hết sức phức tạp, nhất là sau khi chế độ XHCN bị xoá bỏ ở các nước Đông Âu, Liên Xô tan rã, làm cho phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào Trong hoàn cảnh ấy, không dễ gì nhận diện được chuẩn xác những chiều hướng phát triển của thế giới, song Đảng ta đã bình tĩnh phân tích cục diện thế giới, vận dụng phương pháp luận khoa học để lần tìm những dòng

Trang 40

Từ đòi hỏi bức thiết đó, Đảng ta đã vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trong đánh giá, phân tích tình hình thế giới đương đại Đảng

ta nhận thấy: Theo quy luật tiến hoá của lịch sử loài người, theo quy luật quan

hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thì Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là hoàn toàn hợp quy luật và mở đầu

cho thời đại mới: Thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Sự sụp đổ của hệ thống

XHCN ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự cáo chung của CNXHKH mà

nó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau Ngày nay, CNXH hiện thực vẫn còn tồn tại và phát triển ở một số nước Ngay trong lòng các nước tư bản, tư tưởng XHCN vẫn lôi cuốn không ít người hướng về

nó Mặt khác, thời đại nào ra đời và phát triển cũng trải qua nhiều bước thăng trầm, xã hội mới xuất hiện không phải đồng loạt ở mọi nước, mà thường dưới các dạng khác nhau tuy theo hoàn cảnh cụ thể của từng nước

Từ phân tích trên, trong Cương lĩnh thông qua tại Đại hội VII Đảng ta đã khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hoá của lịch

sử Đại hội VIII cũng nêu rõ: Chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất thời đại, loài người vẫn đang trong thời kỳ quá độ từ CNTB

Ngày đăng: 29/12/2015, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
2. Bộ Ngoại giao, Học viện ngoại giao (2009), Hỏi- đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi- đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Học viện ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
3. Bộ Ngoại giao (2000), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945-2000
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
4. Bộ Ngoại giao (2011), Tóm tắt lịch sử ngành ngoại giao Việt Nam, Báo điện tử, Bộ Ngoại giao, Hà Nội. Cập nhật ngày 11/2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt lịch sử ngành ngoại giao Việt Nam
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 2011
5. Bộ Ngoại giao, Học viện ngoại giao (2012), Hỏi- đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi- đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Học viện ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
6. Bộ quốc phòng (2010) “Quy chế tổ chức, quản lý và phối hợp công tác đối ngoại quân sự”, Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức, quản lý và phối hợp công tác đối ngoại quân sự”
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân. Hà Nội
7. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập (1997), Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000),Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh, Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
16. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh, Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
17. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh, Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2000), Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh, Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. Đinh Xuân Lý (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đinh Xuân Lý
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Nguyễn Đình Bin (2005), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000
Tác giả: Nguyễn Đình Bin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Nguyễn Hoàng Giáp (2011), Một số vấn đề về bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam , cập nhật nhật ngày 22/4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình xuất nhập khẩu Trung - Việt năm 2010. - đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại  tu nam 2006 den nam 2013
Bảng 1 Tình hình xuất nhập khẩu Trung - Việt năm 2010 (Trang 115)
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ 6 tháng đầu năm 2011 - đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại  tu nam 2006 den nam 2013
Bảng 2 Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ 6 tháng đầu năm 2011 (Trang 116)
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu và mộ số mặt hàng xuất khẩu chính - đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại  tu nam 2006 den nam 2013
Bảng 4 Kim ngạch xuất khẩu và mộ số mặt hàng xuất khẩu chính (Trang 118)
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục trong 6 tháng/2011 - đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại  tu nam 2006 den nam 2013
Bảng 5 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục trong 6 tháng/2011 (Trang 120)
Bảng 8: Các nhà đầu tư của các nước dẫn đầu đầu tư vào Việt Nam - đảng cộng sản việt nam lãnh đạo công tác đối ngoại  tu nam 2006 den nam 2013
Bảng 8 Các nhà đầu tư của các nước dẫn đầu đầu tư vào Việt Nam (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w