1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luật tục jorai với việc thực hiện dân chủ cơ sở ở tình gia lai hiện nay

98 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 808,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó nếu không được xử lý đúng đắn thỡ rất cú thể đến một ngày nào đó người Jơrai sẽ rơi vào tỡnh trạng “chõn khụng” về mặt văn hoá, luật tục sẽ mất đi vai trũ trong việc điều chỉnh c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HỒ THỊ THANH HIỀN

Tên đề tài: LUẬT TỤC JƠRAI VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ

CƠ SỞ Ở TỈNH GIALAI HIỆN NAY

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HỒ TRỌNG HOÀI

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5 Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu

1.1 Cơ sở hình thành luật tục Jơrai

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.2 Điều kiện về tộc người

1.1.3 Cơ sở kinh tế

1.1.4 Cơ sở xó hội

1.1.5 Đặc điểm thế giới quan và nhân sinh quan của người Jơrai

1.2 Nội dung, hình thức tồn tại cơ bản và vai trò của luật tục Jơrai ở tỉnh Gialai hiện nay

1.3 Cơ chế vận hành, cách thức phán xử và hiệu lực của luật tục Jơrai ở tỉnh Gialai hiện nay

1.4 Đặc điểm của luật tục Jơrai

Chương 2: Ảnh hưởng của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dân chủ cơ

sở ở tỉnh Gia Lai hiện nay

2.1 Ảnh hưởng của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dân chủ trong lĩnh vực kinh tế ở

cơ sở ở tỉnh Gialai hiện nay

Trang 3

2.2 Ảnh hưởng của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dân chủ trong lĩnh vực chính trị ở

ở tỉnh Gia Lai hiện nay

3.1 Một số định hướng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của luật tục Jơrai nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ cơ sở

3.1.1 Cần có thái độ khách quan khi đề ra và thực hiện các giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của luật tục Jơrai

3.1.2 Giữ gìn, phát huy những giá trị tích cực và khắc phục những mặt tiêu cực của luật tục phải hướng đến mục tiêu thực hiện đoàn kết, bình đẳng dân tộc, thúc đẩy quá trình phát triển toàn diện đời sống của đồng bào Jơrai

3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của luật tục nhằm thực hiện tốt hơn dân chủ cơ sở ở tỉnh Gialai hiện nay 3.2.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội

3.2.1.1 Giải pháp về định canh định cư, xoá đói giảm nghèo, phát triển sản xuất

3.2.1.2 Giải pháp tạo nguồn vốn nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo

3.2.2 Nâng cao dân trí, xây dựng đội ngũ cán bộ

3.2.3 Đề cao vai trò của luật pháp nhà nước đồng thời với việc phát huy những giá trị tích cực của luật tục

Trang 4

PHẦN KẾT LUẬN

Người thực hiện: HỒ THỊ THANH HIỀN Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HỒ TRỌNG HOÀI Tờn đề tài: LUẬT TỤC JƠRAI VỚI VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở TỈNH

GIALAI HIỆN NAY

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gialai là một tỉnh miền nỳi thuộc khu vực Bắc Tõy Nguyờn, là địa bàn chiến lược về kinh tế, chớnh trị, ngoại giao, an ninh quốc phũng của cả nước núi chung và Tõy Nguyờn núi riờng

Từ ngàn xưa, người Jơrai đó cư trú trên mảnh đất này Trải qua bao thế hệ, bằng tài năng và sức sáng tạo của mỡnh, người Jơrai đó đem lại cho Gialai một nền văn hoá độc đáo mang đậm chất “Thượng”, làm cho mảnh đất này có sức cuốn hút mónh liệt đối với nhiều người nghiờn cứu và cả những du khỏch qua đây

Nếu ở miền xuụi cú hương ước quy định những tập tục của một thôn, xó thỡ ở miền nỳi cũng cú Tplei phel - tạm dịch là luật tục Luật tục của người miền núi cũng

phong phú không kém Theo GS, TS Phan Đăng Nhật thỡ “đó là một bộ bách khoa về dân tộc - một gia huấn ca về đạo đức của con người” [24, tr.81]

Hỡnh thành tự phỏt trong quỏ trỡnh hàng ngàn năm, luật tục của người Jơrai bao trựm hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống con người, từ những vấn đề như sản xuất, lễ hội, hụn nhõn, ma chay… đến các lĩnh vực khỏc như đặt bẫy, làm nhà Những quy định của luật tục đó ăn sâu, bám rễ vào trong tiềm thức, trong lối sống của mọi thành viên trong cộng đồng Luật tục không chỉ là một trong những thành tố tạo nên nét đặc trưng đặc sắc của văn hoá Jơrai mà nú cũn cú vai trũ quan trọng chi phối nhận thức, hành vi của người Jơrai

Điểm đáng lưu ý của luật tục Jơrai là, tính dân chủ và tính nhân đạo Đây là hai vấn đề gần như xuyên suốt hệ thống luật tục của họ, đặc biệt là tính dân chủ

Do trỡnh độ phát triển của xó hội Jơrai có những hạn chế nhất định, cũn tớnh khộp kớn, trong khi luật phỏp nhà nước lại chưa đủ sức để xuyên thấu đến tận cỏc làng bản (nhất là những vựng hẻo lỏnh) nờn luật tục của bản làng càng có điều kiện để tồn tại Luật tục Jơrai khi đem quy chiếu với những chuẩn mực của xó hội hiện nay vẫn cũn cú nhiều điều phù hợp, nhiều nét đẹp mang tính nhân văn sâu sắc cần được

Trang 6

khai thác và phát huy Đồng thời cũng có nhiều điều đó lỗi thời đang cản trở sự tiến bộ

và phát triển của tộc người Jơrai cũng rất cần một sự nhận diện chính xác để có cách khắc phục

Tự bản thõn nú, trải qua mấy ngàn năm vận động và phát triển, cùng với những biến đổi to lớn của đất nước, luật tục Tõy nguyờn núi chung và luật tục Jơrai nói riêng

đó cú nhiều thay đổi Đặc biệt, từ giữa thế kỷ XX trở lại đây, các dân tộc Tây Nguyên

bị cuốn hút vào cơn lốc của nền kinh tế thị trường, sự xâm nhập của các tôn giáo, các nền văn hoá ngoại lai… đó làm cho văn hoá người Jơrai núi chung và luật tục Jơrai núi riờng sự pha tạp, biến đổi Điều đó nếu không được xử lý đúng đắn thỡ rất cú thể đến một ngày nào đó người Jơrai sẽ rơi vào tỡnh trạng “chõn khụng” về mặt văn hoá, luật tục sẽ mất đi vai trũ trong việc điều chỉnh các quan hệ xó hội trong cộng đồng

Do đú, bảo tồn và phỏt huy những giá trị của luật tục được đặt ra một cách cấp bách bởi việc phát huy hiệu quả các giá trị của luật tục sẽ góp phần ngăn ngừa ảnh hưởng của văn hoá ngoại lai, cũng như phát huy vai trũ của văn hoá dân tộc phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Như vậy, tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu luật tục, bảo tồn và phát huy giá trị tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó được xác định bởi yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp xây dựng xó hội mới trong giai đoạn hiện nay Từ lý do đó mà tỏc

giả luận văn đó chọn đề tài: “Luật tục Jơrai với việc thực hiện dõn chủ cơ sở ở tỉnh

Gialai hiện nay” làm đề tài nghiờn cứu

2.Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài

Vấn đề luật tục và ảnh hưởng của nó đối với xó hội hiện nay được nhiều nhà nghiờn cứu quan tõm nhưng ở những phạm vi và góc độ khác nhau

+ Khai thỏc dưới góc độ văn hoá có các công trỡnh nghiờn cứu tiờu biểu như:

- “Nét đặc trưng văn hoá cổ truyền của người Jơrai ở Tõy Nguyờn” của

Rơchăm Oanh NXB VHDT HN, 2002

- “Một số nét đặc trưng của phong tục cỏc dõn tộc Tõy Nguyờn” của Lõm

Tõm và Linh Nga Niek Đam NXB VHDT HN, 1996

Trang 7

+ Khai thỏc dưới góc độ dân tộc học có các công trỡnh nghiờn cứu tiờu biểu như:

- “Luật tục - một giỏ trị truyền thống” của Ngô Đức Thịnh Báo Nhân dân,

ngày 21/11, trang 6 – 14

- “Luật tục Jơrai” do Phan Đăng Nhật chủ biờn NXB VHTT Tỉnh Gialai

1999

+ Khai thỏc dưới góc độ triết học có các công trỡnh nghiờn cứu tiờu biểu như:

- “Ảnh hưởng của luật tục Tõy Nguyờn” của GS Ngô Đức Thịnh Chuyên đề

nghiên cứu và sáng tác về miền núi và Tây Nguyên NXB Đà Nẵng, 2001

- “Vai trũ của luật tục trong việc xõy dựng và thực hành phỏp luật” của Đặng

Nghiêm Vạn Chuyên đề nghiên cứu và sáng tác về miền núi và Tây Nguyên NXB

Đà Nẵng, 2001

- “Luật tục trong việc bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc và thực hiện dân chủ ở

cơ sở” của Phan Đăng Nhật Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và các vấn

đề đặt ra NXB CTQG, HN, 2004

- “Về luật tục Êđê trong xây dựng nông thôn mới hiện nay” của TS Nguyễn

Ngọc Hoà Văn hoá các dân tộc Tõy Nguyờn thực trạng và cỏc vấn đề đặt ra NXB CTQG, HN, 2004

- “Luật tục, quyền sở hữu đất và vấn đề di cư” của Oscarsalemink Chuyên đề

nghiên cứu và sáng tác về miền núi và Tây Nguyên NXB Đà Nẵng, 2001

Những cụng trỡnh của cỏc tỏc giả trờn, tuy ở cỏc khớa cạnh khỏc nhau nhưng

đó gúp phần làm sỏng tỏ về giỏ trị của luật tục trong đời sống cộng đồng; đặt ra nhu cầu phải bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp của luật tục trong quỏ trỡnh xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Kế thừa và phỏt huy nội dung những cụng trỡnh nghiờn cứu trờn, luận văn đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện dân chủ cơ sở

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu

Luật tục cú vai trũ quan trọng trong tất cả cỏc lĩnh vực trong đời sống của mỗi thành viờn cũng như của cộng đồng, song luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện dân chủ cơ sở

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là luật tục của người Jơrai ở tỉnh Gialai

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đớch:

Từ việc nghiờn cứu nội dung Luật tục Jơrai, sự ảnh hưởng của nó đến việc thực hiện dân chủ cơ sở, thực trạng của luật tục trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giữ gỡn và phỏt huy giỏ trị tớch cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục trong việc điều chỉnh các quan hệ xó hội núi chung và việc thực hiện dõn chủ cơ sở núi riờng

4.2 Nhiệm vụ:

Một là, trỡnh bày cơ sở hỡnh thành, nội dung, cơ chế vận hành, hiệu lực và đặc

điểm của luật tục Jơrai

Hai là, phõn tớch những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục đến việc

thực hiện dân chủ cơ sở; những nhân tố tác động làm luật tục Jơrai hiện nay biến đổi

Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy giá trị tích cực và hạn chế ảnh

hưởng tiờu cực của luật tục Jơrai trong việc thực hiện dõn chủ cơ sở ở tỉnh Gialai hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghió Mỏc – Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về văn hoỏ, về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xó hội và ý thức

xó hội cũng như những kết quả nghiờn cứu của cỏc nhà nghiờn cứu

5.2 Phương phỏp nghiờn cứu

Trang 9

Phương phỏp nghiờn cứu của luận văn là phương phỏp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương phỏp cụ thể là phương phỏp lịch sử - lụgic, phõn tớch

- tổng hợp

Đề tài cũn sử dụng phương pháp so sánh lịch đại và đồng đại nhằm rút ra sự biến đổi của luật tục và tàn dư của nó trong giai đoạn hiện nay, khả năng thích ứng của luật tục trong xó hội đương đại Trên cơ sở đó xem xét, đánh giá nội dung, phương thức hoạt động của quy ước xây dựng nếp sống văn hoá, tổ hoà giải, toà án phong tục của bản làng

Đề tài cũn sử dụng phương pháp hệ thống, đặt luật tục trong nhiều mối quan hệ khác trong đời sống làng bản như kinh tế, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng để nghiên cứu, xem xét sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố đó

Ngoài ra, đề tài cũn sử dụng phương pháp điền dó dõn tộc học, trực tiếp quan sỏt, tỡm hiểu, nghiờn cứu nhiều mặt liờn quan đến đề tài

6 Đóng góp của đề tài

- Nghiờn cứu về luật tục Tõy Nguyờn và ảnh hưởng các giá trị của nó đến đời sống xó hội khụng phải là vấn đề mới mẻ, song cho đến nay mảng đề tài này vẫn cũn cần được khai thác và khám phá Đề tài nghiên cứu của tác giả luận văn gúp phần đưa

ra cỏi nhỡn tổng quỏt về ảnh hưởng của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dân chủ cơ sở dưới góc độ triết học

- Luận góp phần làm phong phú thêm sự hiểu biết về nét đặc sắc của văn hoá truyền thống của người Jơrai, cú thể dựng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy

và học tập các bộ môn triết học, văn hoá trong các trường chuyờn nghiệp hoặc làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách, quản lý văn hoá ở tỉnh Gialai

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tham khảo, luận văn gồm

có 3 chương:

Trang 10

Chương 1: Luật tục Jơrai - Cơ sở hỡnh thành, nội dung và một số đặc điểm chủ

yếu

Chương 2: Ảnh hưởng của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dõn chủ cơ sở ở

tỉnh Gialai hiện nay

Chương 3: Một số giải phỏp nhằm phỏt huy giỏ trị tớch cực và hạn chế ảnh

hưởng tiờu cực của luật tục Jơrai đến việc thực hiện dân chủ cơ sở ở tỉnh Gialai hiện nay

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

Nền văn hóa của mỗi dân tộc đều mang trong nó một sắc thái riêng mà chỉ có dân tộc đó mới có Cái làm nên sắc thái riêng đó gọi là bản sắc văn hoá, được biểu hiện qua nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có nếp sống, phong tục

Phong tục, tập quỏn cũng thường được biểu hiện qua những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân tộc Nó tồn tại do đó thõm nhập vào nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng trong chính đời sống của mỡnh Bởi vậy, những truyền thống văn hóa tốt đẹp là một sức mạnh tinh thần, một sức dự trữ về tỡnh cảm, tư tưởng, lối sống, kinh nghiệm tiếp xúc với cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo, giúp cho văn hóa giữ được bản sắc dân tộc Hơn nữa, phong tục tập quán cũn là cơ sở, là điểm tựa để mỗi con người nói riêng và cộng đồng nói chung chống lại sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai, là bộ lọc tinh vi để mỗi cộng đồng và mỗi người tiếp thu có chọn lọc và dân tộc húa những yếu tố khỏc từ những nền văn hóa khác

Như ta đó biết, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và có nền văn hóa phong phú giàu bản sắc với vụ vàn những sắc thái đa dạng của các vùng văn hóa khác nhau Mỗi vùng văn hóa như vậy gắn liền với từng môi trường tự nhiên, với từng tiến trỡnh lịch sử cụ thể

Là một vựng lành thổ tự nhiờn trự phú và hùng vĩ của đất nước, Tây Nguyên từ ngàn xưa, đó được các chủ nhân riêng của nó, từ thế hệ này sang thế hệ khác vẽ nên bức tranh văn hóa độc đáo hiếm có Nền văn hóa ấy có sức ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của từng dân tộc, từng con người Tây Nguyên Nó thể hiện ở thế giới quan, nhân sinh quan, phong cách tư duy, lối sống sinh hoạt, cách ứng xử trước các điều kiện tự nhiên, xó hội và trong giao lưu văn hóa

Cú thể nói, luật tục Tây Nguyên là một yếu tố quan trọng làm nên nét đặc sắc đầy nguyên sơ, hoang dó của văn hóa Tây nguyên Luật tục Tây Nguyên hỡnh thành

tự phỏt trong quỏ trỡnh lịch sử hàng ngàn năm, nó hầu như bao trùm toàn bộ mọi lĩnh

Trang 12

vực của đời sống con người Cùng với thời gian, luật tục tồn tại song hành cựng luật phỏp nhà nước như một yếu tố vừa ẩn vừa hiện, vừa không chính thống vừa chính thống chi phối đến các hoạt động xó hội của nhõn dân và đó trở thành quy phạm điều chỉnh hành vi cỏ nhõn trong cộng đồng Luật tục được nhân dân tôn trọng, giữ gỡn

Chương 1: Luật tục Jơrai – Cơ sở hình thành, nội dung và một số đặc điểm chủ yếu

Luật tục (tập quán pháp, lệ tục…) tương ứng với các thuật ngữ khoa học nước ngoài: Customary law, lolk law, traditional law… là một hỡnh thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương Giáo sư Ngô Đức Thịnh đó định nghĩa khá rừ ràng và đầy đủ

về luật tục như sau:

”Luật tục là một hỡnh thức của tri thức bản địa, được hỡnh thành trong lịch sử lõu dài qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xó hội, được thể hiện dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau và được truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xó hội Nú ảnh hưởng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hũa cỏc quan hệ xó hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự cân bằng thống nhất xó hội của mỗi cộng đồng.” [48, tr.37]

Luật tục với tư cách là một hiện tượng xó hội - lịch sử đó tồn tại hàng ngàn năm nay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới Tính tất yếu và phổ biến của việc tồn tại này bắt nguồn từ nhiều căn nguyên xó hội và lịch sử

Luật tục ra đời trong khung cảnh xó hội tiểu nụng, trong đó tồn tại các cộng đồng xó hội tự quản như xó hội gia tộc và xó hội lỏng giềng, Nhà nước không trực tiếp chi phối đến từng thành viên, công xó thực hiện chế độ tự quản và chịu trách

nhiệm tập thể trước Nhà nước Do vậy, luật tục được coi là “bộ luật” tự quản của cụng

xó nụng thụn Chỉ khi xuất hiện xó hội cụng dõn, tức người dân trực tiếp chịu sự chi

Trang 13

phối, ràng buộc của Nhà nước thông qua pháp luật thỡ luật tục mới mất dần tỏc dụng điều hành xó hội cộng đồng nông thôn của nó

Nước ta là một quốc gia đa tộc người với trỡnh độ phát triển xó hội cao thấp khỏc nhau, sống xen cài nhau và mỗi nhúm lại cú một tập quỏn phỏp riờng của mỡnh… Mỗi dõn tộc đều có tên gọi luật tục riêng như Hương ước (Việt), Hịt Khỏng (Thỏi), Phatkđi (Êđê), PhátKđuôi (M’Nụng), TpleiPhel (Jơrai)… Luật tục Tây Nguyên nói chung và luật tục Jơrai nói riêng đó tồn tại và được duy trỡ đến ngày nay như một thực tế khách quan

1.1 Cơ sở hình thành luật tục Jơrai

Gialai với điều kiện địa lý, thiên nhiên ưu đói là khu vực lý tưởng cho con người sinh sống Nơi đây có hơn 30 dân tộc anh em cư trú: Xê đăng, Gié Triêng, Jơrai, Bahnar, Mạ, Kơho… trong đó, chiếm tuyệt đại đa số cư dân bản địa ở Gialai là hai dân tộc Bahnar và Jơrai Trừ dân tộc Kinh, dân tộc thiểu số ở Gialai có khoảng 49 vạn người, chiếm 44,95% dân số, trong đó dân tộc Jơrai có khoảng 34 vạn người, chiếm 34,8%; dân tộc Bahnar chiếm 13,5 vạn người, chiếm 12,46%; các dân tộc khác chiếm 1,69% Theo những tài liệu dân tộc học và khảo cổ học, có thể giả định địa bàn cư trú gốc của người Jơrai từ Bắc Gialai đến giáp tỉnh Đăklăk, Tây Bắc tỉnh Phỳ Yờn và những vùng dọc biên giới Camphuchia Tộc người Jơrai chiếm trên 70% dân số các tộc người thiểu số sống ở Gialai, do đó tín ngưỡng và luật tục của tộc người này chi phối mạnh mẽ đến đời sống xó hội và tõm linh cỏc dõn tộc nơi đây

Trải qua quỏ trỡnh lịch sử lõu dài, với lối tư duy hoang sơ, mộc mạc nhưng đầy sáng tạo, tộc người Jơrai đó tạo nờn cho mỡnh một nền văn hóa độc đáo, mang đậm chất Tây Nguyên Một trong những yếu tố làm nên chất bản sắc cho văn hóa Jơrai là luật tục

Nghiên cứu luật tục Jơrai không chỉ để hiểu về dân tộc có số dân đông, có trỡnh

độ phát triển kinh tế - xó hội cao so với cỏc dõn tộc khỏc trong vựng, mà qua luật tục

Trang 14

của họ, ta cũn hiểu được toàn bộ nếp sống, lối tư duy, cỏc giỏ trị văn hoá, và các phương diện khác của người Jơrai

Luật tục Jơrai được hỡnh thành trờn cơ sở của điều kiện tự nhiên, cũng như điều kiện kinh tế - xó hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Luật tục Jơrai, nhỡn

từ gúc độ triết học là sự thể hiện quan niệm của người Jơrai về thế giới và về cuộc sống, là nơi gửi gắm những ước mơ, khát vọng chinh phục, cải tạo tự nhiên và xó hội của con người

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Tây Nguyên là một vùng đất chiến lược quan trọng vào bậc nhất của đất nước

ta, đó là vùng cao nguyên đất đỏ giàu có, rừng núi trùng điệp với những trảng cỏ cao lút đầu, những dũng sụng đỏ nặng phù sa cuộn chảy vào mùa mưa, là quê hương của những cánh rừng chè, cafê, caosu… của đất nước

Tõy Nguyờn hiện nay gồm 5 tỉnh: KonTum, GiaLai, ĐắkNông, ĐăkLăk và Lâm Đồng Gialai nằm ở khu vực Bắc Tây Nguyên, phía Bắc tiếp giáp KonTum; phía Đụng giỏp Quảng Ngói, Bỡnh Định, Phú Yên; phía Nam giáp ĐăkLăk; phái Tõy giỏp tỉnh Ratanakiri (Camphuchia), có đường biên giới chung là 90 km

Gialai cú diện tớch là 15.485 km2, có toạ độ từ 12058’40” đến 14037’00” vĩ độ bắc, và từ 107027’30” đến 108054’40” kinh độ Đông, là nơi giáp ranh giữa Trường

Sơn Đông và Trường Sơn Tây, do đó Gialai được ví như “Nóc nhà của 3 nước Đông Dương” Khí hậu Gialai càng lên cao nhiệt độ càng giảm tạo nên một vành đai khí hậu

Á nhiệt đới và ôn đới trờn nỳi, có mùa hè dịu mát và ẩm ướt, mùa đông ít lạnh và khô

Đó là một nền nhiệt độ phong phú, nắng nhiều mưa nhiều và ít thiên tai Điểm đáng chú ý là biên độ dao động của nhiệt độ ngày và đêm khá lớn (khoảng 10 độ) Độ ẩm trung bỡnh năm trờn 80%, cú mựa khụ kộo dài, nhiệt độ các tháng trong năm đều lớn, lượng mưa trung bỡnh hàng năm từ 1800 – 2800 mm Ở đây, một năm có hai mùa rừ rệt Mựa mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) với những cơn mưa kéo dài thường dẫn đến lũ lụt, rửa trôi Mùa khô (từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm) lại thiếu nước

Trang 15

nghiêm trọng Trước tỡnh hỡnh đó, người Jơrai đó lựa chọn cho mỡnh cỏch ứng xử phự hợp trong sản xuất và sinh hoạt: gieo trồng, canh tỏc trong mựa mưa và vui chơi,

lễ hội vào mùa khô

Gialai nằm trên một nền đá cổ rộng lớn gọi là “địa khối KonTum” Đó là một mảnh lục địa, cấu tạo bởi những đá cổ nhất ở Việt Nam Tập đá này dày trên 4.000m, cũn lộ ra ở thượng nguồn sông Ba Qua nhiều cố kiến tạo về sau, nền đá cổ này bị thay đổi địa hỡnh nờn phần lớn diện tớch của Gialai là núi và cao nguyên với độ cao trung bỡnh từ 700m đến 800m

Do vị trí địa lý và đặc điểm địa hỡnh, Gialai là một vựng đất giàu tiềm năng Đây là một trong những nơi có diện tích rừng lớn nhất toàn quốc (khoảng 828.776 ha, trong đó có 741.632 ha rừng tự nhiờn và 30.363 ha rừng trồng) với nhiều loại lõm sản quý hiếm Với mạng lưới sông suối khá dày đặc (phía Đông và Đụng Nam cú sụng Ba, phớa Tõy Bắc cú sụng Sờsan, phớa Tõy Nam là các nhánh sông Sêrêpôk…) và nhiều đồng bằng màu mỡ, khí hậu thuận lợi… làm cho Gialai trở thành mũi nhọn để phát triển cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực, chăn nuôi và nghề rừng Nhưng do mức độ chia cắt của địa hỡnh quỏ mạnh, sườn có độ dốc lớn lại mưa nhiều… nờn việc khai thỏc, kể cả việc bảo vệ, giữ gỡn tài nguyờn mụi trường đều cần có sự đầu tư lớn

Sự giàu có của thiên nhiên là chỗ dựa vững chắc cho đời sống kinh tế cho các

cư dân nơi đây từ xưa đến nay Tuy vậy, thiên nhiên cũng không ban phát cho ai sự giàu có và của cải mà không đũi hỏi bàn tay lao động, óc sáng tạo, nghị lực, trớ thụng minh và lũng dũng cảm Vỡ thế, để có thể tồn tại trước thiên nhiên đầy bất trắc, tộc người Jơrai đó khụng ngừng đấu tranh để vượt qua sự khắc nghiệt của “rừng thiêng nước độc”, khí hậu thất thường, thú rừng hoang dó… để tồn tại Nhưng do hạn chế về trỡnh độ tư duy, nên các tộc người “Thượng” đó khụng trỏnh khỏi thỏi độ sùng bái tự nhiên, và đó chính là nguồn gốc của tín ngưỡng, của niềm tin thần thánh

Thiên nhiên thoáng đóng, hựng vĩ đó in dấu trong tõm hồn, hỡnh thành tớnh cỏch tự do, phúng khoỏng, chất phác, thật thà… của cư dân Jơrai Trên mảnh đất

Trang 16

Gialai, con người đó cư trú từ rất sớm, đó từng tồn tại các tập đoàn dân cư cổ định cư nông nghiệp, phân bố rộng rói trờn cao nguyờn đất đỏ Pleiku, có chung một trỡnh độ, một sắc thái văn hoá độc đáo: văn hoá Biển Hồ, nằm ở bước chuyển từ giai đoạn đồ đá mới sang đầu giai đoạn kim khí Văn hoá Biển Hồ của các cư dân đầu tiên đó xõy dựng nờn nền văn minh trên cao nguyên, nó tô đậm thêm truyền thống văn hoá và bức tranh tiền sử của các dân tộc Gialai

1.1.2 Điều kiện về tộc người

Mới đến Gialai, ai cũng có cảm giác đang ở một vùng tương đối tách biệt với bên ngoài Các cư dân nơi đây dường như từ lâu đời đó trải qua một cuộc sống yờn

ổn, phẳng lặng Nhưng thực tế với vị trí là nơi qua lại giữa 3 nước; giữa 3 luồng văn hoá, Gialai là nơi diễn ra nhiều tranh chấp giữa các thế lực thống trị bên ngoài; giữa các cư dân khác nhau trong vùng Do đó, cuộc sống của con người luụn cú nhiều xỏo trộn vỡ chiến tranh, loạn lạc, cuộc sống du canh du cư, bệnh dịch, các cuộc chuyển cư hay thiờn di nối tiếp nhau từ thế hệ này sang thế hệ khỏc

Dựa vào những huyền thoại, những địa danh, những di chỉ văn hoá cổ xưa cũn tồn tại trong đời sống của cư dân hay trong lũng đất, có thể giả định những cư dân đầu tiên ở đây không cũn nữa Đú là những người lùn đen, thuộc đại chủng Ôtralụit Họ chỉ cũn để lại những vết tích nhân chủng trên những người hiện nay cũn sống trong tỉnh, những người có hoà huyết giữa 2 đại chủng lớn Ôxtralụit và Mụngụlụit

Về lịch sử cư trú, cư dân nơi đây có thể chia thành 2 khối hay 2 lớp khác nhau: Những người đến cư trú sau (người Kinh) và những người được coi là cư dân “bản địa” Khái niệm “bản địa” ở đây là có tính ước định, chỉ những tộc người sinh sống từ lâu đời - họ thường được gọi chung là người Thượng Họ gồm nhiều tộc người khác nhau, mỗi tộc người có tên gọi riêng, có bản sắc văn hoá, phong tục tập quán riêng và điều hành xó hội theo những bộ luật tục riờng do tộc người đó đề ra Một trong những tộc người được đề tài nghiờn cứu là tộc người Jơrai

Trang 17

Jơrai là tên chính thức của dân tộc Đó là tên tự gọi từ một tiếng đồng âm và cũng có thể là đồng nghĩa với từ jơrai (thác nước) Giải thích tộc danh Jơrai theo nghĩa này thỡ tổ tiờn của dõn tộc đó từng sinh tụ ở nơi có nhiều thác nước hay một con sông nào đó Ta có thể thấy, tên gọi thống nhất là một trong những mặt biểu hiện về khối cộng đồng tộc người Ý thức đó được hỡnh thành trong quỏ trỡnh lịch sử để cấu kết thành nhóm Jơrai

Căn cứ vào sự khác nhau về vùng địa lý, phong tục tập quỏn, cách phát âm trong ngôn ngữ, hiện nay người ta chia thành 5 nhóm Jơrai: Jơrai Chor; Jơrai Hđrung; Jơrai Aráp; Jơrai Mthur; Jơrai Tbuăn Tuy có sự khác nhau trên nhưng do trỡnh độ tư duy, môi trường sinh tụ, phương thức sản xuất của các nhóm Jơrai về cơ bản là như nhau nên cách thức vận hành xó hội của họ cú nhiều điểm chung và nội dung luật tục của họ có nhiều điểm tương đồng

Tỡm hiểu luật tục của dõn tộc Jơrai là tỡm hiểu quỏ trỡnh xỏc lập, khẳng định

và vận động của nó theo dũng chảy thời gian Đó là quỏ trỡnh tớch tụ, định hỡnh cỏc thiết chế quản lý xó hội của luật tục

Trang 18

rẫy được rào dậu, trông coi Đến khi thu hoạch, người ta dùng đôi tay trần để tuốt lúa, chỉ có lúa nếp mới dựng cụng cụ

Tuy nhiờn nhỡn từ một gúc độ khác, hỡnh thức làm nụng nghiệp theo lối quản canh, luõn canh khụng kớch thớch được sự phát triển kỹ thuật, cải tiến công cụ lao động Vỡ thế cỏi cuốc, cỏi cào, cỏi gậy chọc lỗ đó tồn tại từ bao đời nay trong đời sống nông nghiệp của đồng bào Những cố gắng để nâng cao năng suất lao động của đồng bào thường hướng vào việc tỡm kiếm những biện phỏp nhằm tận dụng lợi thế tự nhiên ngày một tốt hơn

Để tái tạo độ phỡ của đất, mỗi một mảnh đất sau khi phát, đốt, chọc, trỉa, người Jơrai chỉ canh tác độ hai năm, sau đó bỏ hoá từ 8 đến 10 năm, nên sau một vũng quay kộo dài, người ta lại trở về khai thác chính mảnh đất ban đầu giờ đó biến lại thành rừng Với lối quản canh trên, để đảm bảo có đất trồng trọt thường xuyên, mỗi gia đỡnh

cú từ 10 đến 12 hécta để canh tác theo chu kỳ Vỡ thế, kinh tế nương rẫy của đồng bào Jơrai gây ra nạn phá rừng nghiêm trọng Những năm gần đây, do dân số tăng mạnh, diện tích rừng bị thu hẹp đó tỏc động đến kinh tế rẫy truyền thống của đồng bào Người nông dân không những phá rừng già mà phá cả rừng non để làm nông nghiệp, chu kỳ quay vũng được rút ngắn và thời gian sử dụng rẫy tăng Quy trỡnh canh tác cũng thay đổi

Ngoài ra, người Jơrai đó biết lợi dụng cỏc dải đất thấp gần suối để trồng lúa nước bằng kỹ thuật thô sơ Ruộng chờ mưa là một hỡnh thức canh tỏc đặc biệt trong kinh tế nụng nghiệp của người Jơrai Ở những chỗ trũng tự nhiên trong rừng, họ chặt cây bỏ xuống để ủ mục, chờ mùa mưa có nước mà cày xới, gieo hạt Lối làm ruộng này thể hiện nhận thức, kinh nghiệm của họ về thời tiết, đất đai và tận dụng thiờn nhiờn trong sản xuất

Với trỡnh độ canh tác cũn thụ sơ, kỹ thuật lạc hậu nhưng được sự ưu đói của thiờn nhiờn về đất đai, thời tiết nên năng suất cây trồng ở đây thuộc loại cao tuy cũng khỏ bấp bờnh vỡ phải phụ thuộc nhiều yếu tố Vào những mựa lỳa tốt nhất, trên

Trang 19

những đám rẫy tốt nhất có thể thu hoạch được gấp khoảng 150 lần số thóc giống, thậm chí hơn nữa, tức khoảng 2,5 đến 2,6 tấn/ha

Ngoài nông nghiệp, người Jơrai cũn dựa vào hỏi lượm và săn bắt – hai hỡnh thỏi kinh tế chiếm đoạt tự nhiên, để phục cho đời sống hằng ngày của mỡnh Mặc dự chỳng khụng phải là nguồn thu nhập chớnh nhưng góp phần quan trọng cho bữa cơm hằng ngày của người Jơrai

Kinh tế chiếm đoạt phản ánh tàn tích của hoạt động kinh tế thời nguyên thuỷ và

là dấu hiệu của nền kinh tế kém phát triển, cho thấy sự phụ thuộc của con người vào tự

nhiên cũn rất lớn “Hái lượm, săn bắt, ngoài nhu cầu kinh tế, đó cũn là một nhu cầu văn hoá, là thú vui, là cách để con người hoà mỡnh với giới tự nhiờn” [9, tr.33]

Tuy nhiên, một điều không thể không bàn đến trong cách làm nông ngiệp của người Jơrai là: Do canh tác nương rẫy theo kiểu quản canh, luân canh luôn đũi hỏi một khụng gian sinh tồn rộng, từ đó hỡnh thành thúi quen chuyển dịch thường xuyên trong cuộc sống và sinh hoạt Làm nương rẫy ở xa buôn chính và khi đất đai ngày càng khan hiếm thỡ nương rẫy càng xa buôn hơn, nên từ lâu đó hỡnh thành ở người Jơrai kiểu cư trú nửa năm ở ngoài nương vào mùa làm nương và nửa năm ở trong buôn Khi đất đai cằn cỗi hay có tai hoạ, dịch bệnh là cả làng phải di chuyển tới chỗ mới Như vậy, môi trường sản xuất, sinh hoạt đó hỡnh thành một nếp sống tạm bợ, sơ sài, một thói quen ít nhiều tuỳ tiện nhưng lại nhanh chóng thích nghi với sự thay đổi của đồng bào Jơrai

Mặt khác, do công cụ lao động thô sơ, kỹ thuật lạc hậu, hỡnh thỏi kinh tế chủ yếu là săn bắt, hái lượm và sản xuất nông nghiệp nên năng suất lao động thấp, bấp bờnh, phụ thuộc vào tự nhiờn đó dẫn đồng bào đến chỗ tín ngưỡng thần linh Vỡ vậy, cựng với quy trỡnh sản xuất, đồng bào Jơrai tiến hành cỏc nghi lễ nụng nghiệp gắn bú với chu kỳ phỏt triển của cõy trồng Cỏc nghi lễ này chiếm một vị trớ quan trọng trong đời sống của đồng bào

Ngoài hỡnh thỏi kinh tế chiếm đoạt tự nhiên, một trong những hoạt động kinh tế sớm phát triển của người Jơrai là chăn nuôi Chăn nuôi đối với người Jơrai, ngoài mục

Trang 20

đích kinh tế cũn xuất phỏt từ nhu cầu tớn ngưỡng Nguyên nhân là do trong sinh hoạt văn hoá của họ, súc vật chăn nuôi thường dùng làm vật hiến tế thần linh Kỹ thuật chăn nuôi chủ yếu là chăn thả Do điều kiện thiên nhiên nơi núi rừng, công việc bảo quản vật nuôi tránh thú dữ khó khăn nên đồng bào có tập quán nhốt súc vật ở gầm nhà sàn

Mựa khụ tới, khi mùa màng đó xong, đó cũng là lúc người Jơrai dành thời gian nhàn tản của mỡnh cho việc dệt và đan lát Đây là hai nghề thủ công phổ biến của họ Sản phẩm làm ra chủ yếu giúp cho từng gia đỡnh tự tỳc cỏi mặc và một số đồ gia dụng

Như một lẽ thường tỡnh của xó hội loài người, muốn tồn tại và phát triển, con người phải kết hợp với nhau thành cộng đồng để đối phó, chinh phục thiên nhiên Đối với người Jơrai, nếp sống xó hội cú những đặc thù, vừa rất chung của loài người lại vừa rất riêng mang đậm chất Tây Nguyên

1.1.4 Cơ sở xó hội

Do môi trường sinh tụ là vựng rừng nỳi xa xụi, kinh tế nụng nghiệp lạc hậu nờn

xó hội Jơrai tiến hoá chậm và bảo lưu nhiều tàn tích của thời kỳ tiền giai cấp Về mặt thiết chế xó hội, trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, người Jơrai đang trong giai đoạn tan ró chế độ công xó nguyờn thuỷ, xó hội đó cú sự phõn hoỏ giàu nghốo ở những mức độ khác nhau nhưng giai cấp chưa xuất hiện, Nhà nước chưa ra đời Mặc dù người ta có nói đến “vua Lửa”, “vua Nước” nhưng đó không phải là những ông vua thực sự mà là những người nắm thần quyền, những thầy mo Cụng xó của đồng bào mang tính chất công xó lỏng giềng nguyờn thuỷ, cũn nhiều yếu tố của cụng xó thị tộc trước đây

Tổ chức xó hội cơ bản của người Jơrai là buôn làng - gọi là “Plei” Làng là tập

hợp người cùng cư trú trên một địa bàn nhất định, thường là thuần nhất về thành phần tộc người, có hệ thống tự quản với phương thức vận hành theo luật tục Mỗi buôn làng khụng phải là một khu vực khộp kớn hoàn toàn Nó chỉ khép kín về địa vực cư trú, tổ chức tự quản, tổ chức sản xuất, sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục; cũn nú vẫn mở trong

Trang 21

quan hệ hụn nhõn, trao đổi hàng hoá, giao lưu tỡnh cảm và văn hoá Buôn làng nào cũng có mối liên hệ với các buôn làng gần xa, đặc biệt việc kết hụn giữa trai gỏi các buôn làng góp phần đắc lực tạo nên quan hệ thân thiết giữa cỏc buụn làng Xột về mặt

tổ chức xó hội, người Jơrai hiện nay đó vượt ra khỏi phạm vi làng độc lập, để hỡnh thành cộng đồng làng lớn hơn thu hút cả một vùng gọi là cộng đồng lónh thổ Chớnh

sự hỡnh thành cộng đồng lónh thổ này, khi thực dõn Phỏp xõm lược đó dựa vào chỳng

để thành lập ra các đơn vị hành chính, tương đương với các huyện của Gialai ngày nay như Ayunpa, Krôngpa, Pleiku… Làng nào cũng có một ngôi nhà chung gọi là nhà Rông, nơi thờ thần làng, nơi hội họp của các bô lóo, đưa ra những quyết định chung

và tổ chức cỏc lễ hội quan trọng của làng

Người Jơrai trước kia đó từng tồn tại chế độ tù trưởng lớn Tại một số nơi, có những tù trưởng nổi lên, giàu mạnh hơn hẳn trong phạm vi một số buôn làng Bằng uy thế tự thân hoặc kết hợp với áp lực quân sự, họ trở thành người có ảnh hưởng rộng lớn đối với toàn vùng Tiếng nói của họ có sức chi phối khiến các trưởng làng trong vùng

ít nhiều vị nể Tuy vậy, vũng ảnh hưởng thường không ổn định, tuỳ thuộc vào thực lực của vị tù trưởng Chế độ này tan ró vào khoảng giữa thế kỷ XIX Sau này, cỏc vị “vua”

ấy chỉ cũn chức năng hoạt động tín ngưỡng, quyền lực và ảnh hưởng của họ dựa trên thần quyền, chức vị của họ được duy trỡ theo truyền thống thế tập của dũng họ

Người Jơrai có thể chấp nhận uy thế của một người hay một dòng họ bao trùm lên cả vùng gồm nhiều làng; nhưng từng làng vẫn giữ tính độc lập của mình Thế ngưng đọng ấy không còn phù hợp với những bước tiến hiện nay nhưng trong những

xã hội chỉ cách bức nhau bởi núi rừng, đó là cái “giá phải trả” để níu giữ phẩm chất

con người - cái mà chúng ta quen gọi là “Chủ nghĩa nhân văn Thượng”

Những thập kỷ vừa qua, do nhiều tác động của xã hội đã phần nào đó phá vỡ cơ cấu làng và các quan hệ của xã hội truyền thống, tạo nên những xáo trộn và mất ổn định xã hội Từ sau khi có Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI khoá 7, các thiết chế làng bản được phục hồi trở lại, vai trò các già làng, trưởng bản được coi trọng, các quan hệ

Trang 22

cộng đồng được củng cố hơn Như vậy, làng là đơn vị cơ sở phù hợp và là nhân tố của

sự ổn định và phát triển cộng đồng người Jơrai hiện nay

Một trong những nét đặc trưng không thể thiếu khi nhắc đến thiết chế xã hội của người Jơrai là những tàn tích của công xã thị tộc mẫu hệ Chế độ mẫu hệ đã in “hằng

số mẹ” vào nền văn hoá Jơrai Đối với họ, tất cả các công việc có liên quan tới nội bộ gia đình đều thuộc quyền quản lý của người phụ nữ từ việc nắm giữ kinh tế đến nuôi dạy con cái, tổ chức cuộc sống, kể cả trong hôn nhân, phụ nữ cũng là người chủ động cầu hôn, trao vòng đính hôn, sau khi cưới người chồng phải về ở nhà vợ Người chồng đảm nhiệm việc nuôi sống gia đình Người Jơrai theo chế độ mẫu hệ, nhưng xét trong quan hệ xã hội, trong một chừng mực nhất định thì quyền của người đàn ông đã được xác lập Nhìn chung, có thể thấy rằng, xã hội cổ truyền người Jơrai đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ

Luật tục Jơrai là một tấm gương phản chiếu cuộc sống tộc người, là sự thể hiện cuộc đấu tranh để tồn tại trước tự nhiên của con người; là tư tưởng, tình cảm, khát vọng của đồng bào muốn hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn

1.1.5 Đặc điểm thế giới quan và nhân sinh quan của người Jơrai

Tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh của con người, nó một mặt làm chức năng cố kết những người có chung niềm tin, mặt khác phân ly những người khác niềm tin Trong thời kỳ ý thức dân tộc được hồi sinh, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng thì việc giữ gìn bản sắc dân tộc là điều cần thiết Và tín ngưỡng có thể đóng góp một phần hữu hiệu trong công việc này

ễÛ các tộc người Thượng nói chung, nếu như đời sống vật chất khá nghèo nàn thì đời sống tinh thần lại vô cùng phong phú Phạm vi của đời sống tinh thần vừa rộng lớn vừa bao hàm nhiều nội dung đa dạng Văn hoá Jơrai nói chung và luật tục Jơrai nói riêng thể hiện đậm nét trong tín ngưỡng vạn vật hữu linh của họ Tín ngưỡng ấy mang thế giới quan thần bí, sơ khai nguyên thuỷ

Trang 23

Khởi nguyên của thế giới được giải thích bằng quyền lực siêu nhiên Hình tượng

ông Gỗn hay Book Keitei và vợ là Yakonkeh được xem là lực lượng sáng tạo ra thế

giới, là nguồn gốc của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội

Đồng bào Jơrai quan niệm vũ trụ có ba tầng:

Tầng trời là nơi trú ngụ chủ yếu của các thần linh - Yàng Song các vị thần này

lại ở khắp mọi nơi trên mặt đất và kể cả dưới mặt đất

Tầng trên mặt đất là môi trường tồn tại của loài người, cây cối, thú vật…

Tầng dưới mặt đất là nơi dành cho các linh hồn

Quan niệm này thể hiện thế giới quan duy tâm thần bí, thừa nhận sự tồn tại các

lực lượng siêu nhiên bên cạnh các lực lượng tự nhiên Tính quyết định của lực lượng

siêu nhiên đối với lực lượng tự nhiên được thể hiện thông qua vai trò của các Yàng đối

với con người và vạn vật Theo người Jơrai thì có rất nhiều Yàng: Yàng sét, Yàng núi,

Yàng ruộng nương… tựa hồ như thế giới thần linh đông đúc vây quanh con người Có

lẽ chưa ai thống kê được tường tận toàn bộ hệ thống siêu nhiên của người Jơrai với tên

gọi, nơi cư trú, giới tính, chức năng hoạt động, thái độ và cách ứng xử đối với con

người của từng vị cụ thể nhưng có ba Yàng được người Jơrai coi trọng hơn cả là:

Yàng sang là Yàng đã giúp con người dựng được nhà; Yàng làng là Yàng phù hộ cho

dân trong làng không bị bệnh dịch, chết vì đường sinh đẻ, cháy làng… và Yàng Pơtao

là Yàng giúp dân làng chống được hạn hán và hoả hoạn… Các thần được con người

dành cho thế giới riêng ở trên cao hoặc hoà các vị vào thiên nhiên xung quanh, đồng

nhất các thần với sông, núi, cây, đá ễÛ một chừng mực nào đó, nói như các nhà

nghiên cứu, người Jơrai là những người theo vật linh giáo, nghĩa là thờ phụng mọi vật,

coi mọi vật đều có sinh linh như con người

Có thể thấy rằng, nguồn gốc của các quan niệm trên có cơ sở từ cuộc sống hiện

thực Do trình độ nhận thức còn thấp kém, năng lực chinh phục tự nhiên hạn chế

Trang 24

Trước thiên nhiên hùng vĩ đầy thần bí, con người trở nên yếu đuối, bất lực, từ đó họ đã thần thánh các lượng lực tự nhiên Chính vì thế, sự ra đời các vị thần là một tất yếu

Niềm tin vào tính chất quyết định của thế giới siêu nhiên đối với con người đã chi phối mọi hoạt động trong cuộc sống của đồng bào từ hoạt động sản xuất cho đến các sinh hoạt tinh thần, vui chơi, giải trí… Đây chính là nguyên nhân của sự đa dạng, phong phú của lễ hội trong đời sống của người Jơrai Lễ hội thường được tổ chức sau những ngày lao động mệt nhọc Ngoài ý nghĩa tâm linh, lễ hội của người Jơrai còn là nơi để họ tưởng nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống hay gửi gắm những khát vọng thầm kín của mình mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được Lễ hội còn chứa đựng quan niệm sống của người Jơrai với lịch sử thăng trầm của họ, thể hiện tâm lý cộng đồng, niềm tin, ước mơ, lý tưởng thẩm mỹ và đạo lý ngàn đời mà người Jơrai xây dựng và nuôi dưỡng, nó là hình thức mà nhân dân tự nguyện đến với văn hoá để hưởng thụ và góp phần sáng tạo

Cũng phải nói thêm rằng, chính thế giới quan thần bí sơ khai là cơ sở cho sự phát triển các hình thức kiêng kỵ, bói toán, điềm báo, thờ cúng vật thiêng trong cộng đồng buôn làng Vì thế, những người cúng tế, bói toán có vai trò rất quan trọng trong cộng đồng

Thế giới quan thần bí sơ khai và tín ngưỡng vạn vật hữu linh đã ăn sâu, bám rễ vào trong mọi khía cạnh đời sống của người Jơrai từ cách đặt tên làng, tên người, các

lễ hội đến các quy định trong luật tục… Có thể nói, nó là cứu cánh của con người về mặt tinh thần khi đời sống vật chất còn thiếu thốn, giải phóng con người thoát khỏi sự

lo âu, sợ hãi vì bất lực trước những lực lượng tự nhiên và xã hội, đem lại sức mạnh cho họ - sức mạnh trong niềm tin và nghị lực để sống lạc quan hơn, yêu đời hơn

Mặc dù còn sơ khai, mộc mạc nhưng trong nếp sống cộng đồng, trong phong tục tập quán của người Jơrai thể hiện nhân sinh quan tràn đầy tính nhân bản, hướng thiện Thế giới các vị thần, hồn, ma được tôn sùng vẫn chỉ là phương tiện để đạt đến mục

Trang 25

tiêu vì cuộc sống con người Tín ngưỡng hàm chứa ước mơ, khát vọng của con người

về một cuộc sống hiện thực ấm no, hạnh phúc

Trong nhân sinh quan ấy, nhân tố con người là mục tiêu của cuộc sống được khẳng định một cách rõ rệt Điều này được biểu hiện ở chỗ khi lấy con người làm mục tiêu thì các giá trị đạo đức đều hướng đến bảo vệ lợi ích chính đáng của con người và loại trừ các hành vi xâm phạm, đi ngược lại những lợi ích đó Vì thế, các chuẩn mực: trung thực, thật thà, chung thuỷ, trọng chữ tín luôn được đặt lên hàng đầu Trong thang giá trị đạo đức của người Jơrai, ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác về cộng đồng luôn được đề cao Mỗi gia đình khi có việc cả cộng đồng góp sức chung lo

Chủ nghĩa nhân văn còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, biểu hiện ở truyền thống yêu thương, đoàn kết, bình đẳng trong nếp sinh hoạt cộng đồng Đối với người Jơrai, con người là vốn quý nhất Trẻ em còn nhỏ nằm giữa lưng mẹ, được chăm sóc, nâng niu, trẻ mồ côi cũng được đồng bào nuôi dưỡng và đối xử công bằng như các em khác Lễ hội theo chu kỳ vòng đời người đã phản ánh thái độ trân trọng của người Jơrai đối với sự tồn tại và phát triển của trẻ em

và con người nói chung Nhưng do trình độ lực lượng sản xuất còn thấp, để tiến hành sản xuất đạt hiệu quả cao, cần có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng do đời sống còn quá khó khăn nên việc nuôi dưỡng, bảo đảm sinh mạng trẻ em còn hạn chế

Nhìn lại thực trạng trẻ em hiện nay trên thế giới, trong xã hội công nghiệp, trẻ

em ở nhiều nước bị bóc lột sức lao động cùng cực, bị đánh đập hay ngược đãi, lang thang đói khổ ta mới thấy hết giá trị truyền thống quý trọng con người của người Jơrai

Thêm vào đó, người Jơrai quan niệm chết không phải là dấu chấm hết mà là sự khởi đầu mới ở một thế giới mới Trong cái chết đã chứa đựng sự sinh thành Từ tình yêu thương, sự quyến luyến nơi trần thế, họ đã đặt hy vọng vào một cuộc sống sung túc, hạnh phúc cho người thân ở làng Ma Vì vậy, ở các nhà mồ, tượng mồ có hình ảnh những đôi trai gái đang ân ái, người đàn bà có mang, mẹ bồng con Đó là những biểu

Trang 26

tượng về hạnh phúc, sự sinh sôi trong triết lý phồn thực Nêú gạt bỏ khía cạnh thần bí, quan niệm về cái chết của người Jơrai thể hiện tình yêu cuộc sống, khát vọng trường sinh của con người

Qua tất cả những phần trình bày trên ta thấy, luật tục được tạo dựng, lưu truyền bởi thế giới quan thần bí, cảm tính và cuộc sống cộng đồng Trong gam màu đơn sơ, giản dị của cái đẹp nhân bản, sức sáng tạo tiềm tàng của con người và niềm tin ngây thơ vào thế giới siêu thực, đã hấp dẫn người ngoài bởi dáng vẻ riêng không trùng lặp

Có thể nói, luật tục đã truyển tải được hết cái hay, cái đẹp, cái hoang sơ thấm đượm

phong cách “Thượng” ấy Sự hội tụ cả mọi miền thời gian, mọi nẻo không gian, cả

hiện thực và huyền thoại cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho trí tưởng tượng bay bổng, cho sức sáng tạo thả sức tung hoành Luật tục xuất hiện không phải vì sở thích của một

cá nhân, cũng không phải sản phẩm của những cá nhân, nó ra đời nhằm đảm bảo sự ổn định xã hội, duy trì sự tồn tại cả về mặt nòi giống, kinh tế, văn hoá… của cộng đồng Nhờ vào nội dung của luật tục, ta có thể phân biệt tộc người Jơrai với các dân tộc anh

em khác cùng cư trú trên mảnh đất Tây Nguyên

1.2 Nội dung, hình thức tồn tại cơ bản và vai trò của luật tục Jơrai ở tỉnh Gialai

hiện nay

Giai đoạn cuối của chế độ công xã thị tộc có thể được coi là thời kỳ xuất hiện luật tục Luật tục, cùng với các giá trị tinh thần, văn hoá của thời kỳ tiền sử và của các giai đoạn sau đã tạo cho con người những giá trị mà cho đến nay vẫn được coi là chuẩn mực của đạo đức, nếp sống

Luật tục không thuần tuý là “luật” mà cũng không hoàn toàn là “tục”, nó là hình thức trung gian, là bước chuyển tiếp từ tập tục lên pháp luật, có cấp độ thấp hơn lệ làng, hương ước Nói cách khác, luật tục là hình thức tiền pháp luật Nó phù hợp với các cộng đồng nhỏ gắn với từng nhóm tộc người, từng địa phương cụ thể Không phải ngẫu nhiên mà vai trò của luật tục thể hiện mạnh mẽ ở những vùng còn biệt lập và mất dần ảnh hưởng ở những vùng phát triển, gần khu đô thị… Do đó, chúng ta không dùng

Trang 27

quan niệm và tiêu chí của luật pháp nhà nước để xem xét luật tục, quy sự khác nhau giữa luật tục và luật pháp nhà nước để nói rằng luật tục là sản phẩm của sự “vô học” của người bản xứ

Luật tục thiết lập nên toàn bộ hệ thống giá trị nền tảng cho các phán xét về đạo đức và về pháp luật Nói cách khác, luật tục là đại diện cho kiểu mẫu lý tưởng về quy tắc ứng xử Nó ra đời, biến đổi và tham gia chế định hành vi của cá nhân và cộng đồng dưới sự tác động của văn hoá Sự tự nguyện, tự giác, tinh thần dân chủ cao trong ứng

xử của luật tục không chỉ trở thành một thứ văn hoá pháp luật cần được phát huy mà còn là thành tố của văn hoá đạo đức

Một điều dễ nhận biết là, luật tục vừa mang tính chất của luật pháp như quy định các hành vi tội phạm, các tội phạm, bằng chứng, việc xét xử và hình phạt… lại vừa mang tính chất của tục lệ như các quy định, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cá nhân, tạo dư luận để điều chỉnh các hành vi ấy Tuy gắn liền với đạo đức, luân lý và phép ứng xử nhưng luật tục khác với những lời khuyên, các bài dạy về đạo đức, các bài gia huấn ca ở chỗ, nó có hình thức tổ chức để thực hiện các yêu cầu mà cộng đồng đề ra và có hình thức thưởng phạt Mặt khác, nó lại khác với luật pháp nhà nước ở chỗ, nếu có mâu thuẫn giữa các cá nhân trong cộng đồng, luật tục luôn quan tâm tới sự hoà hợp của toàn thể cộng đồng, sau đó mới đến sự công bằng giữa các cá nhân

Ngay từ buổi sơ khai của xã hội nguyên thuỷ, luật tục Jơrai ra đời với nội dung chủ yếu là giáo dục con người để trở thành người lớn, một thành viên bình đẳng của cộng đồng, nghĩa là trước khi qua tuổi thành niên, trai gái phải được giáo dục đầy đủ

về đạo lý làm người, về cách ứng xử với cộng đồng Về sau, do đời sống xã hội biến đổi, trình độ nhận thức của con người tăng lên, luật tục hoàn thiện dần, chế định các mối quan hệ của con người một cách toàn diện hơn

Như vậy, luật tục ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu duy trì, củng cố tính thống nhất

và quan hệ cộng đồng của dân làng Bởi vì, nó có tác dụng chuẩn định những khuôn

Trang 28

mẫu ứng xử và lề thói sinh hoạt xã hội, xác lập hệ thống tôn ti, trật tự chung; chế định các mối liên hệ của con người trong mọi tuyến quan hệ xã hội ở cả cấp vĩ mô lẫn vi

mô, tức là từ trong nhà đến ngoài làng, ở gia đình cũng như ra cuộc sống; nó ràng giữ các thành viên trong cộng đồng vào một nề nếp nhất định, đồng thời luật tục là cơ sở pháp lý để xử lý đối với những người vượt chệch ra ngoài quỹ đạo vốn có của nó Do

đó, luật tục không chỉ có giá trị khi phân xử, mà còn là “kim chỉ nam” khuyên răn, hướng dẫn nhằm làm cho mọi người đều sống đúng theo tập tục truyền thống của ông cha mình; đặc biệt là qua việc tuân thủ luật tục mà điều hoà các quan hệ xã hội, bảo tồn tính thống nhất cao và kỷ cương cần thiết trong từng cộng đồng cư trú; mỗi người lấy luật tục làm chỉ dẫn cho mình, mọi người căn cứ vào luật tục để giám sát nhau, bộ máy tự quản buôn làng dựa vào luật tục để điều khiển sinh hoạt của cộng đồng

Có thể chia luật tục Jơrai thành các nội dung chủ yếu như sau:

- Các quy định chung, gồm 11 điều: Đó là các quy định về tội phạm; trách nhiệm của người thi hành pháp luật; người phạm tội có chủ ý, kẻ tòng phạm, kẻ tái phạm, kẻ

từ chối toà án phong tục, những người làm việc pháp luật phạm tội, những người vô tội, quyết định tha bổng cho tội can, kẻ tội phạm không chịu hối cải; vu cáo, vu khống người khác…

- Các điều khoản về tranh chấp, giải quyết nợ nần gồm 8 điều: Là các quy định về bắt giữ tài sản các con nợ; việc cam kết vay nợ; chiếm đoạt tài sản người khác; tội vay không trả nợ được; tội không chịu trả nợ…

- Các điều khoản về trật tự an ninh: Phần này nói về việc xử phạt những kẻ bất chính, về bọn ăn trộm, ăn cắp; về những kẻ lười biếng, kẻ say rượu, thầy phù thuỷ, người đàn bà hư hỏng, trẻ em phạm tội, về những kẻ không tham gia công việc của làng…

- Các điều khoản về hôn nhân và gia đình: Phần này quy định việc cưới lại cho 2

vợ chồng đã ly dị; việc lấy chồng của người đàn bà goá, việc lấy vợ của người đàn ông goá, sự bất hoà của 2 vợ chồng; việc ngoại tình, tội loạn luân; nghĩa vụ của con cái đối

Trang 29

với cha mẹ; con cháu không nghe lời ông bà bố mẹ… Đối với người Jơrai, tội loạn luân là tội nặng nhất vì họ cho rằng loạn luân sẽ làm các Yàng nổi giận, gây mất mùa, hạn hán, dịch bệnh nên luật tục xử rất nặng các trường hợp này:

“Nó phạm tội trong nhà

Nó mê người trong họ

Nó mê chị em ruột cùng một nơi sinh ra, cùng một cha mẹ đẻ

ra

Nó làm tàn bụi môn dưới nước, bụi chuối trên bờ Xoài rừng không ra hoa

Xoài nhà không đậu quả

Nó phải lấy rượu, heo để cúng, bồi thường cho làng Máu ngón tay cúng cho thần linh

Hạt chuỗi trên cổ, đôi bông trên tai, nón đội, cái khăn quàng…

Để đất lại màu, nước lại trong, buôn làng yên vui

Để mưa cho đủ, gió cho lành, mùa màng tốt tươi Nếu chúng cố tình thành vợ thành chồng, thì chiêng người ta treo, chúng nó phải ăn trong máng như con chó, như con heo vì đã không biết đến họ hàng anh em.” [25, tr.473]

- Các điều khoản về không tôn trọng phong tục tập quán: Phần này gồm các quy định về người đàn bà chưa bỏ mả chồng cũ đã quan hệ với người đàn ông khác hoặc người đàn ông quan hệ với người đàn bà khác nhưng chưa làm lễ bỏ mả người vợ cũ; việc xúc phạm thần nhà; việc trồng trọt trên rẫy người khác; làm uế tạp nhà người khác; xúc phạm trưởng làng…

Trang 30

Tại sao luật tục lại điều chỉnh các nội dung trên?

Trước hết: Người trưởng làng, trong xã hội thị tộc là người đại diện cho cả cộng

đồng, điều hành mọi việc trong cộng đồng, có quyền lực tối cao Với tư cách đó, ai xúc phạm đến trưởng làng là xúc phạm đến cộng đồng, chống lại trưởng làng là chống lại cộng đồng Do đó, có thể là về mặt chủ quan lẫn mặt khách quan, cộng đồng phải

có điều luật để bảo vệ uy tín và hiệu lực của những phán quyết của ông ta Trong trường hợp này, trưởng làng với cộng đồng là một, bảo vệ trưởng làng là bảo vệ cộng đồng, trưởng làng bình yên là cộng đồng bình yên Vì vậy, luật tục có những quy định nhằm bảo vệ quyền lực của trưởng làng cũng như những trách nhiệm của trưởng làng nói riêng và bộ máy tự quản buôn làng nói chung

Thứ hai: Vấn đề hôn nhân

Hôn nhân là điều kiện đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển vì hôn nhân quyết định việc “tái sản xuất ra bản thân con người” Nguyên tắc hôn nhân của xã hội thị tộc là ngoại hôn về mặt dòng họ nhưng có thể nội hôn hoặc ngoại hôn về mặt tộc người Để các nguyên tắc này được tuân thủ nghiêm ngặt, tự trong các mối quan hệ xã hội, người ta giới hạn phạm vi cho phép tiến hành hôn nhân theo đường trực hệ và các điều hết sức kiêng kị mà vẫn thường gọi là “loạn luân” Ngoài ra, phạm trù hôn nhân còn được coi là phạm trù đạo đức, luân lý, không ai có quyền vi phạm Do đó, các luật phạt về tội này rất đa dạng, chủ yếu dùng dư luận xã hội để đề cao hay phê phán nhân cách của con người

Thứ ba: Các quy định về tài sản

Các điều luật tập trung vào việc bảo vệ quyền sở hữu về của cải, gia súc, quyền chiếm hữu về tư liệu sản xuất, quan trọng nhất là đất đai của cá nhân, gia đình

Đó là những cơ sở thiết yếu đảm bảo cho sự tồn tại của các thiết chế tộc người truyền thống và sự xác lập các hệ thống luật tục để duy trì sự tồn tại đó Ngoài ra, để

Trang 31

cho sự tồn tại thêm vững chắc, luật tục còn quy định rất cụ thể về quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng

Việc xây dựng, lưu truyền và phổ biến nội dung luật tục do nhân dân tiến hành, thế hệ này truyền cho thế hệ khác bằng hình thức truyền miệng và thuộc lòng Qua các cuộc xử kiện mà toàn dân được dự, họ biết và nhớ các điều luật để góp phần tranh cãi

và cũng để tự răn đe hoặc giáo dục bản thân

Mỗi điều luật gồm hai phần chính: Phần biện luận về sự phạm tội và phần mức

xử phạt

Phần biện luận về sự phạm tội, luật tục thường được diễn đạt bằng lời nói vần Hình thức này là điều kiện tốt giúp cho sự ghi nhớ và phổ biến luật tục Hơn nữa, đối với đặc điểm tư duy của đồng bào thì hình ảnh văn thơ có sức thuyết phục cao Nghệ thuật hình tượng của thơ văn dân gian phù hợp với trình độ thẩm mỹ và phong tục tập quán của họ Chính vì thế, lời nói vần không chỉ được sử dụng trong việc luận tội mà còn được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống: âm nhạc, cúng bái, trường ca…

Tương ứng với phần luận tội là mức độ hình phạt được đưa ra Joseph Minallur

viết rõ về điều này: “Luật tục xây dựng một chuẩn mực ứng xử của xã hội Nó là cách nhân dân trong một xã hội ổn định mong muốn những thành viên của họ thực hiện, không chỉ vì phép ứng xử đó có tính thông dụng mà vì chúng được coi là tốt Những người tuân thủ chuẩn mực tốt được các thành viên xã hội khen ngợi và tán thưởng, trọng thị, yêu mến Những người không tuân thủ các chuẩn mực sẽ bị phạt bởi các hình thức như phê phán, chê cười, từ chối tiếp xúc, hợp tác trong các hoạt động kinh

tế, tước quyền bầu trưởng làng…, hoặc cực điểm là khai trừ khỏi cộng đồng Sự trừng phạt của luật tục có sức mạnh tinh thần to lớn buộc mọi thành viên trong cộng đồng phải chấp hành và quyền lực đó được cộng đồng thừa nhận” [24, tr.540]

Luật tục Jơrai có 5 mức phạt: Cảnh cáo, bồi thường, cúng tạ thần linh, làm nô

lệ, đuổi khỏi làng Tuỳ thuộc vào lỗi nặng hay nhẹ, cố ý hay vô tình mà trưởng làng và

Trang 32

hội đồng già làng định mức hình phạt Tuy nhiên, việc xử tội hầu như còn mang nặng tính tôn giáo Tội nặng bị xử theo lối xỉ nhục như trói người có tội giữa làng để cả làng kéo đến phỉ nhổ Còn tội nhẹ hơn thì tuỳ mức độ mà bắt bồi thường để cúng Yàng Nếu chứng cứ không rõ ràng, bên bị có thể cho đó là sự vu oan, giá hoạ, đề nghị làng

xử lại Thường thì hình phạt nặng nhất là đuổi ra khỏi làng được áp dụng đối với tội: nghi là ma lai, làm cháy làng

Việc trừng phạt của luật tục thường mềm dẻo, năng động, tuỳ theo hoàn cảnh của cá nhân và xã hội Điều này khác với luật pháp nhà nước là phổ biến, thống nhất

và không loại trừ

Với những nội dung trên ta thấy rằng, luật tục là kho tàng tri thức dân gian phong phú, là bộ bách khoa về mọi mặt của đời sống tộc người, được đúc rút từ kinh nghiệm sống của nhiều thế hệ Đó là tri thức về môi trường tự nhiên, sản xuất nương rẫy, lễ nghi, phong tục, sử dụng và quản lý tài nguyên… Những tri thức này đã định hình và trở thành các nguyên tắc sống của con người trong cộng đồng Nó không chỉ là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh các mối quan hệ của xã hội cổ truyền mà còn tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội hiện nay

Vai trò tích cực đó của luật tục được thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất: Luật tục Jơrai là công cụ điều hoà các quan hệ lợi ích, giải quyết

những xung đột, va chạm trong cộng đồng nhằm giữ vững sự ổn định xã hội Chức năng chủ yếu của luật tục là xây dựng và giữ gìn sự hoà hợp, gắn kết bền chặt nhằm tạo ra sức mạnh cho cộng đồng Sự ổn định cộng đồng luôn được đặt ở vị trí ưu tiên nhất trong mọi ứng xử của người Jơrai Để bảo đảm điều này, luật tục Jơrai luôn thực hiện chức năng kép: Đó là chức năng pháp luật và chức năng đạo đức, vừa khuyến khích phát huy điều thiện, vừa răn đe, trừng phạt điều ác

Điều đặc biệt là, trong luật tục không có sự ngăn cách giữa luật pháp và đạo đức trong khi xử kiện Mỗi một điều trong luật tục là một bài giảng về luân lý đạo đức và

Trang 33

không chỉ thông báo cho mọi người biết về tội phạm của đương sự mà còn cảnh cáo những người chưa phạm tội

Thứ hai: Luật tục còn phát huy vai trò trên nhiều phương diện như bảo vệ và

khai thác tài nguyên hợp lý; xác lập các quan hệ sở hữu hợp pháp làm cơ sở cho việc bảo vệ tài nguyên và phát triển sản xuất Ngoài ra, luật tục còn khuyến khích lao động làm ra của cải vật chất cho xã hội, bảo đảm tính kỷ cương của đạo làm người, đề cao các đức tính thật thà, trung thực, chăm chỉ khuyến khích các mối quan hệ đoàn kết, tương trợ lẫn nhau như:

“… Làm người cho ngay thẳng Học hành phải nhớ đừng lười Vào bản không gây rối

Vào làng không gây ra tiếng để người chê Nói phải suy, nghĩ phải nhìn

Bản có hổ tới phải rủ nhau ra giết Làng có giặc vây cùng nhau phá tan…” [25, tr.455]

Càng tìm hiểu luật tục ta càng thấy cái hay, cái đẹp của nó Luật tục chuyển tải cho cộng đồng tộc người nhiều luân lý về đạo làm người, về thuần phong mỹ tục… Nhìn chung, luật tục có giá trị cao về giáo dục và khuyên răn con người

Thứ ba: Luật tục có vai trò lớn trong việc giữ gìn những phong tục tập quán của

đồng bào, bảo tồn được sắc thái văn hoá của dân tộc Luật tục đã khẳng định các nội dung cơ bản của nếp sống cổ truyền nhưng quan trọng nhất là củng cố, gắng kết các thành viên công xã, xây dựng cuộc sống chung hài hoà, chặt chẽ, đùm bọc nhau Điều quan trọng là luật tục không chỉ là lời khuyên bảo mà nó còn có cơ chế tổ chức để bồi dưỡng, động viên khen thưởng và trừng phạt Do đó, luật tục có hiệu lực thực sự trong việc giáo dục con người cũng như quản lý xã hội

Trang 34

Nhìn chung sức sống của luật tục Jơrai vẫn bền chặt trong cộng đồng bởi nó có những ưu điểm sau:

- Dưới góc độ xã hội, luật tục luôn bảo vệ tính cộng đồng, bảo vệ sự ổn định xã hội Luật tục Jơrai điều chỉnh mọi hành vi cá nhân theo hệ giá trị cộng đồng, gắn kết cộng đồng và vì lợi ích của cộng đồng

- Dưới góc độ pháp lý thì phạm vi điều chỉnh của luật tục tương đối tổng hợp (các quan hệ gia đình, trật tự an ninh, lợi ích, tài nguyên môi trường…) nhưng chủ yếu là cách ứng xử quyền và nghĩa vụ cá nhân đối với cộng đồng Khi phạm tội thì xét xử nhanh chóng, không cần điều tra lâu, chỉ thông qua việc áp dụng luật tục của những người có trách nhiệm cùng với sức ép của dư luận Việc phân xử có hiệu lực ngay, rất

ít trường hợp không thi hành

- Dưới góc độ văn hoá, luật tục là di sản văn hoá quý báu chứa đựng các giá trị

về phong tục tập quán cổ truyền, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá tộc người

- Dưới góc độ triết học, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình hình thành nội dung, xây dựng, lưu truyền và phổ biến luật tục mang tính dân chủ và tính nhân văn

Luật tục thuộc phạm trù ý thức xã hội và kiến trúc thượng tầng, nó nảy sinh trên nền tảng cơ sở hạ tầng và phục vụ cơ sở hạ tầng tương ứng Hình thành và phát triển trên nền xã hội tiền giai cấp, trình độ nhận thức và trình độ chinh phục tự nhiên còn nhiều hạn chế nên đây là vấn đề dễ hiểu vì sao mọi luật tục nói chung và luật tục Jơrai nói riêng cái tiến bộ và cái lạc hậu; cái tích cực và cái tiêu cực luôn tồn tại đan xen nhau trong một chỉnh thể

Hiện nay luật tục đang làm chậm quá trình giải thể những tàn dư của xã hội tiền giai cấp Những lề thói lạc hậu đã làm vật cản cho sự giải phóng sức sản xuất, giải phóng con người khỏi những mối quan hệ cổ xưa không còn phù hợp với cuộc sống hiện nay Đồng thời, việc duy trì luật tục đã củng cố tâm lý cục bộ, địa phương Điều

đó làm giảm tác dụng của luật pháp nhà nước

Trang 35

Luật tục khẳng định và bảo vệ sự phân hoá xã hội ra hai cực giàu nghèo, phân hoá nghề nghiệp, địa vị Con người chỉ biết an phận thủ thường tuân theo, không được

đấu tranh phản kháng để được bình đẳng và công bằng xã hội như những câu: “kẻ giàu

có do biết làm ăn và làm liên tục, kẻ nghèo khó do không biết làm và làm qua loa” hoặc “trời sinh ra các bậc thấp cao; bậc người nào người nấy hưởng và chịu, bậc thấp chịu bậc thấp, bậc cao hưởng bậc cao… ” [25, tr.425]

Sống trong đơn vị xã hội chủ yếu là làng, con người phải luôn dựa vào gia đình, buôn làng để sống Trong các cộng đồng nhỏ bé, mong manh biệt lập ấy, con người bằng lòng với nhu cầu nghèo nàn, giản đơn, thấp kém Họ dễ bằng lòng với cái hiện tại, ít có ý thức vươn lên thể hiện cá tính, nhân cách, xa lạ với các thiết chế, thể chế Nhà nước, ít quan tâm tới những vấn đề phức tạp Vì vậy, có thể nói, luật tục là trở lực không nhỏ đối với dân tộc Jơrai trong quá trình phát triển đang diễn ra mạnh mẽ trong đời sống xã hội đương đại

Thêm vào đó, trình độ sản xuất và sự phát triển xã hội của người Jơrai quyết định tư duy của họ Đó là tư duy kinh nghiệm mang màu sắc thần bí nên trong luật tục mọi tội lỗi đều quy về tội xúc phạm thần linh, khiến thần linh tức giận mà gây tai hoạ cho cộng đồng Do vậy, việc xử kiện từ hình thức nhẹ tới hình thức nặng đều có nghi

lễ “rửa tội” để tẩy sạch tội lỗi, tạ tội với thần linh

Có thể thấy rằng, luật tục Jơrai là một hệ thống các quy ước và hình phạt, tồn tại hàng ngàn năm trong những cộng đồng mang tính biệt lập, nó đã trở thành cái điều chỉnh hành vi con người theo những quy ước chung mà trong nhiều trường hợp đã trở thành phản xạ có điều kiện khó mà xoá bỏ được Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế, sinh hoạt xã hội trong cộng đồng, thậm chí có mặt trái với pháp luật của Nhà nước Vì vậy, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt không phù hợp của luật tục là phương châm mà các chính sách của Nhà nước cần phải hướng tới

Trang 36

1.3 Cơ chế vận hành, cách thức phán xử và hiệu lực của luật tục Jơrai ở tỉnh

Gialai hiện nay

Việc xây dựng luật tục là do nhân dân tiến hành một cách tự phát, được truyền thụ từ thế hệ này cho thế hệ sau bằng hình thức truyền miệng và thuộc lòng, hơn nữa,

đó là sản phẩm của nhiều thế hệ nối tiếp nhau điều chỉnh, bổ sung dựa theo nhu cầu và

ý nguyện của toàn thể cộng đồng để có một bộ luật ngày càng thích hợp nên so với luật pháp của xã hội có giai cấp thống trị, luật tục mang tính dân chủ cao hơn Đây là thứ dân chủ trực tiếp, dân chủ cộng đồng, được phổ biến sâu rộng trong nhân dân, có tính quần chúng sâu sắc

Tính dân chủ của luật tục không chỉ thể hiện trong cách xây dựng, vận hành mà còn thể hiện trong cách thức phán xử

Khi có tranh chấp, bất đồng, việc đầu tiên là người ta thu xếp trong gia đình, dòng họ dưới sự chủ trì của một người cao tuổi, có uy tín trong dòng họ và luật tục là

cơ sở để phán xử Đây là cấp độ hoà giải Chỉ khi hoà giải không được, trong tranh chấp, bất đồng mới phải đưa lên cấp trên, cấp toàn làng với sự chủ trì của chủ làng ễÛ cấp này, chủ làng họp mặt tất cả các người giúp việc, những người này tìm hiểu tình hình rồi báo lại cho chủ làng và báo lại cho hai bên thống nhất ngày xử Khi xét xử, mọi người trong làng đều có quyền tham gia và có quyền tranh luận Mở đầu buổi xử, chủ làng nêu tóm tắt câu chuyện Hai bên đương sự hoặc đại diện đương sự trình bày

kỹ Mọi người thảo luận, cung cấp thông tin và bàn bạc về mức xử phạt Dựa vào ý kiến chung, chủ làng tổng kết và đề nghị mức phạt và mọi người bàn tiếp để thống nhất mức phạt Trong quá trình bàn bạc, người ta chú ý điều chỉnh mức phạt thích hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể Đối với những việc phức tạp, khó phân định đúng sai, người ta tổ chức điều tra, và một trong những phương pháp điều tra là dựa vào thần linh như lặn nước, đổ chì nóng vào tay, bóp trứng, uống gạc nai…

Trang 37

Bao giờ cũng vậy, sau buổi xử kiện là một cuộc liên hoan ăn uống vui vẻ bằng vật phẩm nộp phạt Mọi việc cũ điều được bỏ qua, không để bụng, không thù hằn với niềm tin là Yàng đã xoá bỏ mọi tội lỗi cho cộng đồng

Qua một buổi xét xử, ta thấy có mấy điểm đáng lưu ý sau:

- ễÛ đây, tinh thần dân chủ, tập thể công khai và tính quần chúng cao vẫn được thể hiện chặt chẽ như ở khâu xây dựng luật tục Mọi người cùng tham gia bàn bạc, thảo luận để đi đến thống nhất Nếu trong toà án hiện đại có luật sư biện hộ thì trong luật tục Jơrai, luật sư của đương sự hai bên là cả cộng đồng tham gia bào chữa

Ngoài tinh thần dân chủ của quá trình xét xử, mục đích xét xử không phải chủ yếu là tìm sự công bằng giữa các cá nhân mà chủ yếu nhằm khôi phục và củng cố tinh thần hoà hợp của cộng đồng Tinh thần hoà hợp này bao gồm hoà hợp mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng và hoà hợp giữa cộng đồng với thiên nhiên Để đạt được sự hoà hợp này, người ta chú ý đến các khâu như uống rượu thề, liên hoan, múa hát, ăn uống cùng nhau

- Thái độ mọi người trong xét xử là bao dung, rộng lượng, khoan hoà khác với thái độ hiềm khích, thù hằn dai dẳng ở một số bộ phận dân cư khác Có được thái độ

đó có lẽ là do bản chất vô tư của con người Trong cộng đồng buôn làng, chủ nghĩa cá nhân chưa phát triển, mọi người tập trung cho lợi ích chung tối cao là sự hoà hợp cộng đồng

- Người bị phạt thường tự nguyện chấp hành theo luật tục vì quy trình tiến hành phân xử, công khai, dân chủ và tập thể khiến cho người lầm lỗi tự nhận thấy chịu phạt

là đúng Trong trường hợp đương sự không đủ khả năng nộp phạt thì gia đình, họ hàng có nhiệm vụ giúp đỡ vì họ không thể để cho con cháu mang lỗi với xóm làng và thần linh

Qua những phân tích trên, ta thấy, luật tục mang tính dân chủ và tính quần chúng cao Nó ra đời, biến đổi và tham gia chế định hành vi của cá nhân, cộng đồng

Trang 38

dưới sự tác động của hệ thống văn hoá tộc người nên đã trở thành tình cảm, lương tâm, trách nhiệm thiêng liêng của mỗi thành viên trong cộng đồng Đó không phải là sự áp đặt của hệ thống cai trị đối với cá nhân mà là sự tự nguyện, tự giác của mỗi thành viên với tư cách là chủ nhân của cộng đồng ấy Đây là thứ văn hoá pháp luật, thông qua văn hoá để điều chỉnh các hành vi của cá nhân Do vậy, việc nhận thức và thực thi các qui định của luật tục dễ đi vào tâm tư, tình cảm, khiến người ta tự giác thực hiện mà không cần dùng mệnh lệnh, áp đặt từ bên ngoài

Một vấn đề nữa được đặt ra là, luật tục có hiệu lực như thế nào trong đời sống cộng đồng?

Nghiên cứu các xã hội thị tộc ở châu Âu và châu Mỹ, Ăngghen viết: “Với mọi tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy Mọi sự xích mích và mọi sự tranh chấp đều được giải quyết bởi tập thể những người có liên quan…” và “người ta không hề cần đến bộ máy quản lý cồng kềnh và phức tạp của chúng ta Mọi việc đều do những người hữu quan tự giải quyết lấy và trong đa số các trường hợp, một tập quán lâu đời đã giải quyết trước tất cả mọi việc rồi” [1, tr.147] Đó chính là luật tục do “ông bà để lại cho”

Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị tạo ra một hệ thống các tổ chức chuyên chính ngày càng nặng nề, phức tạp để quản lý xã hội, đặc biệt là thi hành pháp luật nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp cầm quyền Còn trong xã hội tiền giai cấp như

xã hội Jơrai thì cộng đồng huy động cơ chế nội tại để quản lý xã hội - đó chính là một

cơ chế tổng hợp bao gồm phong tục, tập quán, đạo đức, phép ứng xử, tín ngưỡng, tôn giáo… Có thể tạm chia chúng thành hai phần: Cơ chế xã hội và cơ chế tâm linh

- Cơ chế xã hội:

Cũng như các cộng đồng cư dân Tây Nguyên tiền giai cấp khác, mọi thành viên trong xã hội Jơrai đều gắn bó với nhau bằng sự giúp đỡ, đùm bọc và thương yêu nhau

Trang 39

Tình thương đó bộc lộ trong sinh hoạt hằng ngày khi đi rẫy, đi nương, khi ra bến nước Tình cảm cộng đồng cũng không thể thiếu khi có những việc buồn vui lớn như có người chết hay làm lễ bỏ mả ễÛ đây, tình cảm được xây dựng trên cơ sở quan hệ sản xuất ở trình độ thấp, chưa có người bóc lột Có thể có người giàu, người nghèo nhưng giàu là do có kinh nghiệm làm lụng, siêng năng, may mắn Nghèo là do bệnh tật, đau

ốm, rủi ro… Người giàu lên không vì bóc lột người khác, người nghèo không do bị bóc lột Nguyên tắc ứng xử của xã hội này là đoàn kết, tương trợ và thương yêu nên luật tục không có sức mạnh gì khác ngoài sức mạnh cộng đồng Nó tập hợp các phong tục tập quán, quy tắc ứng xử vốn có làm nội dung và dùng cơ chế xã hội là dư luận và quan hệ cộng đồng để biến nó thành luật lệ, tức sự khen chê, thưởng phạt

Dư luận của cộng đồng cũng có tính hai mặt Một mặt, là lời khen, sự biểu dương và mặt khác là lời chê trách, phê phán Buổi phân xử là nơi cụ thể hoá, công khai hoá dư luận của cộng đồng, sau đó được khẳng định một cách dân chủ, công minh, không chối cải được Có thể nói, sức mạnh dư luận là phương tiện cưỡng chế

duy nhất của xã hội này, như Ăngghen nói: “Tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến những sự đối chọi nội tại và nó chỉ thích hợp với kiểu xã hội ấy mà thôi Ngoài dư luận công chúng ra, nó không có một phương tiện cưỡng chế nào cả”

[1, tr.251]

Quan hệ xã hội cộng đồng thể hiện qua luật tục cũng có hai mặt Một mặt, là sự yêu thương và mặt kia là sự cô lập đối với người vi phạm luật tục không hối cải, bị buôn làng xa lánh, không được tham gia các cuộc vui, các buổi uống rượu cồng chiêng

- Cơ chế tâm linh:

Xã hội Jơrai với tinh thần cộng đồng cao là cơ sở vững chắc cho việc thực thi luật tục và ngăn ngừa phạm tội Hơn nữa, bên cạnh và bên trên xã hội còn có một lực lượng vô hình chi phối sâu sắc đến cộng đồng: Đó là hệ thống Yàng ễÛ đây, luật tục

sử dụng mặt uy linh của thần linh để đòi hỏi con người làm theo yêu cầu của thần linh,

Trang 40

cũng chính là yêu cầu của cộng đồng Nếu các Yàng hài lòng thì phù hộ cho người khoẻ mạnh, no đủ Nếu các Yàng bất bình thì làng xóm ốm đau, bệnh tật, trâu bò chết dịch, mùa màng thất bát Những trường hợp làm cho Yàng bất bình là do con người gây nên tội lỗi

Như vậy, một người vi phạm luật tục, gây bất bình cho các Yàng, thường bị Yàng trừng phạt cả cộng đồng Do đó, về mặt xã hội, hành động của cá nhân có sự liên đới nhất định đến trách nhiệm với gia đình, dòng họ Còn về cơ chế tâm linh, hành động của cá nhân gây liên luỵ đến toàn thể cộng đồng, vì vậy cộng đồng phải có trách nhiệm theo dõi, giúp đỡ, ngăn cản sự vi phạm luật tục của tất cả các thành viên trong cộng đồng Sự gắn kết, quyện chặt của hai mặt xã hội và tâm linh làm cho luật tục có sức sống bền bỉ, dai dẳng và phát huy vai trò mạnh mẽ trong đời sống tộc người Jơrai

1.4 Đặc điểm của luật tục Jơrai

Như đã trình bày ở phần trên, luật tục với tư cách là một hiện tượng xã hội - lịch

sử, đã tồn tại hàng ngàn năm nay ở nước ta và nhiều nước trên thế giới ễÛ nước ta hiện nay, hầu như mỗi một tộc người có bộ luật tục riêng, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nguồn gốc lịch sử, trình độ phát triển xã hội mà mỗi bộ luật tục được hình thành

và có những nội dung; phạm vi điều chỉnh khác nhau Tuy nhiên, cơ sở tồn tại của luật tục là xã hội công xã tiểu nông, trong đó tồn tại các cộng đồng xã hội tự quản và luật tục được xem là “bộ luật” tự quản của công xã nông thôn Chính vì thế, luật tục có những đặc điểm chung sau:

- Luật tục không thuần tuý là luật mà cũng không hoàn toàn là tục, nó là hình thức trung gian, là bước chuyển tiếp từ tập tục lên pháp luật, có thể gọi đây là hình thức tiền pháp luật

- Phạm vi điều chỉnh của luật tục rất rộng cả về luân lý đạo đức, phép ứng xử Tuy nhiên, nó không chỉ là lời khuyên răn, bảo vệ đạo đức, nó có cơ chế tổ chức, có hội đồng, có hình thức thưởng phạt để bảo đảm việc thực thi các chuẩn mực xã hội do luật tục đề ra

Ngày đăng: 29/12/2015, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cỏc Mỏc - Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 21. NXB Chớnh trị quốc gia, Hà Nội, 1995 2. Cỏc Mỏc - Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 32. NXB Chớnh trị Macxcova, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏc Mỏc - Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 21
Nhà XB: NXB Chớnh trị quốc gia
Năm: 1995
3. Cỏc Mỏc - Ph. Ăngghen: Tuyển tập, tập 1. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Nhà XB: NXB Sự Thật
4. Ph.Ăngghen: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước. NXB Sự Thật Hà Nội, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Nhà XB: NXB Sự Thật Hà Nội
5. Phan An: Vấn đề quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai của Tây Nguyên trong lịch sử. Nghiờn cứu lịch sử. Số 6 - 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai của Tây Nguyên trong lịch sử
6. Phạm Trần Anh: Đồng bào Thượng và vấn đề phát triển kinh tế ở Cao Nguyên. Luận văn//sách: Vai trũ Cao Nguyờn trong sinh hoạt xó hội Việt Nam. 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bào Thượng và vấn đề phát triển kinh tế ở Cao Nguyên
7. Võn Anh: Luật tục Bana gúp phần giảm bớt tội phạm. Bỏo phỏp luật số 104. Ngày 30/12/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục Bana gúp phần giảm bớt tội phạm
Tác giả: Võn Anh
Nhà XB: Bỏo phỏp luật số 104
Năm: 1997
8. Ban Tụn giỏo tỉnh Gialai: Bỏo cỏo tỡnh hỡnh đạo Tin Lành ở Gialai, thực trạng và kiến nghị quản lý. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỏo cỏo tỡnh hỡnh đạo Tin Lành ở Gialai, thực trạng và kiến nghị quản lý
Tác giả: Ban Tụn giỏo tỉnh Gialai
Năm: 2006
9. Bộ VHTT: Hội thảo nếp sống phong tục Tõy nguyờn. NBX VHTT, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo nếp sống phong tục Tõy nguyờn
10. Hoàng Hữu Bỡnh - Phạm Quan Hoan: Cỏc dõn tộc thiểu số và việc quản lý tài nguyờn thiờn nhiờn ở vựng cao Việt Nam. Tạp chí dân tộc học số 3 năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏc dõn tộc thiểu số và việc quản lý tài nguyờn thiờn nhiờn ở vựng cao Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hữu Bỡnh, Phạm Quan Hoan
Nhà XB: Tạp chí dân tộc học
Năm: 1996
12. Nguyễn Đỡnh Chi: Bộ lạc Jơrai. Luận văn//sách: vấn đề đồng bào thiểu số tại Việt Nam. 1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ lạc Jơrai
13. Nguyễn Văn Chương: Vài luật tục hụn nhõn của người Tõy Nguyờn. Bỏo phỏp luật . Ngày 19/7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài luật tục hụn nhõn của người Tõy Nguyờn
14. Phan Hữu Dật: Tớn ngưỡng dân gian Tây Nguyên trong đời sống các dân tộc người. Tạp chí dân tộc học số 2 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tớn ngưỡng dân gian Tây Nguyên trong đời sống các dân tộc người
15. Quỏch Dương: Vai trũ của cỏc già làng trong cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật ở Gialai. Bỏo phỏp luật - số 16. Ngày 16/4/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trũ của cỏc già làng trong cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật ở Gialai
16. Ksor Đê: Tỡm hiểu chế độ đất đai của đồng bào Thượng. Luận văn//sách: chương trỡnh kiến điền đất đồng bào thượng. Học viện Hành Chớnh Quốc Gia, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm hiểu chế độ đất đai của đồng bào Thượng
17. P.Guillement: Lụõt tục bộ lạc Bana, XơĐăng và Jơrai ở tỉnh Kontum, EFEO, Hà Nội,1952 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lụõt tục bộ lạc Bana, XơĐăng và Jơrai ở tỉnh Kontum
18. Nguyễn Ngọc Hoà: Về luật tục Êđê trong xây dựng nông thôn mới hiện nay. Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên thực trạng và các vấn đề đặt ra. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về luật tục Êđê trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2004
19. Lờ cụng Hội: Người Jơrai. Báo Khoa học đời sống, số 13 - 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Jơrai
20. Lưu Hựng: Tỡm hiểu thờm về một khớa cạnh của xó hội cổ truyền vựng Trường Sơn - Tõy Nguyờn: Thiết chế tự quản buụn làng. Tạp chí dân tộc học số 3 năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm hiểu thờm về một khớa cạnh của xó hội cổ truyền vựng Trường Sơn - Tõy Nguyờn: Thiết chế tự quản buụn làng
Tác giả: Lưu Hựng
Nhà XB: Tạp chí dân tộc học
Năm: 1992
21. Lưu Hựng: Bước đầu tỡm hiểu quan hệ cộng đồng làng trong xó hội người Thượng. Tạp chớ dõn tộc học số 3 - 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tỡm hiểu quan hệ cộng đồng làng trong xó hội người Thượng
22. Lưu Hựng: Tỡm hiểu thờm về một khớa cạnh xó hội cổ truyền vựng Trường Sơn - Tõy Nguyờn: sự phõn hoỏ giàu nghốo.Tạp chớ dõn tộc học số 4 - 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm hiểu thờm về một khớa cạnh xó hội cổ truyền vựng Trường Sơn - Tõy Nguyờn: sự phõn hoỏ giàu nghốo
Tác giả: Lưu Hựng
Nhà XB: Tạp chớ dõn tộc học
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w