1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế ở địa phương 1996 2006

116 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã kịp thời phát huy lợi thế, khơi dậy mọi tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-

PHẠM THỊ MIẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Ở ĐỊA PHƯƠNG (1996 - 2006)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

-

PHẠM THỊ MIẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX (1996- 2000) 7

1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội và cơ cấu kinh tế Quảng Ninh trước năm 1996 7

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội 7

1.1.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh trước năm 1996 11

1.2 Chủ trương của đảng cộng sản việt nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 19

1.3 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1996 - 2000) 34

Chương 2.CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI ( 2001 - 2006) 49

2.1 Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001 - 2006) 49

2.2 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế (2001 - 2006) 55

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH TRONG LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ ( 1996 - 2006) 67

3.1 Kết quả 67

3.1.1 Những thành tựu 67

3.1.2 Hạn chế chính 83

3.2 Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh 85

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 101

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một chủ trương lớn của Đảng ta, một trong những nội dung cơ bản trong quá trình đề ra và thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Từ năm 1986 đến nay thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta có nhiều chủ trương chính sách cụ thể để lãnh đạo thực hiện chủ trương này Nhờ đó kinh tế nước ta bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh trong nhiều năm qua để phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn thách thức, từng bước thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiều tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực này, góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia và chế độ

xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế

Quảng Ninh là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng, là một tỉnh thuộc tam giác công nghiệp trọng điểm phía bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Quảng Ninh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên trước đổi mới, Quảng Ninh vẫn còn nhiều khó khăn Từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986), đặc biệt từ sau Đại hội VIII với đường lối đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ninh

đã kịp thời phát huy lợi thế, khơi dậy mọi tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa nền kinh tế của tỉnh Quảng Ninh phát triển mạnh mẽ, góp phần thực hiện mục tiêu mà Đại hội IX, X đã đề ra là đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trang 5

Trong những năm tới, Quảng Ninh cần tập trung đẩy nhanh phát triển kinh tế trên cơ sở chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - du lịch, dịch vụ - Nông nghiệp theo đúng tinh thần đề ra tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII; phấn đấu để Quảng Ninh sớm trở thành một tỉnh công nghiệp - du lịch, dịch vụ phát triển

Những thành quả đã đạt được cùng với những định hướng của Đảng và nhà nước đang làm cho vị thế của Quảng Ninh trong chiến lược phát triển chung của cả nước và trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục được khẳng định cụ thể hơn Yêu cầu của giai đoạn mới đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn về tư duy, thống nhất trong nhận thức và hành động, chủ động nắm bắt thời cơ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung khai thác và phát huy cao nhất mọi tiềm năng, lợi thế, những nguồn lực trong nhân dân, trong các ngành kinh tế để trở thành lực lượng vật chất và môi trường thuận lợi thúc đẩy sự phát triển

Thành tựu và hạn chế, thuận lợi và khó khăn, kinh nghiệm thành công

và chưa thành công… những vấn đề của tỉnh Quảng Ninh cũng là những vấn

đề của một số tỉnh khác cần được nghiên cứu, tổng kết, phát huy, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương (1996 - 2006)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ

lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu

kinh tế ở nước ta GS Đỗ Đình Giao: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; PGS Đỗ Hoài Nam: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển mũi nhọn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996; TS Đặng Văn Thắng - TS

Trang 6

Phạm Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng, thực trạng và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; PGS TS Phan Thanh Phố: Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996; PGS TS Nguyễn Văn Khanh: Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng Châu thổ Sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Ban

tư tưởng - văn hoá trung ương và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn: con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; David Dapice: Việt Nam cải cách kinh

tế theo hướng rồng bay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994… Cũng đã có

một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế, chuyên ngành lịch sử Đảng viết

về lĩnh vực này như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Nguyên Nhu, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Cần Thơ” của Đỗ Xuân Tài, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999; “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 1997 - 2003” của Đào Thị

Vân, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004…

Ngoài ra còn nhiều bài báo và các công trình khoa học đăng trên báo

Trung ương và địa phương Đáng chú ý là bài“Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm công nghiệp tàu thủy lớn của cả nước” của Lương Gia Hùng - Sở Công thương đăng trên Websites http:/www.Baoquangninh.com.vn; bài “Để công nghiệp Quảng Ninh tiếp tục tăng trưởng” của Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công thương, trả lời phỏng vấn báo Quảng Ninh; Luận văn Thạc sĩ khoa học triết học của tác giả Trần Hữu Phưởng viết về “Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với việc phát triển nguồn lực con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh”; Luận văn thạc sĩ triết học của Vũ Thị Phương Mai

Trang 7

về “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”…

Các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nền kinh tế quốc dân; cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Hồng, hoặc cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta… Một vài công trình có đề cập đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một số địa phương Nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1996 đến 2006

Những công trình đã xuất bản nghiên cứu nhiều vấn đề cơ bản nhất, giúp học viên nắm được phương hướng nghiên cứu, những kiến thức liên quan Đó là những tài liệu tham khảo bổ ích

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh Quảng Ninh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giai đoạn 1996 - 2006

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích:

- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng đúng đắn sáng tạo đường lối của Trung ương trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tê ở địa phương, từ năm 1996 đến 2006

- Đánh giá bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Quảng Ninh những năm 1996 - 2006

- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm từ 1996 - 2006

* Nhiệm vụ:

- Trình bày một cách hệ thống chủ trương Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng đường lối của Trung ương lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh từ năm 1996 đến 2006

- Trình bày quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Quảng Ninh; phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của kết quả đó

Trang 8

- Tổng kết kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương

từ năm 1996 đến 2006 theo đường lối của Đảng

- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một số nội dung chính: chuyển dịch thành phần kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Luận văn chủ yếu nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

* Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian là tỉnh Quảng Ninh

- Thời gian nghiên cứu từ 1996 đến 2006 (trước Đại hội X)

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

* Cơ sở lý luận:

Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế

* Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là: Lịch sử và lôgíc, ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác, như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn…

* Nguồn tư liệu:

- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 9

- Các văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X và nghị quyết Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các khoá VI, VII VIII, IX về phát triển kinh

tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (Đại hội X, XI, XII) nghị quyết của Tỉnh uỷ về kinh tế, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; báo cáo hàng năm của uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo hàng năm của Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Công nghiệp, Sở Thương nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thương mại, niên giám thống kê tỉnh (từ 1996 đến 2006), tài liệu khảo sát thực tế…

6 Đóng góp của luận văn

Hệ thống hoá các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ năm 1996 đến

2006

Khẳng định những thành tựu và nêu ra một số hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở tỉnh Quảng Ninh từ năm 1996 đến 2006

Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian 1996 - 2006

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

3 chương, 7 tiết

Chương 1: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về

chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương những năm cuối thế kỷ XX (1996 - 2000)

Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ Quảng Ninh về chuyển

dịch cơ cấu kinh tế địa phương những năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2006)

Chương 3: Kết quả và những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Quảng

Ninh trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương (1996-2006)

Trang 10

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX (1996 - 2000)

1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội và cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh trước năm 1996

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, xã hội

Quảng Ninh là miền đất cổ xưa của dân tộc Việt Nam, có từ buổi dựng nước và là một trong những cái nôi của người Việt cổ Thời các vua Hùng, nơi đây là Bộ Hải Ninh, một trong 15 Bộ của nước Văn Lang Trải qua các triều đại phong kiến tiếp theo, Quảng Ninh có lúc được coi là quận, huyện, trấn, châu với nhiều tên gọi khác nhau như Lục Hải, Hải Ninh, Ninh Hải, Châu Hoàng, Lục Châu Thời nhà Đinh và Tiền Lê, vùng đất Quảng Ninh gọi

là trấn Tiềm Dương Khi Trần Quốc Tảng tức con Trần Hưng Đạo được phái

ra trấn ải miền Đông Bắc, Quảng Ninh được gọi là Hải Đông

Tên Quảng Ninh chính thức có từ ngày 30/10/1963 khi Quốc hội khóa

II trong kỳ họp thứ 7 nhất trí thông qua Nghị quyết phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Quảng Ninh Tên Quảng Ninh là ghép hai chữ cuối của hai địa danh là Hồng Quảng và Hải Ninh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, “Quảng” có nghĩa là rộng lớn,

“Ninh” có nghĩa là yên ổn, bền vững Quảng Ninh có nghĩa một vùng rộng lớn, yên ổn, bền vững

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có tọa độ

1060 sang 1080 kinh độ Đông và từ 200 lên 21044 vĩ độ Bắc Bề ngang từ Đông sang Tây khoảng dài nhất là 195km, bề dọc từ bắc xuống Nam khoảng dài nhất là 102km Về địa giới, phía Bắc giáp Lạng Sơn (dài 58 km), Quảng Tây Trung Quốc (dài 132km); phía Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh (dài

Trang 11

71km), Hải Phòng (78km), Hải Dương (21km); phía Nam và Đông là biển Đông với bờ biển dài 250km

Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển của Bắc Bộ, trên đó có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát triển Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho các tỉnh ở phía Bắc (có thể cho các tỉnh Tây - Nam Trung Quốc và Bắc Lào) để chuyển tải hàng hoá xuất nhập khẩu, đẩy mạnh giao lưu kinh tế với các vùng trong cả nước và với nước ngoài, đồng thời còn có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng hải và hàng không với các nước trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á và thế giới Đây là

ưu thế đặc biệt của Quảng Ninh

Là một cực trong tam giác phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ, Quảng Ninh có quan hệ mật thiết về các hoạt động kinh tế, khoa học và văn hoá xã hội với Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh đồng bằng sông Hồng với hệ thống quốc lộ 4B, quốc lộ 10; quốc lộ 18 đi qua địa bàn tỉnh

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam Đây là vùng nhiệt đới - gió mùa Mùa Hạ nóng ẩm nhiều mưa, gió thịnh hành là gió Đông Nam Mùa Đông lạnh, khô hanh, có gió Đông Bắc

Nằm trong vùng nhiệt đới, Quảng Ninh có lượng bức xạ trung bình hàng năm 115,4 kcal/cm2 Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm trên 22,90C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm 82% Từ đó lượng mưa hàng năm lên tới 1700 - 2000mm, số ngày mưa hàng năm từ 90 -170 ngày Mưa tập trung nhiều vào mùa hạ (hơn 85%) nhất là các tháng 7 và 8 Mùa Đông chỉ mưa khoảng 150 đến 400mm So với các tỉnh Bắc Bộ, Quảng Ninh chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc mạnh hơn Đây là nơi “đầu sóng ngọn gió”, gió thổi mạnh và so với các nơi có cùng vĩ độ thường lạnh hơn từ 1 đến 30C Quảng Ninh cũng chịu ảnh hưởng nhiều của bão tố Bão thường đến sớm (các tháng

6, 7, 8)

Tuy nhiên do diện tích lớn, lại có nhiều vùng địa hình khác nhau, nên ở địa đầu Móng Cái lạnh hơn lại mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm là

Trang 12

220C, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.700mm Vùng núi cao của Hoành

Bồ, Ba Chẽ khí hậu khá khắc nghiệt, mỗi năm có 20 ngày sương muối và lượng mưa hàng năm thấp Cũng là miền núi nhưng Bình Liêu lại có lượng mưa lớn (240mm) và mùa Đông kéo dài tới 6 tháng Vùng hải đảo lại không phải là nơi mưa nhiều, chỉ từ 1700mm đến 1800mm/năm, nhưng lại là nơi có rất nhiều sương mù về mùa Đông

Quảng Ninh có diện tích tự nhiên 5.938km2, rất giàu tài nguyên khoáng sản, có mỏ than lớn nhất của cả nước Bên cạnh Vịnh Hạ Long nổi tiếng, ở Quảng Ninh còn có 28 thắng cảnh khác được kiểm kê, trong số đó đáng chú ý hơn cả là thắng cảnh Yên Tử, hồ và đồi thông Yên Trung, thác Lựng Xanh (Uông Bí), hồ và đồi thông Yên Lập (Hoành Bồ), thác Suối Mơ (Yên Hưng), các hang động kỳ bí, huyền bí và các bãi tắm dài, rộng, đẹp thơ mộng

Ngoài những tài nguyên thiên nhiên, những lợi thế vượt trội về kinh tế, Quảng Ninh còn có đời sống tinh thần phong phú mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc vùng Đông Bắc của Tổ quốc Nhiều lễ hội nổi tiếng có sức thu hút khách thập phương, có những lễ hội có quy mô lớn đông tới hàng vạn người kéo dài 2 - 3 tháng như lễ hội Yên Tử diễn ra từ ngày 10 tháng Giêng

âm lịch và kéo dài đến hết tháng Ba; Lễ hội Quỳnh Lâm diễn ra từ ngày 1 đến ngày 4 tháng Hai âm lịch nhưng không khí lễ hội bao trùm suốt cả mùa xuân… Lễ hội Thập Cửu Tiên Công tổ chức vào hai ngày 6 và 7 tháng Giêng sau tết Nguyên Đán ở miếu Tiên Công, xã Cẩm La, huyện Yên Hưng, để tỏ lòng nhớ ơn tổ tiên, tôn vinh những người có công trạng với làng nước Lễ hội Trà Cổ diễn ra từ ngày 30 tháng 5 đến giữa tháng 6 âm lịch, là sinh hoạt văn hóa dân gian hướng về cội nguồn, tôn thờ những người có công khai thiên lập địa Lễ hội Đình Quan Lạn diễn ra vào ngày 18/6 âm lịch và không khí lễ hội kéo dài suốt tháng, tưởng niệm các vị Tiên Công có công khai phá đảo Quan Lạn và các anh hùng có công lớn chống giặc Nguyên Lễ hội như đình Trung Bản diễn ra vào ngày 8/3 âm lịch cũng đồng thời với lễ hội đình Yên Giang, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đền Trung Cốc và bãi Cọc Bạch Đằng kỷ

Trang 13

niệm ngày chiến thắng lịch sử vang dội trên sông Bạch Đằng năm 1288 lễ hội Soong Cọ của dân tộc Sản Chỉ ở Bình Liêu diễn ra vào dịp tháng 3 âm lịch với các cuộc hát giao duyên của nam nữ thanh niên dân tộc miền núi rất đặc sắc

Quảng Ninh là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển đa dạng các loại hình du lịch như du lịch tham quan, du lịch biển, du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch nghiên cứu… Việc hình thành và đưa vào sử dụng các khu du lịch như: Tuần Châu, Yên Tử, Hoàng Gia, Bãi Cháy, Trà Cổ, Móng Cái đã tạo cho du lịch Quảng Ninh một diện mạo mới và ngày càng hấp dẫn du khách

Quảng Ninh có tới 2 thành phố trực thuộc, 2 thị xã và 10 huyện: Thành phố Hạ Long; Thành phố Móng Cái; Thị xã Cẩm Phả; Thị xã Uông Bí; Huyện

Ba Chẽ; Huyện Bình Liêu; Huyên Cô Tô; Huyện Đầm Hà; Huyện Đông Triều; Huyện Hải Hà; Huyện Hoành Bồ; Huyện Tiên Yên; Huyện Vân Đồn; Huyện Yên Hưng

Dân số Quảng Ninh tính đến 31/12/2005 có 1.081.363 người; mật độ dân số trung bình là 183 người/km2

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình 5 năm (2001 - 2005) là 11,2%/năm Trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình ở thành phố là 10,64%/ năm; ở nông thôn là 12,2%/năm Khoảng 95% dân số biết đọc, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35,3% Quảng Ninh có 6 dân tộc: Kinh chiếm 89,23%; Sán Dìu chiếm 1,80%; Sán Chay chiếm 1,11%; Hoa chiếm 0,43% [5]

Sau khi thống nhất đất nước, Quảng Ninh cùng với cả nước bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh với muôn vàn khó khăn: do bị cấm vận kinh tế, do cơ chế quan liêu bao cấp, lại thêm những thách thức từ sự kiện Liên bang Xô Viết và hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan vỡ, từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á,… Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ năm 1986, bằng đường lối đổi mới, quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế mở rộng, tinh thần lao động sáng tạo

Trang 14

và ý chí tự lực tự cường của nhân dân được phát huy, Quảng Ninh cùng với

cả nước đã vượt qua khó khăn thách thức, chủ động khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên đạt được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tê, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng

bộ tỉnh lần thứ X và XI

Với vị trí địa lý, kinh tế - xã hội, Quảng Ninh đã được Chính phủ xác định cùng với Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hải Phòng là một trong ba cực phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Phát huy lợi thế này, trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền, nhân dân trong tỉnh luôn nỗ lực, cố gắng thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, xứng đáng là địa bàn động lực và năng động của khu vực phía Bắc

So với nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước thì Quảng Ninh là tỉnh

có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế - xã hội Trong đó một số lĩnh vực có vị trí chiến lược quan trọng của vùng Đông Bắc và cả nước như khai thác than, vật liệu xây dựng, điện, du lịch, kinh tế cảng biển, kinh tế cửa khẩu… Quảng Ninh là cửa mở ra biển, có hệ thống giao thông gồm cả đường

bộ, đường sắt, đường biển, cảng biển, cửa khẩu quốc gia, quốc tế thông thương với Trung Quốc

1.1.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Quảng Ninh trước năm 1996

Giai đoạn 1986 - 1990, bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh đã

có bước chuyển biến, nhất là trong hai năm 1989 - 1990 Tỉnh đã sớm mạnh dạn xoá bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, giao quyền tự chủ cho cơ sở Cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch, tỉnh đã từng bước bố trí lại cơ cấu đầu tư, giải quyết được những khó khăn gay gắt Sản xuất nông nghiệp tuy phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nhưng năng suất và sản lượng đều tăng Sản xuất công nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn nhưng một số đơn vị đã tìm mọi biện pháp vươn lên, khai được thế mạnh về nguyên liệu, thị trường, thích ứng được với cơ chế mới, đi dần vào ổn định và làm ăn có hiệu quả Công tác xuất nhập khẩu, kinh tế đối ngoại, buôn bán tiểu ngạch với Trung quốc, thu hút

Trang 15

vốn đầu tư… bước đầu mang lại kết quả An ninh chính trị ổn định, lòng tin của nhân dân với Đảng dần được khôi phục

Tổng sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân 2,25% Phần lớn các huyện nông nghiệp đã tự cân đối được lương thực trong khu vực nông thôn, góp phần điều hoà lương thực, thực phẩm trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên kết quả đạt được không đồng đều, dịch vụ nông nghiệp chậm đổi mới, ngành nghề trong nông thôn kém phát triển Chuyển biến về thâm canh, đổi mới về

cơ cấu giống và mùa vụ, đầu tư khoa học kỹ thuật cho nông nghiệp còn chậm, còn ít Nhiều vấn đề cho quản lý xã hội ở nông thôn chưa được giải quyết tốt Công tác quản lý và bảo vệ rừng còn yếu kém, tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng, công tác giao đất, giao rừng đến từng hộ nông dân làm chậm nên vốn rừng ngày càng nghèo kiệt, chưa gắn kinh tế rừng với xây dựng kinh

tế - xã hội miền núi Sản lượng khai thác thuỷ sản tăng 31% so với những năm trước, nghề nuôi trồng thuỷ sản có tiến bộ Tuy nhiên, chủ quyền, an ninh biển của tỉnh thường xuyên bị vi phạm, nguồn lợi bị thất thoát So sánh

về sản lượng lương thực và bình quân lương thực đầu người qua bảng số liệu sau:

Bảng 1.1.1 Sản lượng lương thực và bình quân lương thực đầu người

Năm Tổng số sản lượng lương thực

Công nghiệp than là ngành công nghiệp đặc trưng của tỉnh 5 năm tỉnh

đã sản xuất trên 24,5 triệu tấn than thương phẩm, trong đó 2,3 triệu tấn xuất khẩu Ngành than vẫn duy trì được sản xuất, kinh doanh và đảm bảo được đời sống công nhân mỏ Tuy vậy, sản xuất than vẫn gặp khó khăn gay gắt về

Trang 16

nhiều mặt Tình hình sản xuất, tiêu thụ than và đời sống công nhân chưa ổn định, thị trường tiêu thụ giảm mạnh, tài chính mất cân đối lớn, sản xuất phải thu hẹp, lao động thiết bị dư thừa thiếu Đầu tư thiết bị và xây dựng một số công trình thiếu sự lựa chọn, tính toán kỹ lưỡng nên vốn đầu tư lớn nhưng hiệu quả lại thấp Tài nguyên than, vật tư, xăng dầu, xe máy… còn để thất thoát hư hỏng nhiều Các nhà máy cơ khí đóng tàu, các đơn vị xây lắp… đã

cố gắng phát triển thêm nhiều ngành nghề để giải quyết việc làm nhưng vẫn trong tình trạng khó khăn, quy mô thì lớn mà hiệu quả thì thấp, thị trường thu hẹp Mạng điện dân dụng còn chậm được cải tạo và phát triển, quản lý điện còn nhiều sơ hở, dễ tổn thất, lãng phí lớn… các cơ sở công nghiệp địa phương còn nhiều mặt yếu kém, không đủ khả năng cạnh tranh Nhiều cơ sở làm ăn thua lỗ, thâm hụt vốn

Bảng 1.1.2 Bảng giá trị sản lƣợng công nghiệp toàn tỉnh

Trang 17

mới cho giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân Song về kinh tế đối ngoại, nhìn chung chất lượng mẫu mã hàng xuất khẩu của tỉnh kém Danh mục hàng xuất khẩu thu hẹp dần [31, tr.17]

Hoạt động du lịch là thế mạnh; song hoạt động này cũng còn nhiều hạn chế, doanh số thấp, nội dung nghèo nàn Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật

đã bước đầu hướng vào nghiên cứu, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đời sống Song, nhìn chung phát triển còn chậm, chưa có định hướng cụ thể để phát huy tiềm năng thế mạnh kinh tế địa phương; chưa tạo được sự chuyển biến về năng suất, chất lượng, hiệu quả, chưa đáp ứng được những yêu cầu bức xúc của công cuôc đổi mới đầu tư cho khoa học, công nghệ còn bị hạn chế, thiếu vốn và trang thiết bị kỹ thuật phương tiện, hoạt động còn phân tán, thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật đầu đàn…

So với trước, đời sống của một bộ phận nhân dân có một số mặt được cải thiện như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt gia đình… nhưng nhìn chung còn khó khăn một bộ phận nhân dân còn sống dưới mức tối thiểu (nhất là những gia đình neo đơn, đối tượng chính sách xã hội, đồng bào các dân tộc vùng cao, hải đảo, một số vùng nông thôn gặp thiên tai, công nhân - lao động ở những cơ sở sản xuất thua lỗ) Số người thiếu việc làm (chưa kể nông nghiệp) của tỉnh tăng nhanh hàng năm có từ 14.000 đến 15.000 người Tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư diễn ra nhanh chóng Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vẫn ở mức cao (2,01%) [31, tr.27]

Bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn, khuyết điểm, như nền kinh tế của tỉnh phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, đời sống nhân dân tuy có mặt được cải thiện, nhưng nhìn chung còn thấp, còn nhiều khó khăn, nhân dân còn băn khoăn lo lắng về việc làm, trật tự trị an, tham nhũng, bất công và các tệ nạn xã hội

Giai đoạn 1990 - 1996, cơ cấu kinh tế ở Quảng Ninh có sự chuyển dịch

theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông

Trang 18

- lâm - ngư nghiệp Công nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu đã tăng tỷ trọng trong tổng sản phẩm kinh tế (GDP) của tỉnh từ 30,7% năm 1991 lên 33,5% năm 1995 Các ngành dịch vụ từ 42,7% lên 48% Tỉnh đã tập trung vốn, bố trí cho các chương trình, dự án trọng điểm phục vụ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và vùng; đẩy mạnh tổ chức phân công lại lao động theo hướng chuyển dịch lại lao động vào các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp

Từ năm 1991 đến 1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng thu nhập sản phẩm xã hội (GDP) đạt 11,3%, vượt mục tiêu đề ra 1,3%

Về công nghiệp đã khắc phục được một bước tình trạng sản xuất giảm

sút trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế Giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm tăng trung bình 11,5%, (công nghiệp trung ương tăng 10,8%, địa phương tăng (13,5%), sản lượng than sạch tăng từ 3,8 triêụ tấn (năm 1991) lên 7,3 triệu tấn (năm 1995); tỷ trọng than xuất khẩu tăng từ 21% lên 38% Ngành than gần đây được sắp xếp lại, đã có chuyển biến, thích ứng dần với cơ chế thị trường, từng bước khắc phục được những khó khăn về tài chính Tình hình sản xuất, việc làm và đời sống của công nhân mỏ đỡ khó khăn hơn Tỉnh đã cùng Bộ Năng lượng (nay là Bộ Công thương) xây dựng quy hoạch và kế hoạch củng cố, phát triển ngành than, phát triển mạng lưới điện gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn một số sản phẩm công nghiệp địa phương như: sản xuất gạch ngói, vật liệu xây dựng tăng hàng năm 24,5%; sản phẩm bia, nước khoáng, hải sản, tùng hương, đá Tấn Mài đã nâng cao được chất lượng và số lượng mặt hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Các cơ sở sản xuất cơ khí và đóng tàu… từng bước được đổi mới kỹ thuật, công nghệ, chuyển hướng, vừa sửa chữa, vừa chế tạo, sản xuất được một số sản phẩm mới thay thế nhập khẩu, phục vụ thiết thực cho ngành than, điện, xi măng và các ngành kinh tế trong nước tỉnh đang triển khai xây dựng một số cơ sở sản xuất mới như Nhà máy sản xuất xi măng 8,8 vạn tấn/năm (ở Uông bí), Nhà máy xay xát lúa mỳ, sản xuất giấy, sản xuất

Trang 19

giầy xuất khẩu (Thành phố Hạ Long)… các cơ sở sản xuất dịch vụ tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh có chuyển biến về phát triển ngành nghề, đáp ứng được một phần nhu cầu thị trường tại chỗ về vật liệu xây dựng, hàng mộc dân dụng, nước giải khát và một số mặt hàng tiêu dùng…[11, tr.40]

Điều đáng chú ý, từ một tỉnh sản xuất than là chủ yếu, Quảng Ninh nay

đã trở thành một tỉnh công nghiệp sản xuất đa ngành, đa dạng sản phẩm nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh Nhiều ngành công nghiệp mới phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trình độ công nghệ, thiết

bị tiên tiến, hiện đại, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu và đang thu hút khoảng hơn 100.000 lao động kỹ thuật Sản phẩm công nghiệp hiện chiếm 48% trong tổng thu nhập GDP Quảng Ninh hiện nay đang định hình nhiều khu công nghiệp, như khu công nghiệp Cái Lân, khu công nghiệp Việt Hưng (Hạ Long), khu công nghiệp Ninh Dương (Móng Cái), Hoành Bồ, Chạp Khê, Dốc Đỏ (Uông Bí)… nhiều dự án sản xuất điện, thép, xi măng đang được xây dựng

Bảng 1.1.3 Bảng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ - nông, lâm, ngƣ nghiệp

Năm Tỷ trọng công nghiệp

42,7

48

21,9 16,1

Nguồn: Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X, Hạ Long, tr.15-16

Ngành nông nghiệp và khu vực Nông thôn có sự thay đổi nhanh từ một nền kinh tế trồng trọt là chủ yếu với cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác truyền thống, lạc hậu đã chuyển sang cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác truyền thống, lạc hậu đã chuyển sang cơ cấu cân đối, hợp lý giữa chăn nuôi và trồng trọt Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã có sự chuyển biến về

Trang 20

quy mô, công nghệ, cách thức sản xuất, ngành kinh tế nuôi trồng chế biến hải sản tăng nhanh đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm kinh tế địa phương giảm từ 21,9% xuống còn 16,1%, đang từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị trên đơn vị diện tích và kết hợp giữa nông với lâm, ngư nghiệp Đã hình thành một số vùng kinh tế tập trung như: vùng chè, cây ăn quả ở huyện Đông Triều, Quảng Hà, Tiên Yên, Bình Liêu; vùng gỗ trụ mỏ, nguyên liệu giấy sợi ở các huyện miền Tây, vùng lâm - đặc sản quế, hồi ở các huyện miền Đông

Ngành hải sản chuyển mạnh sang khai thác sản phẩm có giá trị xuất khẩu sang một số nước Đông Nam Á Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản hàng năm tăng 16% và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh [28, tr.16]

Sản xuất Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Ngư nghiệp, 5 năm qua đã đầu tư

cơ sở vật chất kỹ thuật, tiếp tục xây dựng hệ thống thuỷ lợi, đưa diện tích đất canh tác được tưới chủ động lên 60% Tỉnh hỗ trợ ngân sách mua vật tư, phân bón, giống mới, chú trọng công tác khuyến nông, mở rộng diện cho nông dân vay vốn sản xuất cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, xác lập quyền tự chủ kinh tế hộ gia đình, năng lực sản xuất mới được phát huy Mặc dù thiên tai liên tiếp xảy ra, nhưng giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 4,75%/năm, lương thực có năm đạt hơn 160 ngàn tấn, đáp ứng cơ bản nhu cầu lương thực ở khu vực nông thôn Đàn gia súc, gia cầm hàng năm tăng 3-4%, góp phần đảm bảo nhu cầu thực phẩm của tỉnh

Lâm nghiệp có bước chuyển biến tích cực về tổ chức quản lý và tạo vốn phát triển rừng, hạn chế việc khai thác gỗ, lấy khâu bảo vệ rừng và trồng rừng làm trọng tâm 5 năm đã trồng 23 400 ha rừng tập trung, bình quân mỗi năm trồng 4 680 ha rừng và 3 - 4 triệu cây phân tán, (tăng 60% so với thời kỳ trước năm 1990) đạt mục tiêu đại hội đề ra Tỉnh đã huy động nhiều nguồn

Trang 21

vốn và công sức tổ chức giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế quản

lý, gắn với việc khoanh nuôi rừng tái sinh, xây dựng nhiều mô hình kinh tế vườn rừng có hiệu quả ở nhiều địa phương Tỷ lệ che phủ của rừng được nâng lên từ 17% lên 23%, từng bước ổn định và phát triển rừng theo hướng lâm nghiệp xã hội [28, tr.15]

Về ngư nghiệp, tiếp tục phát triển thêm năng lực, khai thác đánh bắt và chế biến hải sản Bằng nhiều hình thức mở rộng quy mô ngành nghề, tăng nhanh phương tiện khai thác, đến cuối năm 1995 đã có gần 4000 phương tiện, trong đó có 32 tàu lớn khai thác tuyến khơi, mỗi năm khai thác tư 12 - 13 ngàn tấn hải sản, tăng 28% so với năm 1990 Nghề nuôi trồng hải sản phát triển ở nhiều bãi ven biển, sông suối, đưa diện tích nuôi thả lên trên 14 000

ha, làm tăng nguồn thuỷ sản xuất khẩu, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho ngư dân [28, tr.14]

Về thương mại, du lịch và dịch vụ: du lịch và dịch vụ đã trở thành ngành kinh tế chủ yếu, phát triển năng động Hệ thống khách sạn cao cấp, các trung tâm du lịch Bãi Cháy, Tuần Châu, Trà Cổ… đang dần hình thành một trung tâm du lịch quốc tế đa dạng, phong phú

Thương mại, du lịch, kinh tế đối ngoại, thực hiện chính sách kinh tế mở hướng mạnh vào xuất khẩu, tỉnh đã kịp thời khai thác các lợi thế, đẩy mạnh mậu dịch biên giới, phát triển nhanh kinh tế cửa khẩu, mở rộng dịch vụ vận chuyển hàng hoá quá cảnh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng 26,6%, năm 1995 tăng hơn 3 lần năm 1990 Thị trường nội địa phát triển phong phú, đa dạng, nhất là ở thành phố Hạ Long và Móng Cái, tạo thành cầu nối lưu thông hàng hoá giữa nước ta với Trung Quốc và các nước trong khu vực Khối lượng hàng hoá lưu chuyển tăng nhanh; tổng mức bán lẻ trên thị trường xã hội tăng 4 lần so với năm

1990 Du lịch phát triển nhanh và đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Hàng năm doanh thu du lịch tăng bình quân 51%, số lượt khách tăng

Trang 22

52%, cơ sở vật chất của hệ thống kinh doanh du lịch từng bước phát triển với nhiều thành phần kinh tế tham gia… công tác đầu tư nước ngoài được các cấp, các ngành trong tỉnh quan tâm Đến hết năm 1995 có 19 dự án với tổng

số vốn trên 140 triệu USD được cấp giấy phép Các dự án chủ yếu trong các lĩnh vực du lịch, khai thác than, chế biến nông, lâm sản Viện trợ nước ngoài thu hút vào tỉnh với tổng số vốn khoảng 20 triệu USD, chủ yếu là phát triển các dự án phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, y tế, giáo dục ở một số vùng của tỉnh [28, tr.18]

Các thành phần kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch

Khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò nòng cốt trong nền kinh tế của tỉnh, chiếm 75% tổng số sản phẩm xã hội địa phương và là lượng chủ yếu đóng góp vào ngân sách nhà nước Kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp từng bước chuyển nội dung và phương thức quản lý Hợp tác xã tín dụng, tiểu thủ công nghiệp từng bước được khôi phục củng cố Kinh tế tư nhân tăng nhanh

cả về số lượng, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh [28, tr.17]

Sau 10 năm đổi mới, cùng với cả nước, tình hình kinh tế - xã hội ở Quảng Ninh đã thu được những thành tưụ đáng khích lệ, GDP phát triển với nhịp độ cao; cơ cấu ngành đã chuyển biến theo hướng giảm tỉ lệ nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ

1.2 Chủ trương của đảng cộng sản việt nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý góp phần xây dựng cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động phù hợp, tạo cơ sở để tiến hành phân công lao động, xã hội hoá lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá, tạo động lực thuỷ đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn đóng vai trò quan trọng để đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Trong

Trang 23

quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đặc biệt từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc về chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội C.Mác viết:

“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất [18, tr.7]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “Cơ cấu kinh

tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [65, tr.610]

Có các loại cơ cấu khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế, cơ cấu theo vùng, theo đơn vị hành chính lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng các yếu tố cấu thành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế là một hệ thống các yếu tố trong cơ cấu kinh tế vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động ràng buộc lẫn nhau; giai đoạn phát triển sau cao hơn giai đoạn trước

Nội dung cơ cấu kinh tế quốc dân có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực, nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: Cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế theo đơn vị hành chính lãnh thổ

Cơ cấu ngành kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nòng cốt của chiến lực phát triển kinh tế Nền kinh tế là tổng thể của ngành, lĩnh vực và các thành phần Trong ngành và lĩnh vực, quan trọng nhất

là ngành nông nghiệp và công nghiệp Hai ngành này muốn phát triển được phải thông qua hệ thống dịch vụ Do vậy cơ cấu kinh tế bao gồm ba ngành cơ bản:

Trang 24

Nông nghiệp bao gồm: nông nghiệp - lâm nghiệp - ngư nghiệp gắn liền

với phát triển toàn diện nông thôn, xây dựng nông thôn mới Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất chủ yếu, tạo ra sản phẩm thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thị trường rộng lớn cung cấp nhân lực, nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp, dịch vụ

Công nghiệp bao gồm công nghiệp chế tạo, công nghiệp khai khoáng

và luyện kim, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu; công nghiệp nguyên liệu, công nghiệp điện tử tin học… Công nghiệp đóng vai trò quyết định sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Do vậy công nghiệp được xếp vào vị trí hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thương mại - dịch vụ là cầu nối giữa sản xuất Nông nghiệp với Công

nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng; thực hiện quá trình trao đổi giữa các vùng

- miền, giữa thành thị với nông thôn, giữa trong nước với nước ngoài Trong quá trình sản xuất dịch vụ có vai trò đáp ứng đầy đủ các nhu cầu đầu vào và đầu ra của sản phẩm Dịch vụ thực hiện mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế Trình độ phát triển kinh tế hàng hoá ngày càng cao, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng thì tỷ lệ dịch vụ trong

cơ cấu kinh tế ngày càng lớn

Cơ cấu vùng kinh tế:

Cơ cấu vùng kinh tế thể hiện sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi vùng hình thành các vùng chuyên môn hoá, da dạng hoá nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng mang lại giá trị kinh tế Cơ cấu kinh tế gắn chặt với

cơ cấu ngành kinh tế, hợp thành hai mặt của một quá trình phát triển

Cơ cấu thành phần kinh tế:

Đảng ta chủ trương thực hiện xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó càng đòi hỏi tạo mối quan hệ

Trang 25

hợp tác, hỗ trợ giữa các thành phần kinh tế nhằm khai thác triệt để tiềm năng nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Việt Nam có 5 thành phần kinh tế cơ bản: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế tư nhân; kinh tế

tư bản nhà nước; kinh tế vốn đầu tư nước ngoài Theo Văn kiện Đại hội X, 5 thành phần kinh tế trên đều bình đẳng trước pháp luật, phát triển trong nền kinh tế quốc dân Sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

là tất yếu khách quan

Để có cơ cấu kinh tế hợp lý cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành một cách năng động, sáng tạo của Trung ương các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, miền để phát triển kinh tế - xã hội

Có nhiều tiêu chí để đánh giá thế nào là một cơ cấu kinh tế hợp lý,

trong đó có một số tiêu chí cơ bản sau: Thứ nhất, cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan; Thứ hai, cơ cấu kinh tế phản ánh được khả năng

khai thác, sử dụng hợp lý và phát huy được nguồn lực và tiềm năng của đất nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật

và công nghệ hiện đại; Thứ ba, cơ cấu kinh tế phải tạo được sự phát triển cân đối, phát huy được lợi thế của các vùng, các ngành kinh tế; Thứ tư, cơ cấu

kinh tế tạo được sự gắn kết giữa các loại thị trường trong nước và ngoài nước,

mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và phù hợp với xu thế kinh tế

chính trị của khu vực và thế giới; Thứ năm, cơ cấu kinh tế phải tạo được tích

luỹ ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, cùng với xã hội phát triển lành mạnh, giữ vững quốc phòng, an ninh

Lực lượng sản xuất nói chung luôn biến động phát triển trong quá trình tái sản xuất, vì thế cơ cấu kinh tế cũng thường xuyên biến đổi chuyển dịch

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “chuyển dịch

cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tư cấp tự túc, từng bước chuyên môn hoá hợp lý, trang bị kỹ

Trang 26

thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả việc cải biến cơ cấu ngành, vùng lãnh thổ và

cơ cấu các thành phần kinh tế” [65]

Nước ta là nước có nền kinh tế kém phát triển Do vậy việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa là đòi hỏi khách quan và vừa là con đường tất yếu để đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp hữu

cơ các điều kiện chủ quan, các lợi thế kinh tế - xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng trong đơn vị kinh tế với khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết liên doanh về sản xuất, dịch vụ

Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chịu nhiều đau thương mất mát trong nhiều năm chiến tranh giữ nước, muốn vươn lên theo kịp nền kinh

tế thế giới hiện đại, không muốn bị tụt hậu, nghèo đói, thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy Đảng ta đã khẳng định quan điểm nhất quán; công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm suốt thời kỳ quá độ

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đảm bảo quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trước hết

là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tạo cho nông nghiệp nông thôn những điều kiện cần thiết về vật chất - kỹ thuật, về con người, khoa học công nghệ

Trang 27

Một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xác lập cơ cấu kinh tế mới, hợp lý tiến lên hiện đại.Cơ cấu kinh tế mới là cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp

Nước ta hiện nay đang phát triển mạnh kinh tế thị trường vận hành theo

cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ chiến lược phù hợp với thực tiễn khách quan nhằm khai thác tối ưu lợi thế các ngành, các lĩnh vực, các vùng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Điều đó cũng có nghĩa là quá trình chuyển dịch nền kinh tế có cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là giá trị của sản xuất của ba ngành trên đều tăng qua các giai đoạn nhưng tỷ trọng nông nghiệp giảm dần trong cơ cấu kinh tế quốc dân, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng; sử dụng công nghệ cao với đội ngũ lao động trí tuệ ngày càng nhiều, tỷ lệ lao động nông nghiệp ngày càng giảm dần, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là một quá trình phức tạp và kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ đòi hỏi Đảng và nhà nước, các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương trong cả nước phải quan tâm lãnh đạo, phải tìm tòi để xây dựng được một cơ cấu kinh tế hợp

lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong những năm gần đây, nhờ hoạt động theo cơ chế mới với những bước đi hợp quy luật, cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch đúng hướng, tích cực và hợp lý hơn Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế xã hội cũng đang tồn tại nhiều hạn chế và chịu nhiều tác động của nền kinh tế thế giới Vì vậy để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ những quan điểm sau đây:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển phù hợp với mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 28

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải khai thác được tối ưu khả năng và thế mạnh của từng vùng kinh tế trong cả nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế Tập trung đầu tư đúng mức cho một số vùng kinh tế trọng điểm có khả năng thu hồi vốn nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo được quy mô hợp lý và bước đi thích hợp, chú trọng quy mô vừa và nhỏ, vốn đầu tư ít, tạo nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt chú ý hình thành và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, các ngành kinh tế mũi nhọn có công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo được một nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, có môi trường sinh thái bền vững, đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế gắn với tăng cường ổn định chính trị - xã hội và an ninh quốc phòng

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với xu hướng mở rộng quan

hệ hợp tác kinh tế quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tranh thủ khả năng thu hút vốn và công nghệ nước ngoài nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao gồm hai vấn đề cơ bản là áp dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất mới vào các ngành kinh tế; xác lập cơ cấu kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa có mối quan

hệ biện chứng, gắn bó với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi và là một trong những nội dung cốt lõi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và ngược lại công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật và là con đường, phương hướng, mục tiêu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ mà chủ yếu là sản xuất nông nghiệp lên một nền kinh tế công nghiệp

Trang 29

ngày càng hiện đại, có năng suất lao động cao, thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng thúc đẩy lực lượng sản xuất lao động, xã hội phát triển chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh

tế, đưa tới sự biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, kéo theo sự gia tăng nhân khẩu phi nông nghiệp và gia tăng tốc độ đô thị hoá

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là một trong những nội dung kinh tế cốt lõi trong toàn bộ sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng, của nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là nội dung, là điều kiện cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân

Trong lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh đều chỉ rõ mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động biện chứng thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển giữa hai ngành kinh tế cơ bản, công nghiệp và nông nghiệp Tháng 4-1962, trong Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá III), Người chỉ rõ: “Công nghiệp

và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế, cho nền công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và

đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [46, 545] Là một nước nông nghiệp truyền thống do đó phát triển nông nghiệp luôn được chú trọng hàng đầu trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định: “Phải lấy nông nghiệp làm chính nhưng phải toàn diện phải chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hoá, giáo dục, y tế… Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” [47, tr.396] Nông thôn phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm thì mới giàu có Nông thôn giàu có sẽ

Trang 30

tr.544-mua nhiều hàng hoá do công nghiệp sản xuất ra Đồng thời nông nghiệp cung cấp đủ nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và thành thị Như thế là, nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển đánh giá vai trò của kinh tế nông nghiệp, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn

là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay, cho nên phải cải tạo và phát triển thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác Phải cải tạo và phát triển nông nghiệp để tạo điều kiện cho việc công nghiêp hoá nước nhà Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới có thể phát triển mạnh mẽ” [46, tr.14-15] Nông nghiệp là cơ sở cho sự phát triển công nghiệp, đồng thời, nông nghiệp cũng chỉ phát triển được khi có sự tác động hỗ trợ của công nghiệp, do đó phải chú trọng phát triển công nghiệp - công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ khăng khít giữa nông nghiệp và công nghiệp đã trở thành nền tảng, cơ sở quan trọng để xây dựng chủ trương, đường lối về phát triển các ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế hợp lý phù hợp với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ

Nhận thức và quán triệt những nguyên lý phổ biến có tính quy luật về con đường công nghiệp hóa đưa nền kinh tế sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại ở các nước tiểu nông của chủ nghĩa Mác-Lênin cùng với những tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng ta là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện qua các kỳ đại hội, các hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị khoá VI, VII, VIII, IX, X

Trang 31

Với tinh thần đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, tại Đại hội VI (12-1986) để đưa nền kinh tế phát triển, Đảng ta đã chỉ rõ: “Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phát dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định” [18, tr.47]

Trong cơ cấu kinh tế, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến lên một bước theo hướng sản xuất lớn; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ Đây là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là bước đột phá trong tư duy và nhận thức đổi mới về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ mới của Đảng Đại hội cũng đã đề ra

3 chương trình kinh tế lớn: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Tiếp đó tại Hội nghị Trung ương 3 khoá VI (8/1987), Đảng ta đã đề ra nghị quyết “Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế” Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày 5-4-1988, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 10 “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Nghị quyết 10 là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển biến về chất, góp phần quan trọng xoá bỏ

cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, tạo tiền đề cần thiết cho sự hình thành nền nông nghiệp hàng hoá Nghị quyết 10 chủ trương sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp và lâm nghiệp, ngư nghiệp; gắn nông - lâm - ngư nghiệp với công nghiệp chế biến và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; gia đình xã viên trở thành những đơn

vị kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp

Trang 32

đồng khác với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất, kinh doanh dưới nhiều hình thức

Tháng 6-1991, tại Đại hội VII, Đảng ta đã tổng kết thành tựu 5 năm đổi mới, khẳng định một trong những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế là:

“Những kết quả thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế gắn liền với những chuyển biến tích cực trong việc cơ cấu đầu tư và bố trí lại cơ cấu kinh tế” [19, tr.19-20]

Cũng tại Đại hội này, Đảng ta đề ra những định hướng lớn trong chính sách kinh tế trong đó có quan điểm phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, thoát khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu như sau: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội; tăng tốc độ

và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế dịch vụ theo hướng huy động triệt để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đẩy mạnh thăm dò khai thác, chế biến dầu khí và một số loại khoáng sản, lựa chọn để phát triển một số ngành công nghiệp ưu tiên, phát triển điện, giao thông và thông tin liên lạc

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII cũng chỉ rõ: “Khi kết thúc thời kỳ quá độ,

hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng” [19, tr.12] Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nền kinh tế quốc dân sẽ gồm nhiều ngành nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ, công nghệ Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Đẩy mạnh công nghiệp hóa sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển

Trang 33

kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Thực hiện chuyên môn hoá và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương Xây dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công nghiệp và nông nghiệp, thành thị và nông thôn phát triển giao lưu hàng hoá

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, nông thôn,

để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn, Hội nghị Trung ương 5 khoá VII (6/1993) ra Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng nông nghiệp - nông thôn nước ta với những thành tựu, hạn chế trong đó có những điều bất lợi về cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Nghị quyết đã xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục đổi mới nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới, đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đó Về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Nghị quyết xác định rõ: Phải đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn, phá vỡ thế độc canh cây lúa, phá vỡ cơ cấu thuần nông và xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp cân đối, hài hoà Nghị quyết nhấn mạnh: “Trên cơ sở xúc tiến công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn nói riêng mà thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn tăng nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ” [22, tr.63]

Tháng 7-1994, Hội nghị Trung ương 7, khoá VII Đảng ra Nghị quyết

“Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” Nghị quyết cụ thể hoá một bước Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng, đánh giá đúng thực trạng công nghiệp và công nghệ nước ta; xác định mục tiêu chủ trương

Trang 34

chính sách phát triển công nghiệp và công nghệ nước ta đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xác định rõ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang lao động sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động cao Nghị quyết chỉ rõ: “Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất

- kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp

với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [23, tr.70]

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khoá VII đã đưa ra 3 chủ trương lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm tới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến; phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác

Bước sang năm 1996 con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã ngày càng được xác định rõ hơn - cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh tế Nước ta cũng như các nước khác đều có những cơ hội để phát triển Xuất phát từ kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới, tại Đại hội VIII (6/1996) Đảng ta quyết định chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể Đại hội khẳng định: “Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh

Trang 35

tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, văn minh Từ nay đến năm

2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [24, tr.68]

Tại Đại hội này, Đảng ta nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập trung chuyên canh, xây dựng cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, bảo đảm an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến của thị trường trong và ngoài nước, hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi công nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại [24, tr.87]

Phát triển công nghiệp, ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính - viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, công nghệ, các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân “Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lich, thương mại, dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [24, tr.89]

Trang 36

Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Đẩy mạnh xuất khẩu

và coi xuất khẩu là hướng ưu tiên, là trọng điểm của kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới… [24, tr.90-91]

Đại hội VIII đề ra định hướng phát triển kinh tế, nhấn mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển hợp

lý các vùng lãnh thổ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng của nhiều vùng liên kết hỗ trợ nhau làm cho tất

cả các vùng đều phát triển

Tiếp đó, tháng 12 - 1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khoá VIII về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000” đã chỉ rõ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, hợp tác hoá, dân chủ hoá Nghị quyết xác định những việc cần tập trung thực hiện: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết vấn đề tiêu thụ nông sản, phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa

Ngày 10/11/1998 Bộ Chính trị khoá VIII ra Nghị quyết 06 - NQ/TƯ

“Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” Nghị quyết khẳng

định quan điểm, mục tiêu nhất quán của Đảng ta là: Coi trọng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp… đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cả trước mắt

và lâu dài Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, tạo thành liên kết nông - công nghiêp - dịch vụ và thị trường trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết phải giữ vững mục tiêu bảo đảm an

Trang 37

ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống Nghị quyết đề ra một số biện pháp để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Đẩy mạnh thâm canh lúa, từng bước hình thành các vùng tập trung sản xuất lúa năng suất, chất lượng cao gắn với chế biến; hình thành các vùng sản xuất tập trung cây công nghiêp, rau, hoa quả; khuyến khích kinh tế hộ, hợp tác xã và trang trại chăn nuôi quy mô vừa và lớn… đưa chăn nuôi thực sự trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp

1.3 Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1996 - 2000)

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ X (5 - 1996) đã nhận định những thuận lợi và khó khăn tác động đến phát triển kinh tế cả nước nói chung và kinh tế của tỉnh nói riêng: Tình hình thế giới đang tiếp tục diễn biến phức tạp, chúng ta đứng trước thời cơ mới và những thách thức mới Cùng với chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá, nước ta hội nhập với các nước trong khu vực, tạo ra môi trường vừa hợp tác, vừa cạnh tranh về mọi mặt

Những năm qua kinh tế Quảng Ninh tuy có bước tăng trưởng, nhưng so với yêu cầu thì còn ở mức thấp Nếu không tạo nên sự tiến bộ vượt bậc về xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội thì tỉnh sẽ có nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh, thành bạn trong cả nước và không tương xứng với tiềm năng của chính mình

Đại hội X nêu rõ: Quảng Ninh có những thuận lợi cơ bản: Nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, với vị trí địa lý thuận lợi, đó là những lợi thế lớn về thu hút đầu tư nước ngoài để xây dựng các ngành công nghiệp (than, xi măng, điện…) du lịch, thương mại… Với bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng kiên cường, với những thành tích và kinh nghiệm đã giành được, Đảng

bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh có nhiều điều kiện để tiếp tục

Trang 38

tiến lên trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nghiêp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

Xuất phát từ tình hình nói trên, căn cứ vào đường lối, chủ trương của Trung ương, Đại hội X đề ra nhiệm vụ của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh là: Phát huy những thành tích đạt được, tiếp tục khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tranh thủ thời cơ, mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và du lịch, phát triển và tăng cường nguồn lực kinh tế, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội; đổi mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền về kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, từng bước nâng cao đời sống nhân dân và tạo điều kiện cho bước phát triển trong những năm 2000

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X xác định mục tiêu cụ thể: Từ nay đến năm 2000, phấn đấu thực hiện những mục tiêu chủ yếu: Nhịp độ tăng trưởng kinh tế GDP hàng năm 12 - 13% (Khi có điều kiện, đưa lên cao hơn); giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13 - 14%; giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 5%; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm

18 đến 20%; đưa tỷ trọng công nghiệp và du lịch, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế lên từ 85 - 90%; phấn đấu thu nhập sản phẩm xã hội GDP bình quân tính theo đầu người tăng gấp 2 lần so với hiện nay (550 - 600 USD/người); giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm bình quân 0,06%

Đại hội nhấn mạnh: Để đạt được những mục tiêu trên, Đảng bộ và nhân dân tỉnh ta cần nêu cao ý trí tự lực tự cường, tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, chính phủ, sự giúp đỡ, phối hợp của các Bộ, Ban, ngành Trung ương và các địa phương, tạo nguồn lực tài chính, khai thác mọi

Trang 39

tiềm năng sẵn có, tập trung đầu tư cho sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội; tiếp tục xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng, các trung tâm thương mại, đổi mới cơ cấu kinh tế, theo hướng phát triển công nghiêp, du lịch, dịch vụ, kinh tế biển, củng cố và phát triển các doanh nghiệp nhà nước trong một số ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; đổi mới và phát huy vai trò của kinh tế hợp tác xã theo hướng đa dạng từ thấp tới cao Khuyến khích mở rộng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tạo thêm nhiều việc làm, sản xuất những sản phẩm có giá trị Mở rộng hoạt động đối ngoại và kinh tế đổi ngoai, tích cực thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Nâng cao chất lượng công tác giáo dục - đào tạo,

y tế, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, coi trọng ứng dụng khoa hoc - kỹ thuật, tích cực bảo vệ môi trường Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, bảo vệ toàn vẹn vùng biên giới, biển đảo, giữ vững trật tự, trị an, làm thất bại âm mưu và thủ đoạn

“Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch Kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội

Mục tiêu chiến lược lâu dài được Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh xác định là: Phấn đấu đưa Quảng Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp và du lịch hiện đại,

có cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, đời sống nhân dân ngày một nâng cao Trong 5 năm tới phương hướng phát triển kinh

tế ở tỉnh ta là: phát triển toàn diện các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ - du lịch, nhưng lấy ngành công nghiệp và du lịch làm

trọng tâm [33, tr.45]

Về công nghiệp, sắp xếp tổ chức lại các doanh nghiệp, đầu tư chiều sâu

để phát huy năng lực và nâng cao hiệu quả các cơ sở sản xuất hiện có Phát triển các ngành nghề, tập trung vào khai thác, chế biến than, khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng; nâng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; đẩy mạnh công nghiệp cơ khí, đóng tàu, cảng biển Huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển một số

Trang 40

ngành sản xuất ra những sản phẩm mới, có chất lượng phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Đối với tỉnh Quảng Ninh sản xuất than là ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh… Phối hợp chặt chẽ với ngành than để phát triển sản xuất than, gắn với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, vừa tăng năng suất, sản lượng, vừa tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường Kiến nghị với nhà nước hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đồng thời chủ động, linh hoạt trong việc tạo vốn đầu tư xây dựng cơ bản, phục hồi năng lực sản xuất; cải tạo, nâng công suất các mỏ hiện

có và phát triển thêm một số mỏ mới Nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng vốn thiết bị, hạ giá thành sản phẩm Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật, ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân mỏ Phấn đấu đạt sản lượng 9 đến 10 tấn than sạch vào năm

2000 Quy hoạch các vùng khai thác và tiêu thụ than một cách hợp lý, thực hiện tốt luật khoáng sản Áp dụng các biện pháp tích cực để lập lại trật tự trong khai thác và tiêu thụ than; đồng thời có biện pháp đầu tư, mở rộng sản xuất để tạo việc làm cho người lao động Nghiên cứu và áp dụng các giải pháp để hoàn thành việc di chuyển cảng than và các bãi chứa than ở trung tâm thành phố Hạ Long về khu vực Nam Cầu Trắng Khảo sát, xác định lại trữ lượng tài nguyên, khoáng sản; nghiên cứu thị trường để có phương án đầu tư một cách có hiệu quả; mở rộng khai thác, chế biến đá cao lanh Tấn Mài và một số loại khoáng sản có giá trị kinh tế khác Phát triển mạnh ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, lấy đó làm khâu đột phá để phát triển công nghiệp của tỉnh Trước mắt tập trung đầu tư xây dựng Nhà máy xi măng công suất 1,5 triệu tấn/năm ở Hoành Bồ Hoàn thành đưa vào sử dụng các cơ sở sản xuất xi măng 8,8 triệu tấn/năm ở Uông Bí Cùng Bộ Xây dựng lập dự án, huy động vốn trong nước và nước ngoài xây dựng các nhà máy xi măng công suất lớn, công nghệ hiện đại Phấn đấu để sau năm 2000 có sản lượng mỗi năm 2 -

3 triệu tấn xi măng Tiếp tục đầu tư chiều sâu sản xuất gạch ngói và các loại vật liệu khác theo quy hoạch; sớm hoàn thành xây dựng nhà máy Gạch Hải

Ngày đăng: 29/12/2015, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Xuân Ảnh (2006), Thị trường du lịch ở tỉnh Quảng Ninh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường du lịch ở tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Trần Xuân Ảnh
Năm: 2006
2. Vũ Đình Bách (1998), Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Bách
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
3. Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hạ Long (1996), Báo cáo chính trị nhiệm kỳ 1996 - 2000, lưu hành nội bộ, Hạ Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị nhiệm kỳ 1996 - 2000
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hạ Long
Năm: 1996
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1994), Phát triển công nghiệp công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triển công nghiệp công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1995), Tìm hiểu về kinh tế thị trường, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về kinh tế thị trường
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
7. Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh (2003), Quảng Ninh 40 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Ninh 40 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2003
9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001), Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam 2000, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam 2000
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2001
10. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường - Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ (1996), Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường - Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
12. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (1991), Thống kê số liệu các năm 1986 - 1990, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số liệu các năm 1986 - 1990
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1991
13. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (1997), Niên giám thống kê 1996, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1996
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1997
14. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2006), Thống kê số liệu các năm 1999 - 2005, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số liệu các năm 1999 - 2005
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2006
15. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2008), Niên giám thống kê Quảng Ninh năm 2007, Nxb. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Quảng Ninh năm 200
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2008
16. Vũ Đức Cường (2003), Phát triển kinh tế du lịch ở Quảng Ninh thực trạng và giải pháp, Luận văn chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế du lịch ở Quảng Ninh thực trạng và giải pháp
Tác giả: Vũ Đức Cường
Năm: 2003
17. Văn Danh (2000), “Làm gì để phát triển công nghiệp không khói”, Báo đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để phát triển công nghiệp không khói”
Tác giả: Văn Danh
Năm: 2000
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
62. Tổng cục Thống kê (2001), Websites http://wwwVietNamTourism.com Link
64. Tổng cục Thống kê (2008), Websites http://www.gso.gov Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.2. Bảng giá trị sản lƣợng công nghiệp toàn tỉnh - đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế ở địa phương 1996 2006
Bảng 1.1.2. Bảng giá trị sản lƣợng công nghiệp toàn tỉnh (Trang 16)
Bảng 1.3.1. Doanh thu và tốc độ tăng trưởng thị trường du lịch - đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo chuyển dịch kinh tế ở địa phương 1996 2006
Bảng 1.3.1. Doanh thu và tốc độ tăng trưởng thị trường du lịch (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w