Thu hút sự tham gia của nhiều nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, cuốn sách đã phác họa bức tranh toàn cảnh về công tác vận động quần chúng, làm rõ những quan điểm của Đảng về công tác vận
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯƠNG THỊ KHANH
ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Ngô Đăng Tri
Các số liệu và tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Trang 3
Bảng danh mục ký hiệu viết tắt hay Quy ước viết tắt
BCĐ : Ban chỉ đạo
BTV : Ban Thường vụ
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
DCCS : Dân chủ ở cơ sở
GS.PGS.TS : Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn .7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 10
1.1 Thị xã Cẩm Phả và tình hình công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở trước năm 2000 10
1.1.1 Những nhân tố tác động đến công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở thị xã Cẩm Phả 10
1.1.2 Khái quát công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trước năm 2000 15
1.2 Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường từ năm 2000 đến năm 2005 21
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả 21
1.2.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả 33
Tiểu kết Chương 1 42
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2012 44
Trang 52.1 Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ
năm 2005 đến 2012 44
2.1.1 Những yêu cầu mới đối với công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2005 đến 2012 44
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả về đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở 47
2.2 Quá trình và kết quả sự chỉ đạo đẩy mạnh công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2005 đến năm 2012 55
2.2.1 Quá trình chỉ đạo 55
2.2.2 Những kết quả chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả 64
Tiểu kết chương 2: 78
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 79
3.1 Nhận xét 79
3.1.1 Về thành tựu 79
3.1.2 Về hạn chế 88
3.2 Các kinh nghiệm và vấn đề đặt ra 98
3.2.1 Các kinh nghiệm 98
3.2.2 Một số vấn đề đặt ra 104
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 121
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn xác định công tác vận động và tổ chức quần chúng luôn là vấn đề chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng, vì thế khi đề cập tới tầm quan trọng của công tác dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “ Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [49;tr.700] và “Dân vận là vận động tất cả các lực lượng của mỗi người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm [49;tr.698]
Công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền là một nhiệm vụ
cơ bản, trọng tâm và rất quan trọng trong công tác dân vận của Đảng Không phải bây giờ chúng ta mới nói tới mà ngay từ khi giành được chính quyền đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của chính quyền làm công tác dân vận, công tác vận động tập hợp quần chúng Tuy nhiên, khi cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH và tăng cường hội nhập quốc tế thì nhiều vấn đề chính trị xã hội đã nảy sinh, điều đó đặt ra cho công tác dân vận của chính quyền những yêu cầu cần phải đổi mới: Hiện tượng mất dân chủ, vi phạm những quyền lợi cơ bản, chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tình trạng sách nhiễu, gây phiền hà trong một bộ phận công chức, viên chức ở một số ít
cơ quan nhà nước đã làm cho niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
bị suy giảm
Thị xã Cẩm Phả là đơn vị hành chính cấp huyện, có vị trí chính trị - kinh
tế, an ninh quốc phòng quan trọng của tỉnh Quảng Ninh, là cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam Ý thức được tầm quan trọng của công vận động quần chúng xây dựng chính quyền, Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đã có những chủ trương, biện pháp tăng cường công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp xã, phường nhất là từ năm 2000 đến năm 2012 Những kết quả mà nhân dân thị
Trang 7xã Cẩm Phả đạt được trong thời gian này là rất đáng ghi nhận đã có tác dụng
to lớn, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị địa phương Tuy nhiên vẫn còn có một số hạn chế: một số vụ khiếu kiện kéo dài, nhất là khiếu kiện về đất đai, di dân giải phóng mặt bằng; tai nạn giao thông;
tệ nạn xã hội; truyền đạo trái phép… Những thành công và tồn tại đó có liên quan mật thiết tới công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp
“Đảng bộ thị xã Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấ p xã, phường từ năm 2000 đến năm 2012” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Công tác dân vận nói chung và công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở là một trong những mảng hoạt động lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này được tổng kết, công bố
Năm 1990, cuốn sách Tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân
của tác giả Vũ Oanh (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, phụ trách công tác dân vận) được Nhà xuất bản Sự thật phát hành Năm 1991, phát hành cuốn
sách Đổi mới công tác quần chúng của nguyên Tổng Bí thư của Đảng Năm
Trang 81999, Ban Dân vận Trung ương xuất bản cuốn sách Sơ thảo lịch sử công tác
dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam (1936 -1996) Năm 2001, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia đã cho ra đời tác phẩm Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân
vận cuốn sách đã tập trung diễn giải, hệ thống hóa những thao tác cơ bản về
nghiệp vụ công tác dân vận; đề xuất bài tập giả định tình huống về dân vận; hướng dẫn tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương
Cuốn sách Công tác dân vận của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003
Nội dung cuốn sách tập trung phân tích một số vấn đề chung về công tác dân vận; thực trạng tình hình các giai cấp, tầng lớp nhân dân và công tác dân vận của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ đổi mới; đề xuất một số định hướng và giải pháp tăng cường công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước…Năm 2006, trung tâm nghiên cứu Khoa học Dân vận thuộc Ban Dân
vận xuất bản cuốn 75 năm công tác dân vận của Đảng một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, đây là công trình hình thành trên cơ sở những bài tham luận tại
Hội thảo 75 năm công tác dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam Thu hút sự
tham gia của nhiều nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, cuốn sách đã phác họa bức tranh toàn cảnh về công tác vận động quần chúng, làm rõ những quan điểm của Đảng về công tác vận động quần chúng, trao đổi những kinh nghiệm
và phương pháp vận động các giai cấp, tầng lớp nhân dân qua mỗi thời kỳ cách mạng và giới thiệu công tác dân vận ở một số địa phương…
Một số công trình nghiên cứu cũng thực hiện về đề tài dân vận như
luận văn thạc sĩ: Công tác dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá
trình thực hiện đường lối đổi mới 1986-1996 (Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2002), Chính sách của Đảng cộng sản với trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước
(Đoàn Thị Lịch,1996), Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác dân vận từ
năm 1997 đến năm 2003 (Nguyễn Văn Nhang, 2007), Công tác vận động
Trang 9quần chúng của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2005 (Bùi Thị
Hồng Thúy, 2008), Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc lãnh đạo công tác dân vận 1986 -
2002 (Nguyễn Mậu Linh, 2003) …Các công trình này đã góp phần làm rõ
công tác vận động quần chúng hay một mảng trong công tác dân vận của Đảng hay một Đảng ủy địa phương trong các thời kỳ cách mạng
Ngoài ra, hàng tháng Ban dân vận Trung ương cũng cho phát hành Tạp
chí Dân Vận Đến nay, tạp chí Dân Vận đã xuất bản được hơn 200 số, đây
được coi là cuốn cẩm nang nghiên cứu lý luận và hướng dẫn nghiệp vụ của Ban Dân vận Trung ương Tạp chí Cộng sản - cơ quan lý luận và chính trị của trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn có những bài viết về cập đến công tác dân vận của Đảng, Các tổ chức Mặt trận Tổ Quốc, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ … cũng đã xuất bản những tờ báo, tạp chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động đoàn viên, hội viên của tổ chức mình
Về phần lịch sử Đảng bộ thị xã đã xuất bản cuốn sách Lịch sử Đảng bộ
thị xã Cẩm Phả từ 1930 đến 2005, đã phản ánh đầy đủ các mặt hoạt động của
Đảng bộ từ năm 1930 đến 2005 nhưng không chuyên sâu về công tác vận
động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường Hay trong cuốn Lịch
sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã xuất bản 4 tập, một số tờ báo Nhân dân, báo
Quảng Ninh cũng có đề cập đến các hoạt động nổi bật của thị xã trong đó có công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở nhưng chưa sâu, chưa hệ thống đầy đủ
Như vậy, có thể khẳng định cho đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu đầy đủ về vấn đề Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo quần chúng nhân dân xây dựng chính quyền cấp xã, phường nói cách khác những vấn đề mà luận văn này cần thực hiện là nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả như là một công trình mới, tái hiện và sự nhìn nhận vấn đề
Trang 103 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trình bày các chủ trương, biện pháp, kết quả tổ chức của công tác VĐQC xây dựng chính quyền của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả từ năm 2000 đến năm 2012, qua đó làm rõ thêm lịch sử Đảng bộ thị xã thời kỳ này và làm những tài liệu phục vụ hiện tại
Luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất, thu thập, bổ sung và xử lý tư liệu nhằm dựng lại một cách hệ thống, toàn diện quá trình Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo công tác VĐQC xây dựng chính quyền trong gian từ năm 2000 đến năm 2012
Thứ hai, làm rõ những thành tựu, hạn chế của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong lãnh đạo thực hiện công tác VĐQC xây dựng chính quyền từ năm 2000 đến năm 2012
Thứ ba, rút ra các kinh nghiệm chủ yếu và những vấn đề đặt ra từ sự lãnh đạo của Đảng bộ thị xã đối với công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở trong những năm từ năm 2000 đến năm 2012
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu những chủ trương và quá trình
chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả đối với công tác VĐQC xây chính quyền cấp xã, phường từ năm 2000 đến năm 2012
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ thị
xã Cẩm Phả thực hiện nhiệm vụ VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở trong 12 năm (từ năm 2000 đến năm 2012) tương đương với hai nhiệm kỳ đại hội lần thứ XIX, XX và 2 năm của nhiệm XXI của thị xã Cẩm Phả Địa bàn nghiên cứu là trong phạm vi thị xã Cẩm Phả
5.Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
Trang 11lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng trong cách mạng, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận nói chung và công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở nói riêng
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện chủ yếu bằng
phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra còn có sự kết hợp với các phương pháp khác như: điều tra khảo sát thực tế, phân tích và tổng hợp, thống
kê, so sánh Các phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn
Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu gồm:
Các tác phẩm lý luận chung về quần chúng và công tác dân vận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin, Hồ Chí Minh toàn tập; văn kiện Đảng, các nghị quyết, các báo cáo của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác dân vận qua các thời kỳ là nguồn tư liệu quan trọng khi thực hiện đề tài
Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả , các báo cáo tổng kết công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp phường , xã qua các năm từ năm 2000 đến năm 2012, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của Ban Dân vận thị xã (nay là Thành phố ); báo cáo tổng kết hoạt động của MTTQ và các tổ chức quần chúng là nguồn tài liệu chính khi thực hiện luận văn
Ngoài ra, còn có các sách báo, tạp chí, các luận văn, luận án và các tư liệu có liên quan cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho luận văn
6 Đóng góp của luận văn
Tập hợp và hệ thống hóa các tư liệu về chủ trương, biện pháp thực hiện nhiệm vụ VĐQC xây dựng chính quyền cấp xã , phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả
Làm rõ các thành công nêu lên các hạn chế và nguyên nhân trong lãnh đạo công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp xã, phường của Đảng bộ thị
xã Cẩm Phả từ năm 2000 đến năm 2012
Trang 12Đúc rút một số kinh nghiệm để xem lại các khuyến nghị hiện nay ở thành phố Cẩm Phả có ý nghĩa tham khảo cho công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp xã, phường
Góp phần bổ sung tư liệu về công tác vận động quần chúng cho việc biên soạn lịch sử Đảng bộ thị xã giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2012
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ CÁC KINH NGHIỆM
Trang 13Chương 1: ĐẢNG BỘ THỊ XÃ CẨM PHẢ LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN
CẤP XÃ, PHƯỜNG TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Thị xã Cẩm Phả và tình hình công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở trước năm 2000
1.1.1 Những nhân tố tác động đến công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường ở thị xã Cẩm Phả
Cẩm Phả là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam Ngày 21 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ - CP, thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị
xã Cẩm Phả Cẩm Phả là đơn vị hành chính cấp huyện có dân số đông thứ 2 tại Quảng Ninh sau thành phố Hạ Long
10' - 107 o 23'50 kinh độ Đông Phía Đông của thị xã
giáp với huyện Vân Đồn, phía tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long, phía Nam giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, và phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên
- Về điều kiện tự nhiên:
Thị xã Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 486,45 km², địa hình chủ yếu đồi núi Đồi núi chiếm 55,4% diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3% Ngoài biển là hàng trăm hòn đảo nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23o
c,độ
ẩm trung bình 84,6%, lượng mưa hàng năm 2.307 mm, mùa đông thường
có sương mù
Trang 14Tài nguyên thiên nhiên: Trữ lượng khoáng sản chủ yếu của Cẩm Phả là than đá,với tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than của toàn tỉnh Quảng Ninh Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc thị xã chở than đến Nhà máy Tuyển Than Cửa Ông, các mỏ than lớn như Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất Ngoài ra, các khoáng sản khác như antimon, đá vôi, nước khoáng đều là những tài nguyên quí hiếm Vùng núi đá vôi ở Cẩm Phả là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng, với Nhà máy xi măng Cẩm Phả Thị xã Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 50 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt trong bờ, sản lượng thấp Đó là những điều kiện thuận lợi
để thị xã Cẩm Phả phát triển đa ngành, đa lĩnh vực…
Tài nguyên Du lịch: Nhắc đến thị xã Cẩm Phả ai ai cũng biết đó là mảnh đất với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, mê đắm lòng người Đền Cửa Ông mở hội vào tháng Giêng, hàng năm thu hút hàng vạn khách tham quan, chiêm bái Cẩm Phả còn có nhiều cảnh đẹp Động Hang Hanh có cửa vào từ vịnh đi thuyền suốt lòng núi chưa được khai thác Gần đây ở khu đảo Vũng Đục phát hiện những hang động kỳ thú Ngoài Hòn Hai - Đảo Nêm trong vịnh Bái Tử Long đã hình thành một khu nghỉ, ngơi của công nhân mỏ Cẩm Phả còn có đảo Rều, một cơ sở nuôi thả hàng nghìn con khỉ vừa là nguồn nguyên liệu cho y dược vừa là một địa chỉ tham quan rất hấp dẫn
Tài nguyên đất, nước: Cẩm Phả có ít đất nông nghiệp: 1.196ha, trong
đó đất trồng rau mầu và cấy lúa 434ha, đất có mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản 315ha Đất lâm nghiệp khá rộng, 13.504ha, trong đó rừng tự nhiên 12.094ha, xưa có nhiều lâm sản nay rừng đã suy kiệt, đất có rừng trồng 1.410ha Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 50km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt ven bờ, sản lượng thấp, đang đóng thêm tầu có công suất
lớn để đánh cá tuyến khơi
Trang 1525 vạn đồng Ngày 24 tháng 8 năm 1886, Bavieaupour thành lập công ty Pháp
mỏ than Bắc Kỳ độc quyền chiếm đoạt và khai thác than vùng Hòn Gai, Cẩm Phả, Mông Dương Năm 1888, Pháp cho tiến hành thăm dò khai thác than trên cơ sở những lò cũ của dân bản xứ là người Sán Dìu, Thanh Phán, Kinh, Tày, Hoa
Năm 1936, Pháp lập châu Hà Tu bao gồm cả tổng Cẩm Phả và Hà Tu, tách khỏi Hoành Bồ trực thuộc tỉnh Quảng Yên Năm 1940, Pháp bỏ châu Hà
Tu, lập châu Cẩm Phả bao gồm phía đông Hoành Bồ, phần lớn huyện Ba Chẽ và đảo Cái Bầu
Chính quyền nhân dân Cẩm Phả, Cửa ông được thành lập Lúc này Cẩm Phả và Cửa Ông trực thuộc khu đặc biệt Hòn Gai Tháng 11 năm 1946, quân Pháp quay lại chiếm đóng Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hai thị xã Cẩm Phả, Cửa Ông hợp thành liên thị xã
Ngày 22 tháng 4 năm 1955, Pháp rút khỏi Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả được hoàn toàn giải phóng Ngày 12 tháng 11 năm 1956, thị xã Cẩm Phả chính thức được thành lập trực thuộc khu Hồng Quảng
Sau năm 1975, Cẩm Phả trở thành huyện của tỉnh Quảng Ninh Năm
1981, giải thể một số thị trấn thuộc thị xã Cẩm Phả và thành lập thêm các phường, xã Tháng 3 năm 1994, Quần đảo Cô Tô tách ra khỏi huyện Cẩm Phả
để thành lập huyện Cô Tô, phần còn lại của huyện Cẩm Phả đổi tên thành
Trang 16huyện Vân Đồn Sau lại tách ra thành lập thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn mới Ngày 21 tháng 02 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP, thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị
là công nhân ngành than, có nguồn gốc từ vùng đồng bắc Bắc Bộ
- Về kinh tế - Xã hội:
Với mục tiêu xây dựng Cẩm Phả trở thành một đô thị phát triển, trung tâm công nghiệp khai thác khoáng sản, nhiệt điện, cảng biển, đóng tàu, cơ khí chế tạo máy, sản xuất vật liệu xây dựng và du lịch, nhiều năm nay, tỉnh và thị
xã Cẩm Phả đã quan tâm quy hoạch đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường sống của nhân dân Nhờ đó, bộ mặt đô thị của Cẩm Phả ngày càng khang trang, sạch đẹp; đảm bảo các yếu tố cần thiết nhằm xây dựng một đô thị hiện đại trong tương lai Cụ thể, Cẩm Phả có hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường sắt nội thị thuận lợi cho việc giao thương và vận chuyển hàng hoá Đó là quốc lộ 18A qua địa bàn dài gần 70km, tỉnh lộ 326 từ Hoành Bồ đi Mông Dương, tỉnh lộ 329 từ Mông Dương
đi Ba Chẽ; hệ thống đường chính đô thị tổng chiều dài 156,2km, đường nhánh
Trang 17đô thị tổng chiều dài 152,63km; tuyến đường sắt chuyên dùng dài 40km phục
vụ vận tải than Bên cạnh đó, trên địa bàn có cảng quốc gia Cửa Ông, cảng Hòn Nét phục vụ xuất khẩu than, đảm bảo các tàu có trọng tải 6 - 10 vạn tấn
ra vào thuận tiện; có 6 cảng nội địa phục vụ xuất nhập hàng hoá, vật liệu, du lịch Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư theo quy hoạch, đáp ứng các tiêu chuẩn
đô thị, phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương Cẩm Phả cũng ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nâng cao năng lực quản lý đô thị;
từ năm 2005 đến nay, tổng mức đầu tư cho các lĩnh vực này khoảng 40.300 tỷ đồng Song song với đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, Cẩm Phả
đã đầu tư có hiệu quả cho nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, phát triển dân trí
“Hiện Cẩm Phả có 4 bệnh viện (2 bệnh viện đa khoa hạng II, 1 bệnh viện chuyên khoa, 1 bệnh viện điều dưỡng); 1 trung tâm y tế dự phòng; 16 trạm y
tế xã, phường; 15 trạm y tế của doanh nghiệp; có 150 cơ sở dịch vụ y, dược tư nhân; đạt 33,2 giường/vạn dân, 10 bác sĩ/vạn dân; 100% phường, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Về Giáo dục và đào tạo, hiện tỷ lệ học sinh lên lớp từ
93 - 99% trở lên, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học luôn ở mức cao trong tỉnh Hiện trên địa bàn có 60 trường từ mầm non tới THPT (50% đạt chuẩn quốc gia); 1 trung tâm dạy nghề, 1 trung tâm hướng nghiệp giáo dục thường xuyên, 2 trường cao đẳng, 1 cơ sở đại học, 1 cơ sở đào tạo nghề cho người khuyết tật, hàng năm thu hút trên 2.000 học sinh, sinh viên; 100% xã, phường có trung tâm học tập cộng đồng; 100% giáo viên đạt chuẩn (50% giỏi các cấp)” [37; tr.6]
Lĩnh vực văn hoá - thông tin - thể thao cũng có những bước tiến dài
“Trên địa bàn hiện có 1 khu liên hợp văn hoá thể thao (bao gồm nhà thi đấu
đa năng đạt chuẩn cấp quốc gia, cung văn hoá thiếu nhi, CLB người cao tuổi, thư viện, bảo tàng, Đài TTTH); 3 khu vui chơi cho thanh thiếu niên; 11 sân vận động; 11 nhà văn hoá kết hợp nhà thi đấu đa năng của các doanh nghiệp;
1 nhà hát biểu diễn ngoài trời; 5 trạm thu phát chuyển; 1 trung tâm truyền
Trang 18hình cáp; 1 khu di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, 2 khu di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh; 16 di tích được kiểm kê phân loại đưa vào bảo tồn, tôn tạo phục hồi… Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” gắn với phong trào “Xây dựng cơ quan, phường, xã, khu phố, thôn và gia đình văn hoá” và chương trình chỉnh trang đô thị, xây dựng nếp sống văn minh đô thị được triển khai, hưởng ứng rộng rãi trong cộng đồng dân cư; 97,75% số khu phố, thôn, 92,3% số hộ gia đình đạt danh hiệu văn hoá; các công trình điện lưới, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường đã được đầu tư hoàn thiện, đáp ứng tốt quy mô, yêu cầu của đô thị hiện đại” [37; tr.7-8]
Cùng với việc đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể được Cẩm Phả đặc biệt quan tâm, đáp ứng yêu cầu phát triển của một đô thị hiện đại Bộ máy quản lý nhà nước các cấp thường xuyên được củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Trong những năm qua, mặc dù chịu ảnh hưởng của lạm phát và suy giảm kinh tế, nhưng nhờ sự quan tâm của các cấp, giúp đỡ của Trung ương và bằng sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của các cấp, các ngành, nỗ lực của các doanh nghiệp và nhân dân, các mục tiêu kế hoạch hàng năm của thị xã đều đạt kết quả khá
1.1.2 Khái quát công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp
xã, phường của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trước năm 2000
Cuối tháng 3 năm 1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Cẩm Phả - Cửa Ông được thành lập Tháng 4/1930, cấp trên quyết định thành lập Đảng ủy mỏ Hồng Gai - Cẩm Phả Tháng 9/1930, xứ ủy quyết định tách Đảng ủy Hồng Gai - Cẩm Phả thành hai Đảng ủy Đảng ủy mỏ Hồng Gai và Đảng ủy mỏ Cẩm Phả - Cửa Ông Đồng chí Vũ Văn Hiếu được chỉ định làm
Bí thư Đảng ủy mỏ Cẩm Phả - Cửa Ông
Trang 19Ngay sau khi ra đời Đảng ủy đã chú trọng phát triển cơ sở Đảng các tổ chức quần chúng cũng được hình thành và phát triển, sự ra đời, phát triển ngày càng lớn mạnh của Đảng và các tổ chức quần chúng phản ánh sự chuyển biến về chất của phong trào công nhân, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Khu mỏ Cẩm Phả - Cửa Ông
Sau khi ra đời tuy còn rất nhiều khó khăn nhưng Đảng ủy mỏ Cẩm Cửa Ông đã biết dựa vào công nhân khu mỏ và các tầng lớp nhân dân đoàn kết xây dựng lực lượng đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ trong các phong trào cách mạng 1930 - 1931, đặc biệt trước tình hình sôi động của Khu
Phả-mỏ, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Võ Nguyên Giáp - Phó ban chỉ đạo phong trào cách mạng 1936 - 1939 về lãnh đạo phong trào đấu tranh ở Khu
mỏ Cẩm Phả Cuộc bãi công ngày 12/11/1936 của công nhân Khu mỏ đã đi vào lịch sử phong trào cách mạng Vùng mỏ Cẩm Phả dấu son chói lọi về tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết đồng cam cộng khổ, tinh thần yêu giai cấp với tính kỷ luật chặt chẽ của người thợ mỏ - ngày 12/11 trở thành Ngày truyền thống “Ngày vùng mỏ bất khuất” của công nhân vùng mỏ Nối tiếp truyền thống đấu tranh anh hùng khuất Đảng ủy Cẩm Phả tiếp tục lãnh đạo công nhân và các thành phần nhân dân khác đoàn kết phục hồi cơ sở, chuẩn bị lực lượng nổi dậy giành chính quyền ở Cẩm Phả từ 1945 - 1954 Sau
đó từ 1945 đến 1954 nhân dân Cẩm Phả cùng với nhân dân tỉnh Quảng Ninh
và cả nước vượt qua muôn vàn khó khăn để xây dựng chế độ mới và trải qua chín năm trường kỳ kháng chiến với phương châm: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy giai cấp công nhân Khu mỏ đã đoàn kết với các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ: Phá hoại kinh tế và tiêu hao sinh lực địch, góp phần vào thắng lợi chung của cả nước Như thế, sau 72 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất nhân dân Cẩm Phả đã vĩnh viễn thoát khỏi cuộc đời nô lệ, trở thành người làm chủ vùng mỏ thân yêu của mình
Trang 20Từ năm 1954 đến năm 1975 Đảng bộ thị xả Cẩm Phả lãnh đạo công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế văn hóa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), rồi từ 1966 - 1975 nhân dân Đảng bộ thị xã Cẩm Phả vừa sản xuất, vừa chiến đấu đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mĩ và tích cực chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Bom đạn chiến tranh càng ác liệt bản lĩnh tinh thần cách mạng của người thợ mỏ Cẩm Phả càng sáng ngời
Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi, đất nước hòa bình thống nhất đã đưa cuộc cách mạng nước ta tiến lên một thời kỳ mới - thời kỳ xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước Đảng bộ thị xã đã cùng với nhân dân tỉnh Quảng Ninh và cả nước lại bước vào công cuộc xây dựng CNXH với bao phấn khởi, hi vọng, dự định về một tương lai tốt đẹp ở phía trước Tính từ khi thành lập cho đến năm 2012 Đảng bộ thị xã đã trải qua hai mươi mốt kỳ Đại hội
Từ sau ngày thành lập đặc biệt từ khi đất nước thống nhất công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở đã góp phần quan trọng giúp Đảng
bộ thị xã lãnh đạo, huy động và khơi dậy tiềm năng, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong thị xã góp phần cùng tỉnh Quảng Ninh thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mĩ Phát huy những thành quả tốt đẹp của công VĐQC xây dựng chính quyền khắc phục những hạn chế thiếu sót gặp phải Đảng bộ thị xã ngày càng ý thức đầy đủ hơn về vị trí vai trò của công tác dân vận chính quyền trong thời kỳ mới
Nhận thức rõ vai trò, vị trí của công tác vận động quần chúng theo quan điểm của Nghị quyết số 08B - NQ/HNTW ngày 27/3/1990 của Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI): “Về đổi mới công tác của Đảng tăng cường mối quan hệ của Đảng với nhân dân” Nghị quyết trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn đã đề ra 4 quan điểm chỉ đạo
Trang 21đổi mới công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân,
cụ thể:
Một là: “ Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân”
Hai là: “ Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ của công dân”
Ba là, “Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng”
Bốn là, “Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước
và các đoàn thể”
Đây là Nghị quyết cơ bản nhất đóng vai trò định hướng cho công tác vận động quần chúng của cả nước trong thời kỳ đổi mới Nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này, từ khi được tỉnh triển khai về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B Ban Dân vận đã tích cực tham mưu cho Thị ủy triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 8B cũng như các Nghị quyết của Ðảng, của tỉnh về công tác vận ðộng quần chúng Trong bối cảnh đó Thị ủy Cẩm Phả đã
tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt để học tập, quán triệt các quan điểm nội dung của Nghị quyết Trung ương 8B và xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết trong toàn Đảng bộ, tiếp theo Thị ủy ra Nghị quyết đã nêu lên những nhiệm vụ cấp bách thiết thực với công tác tổ chức quần chúng yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể trong thị xã thực hiện Sau những đợt tổ chức học tập của cán bộ chủ chốt tỉnh kết thúc Đảng bộ thị xã Cẩm Phả cũng triển khai việc thực hiện nghị quyết 8B bằng việc đề ra các chương trình nhiệm vụ cụ thể để thực hiện nghị quyết 8B
Song song với việc triển khai thực hiện Nghị quyết 8B, Tỉnh ủy đã triển khai thực hiện đồng bộ các Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương của Ban Chấp hành khóa VII, khóa VIII về công tác vận động quần chúng như: Nghị quyết 07 (07 - NQ/TW (17/3/1991) của Bộ Chính trị về đại
Trang 22đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về công tác Thanh niên trong thời kỳ mới (01/1993); Nghị quyết 04 - NQ/TW (12/7/1993) của Bộ Chính trị về đổi mới tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, trước tình hình đó nhận được chỉ thị của Tỉnh ủy thì Đảng bộ thị xã cũng tích cực triển khai việc học tập, nắm bắt tinh thần của các Nghị quyết trên Từ đó, đã củng cố, tăng cường mối quan hệ nhân dân với Đảng, chính quyền phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần thực hiện các mục tiêu KT - XH
Cho tới trước năm 2000 tình hình kinh tế - xã hội ở thị xã còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng ở Đông Nam Á, sự chống phá của các thế lực thù địch, Quảng Ninh lại là tỉnh biên giới nên tình hình khá phức tạp Trong hoàn cảnh ấy Đảng bộ thị xã luôn luôn chú trọng công tác dân vận chính quyền bởi đây là nhân tố giữ gìn sự ổn định của bộ máy, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ, nhất là sự đoàn kết trong quần chúng nhân dân – nhân
tố quan trọng để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương
Các cấp ủy Đảng đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ việc thực hiện và tổng kết Nghị quyết 8B của Trung ương và các Nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác quần chúng, đồng thời mở rộng dân chủ trong sinh hoạt xã hội, chăm lo xây dựng các đoàn thể nhân dân Chính quyền các cấp đã giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vấn đề bức thiết trong sản xuất và đời sống tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh
Sau hai năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B và các nghị quyết nói trên Tỉnh ủy đã đã chỉ đạo sơ kết từ cơ sở trở lên Theo đó, thị xã Cẩm Phả cũng đã tổ chức sơ kết hai năm thực hiện nghị quyết Trung ương 8B, việc
sơ kết đã có tác dụng nâng cao nhận thức và thúc đẩy việc thực hiện nghị quyết tốt hơn Hệ thống dân vận từ Thị ủy đến cơ sở được củng cố và hoạt động hiệu quả hơn “Mặt trận và các đoàn thể đã từng bước đổi mới tổ chức
Trang 23và phương thức hoạt động, chăm lo lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên; làm nòng cốt và thu được kết quả đáng kể trong việc tuyên truyền vận động nhân dân nêu cao đoàn kết, giúp nhau phát triển sản xuất, đảm bảo đời sống… động viên nhân dân hăng hái tham gia ý kiến xây dựng Hiến pháp, pháp luật; củng cố chính quyền các cấp; giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương” 35; tr.20
Sự hoạt động tích cực và có hiệu quả của Mặt trận và các đoàn thể đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động nôi lực của nhân dân trong Thị xã vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu KT - XH và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Ngoài ra, các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, từ thiện, nhân đạo đã được thành lập đã thu hút thêm các tầng lớp nhân dân tham gia sinh hoạt, vừa đáp ứng lợi ích chính đáng của mọi người, vừa tập hợp quần chúng rộng rãi để thông tin tuyên truyền thời sự chính sách Đặc biệt mối quan hệ và
sự phối hợp hoạt động của chính quyền với Mặt trận và các đoàn thể được tăng cường hơn nữa
Mặc dù, có nhiều cố gắng song công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở ở Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trước năm 2000 vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Cụ thể, việc chỉ đạo sơ, tổng kết các Nghị quyết chuyên đề về công tác quần chúng theo từng đối tượng chưa chặt chẽ, kịp thời, thiếu những giải pháp tích cực để động viên khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng của phong trào quần chúng trong xây dựng chính quyền Các cơ quan nhà nước chưa thực sự quan tâm tới công tác dân vận cụ thể là công tác dân vận chính quyền, nhiều cán bộ công chức chưa nâng cao trách nhiệm phục vụ dân, có nhiều biểu hiện phiền hà, sách nhiễu dân Tổ chức và cán bộ của Mặt trận, các đoàn thể, hội quần chúng tuy đã được củng cố nâng cao nhưng chưa đáp ứng với yêu cầu của tình hình mới Hệ thống dân vận từ cấp huyện đặc biệt cấp cơ sở phường, xã mới thành lập còn nhiều khó khăn, lúng túng trong hoạt động
Trang 24Nguyên nhân của những tồn tại nói trên là do nhận thức của cấp ủy, cán
bộ, đảng viên về công tác quần chúng của Đảng nhất là các quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng chưa thực sự sâu sắc, nên còn biểu hiện xem nhẹ Sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của cấp ủy một số nơi còn coi nhẹ, buông lơi có nơi còn khoán trắng cho Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể nhân dân Công tác VĐQC xây dựng chính quyền, của cán bộ công chức nhà nước còn nhiều yếu kém, bất cập Năng lực trình độ nhất là trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ dân vận còn nhiều hạn chế; chưa làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy về lĩnh vực công tác này Hơn nữa, việc đầu
tư kinh phí và các điều kiện khác cho hoạt động của hệ thống dân vận còn chưa thỏa đáng
Những nỗ lực của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả trong công tác VĐQC xây dựng chính quyền rất đáng ghi nhận song những hạn chế, thiếu sót tồn tại cũng cần được kiểm điểm đánh giá nghiêm túc, thẳng thắn để có định hướng phù hợp trong các thời kỳ tiếp theo
1.2 Đảng bộ thị xã Cẩm Phả lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp xã, phường từ năm 2000 đến năm 2005
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả
Đại hội Đảng lần thứ IX (4/2001) đã xác định phương hướng chung trong công tác dân vận là: “Mở rộng và đa dạng hóa các loại hình tập hợp nhân dân tham gia các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, văn hóa, hữu nghị, từ thiện - nhân đạo Sớm ban hành luật về hội Tiếp tục đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể nhân dân nhằm khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức, quan liêu,
xa dân Thực hiện tốt luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam Tổ chức các phong trào, nhân dân thi đua yêu nước, đăng ký xây dựng cuộc sống mới ở khu dân
cư, xây dựng đời sống văn hóa đảm bảo trật tự, an toàn xã hội gắn với các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế của cả nước, từng địa phương và địa
Trang 25bàn khu dân cư Hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, cộng đồng dân cư và từng gia đình”39;130-131
Định hướng trên có giá trị rất lớn nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận, trong đó lưu ý một số hướng tập trung sau:
Một là: tiếp tục mở rộng sự đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân Hai là: tạo môi trường và điều kiện, cơ chế, chính sách để đổi mới hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng theo hướng năng động, thiết thực để tăng sức thu hút các tầng lớp nhân dân vào các tổ chức
Ba là: gắn hoạt động của MTTQ, các đoàn thể với các chương trình kinh tế, xã hội hướng về cơ sở, cộng đồng dân cư, gia đình bám dân, gần dân
và xây dựng cơ sở nòng cốt, mô hình mới của tổ chức trong đối tượng vận động
Bốn là: luật hóa các chủ trương và thực hiện tốt các luật, các văn bản
và chế độ mà nhà nước đã ban hành trong công tác quần chúng
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (ngày 12/3/2003) ra Nghị quyết số 23 - NQ/TW “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Nghị quyết nêu ra bốn quan điểm:
- Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
- Đại đoàn kết toàn dân tộc lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất
Tổ Quốc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai
Trang 26- Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, tầng lớp nhân dân; kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; thực hiện dân chủ gắn liền với giữ gìn kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không ngừng bồi dưỡng nâng cao tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, thống nhất Tổ Quốc, tinh thần tự lực tự cường xây dựng đất nước; xem đó là những yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc
- Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
Nghị quyết nêu lên những chủ trương, giải pháp chủ yếu làm tốt công tác Dân vận đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới Vấn đề đại đoàn kết dân tộc
và công tác tôn giáo đều là những vấn đề chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Việc cụ thể hóa tư tưởng chiến lược của Đảng về phát huy sức mạnh toàn dân tộc đã ghi trong Nghị quyết Đại hội
IX, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giữ vững độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa Vì vậy, đây chính là nhiệm vụ tiếp tục đổi mới và nâng cao hơn nữa chất lượng
và hiệu quả của công tác dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam
Ngày 25/5/2000, Ban Tổ chức Trung ương và Ban Dân vận Trung ương đã ban hành Hướng dẫn liên ban số 01-LB/TC-DVTW về “Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận tỉnh, thành ủy, Ban Dân vận quận, huyện ủy, thành phố trực thuộc tỉnh và Khối Dân vận xã, phường, thị trấn” bao gồm:
Về Ban Dân vận Tỉnh ủy, Huyện ủy
Trang 27Chức năng: Ban Dân vận thuộc hệ thống các ban xây dựng Đảng, là cơ quant ham mưu cho cấp ủy, mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường vụ
về công tác Dân vận của Đảng, trong đó có công tác tôn giáo, dân tộc và người Hoa
Nhiệm vụ: Nghiên cứu, tham mưu với cấp ủy những chủ trương về công tác Dân vận; chuẩn bị, tham gia chuẩn bị các quyết định của Đảng về công tác; thẩm định các đề án về công tác Dân vận trước khi trình cấp ủy tham mưu giúp cấp ủy chỉ đạo những vấn đề cụ thể về công tác dân vận trong
hệ thống chính trị (trong đó có công tác tôn giáo, dân tộc và người Hoa)
Hướng dẫn các cấp ủy, các tổ chức Đảng thực hiện các Nghị quyết, chủ trương của cấp trên về công tác Dân vận; hướng dẫn Ban Dân vận cấp ủy cấp dưới về chuyên môn nghiệp vụ
Giúp cấp ủy kiểm tra việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
về công tác Dân vận Theo dõi tình hình phong trào và nguyện vọng của quần chúng, tổng kết kinh nghiệm thực hiện chế độ báo cáo, kiến nghị và đề xuất chủ trương với Trung ương và cấp ủy địa phương về công tác Dân vận và những vấn đề liên quan đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
Phối hợp với Ban Tổ chức triển khai công tác tổ chức và cán bộ trong khối theo quy định của cấp ủy; đề xuất việc bố trí, sử dụng đề bạt cán bộ trong khối thuộc diện cấp ủy quản lý, kiến nghị những biện pháp quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân vận; tổ chức hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ dân vận cho cán bộ của hệ thống chính trị; tham gia công tác xây dựng đảng ở các Đảng bộ cơ quan Khối Dân vận
Chủ trì phối hợp với ban ngành liên quan nhất là các cơ quan trong khối hoạt động chung về công tác Dân vận, công tác nghiên cứu kiểm tra, đào tạo, bồi dưỡng thông tin…về công tác Dân vận ở địa phương
- Về tổ chức khối Dân vận cấp xã, phường, thị trấn
Các xã, phường, thị trấn tổ chức Khối Dân vận do đồng chí Phó Bí thư thường trực Đảng (hoặc đồng chí ủy viên Thường vụ thường trực Đảng) làm
Trang 28Trưởng khối Thành viên bao gồm các đồng chí: Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc, Trưởng các đoàn thể và hội quần chúng, Thường trực Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các phường, thị trấn cử thêm đồng chí Trưởng công an tham gia
- Về chức năng và nhiệm vụ của khối Dân vận xã, phường, thị trấn
Phối hợp các thành viên trong khối để tham mưu với cấp ủy tổ chức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác Dân vận Theo dõi, kiểm tra tình hình, phản ánh diễn biến tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân;
sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đề xuất và kiến nghị các vấn đề về công tác dân vận với cấp ủy và cấp trên
Tiếp đó, ngày 21/9/2001 Ban Dân vận Trung ương ra Chỉ thị số 18/2000/CT - TTg về tăng cường công tác dân vận Bản Chỉ thị thông qua các nội dung chính sau:
- “Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngày Bộ, Thủ trưởng cơ quan đơn vị thuộc chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp trong phạm vi và quyền hạn của mình:
+ Phải chỉ đạo và có kế hoạch thường xuyên tuyên truyền và giáo dục nhận thức về công tác dân vận Nhân “Ngày dân vận “15 tháng 10 hàng năm, cần tăng cường chỉ đạo, triển khai học tập bài báo “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết dân vận của Đảng, và bài “Nhớ ngày 15 tháng 10” của đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Lê Khả Phiêu … nhằm tạo ra những chuyển biến mới trong nhận thức và hành động về công tác dân vận
+ Nâng cao năng lực quản lý nhà nước, sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân chủ hóa và công khai hóa, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng Thực hiện nghiêm chỉnh các quy chế dân chủ cơ sở; cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, rà soát bãi bỏ những văn bản trái pháp luật, các chính sách, triển khai các chương trình, dự án phải tổ chức lấy ý kiến rộng rãi
Trang 29trong nhân dân, tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, làm cho các văn bản pháp luật, các chính sách, các chương trình dự án phù hợp với thực tiễn, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân được nhân dân đồng tình ủng hộ + Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm minh những hành vi sách nhiễu, ức hiếp nhân dân, xâm phạm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân Trong những tháng còn lại của năm 2000 các cấp chính quyền có chương trình và kế hoạch cụ thể tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc của nhân dân về nhà ở, đất đai và các chính sách xã hội khác
- Cán bộ, công chức ở Trung ương, tỉnh huyện phải có chương trình đi
cơ sở, bám sát thực tiễn, gặp gỡ tiếp xúc với dân lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân, tuyên truyền giải thích chính sách pháp luật của nhà nước
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Học viện Hành chính quốc gia nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh nội dung công tác dân vận đưa vào chương trình giảng dạy ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
- Các phương tiện thông tin đại chúng, từ Trung ương xuống địa phương cần có các chuyên đề về công tác dân vận và chính quyền làm công tác dân vận; thông tin kịp thời và dành thời lượng thích đáng để giới thiệu tuyên truyền về công tác dân vận; kịp thời biểu dương các cá nhân, tập thể làm tốt công tác dân vận
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp cần tăng cường phối hợp với các
cơ quan của Đảng, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội…nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện công tác dân vận” 29;1- 4
Như vậy, căn cứ vào Chỉ thị 18 CT - Ttg Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh đã kịp thời ra Chỉ thị số 08 - CT/TU ngày 05/7/2001 về Tăng
Trang 30cường công tác dân vận trong tình hình mới “Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc các đoàn thể trong tỉnh làm tốt các nội dung sau:
- Thường xuyên tuyên truyền giáo dục nhằm tạo ra những chuyển biến mới trong nhận thức và hành động về công tác dân vận Phải quán triệt sâu sắc quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do dân và vì dân” trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhằm phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và vai trò làm chủ của nhân dân thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội Đảng các cấp
Trong tình hình hiện nay cần tập trung cho các nội dung vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; vận động nhân dân đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, nâng cao cảnh giác làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn của các thể lực thù địch Thực hiện tốt quy chế dân chủ, giải quyết những vấn đề nảy sinh để không xảy ra “điểm nóng”
- Nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, phát huy vai trò và chức năng của các đoàn thể quần chúng đối với công tác dân vận, thực hiện tốt sự phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị để thực hiện công tác dân vận
Chính quyền các cấp nâng cao năng lực quản lý, sửa đổi cải tiến lề lối làm việc theo hướng dân chủ hóa, công khai hóa, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; giáo dục cán bộ công chức nhà nước ý thức phục vụ nhân dân, thường xuyên xây dựng mối quan hệ gắn bó với nhân dân, kiên quyết chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng Tăng cường mối quan hệ với mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể quần chúng, thực hiện tốt quy chế dân chủ Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi sách nhiễu, ức hiếp, xâm phạm lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân
Trang 31Mặt trận Tổ Quốc cần làm tốt chức năng phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, đoàn kết các tầng lớp nhân dân tạo ra sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Các tổ chức chính trị xã hội cần có các hình thức hoạt động sát với các đối tượng vận động, chăm lo lợi ích của đoàn viên, hội viên Củng cố tổ chức
ở cơ sở, thu hút thêm đoàn viên, hội viên phát triển tổ chức trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vùng tôn giáo, vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa Tăng cường sự phối hợp hành động giữa các thành viên trong MTTQ
Cán bộ, công chức, viên chức từ tỉnh đến cơ sở cần nâng cao nhận thức quan điểm của Đảng về công tác dân vận, nắm vững chính sách và vận dụng vào công việc cụ thể hàng ngày Tiếp xúc, lắng nghe những ý kiến nguyện vọng của nhân dân, đồng thời tuyên truyền giải thích các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh để nhân dân biết thực hiện
-Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác dân vận Các cấp ủy Đảng phải đề ra chủ trương đúng đắn và thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành làm tốt công tác dân vận nhằm củng cố mối quan hệ mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo xây dựng hệ thống chính trị ở cơ
sở trong sạch vững mạnh thường xuyên nắm chắc tình hình đời sống và tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, nghiên cứu phát hiện và có chủ trương giải quyết đúng đắn những vấn đề quần chúng nhân dân đặt ra
Các cấp ủy có chương trình làm việc định kỳ với mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể thường xuyên nắm chắc tình hình công tác và tổ chức của mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể tiếp thu ý kiến phê bình xây dựng, giải quyết các đề nghị, phát huy tốt trong việc thực hiện công tác vận động quần chúng, chống xa rời quần chúng hoặc coi nhẹ công tác dân vận, khắc phục lề lối làm việc hành chính hóa trong hoạt động của Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể
Trang 32Các cấp ủy thường xuyên kiểm tra trách nhiệm và sự phối hợp giữa các ngành của bộ máy nhà nước với các đoàn thể về công tác dân vận Cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, đoàn thể phải định kỳ gặp gỡ quần chúng ở cơ
sở Mỗi đảng viên phải làm tốt công tác tuyên truyền vận động quần chúng, bản thân phải gương mẫu trong công tác, lao động và sinh hoạt Các cơ quan tuyên truyền của Đảng phải nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân
Cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm, chăm sóc, đào tạo, bồi dưỡng
và quản lý tốt đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, có chính sách hợp lý, tạo điều kiện cho hoạt động của cán bộ dân vận và đoàn thể
-Tiếp tục kiện toàn củng cố hệ thống dân vận các cấp
Về biên chế: Trên cơ sở Hướng dẫn số 01/HDLB-TC-DV-TW ngày 25/5/2000 của Ban Tổ chức Trung ương - Ban Dân vận Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương, các cấp ủy trực thuộc nghiên cứu sắp xếp biên chế và lựa chọn cán
bộ để bố trí đối với Ban Dân vận cấp mình, có lưu ý đến biên chế chung của toàn tỉnh
Ở cấp cơ sở: Thành lập Khối Dân vận do đồng chí Thường trực Đảng
ủy làm Trưởng khối, cơ cấu thành viên khác như Hướng dẫn 01 Khối Dân vận duy trì nề nếp chế độ giao ban hàng tháng để tổng hợp tình hình, kiến nghị với cấp ủy, chính quyền giải quyết những vướng mắc hoặc nguyện vọng chính đáng của nhân dân
Đối với hội quần chúng: Ban Dân vận Tỉnh nghiên cứu đề xuất với Thường trực Tỉnh ủy về phân công theo dõi, quản lý thích hợp để vừa đảm bảo thực hiện như Hướng dẫn của Trung ương vừa phù hợp với thực tế của địa phương và phát huy tốt vai trò của tổ chức hội
- Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”, hàng năm vào dịp 15 tháng 10, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt
Trang 33trận Tổ Quốc và các đoàn thể cần tổ chức đánh giá kiểm điểm những gì đã làm được đối với dân và công tác dân vận đã nêu trong chỉ thị để động viên, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích, khắc phục những hạn chế tồn tại, qua đó làm tốt hơn nữa công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân phấn đấu để xây dựng Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu mạnh, văn minh góp phần xứng đáng vào sự phát triển chung của đất nước” 60; tr.2 - 4
Từ những chủ trương định hướng của Trung ương, Tỉnh ủy Quảng Ninh thì Thị ủy Cẩm Phả đã hoạch định đường lối chủ trương về Công tác Dân vận chính quyền của mình từ năm 2000 - 2005 Đảng bộ Thị xã Cẩm Phả
và các cấp chính quyền, đoàn thể đã triển khai nhiều hội nghị đề ra các chủ trương, giải pháp cụ thể phù hợp với đặc điểm của để công tác dân vận chính quyền đạt được kết quả cao nhất
Thi hành điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam, Đại hội đảng bộ thị xã Cẩm Phả lần thứ XIX nhiệm kỳ 2000 - 2005, diễn ra từ ngày 19 đến 12 tháng 11 năm 2000 tham dự đại hội có 179 đại biểu đại diện cho 3809 đảng viên thuộc
44 chi, đảng bộ cơ sở Đại hội đã xác định phương hướng chung của Đảng bộ thị xã trong 5 năm tới: “Quán triệt nghị quyết đại hội IX của Đảng, Nghị quyết đại hội XI của Đảng bộ tỉnh, tận dụng lợi thế đề ra những nhiệm vụ giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương Tiếp tục phát huy mọi nguồn lực để CNH - HĐH phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, củng cố quốc phòng, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội góp phần đảm bảo trật tự
an ninh xã hội, bình yên cuộc sống cho nhân dân Thực hiện chủ trương dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thị xã xanh, sạch, đẹp Xây dựng Đảng bộ chính quyền và các đoàn thể vững mạnh…”
10;tr.166
Đại hội đã bầu ra BCH Đảng bộ khóa XIX gồm 35 đồng chí Đồng chí Nguyễn Văn Chính được Đại hội tín nhiệm tái cử chức Bí thư Thị ủy Đồng
Trang 34chí Phạm Văn Lân được bầu làm Phó Bí thư Thường trực và đồng chí Nguyễn Đình Hồng, Chủ tịch HĐND thị xã được bầu làm Phó Bí thư
Bước vào giai đoạn 2000 - 2005, Đảng bộ và nhân dân thị xã Cẩm Phả
có những thuận lợi: Đất nước thực hiện đường lối đổi mới đang gặt hái được nhiều thành công Đời sống nhân dân được cải thiện từng bước, lòng tin của quần chúng đối với Đảng và sự nghiệp đổi mới được củng cố vững chắc hơn
Với vị trí địa lý nhiều thuận lợi, lại có nhiều tiềm năng (về con người, ngành nghề, tài nguyên, cảnh quan …) và gần các trung tâm khoa học kỹ thuật, trung tâm phát triển kinh tế của tỉnh, Trung ương nhờ đó có thể khai thác và mở rộng giao lưu phát triển với thành phố Hạ Long, thủ đô Hà Nội và khu vực tam giác kinh tế miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh từ đó thúc đẩy nền kinh tế thị xã phát triển mạnh hơn.Trải qua thực tiễn đổi mới, đặc biệt vào đầu thế kỷ XXI Nhà nước, Thị xã có nhiều chuyển biến, đội ngũ cán bộ có trưởng thành hơn một bước tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo quản lý KT - XH Mặt khác, các chủ trương chính sách đổi mới của Trung ương đang tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện ngày càng đồng bộ và cụ thể hơn Những thuận lợi trên sẽ là tiền đề quan trọng để thị xã Cẩm Phả bứt phá vượt lên giành những thắng lợi mới trong thời gian tới song phía trước Đảng bộ và nhân dân thị xã còn nhiều khó khăn: Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của vùng
Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của thị xã trong giai đoạn 2000 - 2005 Đại hội đã xác định chủ trương về công tác VĐQC:
+ “Nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và cán bộ, đảng viên đối với công tác dân vận Các tổ chức Đảng và đảng viên phải thường xuyên bám sát cuộc sống, hiểu rõ tình hình thực tế, giữ mối quan hệ mật thiết, lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là các ý kiến tham gia đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng trong quá trình thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Trang 35+ Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể nhân dân vững mạnh, phát huy vai trò và tính tích cực của tổ chức quần chúng Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đoàn thể các cấp, nhất là cán bộ cơ sở, khắc phục tình trạng coi nhẹ vai trò của các đoàn thể Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, sự phối hợp hành động thống nhất giữa các đoàn thể, các tổ chức thành viên của MTTQ, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng” [35; tr.23]
Về công tác xây dựng chính quyền:
+“ Đổi mới, nâng cao chất lượng của HĐND các cấp HĐND phải có các chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với UBND, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức KT - XH ở địa phương trong việc thực thi pháp luật
+ Đổi mới hoạt động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân chủ động để tham gia quản lý nhà nước, giám sát các hoạt động của các cơ quan, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan trong việc giải quyết các kiến nghị
+ Tiếp tục mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện cải cách hành chính, tập trung xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh
+ Đổi mới tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy chính quyền các cấp” [35; tr.24]
Trước những thuận lợi và khó khăn và yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Đảng bộ và nhân dân thị xã cần nắm vững đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Trung ương; phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, khai thác tốt mọi tiềm năng sẵn có trong thị xã đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Tỉnh, Trung ương, bên ngoài
Từ đó, tạo ra những khâu đột phá về kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề (việc làm, các tệ nạn xã hội, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải được chú trọng nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Chắc chắn với quyết tâm và
Trang 36tinh thần thống nhất cao Đảng bộ và nhân dân thị xã sẽ vươn lên khắc phục những khó khăn, trở ngại phát huy mọi tiềm năng thế mạnh phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đại hội đề ra
1.2.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ thị xã Cẩm Phả
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ những kinh nghiệm qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Hội nghị Trung ương khóa VIII đã chỉ rõ: “Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn thể còn là trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị có sự phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Mọi cán
bộ đảng viên, nhân viên nhà nước đều phải làm công tác quần chúng theo chức trách của mình” 8;tr.101
Như vậy, khi Đảng cầm quyền lực lượng làm công tác VĐQC bao gồm Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể nhân dân Mỗi tổ chức tùy theo chức năng nhiệm vụ của mình mà có nội dung phương pháp làm dân vận riêng Trong những năm qua công tác VĐQC xây dựng chính quyền đã được các cấp ủy, chính quyền, ban ngành, đoàn thể trong tỉnh thường xuyên quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả
Thấm nhuần các quan điểm về quần chúng và công tác VĐQC các cấp
ủy Đảng có nhiều chủ trương thiết thực nhằm đẩy mạnh công tác dân vận chính quyền ở Đảng bộ thị xã Cẩm Phả, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ Tỉnh lần thứ IX, Đảng bộ thị xã lần thứ XX cùng với việc lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, các cấp ủy Đảng đã lãnh đạo đã từng bước nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ đảng viên về công tác vận động quần chúng và duyệt chương trình, nhiệm vụ công tác năm sau của hệ thống dân vận, Mặt trận, đoàn thể và duy trì tốt việc giao ban định kỳ về công tác dân vận
Thực hiện chỉ đạo của Thị ủy, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể xây dựng kế hoạch, chương trình
Trang 37thực hiện Chỉ thị 08 - CT/TU của Tỉnh ủy và của ngành dọc phù hợp với tình hình của đơn vị nhằm phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và vai trò làm chủ của nhân dân
Cùng với việc triển khai thực hiện Chỉ thị 08 - CT/TU, các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể đã gắn việc tổng kết nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh của Thị xã có liên quan đến công tác dân vận chính quyền như:
Tổng kết 12 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B (Khóa VI) đề đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa VI) và Chỉ thị số 37 của Bộ Chính trị, Ban bí thư về công tác vận động phụ nữ và cán bộ nữ; Nghị quyết
số 07 của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc;
Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 30 CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng quy chế dân chủ cơ sở, tiến hành hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra đối với các phường xã, cơ quan doanh nghiệp trong việc thực hiện các Nghị định 79 NĐ/CP; 07 NĐ/CP, 71 NĐ/CP Chỉ đạo các cơ sở sơ kết thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ đối với đạo Tin lành
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 02 NQ/TU về “Tăng cường và đổi mới công tác thanh niên giai đoạn 2001 - 2005” Nghị quyết 04 NQ/TU về tăng cường củng cố xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở Nghị quyết 07 NQ/TU về tăng cường đầu tư phát triển KT-
XH ở miền núi, hải đảo giai đoạn 2001 - 2005 Chỉ thị 27 - CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị số 18 CT/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội
Các Chỉ thị, Nghị quyết trên đã được cụ thể hóa thành các văn bản chỉ đạo, chương trình hành động phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, kết quả tổ chức kiểm tra thực hiện việc sơ, tổng kết… Từ năm 2001 đến 2005, Thị ủy đã ban hành 17 Chỉ thị; 10 công văn, 6 thông báo và 10 kế hoạch chỉ
Trang 38đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến công tác dân vận chính quyền; 13 quyết định, 1 nghị quyết, 6 chương trình hành động; thực hiện 12 báo cáo sơ kết từ 1 đến 5 năm; 12 báo cáo tổng kết, 5 báo cáo kiểm tra thực hiện nhiệm vụ công tác VĐQC xây dựng chính quyền cấp cơ sở
Triển khai nghiên cứu, quán triệt các ra nghị quyết thực hiện các Nghị quyết hội nghị Trung ương khóa VII về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo Đồng thời triển khai học tập thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 về chiến lược bảo vệ an ninh Tổ Quốc trong tình hình mới và các chuyên đề tư tưởng Hồ Chí Minh Chỉ đạo chiến lược ra quân đồng loạt thực hiện Nghị quyết 13 của Chính phủ về lập lại trật tự an toàn giao thông, hành lang đê điều công trình thủy lợi, tạo nên sự đồng thuận và niềm tin trong các tầng lớp nhân dân về thực thi pháp luật
Lãnh đạo thực hiện công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương 6 lần 2 (khóa VIII) gắn với thực hiện quy chế dân chủ, góp phần củng cố chặt chẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; tiếp tục chỉ đạo việc đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Hệ thống dân vận từ thị ủy tới cơ sở được củng cố kiện toàn, có nhiều
cố gắng trong hoạt động, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương Đã tham mưu cho cấp ủy tiến hành tổng kết công tác dân vận hàng năm, đề ra phương hướng nhiệm vụ cho năm sau sát với tình hình thị xã; kịp thời triển khai chương trình công tác với nội dung thi đua, đưa việc thực hiện nề nếp ngay từ đầu năm
Ngay sau khi có Chỉ thị 08 - CT/TU của Tỉnh ủy và Hướng dẫn số 65 HD/DV ngày 15/8/2001 của Ban Dân vận Tỉnh ủy, Thị ủy đã tổ chức Hội
Trang 39nghị Ban Chấp hành mở rộng đến Bí thứ cấp ủy cơ sở, Chủ tịch UBND các phường, xã, Trưởng các ban, ngành, đoàn thể Thành phố để quán triệt chỉ thị của Tỉnh ủy và Hướng dẫn của Ban Dân vận tỉnh ủy đồng thời thông qua kế hoạch chỉ đạo của Thị ủy để cơ sở triển khai thực hiện
Thực hiện kế hoạch của Thị ủy đến hết quý 3/2001, 100% các cơ sở Đảng, các cấp chính quyền và kế hoạch của Thị ủy về “Tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới”
Qua học tập và quán triệt Chỉ thị 08 các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể và cán bộ đảng viên, công chức, viên chức nhận rõ hơn
vị trí, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng xây dựng chính quyền cấp cơ sở trong tình hình mới; nắm rõ hơn thực trạng phong trào quần chúng ở địa phương đơn vị Từ đó, xác định rõ hơn trách nhiệm của các cấp
ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể, nhân dân, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Thị xã đối với công tác VĐQC xây dựng chính quyền của Đảng; có biện pháp khắc phục những thiếu sót về lề lối, tác phong, thái
độ làm việc khi tiếp xúc với nhân dân, góp phần củng cố lòng tin của quần chúng, nhân dân đối với Đảng; tăng cường đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân thi đua lao động sản xuất, tích cực tham gia các phong trào thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương
Đối với tất cả các chỉ thị, nghị quyết khác của cấp ủy đều được các cấp
ủy, chính quyền, đoàn thể coi trọng, quan tâm thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tích cực vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả thiết thực Cùng với công tác tuyên truyền thực hiện Chỉ thị 08 của Tỉnh ủy, các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể thị xã có nhiều hình thức triển khai nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy vai trò của nhân dân trong sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng thực hiện thắng lợi các
Trang 40mục tiêu và chỉ tiêu của Đại hội Đảng bộ Thị xã các nhiệm kỳ và nhiệm vụ chính trị hàng năm
Trong giai đoạn từ 2000 đến 2005 với nỗ lực không ngừng của các cấp
ủy Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể thị xã công tác VĐQC xây dựng chính quyền đã thu được nhiều kết quả trên một
xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Thị ủy đã triển khai các chương trình cải cách hành chính UBND thị xã đã chỉ đạo các cơ quan gắn nhiệm vụ cải cách hành chính với việc thực hiện quy chế, văn hóa công sở, nâng cao hiệu quả thời gian làm việc; thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong việc tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền Đồng thời UBND thị xã cũng đã thực hiện nghiêm túc theo công văn số 1779/UBND - TH1 yêu cầu Thủ trưởng các đơn vị, ban, ngành, chủ tịch thị xã thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của UBND tỉnh đã đưa ra Việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND các cấp đã được duy trì và đã đạt được những kết quả tích cực, được tổ chức và công dân đồng tình, góp phần làm giảm bớt phiền hà, quan liêu nhiễu sách, cửa quyền của một số cán bộ công chức, nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân của cơ quan hành chính cấp phường, xã - nơi gần dân nhất, hiểu dân nhất