Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu Nghiên cứu đề tài “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc 1945-1954” để thấy được quan điểm và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí M
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM NGUYÊN PHƯƠNG
HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC
1945 - 1954
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS LÊ MẬU HÃN
HÀ NỘI, 2007
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC
DÂN TỘC, DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA (1945-1946)
4
1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân
chủ những năm 1945-1946
9
Chương 2 HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC
KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC (1946-1954) 21
2.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng nền giáo dục kháng chiến
2.1.1 Chủ trương chuyển hướng giáo dục phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến
21
2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo củng cố và phát triển nền giáo dục
Chương 3 Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN TỪ SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG
NỀN GIÁO DỤC KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC CỦA HỒ CHÍ MINH 59
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc (1945-1954)” để thấy được quan điểm và sự chỉ đạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ phục vụ
sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp như thế nào
Trên cơ sở nghiên cứu như vậy, tìm hiểu giá trị thực tiễn và lý luận
từ sự nghiệp xây dựng nền giáo dục kháng chiến kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là sự nghiệp xây dựng nền giáo dục kháng chiến kiến quốc 1945-1954 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hoặc nói cách khác là, sự ra đời, phát triển và thành tựu đạt được của nền giáo dục Việt Nam từ 1945 đến 1954 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên 50 năm qua, nhiều tác giả, phần lớn là cán bộ cao cấp ngành giáo dục đã nghiên cứu về hoạt động giáo dục ở nước ta từ năm 1945 trở lại đây Điểm tên một số công trình theo thời gian: Năm 1946, Vũ Đình Hòe có bài
"Chính sách giáo dục mới và sự tổ chức các bậc học” (in trong quyển “Khoa
cử và giáo dục”, Nxb.Văn hoá, Hà Nội, 1993, do Nguyễn Q Thắng soạn); Năm
1947, Nguyễn Khánh Toàn viết cuốn "Giáo dục dân chủ mới" do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản; năm 1968, Hoàng Ngọc Dy có tập "Giới thiệu mấy nét về đường lối giáo dục của Đảng" NXB Giáo dục phát hành; năm 1990, NXB Giáo dục cho in cuốn "Những bài nói và viết về giáo dục" của Nguyễn Văn Huyên, và cuốn "45 năm phát triển giáo dục Việt Nam" của Phạm Minh Hạc; năm 1992, Phạm Minh Hạc (chủ biên) viết "Sơ thảo lịch
Trang 4Viết về giáo dục thời kỳ kháng chiến 1945-1954, có bài "10 năm xây dựng nền giáo dục phục vụ nhân dân" của Nguyễn Văn Huyên in trong tin Thông tấn xã Việt Nam tháng 12/1955 và chuyên đề "Quá trình xây dựng
và phát triển nền giáo dục Việt Nam mới từ tháng 9/1945 đến tháng 7/1954" của Đỗ Thị Nguyệt Quang (làm luận án tiến sỹ) năm 1996
Những tác phẩm trên nghiên cứu về sự phát triển của nền giáo dục mới của nước ta ở những phương diện tương đối rộng theo phương pháp chung là mô tả và phân tích lịch sử
Đề tài "Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc 1945-1954", với góc độ của Bộ môn Lịch sử Đảng, sẽ nghiên cứu sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với một nhiệm vụ cách mạng quan trọng của Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là nhiệm vụ xây dựng nền giáo dục kháng chiến kiến quốc
Như vậy, đề tài lấy sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với giáo dục kháng chiến kiến quốc làm chủ thể
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Tài liệu: Gồm các văn bản viết và nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
giáo dục và có liên quan đến giáo dục, các báo cáo, thống kê, ghi chép về giáo dục thời kỳ 1945-1954, các giáo trình và tác phẩm nghiên cứu về giáo dục…
Phương pháp: Theo phương pháp lịch sử, mô tả, phân tích các sự kiện
về giáo dục theo trình tự thời gian, theo một hệ thống biện chứng, có sự đối chiếu, so sánh để làm rõ logic của mối quan hệ giữa Lãnh tụ và hoạt động giáo dục
5 Những đóng góp khi nghiên cứu
Luận văn mong muốn đóng góp:
- Làm rõ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc 1945-1954
- Nêu những bài học có giá trị lý luận về giáo dục trên cơ sở tìm hiểu quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 5- Nêu những kiến nghị khả dĩ là giải pháp cho những hạn chế của hoạt động giáo dục hiện nay
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần trung tâm của Luận văn có 3 chương:
Chương 1 Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền giáo dục dân tộc,
dân chủ ở nước ta (1945-1946)
Chương 2 Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền giáo dục kháng
chiến kiến quốc (1946-1954)
Chương 3 Ý nghĩa thực tiễn và lý luận từ sự nghiệp xây dựng
nền giáo dục kháng chiến kiến quốc của Hồ Chí Minh
Trang 6Chương 1
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC
DÂN TỘC, DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA (1945-1946) 1.1 Chính sách ngu dân của thực dân Pháp
Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp đã đưa hạm đội nổ súng tấn công vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Quân đội của chúng lần lượt chiếm Nam kỳ, Bắc kỳ, Trung kỳ Triều đình Nhà Nguyễn bạc nhược không thể tổ chức được cuộc kháng chiến bảo vệ
Tổ quốc Trái lại, họ phản bội dân tộc, từng bước thoả hiệp, đầu hàng
kẻ xâm lược bằng những hiệp ước bán nước
Nhân dân Việt Nam với truyền thống bất khuất, đã đứng lên chiến đấu dưới ngọn cờ nghĩa của các sỹ phu yêu nước ở cả ba miền Nam, Trung, Bắc Nhưng các cuộc khởi nghĩa đó chưa có một đường lối chính trị đúng đắn để phát huy sức mạnh của dân tộc, nên chưa giành được thắng lợi Việt Nam đã trở thành một thuộc địa của Pháp Nhân dân Việt Nam mất hết quyền độc lập, tự do, và phải chịu những chính sách thống trị của thực dân Pháp vô cùng xảo quyệt và tàn bạo
Trong đó, ngu dân là một chính sách thống trị độc ác, nham hiểm của thực dân Pháp đối với dân tộc ta
Chính sách này, chúng thực hiện chủ yếu bằng việc kìm hãm và
nô dịch nền giáo dục ở Việt Nam
* Dưới thời phong kiến tự chủ, nhân dân ta đã cố gắng tự thu xếp việc học hành của con em mình bằng những trường tư trong dân gian và đã đóng góp nhiều trí thức tài năng cho đất nước Nhưng “Người Pháp đến đã làm thay đổi tất cả Đời sống càng ngày càng khó khăn Thuế má nặng nề, phu dịch thường xuyên Các gia đình khá giả nay bị sa sút, không còn có thể nuôi thầy đồ dạy học cho con cái mình và con cái những người láng
Trang 7giềng như xưa nữa Những kẻ nghèo đói thì bị bần cùng, nên họ phải chống đói đã rồi mới có thể nghĩ đến chuyện học hành ” [34,398]
Năm 1906, Toàn quyền Đông Dương Pôn Bô đã ban hành một Nghị định về cải cách giáo dục Mục đích của cuộc cải cách này là tìm cách xây dựng một nền giáo dục thực dân, dần dần thay thế nền giáo dục bản địa là nền giáo dục mà người Pháp khó kiểm soát
Ở Nam kỳ (theo chế độ thuộc địa của Pháp), đa số các tổng, xã đều có trường tiểu học Pháp-Việt dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ Chữ Hán hầu như bị bãi bỏ
Ở Trung kỳ và Bắc kỳ là hai xứ thuộc chế độ chính trị bảo hộ và nửa bảo hộ của Pháp, số trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ còn thưa thớt, trong khi đó, trường dạy chữ Hán còn khá nhiều, nhất là ở Trung kỳ
Để lợi dụng phong kiến trong hệ thống cai trị và bóc lột, thực dân Pháp để tồn tại chế độ khoa cử của nhà Nguyễn đến gần hết thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX
Năm 1906, Pháp đã mở Đại học Đông Dương, song chỉ đào tạo được một năm, sau ngừng đào tạo
Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương Anbesarô mở đầu cho cuộc cải cách giáo dục tiếp theo bằng việc ban hành Nghị định “Học chính tổng quy” (gồm 7 chương với 538 điều) Bộ tổng quy về học chính này can thiệp sâu hơn vào hoạt động giáo dục, thâu tóm quyền lực và biểu đạt ý chí
nô dịch giáo dục của thực dân Pháp: xoá bỏ nền giáo dục phong kiến, xác lập mô hình giáo dục phổ thông và thực nghiệp ở Việt Nam do thực dân quản lý Chúng lập ra trường Pháp để dạy học sinh người Pháp theo chương trình của “Chính quốc”, lập ra trường Pháp - Việt dạy cho học sinh người Việt theo chương trình dành cho “bản xứ ”
Năm 1919, nhà cầm quyền Pháp ra lệnh bãi bỏ thi hương, thi hội và cấm các trường tư hành nghề (trừ trường tư Thiên chúa giáo của các cố đạo phương Tây) Chúng cho một số xã đông dân được mở trường sơ học với một vài lớp đầu cấp, một số huyện lỵ, thị trấn, thị xã được mở trường tiểu
Trang 8phổ thông cơ sở ngày nay), Hà Nội, Huế, Sài gòn mỗi thành phố được mở một trường cao trung (như trường trung học phổ thông ngày nay) Việc quy định mở trường như vậy là rất độc đoán, ngặt nghèo
Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương Méclanh lại thực hiện một cuộc cải cách giáo dục nữa Cuộc cải cách này thắt chặt hơn, bộc lộ đầu óc thực dân thâm hiểm hơn về chính sách giáo dục Chúng nói rằng người Việt Nam rất hạn chế về sức học, nên chỉ cần mở trường sơ học là đủ (!) Ở Bắc kỳ cho mở trường “hương học”, ở trung kỳ cho mở trường “dự bị”, ở Nam kỳ cho mở trường “phù trợ dự bị”, ở thị trấn, thị xã được mở lớp “kiêm bị” Tất cả các hệ thống trường lớp này, về chương trình đều không quá trình độ lớp 4 hiện nay Còn các trường cao đẳng tiểu học, trường trung học chỉ có ở những thành phố lớn, nhưng số lượng trường hết sức ít ỏi Ví dụ, ở thành phố Huế
có trường Cao đẳng tiểu học Quốc học Huế, ở thành phố Hà Nội có trường Trung học Anbe sarô
Rõ ràng, thực dân Pháp cố tình kìm hãm giáo dục ở nước ta bằng cách hạn chế tối đa việc mở trường Năm 1921, theo một thống kê được đưa ra công luận là ở xứ An Nam cứ trung bình 1000 làng thì có 10 trường học (trong khi đó lại có 1500 đại lý rượu và thuốc phiện cũng cho bấy nhiêu làng ấy) [34,25]
Năm 1923, nạn thiếu trường học vẫn diễn ra “một cách tệ hại”, “mỗi năm, cứ đến ngày khai trường, các bậc cha mẹ dù có đi gõ cửa khắp nơi, cầu xin mọi sự giúp đỡ, thậm chí xin nộp gấp đôi tiền ăn học mà họ vẫn không gửi được con cái đến trường Người ta nói rằng ngân sách không
đủ cho chính phủ xây thêm trường mới Không hẳn thế đâu.” [34,154] Năm 1939, được coi là năm đỉnh cao của sự phát triển kinh tế và xã hội ở Đông Dương, mà ở nước ta cũng chỉ có hơn 400.000 học sinh tiểu học, 3000 học sinh trung học, 582 học sinh đại học trên tổng số 23 triệu dân lúc đó [52,160] Năm học 1941-1942, tức là vào thời điểm sau hơn 80 năm được “khai hoá” về giáo dục, theo Niên giám thống kê Đông Dương, tập 7, năm 1942, người Pháp mới đầu tư mở được 8.775 trường sơ học với 486.362 học sinh,
Trang 9503 trường tiểu học với 58.629 học sinh, 16 trường cao đẳng tiểu học với 5.521 học sinh, 3 trường trung học với 652 học sinh
Năm 1942, bậc sơ học gồm cả trường công và trường tư có 535.037 học sinh, trong khi đó, bậc trung học (không có trường tư vì trường tư không được mở) chỉ có 652 học sinh Nghĩa là cứ 100 người đi học thì 99 người phải bỏ dở giữa chừng!
Việc mở trường cao đẳng và đại học có tính chuyên nghiệp thì nhà cầm quyền lại càng tính toán và hạn chế Đến cuối năm học 1943-1944, cả Đông Dương chỉ có 1259 sinh viên cao đẳng và đại học ở các trường Y dược, Thú y, Sư phạm, Nông lâm, Công chính, Thương mại, Khoa học, Luật khoa Trong số 1259 sinh viên, thì sinh viên Luật khoa là 394, Cao đẳng khoa học là 175, Cao đẳng công chính 84, Nông lâm 63, Thú y 39… [14,137] Rõ ràng người Pháp có dụng ý về mục tiêu đào tạo Họ cần nhiều sinh viên Luật để bổ sung vào đội ngũ công chức hành chính của bộ máy cai trị
Việc đi du học lại càng ngặt nghèo và thu hẹp Toàn quyền Đông Dương trực tiếp phê học bạ, xét hồ sơ và quyết định từng trường hợp học sinh An Nam sang học tại Pháp
“Điều 500 (Bis) của nghị định ngày 20 tháng 6 năm 1921 về học chính
ở Đông Dương nói như sau:
Mọi người bản xứ, vô luận là dân thuộc địa Pháp hay dân do Pháp bảo
hộ, muốn sang chính quốc tiếp tục học tập, đều phải được phép của quan toàn quyền Quan toàn quyền sẽ quyết định sau khi hỏi ý kiến quan thủ hiến và quan giám đốc Nha học chính
Trước khi đi, đương sự phải có một học bạ đại học do Nha học chính cấp, có dán ảnh và ghi rõ lý lịch, địa chỉ cha mẹ, những trường đã học, các học bổng hoặc trợ cấp đã được hưởng, các bằng cấp đã có và địa chỉ người bảo lãnh ở Pháp Học bạ đó phải được quan toàn quyền phê chuẩn ” [34,155 ]
Trang 10* Thực dân Pháp chẳng những đã hạn chế việc học hành của dân chúng bằng cách chỉ phổ cập nền giáo dục sơ đẳng “một cách quá bủn xỉn
và nhỏ giọt” mà còn chú trọng đưa nội dung nhồi sọ vào chương trình và hoạt động giáo dục “làm cho u mê để thống trị” Đó là thực trạng và bản chất của nền giáo dục ở Việt Nam thời Pháp thống trị
Nhà cầm quyền Pháp đã cố tâm hủy bỏ Hán học vì chúng thấy Hán học có thể đưa vào Việt Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây qua Trung Quốc và Nhật Bản, Hán học đã đào tạo một lớp sỹ phu lãnh đạo phong trào chống Pháp đầy dũng khí Do đó, chúng đẩy mạnh việc chiếm độc quyền về giáo dục, để gạt bỏ cái gì là bản lĩnh dân tộc và nhào nặn tinh thần vong bản cho người dân thuộc địa
Nhồi sọ là nội dung căn bản nhất của nền giáo dục nô lệ, của chính sách ngu dân “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên
An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ, mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược, người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình Nó làm cho thanh niên trở nên ngu ngốc Điều
gì có thể rèn luyện được cho học sinh biết suy nghĩ, biết phân tích thì người
ta không dạy ở nhà trường Vấn đề nào có liên quan đến chính trị, xã hội và
có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi ” [34,399] Những thủ đoạn độc ác của thực dân Pháp làm cho nhân dân ta bần cùng, khốn khổ không thể đi học được, và cố tình thu hẹp trường lớp để gạt
ra hàng loạt những học sinh có năng lực học tập mà không có chỗ học đã dẫn đến một hậu quả hết sức đen tối “Nạn mù chữ và thất học trầm trọng khắp trong nước: 95% dân chúng không biết đọc, biết viết, số học sinh tiểu học chỉ bằng 0,80% dân số, số học sinh trung học chưa đầy 0,30% dân số”
Trang 11[29,1117] “Còn đối với trí thức thì tuy rằng thực dân và phong kiến cũng trực tiếp bóc lột về vật chất, song chúng dành một tí ti cái chúng bóc lột được để mua chuộc trí thức Nhưng chúng áp bức bóc lột trí thức tàn tệ về mặt tinh thần Chúng đã làm cho trí thức xa rời thực tế, xa rời nhân dân Chúng đã làm cho một số trí thức mơ màng đến nỗi quên nước mình bị nô
lệ, quên tự mình là nô lệ, không phân biệt được ai là bạn, ai là thù, không phân biệt được thế nào là sai, là đúng Đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân và phong kiến” [40,146]
Tuy nhiên, nền giáo dục ở nước ta trong thời Pháp thống trị cũng làm nảy sinh những hệ quả ngoài mong muốn của kẻ thù Đó là sự xuất hiện một bộ phận trí thức tân học có tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc, trong
đó có những người rất tiên tiến, đã biết chớp thời cơ học tập, rèn luyện văn hoá, để khi có điều kiện thì đem tài năng và nhiệt tâm đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc Họ tự nguyện tham gia các phong trào yêu nước như phong trào đòi ân xá chính trị phạm, phong trào để tang nhà ái quốc Phan Châu Trinh Họ theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh làm cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và kiến thiết nước nhà
*
* * Tóm lại, nền giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thống trị là nền giáo dục nô dịch do thực dân Pháp chủ trương và kiểm soát Chúng kiềm chế việc mở mang trường lớp, và nhồi sọ về nội dung giảng dạy với mục đích làm cho nhân dân ta u mê, cam chịu, mất ý thức tự chủ, giảm sút tinh thần đấu tranh tự giải phóng
Nền giáo dục nô dịch ấy đã được xoá bỏ từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và được thay bằng một nền giáo dục mới, nền giáo dục dân tộc, dân chủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo, đã đem lại các giá trị tinh thần tốt đẹp, mới mẻ cho nhân dân Việt Nam
1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ ở nước ta những năm 1945-1946
Trang 121.2.1 Quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi đau khổ của người dân mất nước, thấu hiểu tầm quan trọng của trình độ văn hóa đối với một dân tộc nhược tiểu Người quan niệm: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
Vì thế, sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền thuộc về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập, tự do
Đó là một nền giáo dục mới, gồm nhiều ngành học, xuất phát từ hoàn cảnh và yêu cầu của dân tộc, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài phục
vụ sự nghiệp kháng chiến cứu nước và xây dựng Tổ quốc
Quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở để xác định tính chất, hướng đi và cách thức tổ chức nền giáo dục mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân Chúng hạn chế mở trường học, chúng không muốn cho dân ta biết chữ để lừa dối dân ta và bóc lột dân ta”, “muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để
có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”[37,36] Người lại nói: “Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh” [38,60] Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền giáo dục mới của dân tộc Việt Nam dưới chính thể dân chủ cộng hoà là nền giáo dục phải mở mang dân trí, phải làm cho đồng bào bị áp bức, bị nô lệ thoát khỏi nạn dốt, nạn thất học do hậu quả của chính sách ngu dân của bọn thực dân Pháp thống trị, đem lại hiểu biết và năng lực cho quần chúng nhân dân, để quần chúng nhân dân xây dựng đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương nền giáo dục mới phải đào tạo được nhiều nhân tài cho kiến quốc Vì rằng “sau 80 năm bị bọn Pháp thực dân dày vò, nước Việt Nam ta cái gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là
Trang 13rất cao Nay muốn giữ vững nền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào con đường kiến quốc Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kiến quốc có thắng lợi thì kháng chiến mới thành công Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới thắng lợi Kiến thiết cần có nhân tài” [37,99]
Cho nên, Đảng và Chính phủ ta cần phải xây dựng trên đất nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ “một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”, “một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có” của con người Việt Nam, nền giáo dục ấy sẽ góp phần xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm cho nước ta theo kịp các nước phát triển trên hoàn cầu, làm cho nước ta bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra: “trước học một đường, hành một nẻo Nay phải sửa chương trình làm sao để học thì hành được ngay”[38,59]
và “làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc” [39,266]
Các quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh
về mục đích và phương châm giáo dục, nhưng ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, bao giờ Người cũng chỉ ra cho giáo dục những mục đích cụ thể,
và theo đó phương châm cũng cụ thể
1.2.2 Chỉ đạo xây dựng nền giáo dục mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người lãnh đạo và quản lý điều hành cao nhất của đất nước từ khi nhân dân ta giành được chính quyền đã giải quyết gánh nặng “nội ưu ngoại hoạn, đủ sự gay go” [38,200] và xây đắp nên những thành tựu vẻ vang cho đất nước dân chủ cộng hoà non trẻ, trong đó có việc kiến thiết nền giáo dục mới, nền giáo dục dân tộc, dân chủ của Việt Nam
* Chống nạn mù chữ
Ngày 3/9/1945, chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ tại Thủ đô Hà Nội, một hội nghị do tình hình khẩn cấp, được tiến hành rất đơn
Trang 14“Sau tám mươi năm bị áp bức, bị bóc lột, và dưới chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật hành chính Nhưng điều đó không làm cho chúng ta lo ngại Chúng ta vừa làm vừa học, vừa học vừa làm Chắc rằng chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sữa chữa khuyết điểm Với lòng yêu nước và yêu nhân dân sâu sắc, tôi chắc chúng ta sẽ thành công” [37,7]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Tất cả có 6 vấn đề
Về giáo dục, Người nói: “Vấn đề thứ hai là nạn dốt” Là một trong
những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ
Nhưng chỉ cần ba tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng nước ta theo vần quốc ngữ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ ” [37,8]
Để thực hiện nhiệm vụ “chống nạn mù chữ” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, ngày 8-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ban hành Sắc lệnh số 20/SL quy định việc bắt buộc học chữ quốc ngữ trong toàn quốc, như sau:
“1 Trong khi đợi lập được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chính quốc gia từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người
2 Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ Quá hạn đó, một người dân Việt Nam nào trên 8 tuổi mà không biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ sẽ bị phạt tiền
3 Các khâu chi phí sẽ chia cho quỹ hàng tỉnh và hàng xã phải chịu” [57] Ngày 8-9-1945, Chính phủ đã ra sắc lệnh số 19/SL quy định tổ chức các lớp học buổi tối cho công nhân và nông dân Sắc lệnh 19/SL ghi rõ:
“1 Trong toàn cõi nước Việt Nam, sẽ thiết lập cho công nhân và nông dân những lớp học bình dân buổi tối
2 Trong hạn sáu tháng, làng nào và đô thị nào cũng đã phải có một lớp học dạy được ít nhất là 30 người.” [57]
Trang 15Để thống nhất nhiệm vụ chống nạn mù chữ, ngày 8-9-1945 Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 17/SL thành lập Ban Bình dân học vụ thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục Sắc lệnh 17/SL ghi rõ:
“1 Đặt ra một Bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam
2 Cử ông Nguyễn Công Mỹ làm giám đốc Bình dân học vụ” [57] Ngày 4-10-1945, nhân danh người đứng đầu Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân Việt Nam tham gia “chống nạn thất học” Người nói: “Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước
là 95 phần trăm, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ Như thế thì tiến
Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ ” [37,36]
Chủ trương “mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Hội đồng Chính phủ thông qua ngày 3-9-1945, lời kêu gọi “Chống nạn thất học” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 4-10-1945 cùng những sắc lệnh do Chính phủ ban hành nói trên đã tạo nên một sức
mạnh tinh thần và tổ chức cho giáo dục Bình dân học vụ
Phong trào Bình dân học vụ do vị Lãnh tụ tối cao của dân tộc phát động và nhân dân toàn quốc tham gia đã trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng khắp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt niềm tin vào anh chị em giáo viên Bình dân học vụ Họ là hội viên Hội truyền bá chữ quốc ngữ trước đây, là nam
nữ thanh niên, là tất cả những người đã biết chữ, dù là vợ hay là chồng, là anh hay là em, là cha mẹ hay con cái, là chủ nhà, chủ ấp , những người
“đã chịu cực khổ khó nhọc, hy sinh phấn đấu, để mở mang tri thức phổ
Trang 16Đối với những người đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất mực qúy trọng,
ca ngợi Người nói: “Anh em làm việc mà không có lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm Anh chị em là những người “vô danh anh hùng” Tuy vô danh nhưng rất hữu ích Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em Tôi mong rằng trong một thời kỳ rất ngắn, lòng hăng hái và sự nỗ lực của anh chị em sẽ có kết quả rất vẻ vang, đồng bào ta ai cũng biết đọc, biết viết Cái vinh dự đó thì tượng đồng, bia đá nào cũng không bằng ” [37,220]
Người đã viết vào đầu cuốn sách “Phương pháp và cách thức dạy vỡ lòng chữ quốc ngữ” do Nha Bình dân học vụ xuất bản năm 1946 những lời căn dạn cụ thể:
“Anh chị em giáo viên Bình dân học vụ cố gắng đọc kỹ sách này, rồi tận tâm dạy bảo đồng bào thất học, làm cho nạn mù chữ chóng hết
Thế là làm tròn một nghĩa vụ thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc” [37,234]
Đồng thời, Người khuyên bảo học viên Bình dân học vụ một cách
ân cần Người nói: “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi Phụ nữ lại càng phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng” [37,37]
Kết quả của chiến dịch diệt dốt từ mùa đông năm 1945 và trong năm
1946 mới là kết quả bước đầu nhưng hết sức vang dội
Ở Trung ương, Nha Bình dân học vụ đã mở các khoá huấn luyện để thống nhất quán triệt đường lối, phương châm, phương pháp, biện pháp giáo dục Bình dân học vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn:
Khoá “Hồ Chí Minh”, tháng 11 năm 1945, học viên từ Thanh Hoá trở
ra, 79 đại biểu, huấn luyện 17 ngày;
Khóa “Phan Thanh”, tháng 11 năm 1945, học viên Trung bộ, 67 đại biểu, huấn luyện 7 ngày;
Khoá “Đoàn kết”, tháng 7 năm 1946, học viên của 14 dân tộc thiểu số,
75 đại biểu, huấn luyện 30 ngày
Trang 17Ở địa phương, các Ty Bình dân học vụ tỉnh, Ban Bình dân học vụ huyện và Uỷ ban hành chính kiêm kháng chiến xã, phường tổ chức các lớp Bình dân học vụ ở các làng xóm, khu phố Mọi địa bàn đều có lớp sơ cấp dành cho người bắt đầu học (còn gọi là lớp i tờ) học từ a b c
Chỉ sau hơn một năm thực hiện giáo dục Bình dân học vụ, chúng ta đã
mở được 75.805 lớp học, có 97.604 người tham gia dạy học và hơn 2,5 triệu học viên đã biết đọc, biết viết [26,32]
* Xây dựng nền giáo dục Phổ thông
Ngay trong tháng 9-1945, Chính phủ đã cho khai giảng các trường học trong hệ phổ thông, đồng thời chuẩn bị chương trình cải cách hệ thống giáo dục cũ, từng bước phát triển giáo dục phổ thông thành một nền giáo dục đại chúng, đặt cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện của thế
hệ trẻ Việt Nam, những người công dân hữu ích của đất nước
Tháng 9-1945, nhân ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh cả nước Người đã dành tình cảm nồng hậu của “một người anh lớn” đối với “các em” là những người chủ tương lai của nước nhà Và, quan trọng hơn, Người đã chỉ ra cho học sinh các giá trị đích thực của một nền giáo dục có được “nhờ sự hy sinh của biết bao nhiêu đồng bào” Người nói: “từ giờ phút này giở đi các em được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa
là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các
em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” [37,32]
Người lại chỉ ra cho học sinh thấy rõ mục đích và ý nghĩa của nền giáo dục của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên
đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn
Trang 18cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong, chờ đợi ở các em rất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [37,33]
Bức thư đã chứa đựng những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền giáo dục mới, một nền giáo dục “hoàn toàn Việt Nam” Nền giáo dục ấy phải là một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của học sinh, phải nhằm mục đích xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho toàn dân tộc, phải làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu, phải hỗ trợ trong công cuộc phòng thủ đất nước
Từ năm học 1945-1946 trở đi, học sinh các trường phổ thông được tiếp tục học theo chương trình giáo dục cải cách của ông Hoàng Xuân Hãn
đã vạch ra trong thời kỳ Chính phủ Trần Trọng Kim, với một số điều chỉnh cần thiết do tình hình và yêu cầu mới (theo kế hoạch đến năm học 1951-
1952, sẽ có chương trình cải cách giáo dục phổ thông thay thế chương trình này)
Ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 44/SL về việc thành lập “Hội đồng Cố vấn học chính” Hội đồng Cố vấn học chính do Luật sư Vũ Đình Hoè, Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục làm Chủ tịch gồm khoảng 30 thành viên là những vị có kiến thức và lịch duyệt về vấn đề giáo dục đã giúp Bộ Giáo dục lĩnh hội và cụ thể hoá những tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền giáo dục kháng chiến kiến quốc trong việc hoạch định công việc và tổ chức trường lớp, chương trình cho giáo dục Hội đồng cố vấn học chính đã thảo luận về những dự án của Bộ trưởng
Bộ Quốc gia Giáo dục hoặc dự án của các tiểu ban (nghiên cứu về đại học, trung học, tiểu học, giáo dục chuyên nghiệp, bình dân học vụ, v v ), và khẩn trương nghiên cứu chương trình cải cách giáo dục Song, vì hoàn cảnh của đất nước, phải tiến hành chống thực dân Pháp ở miền Nam, phải giải quyết nhiều nhiệm vụ cấp bách có ý nghĩa sống còn của chế độ mới, nên đến cuối năm
1950 mới có đề án cải cách giáo dục đệ trình Hội đồng Chính phủ xét duyệt
Trang 19Theo sự chỉ đạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc gia Giáo dục đã tích cực thực hiện kế hoạch trong tháng 9-1945 khai giảng các trường phổ thông trong cả nước Kết quả, ở Bắc bộ và Trung bộ, trong năm học 1945-1946 đã mở được 5654 trường tiểu học với 206.784 học sinh,
25 trườn trung học với 7.514 học sinh [26,32] Trường Trung học phổ thông
ở tỉnh lỵ Hải Dương và Trường Trung học phổ thông ở tỉnh lỵ Thái Nguyên (thuộc Bắc bộ) là hai trường mới được thành lập ngày 11-11-1946 theo Nghị định 553/NĐ và 554/NĐ của Bộ Quốc gia Giáo dục
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trường ở khắp các nơi, các em hết thảy đều vui
vẻ vì sau mấy tháng giời nghỉ học, sau bao cuộc chuyển biến khác thường, các
em lại được gặp thầy gặp bạn Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam.” [37,32]
* Xây dựng nền giáo dục Đại học và Cao đẳng
Trước yêu cầu đào tạo nhân tài để phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, Nhà nước ta quyết định tiếp thu các cơ sở của Đại học Đông Dương,
kế thừa và cải tổ các trường đại học và cao đẳng cũ, phát triển thêm một số trường đại học mới, nhằm xây dựng một nền giáo dục đại học dân tộc, dân chủ của một nước Việt Nam độc lập, tự do
Dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phiên họp ngày 22-9, ngày 4-10, ngày 8-10 và ngày 8-11 năm 1945 của Hội đồng Chính phủ đã liên tiếp bàn định chủ trương khai giảng các trường Đại học, Cao đẳng cũ và thành lập thêm các trường Đại học mới, bàn định việc lựa chọn, bổ nhiệm giám đốc, giáo sư, giảng viên, và việc dùng tiếng mẹ đẻ để giảng dạy cho các trường đại học và cao đẳng ngay từ niên khoá 1945-1946
Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè, theo lệnh của Chính phủ đã công bố bằng một Nghị định của Bộ, từ ngày 15-11-1945 sẽ khai giảng các trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội: Đại học Y khoa, Dược khoa, Nha khoa, Cao đẳng Khoa học, Mỹ thuật, Canh nông, Thú y để đón sinh viên trở
Trang 20lại trường học tập, tiếp nhận sự đào tạo, rèn luyện của nhà trường theo những yêu cầu mới của đất nước, của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc
Các trường Đại học được lập quỹ tự trị theo Sắc lệnh số 43/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 10-10-1945 Quỹ này được Chính phủ trợ cấp hằng năm, và có thể tiếp nhận sự giúp đỡ của các nhà hảo tâm “Với tầm nhìn đúng đắn về vai trò quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn trong đời sống xã hội của một quốc gia độc lập, ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 45/SL thành lập Trường Đại học Văn khoa ở Hà Nội
do ông Đặng Thai Mai làm giám đốc, Trường Đại học Văn khoa Hà Nội có nhiệm vụ đào tạo giáo sư văn học cho các trường trung học và nâng cao nền văn học Việt Nam cho xứng đáng với một nước độc lập, để theo kịp các nước tiên tiến trên hoàn cầu” [25.84]
Trường Đại học Văn khoa Hà Nội có các khoa Triết lý, Việt học, Hán học, Sử ký, Địa dư Chính phủ cũng quyết định mở Lớp Cao đẳng Chính trị-
Xã hội đặt tại Trường Đại học Văn khoa trong khi chưa cải tổ được Trường Đại học luật khoa cũ Ngoài các nhà luật học, triết học, sử học, văn học, Bộ Quốc gia Giáo dục còn mời các nhà hoạt động chính trị đến giảng tại Trường Đại học Văn khoa và Lớp Cao đẳng Chính trị-Xã hội, trong số đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng giảng về Khoa Hiến pháp, đồng chí Võ Nguyên Giáp giảng về Khoa kinh tế
“Quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành lập Đại học Văn khoa theo Sắc lệnh số 45/SL, ngày 10-10-1945, là một sự kiện trọng đại đánh dấu mốc son lịch sử ra đời của các ngành đào tạo khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam.” [25,85]
Thực hiện chủ trương của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng ngày 15-11-1945, lễ khai giảng khoá học đầu tiên của Trường Đại học Việt Nam dưới chế độ dân chủ cộng hoà đã được tổ chức tại cơ sở Trường Đại học Đông Dương số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội Chủ tịch Hồ Chí Minh đến chủ toạ buổi lễ Một số quan khách quốc tế đại diện cho phái bộ cường quốc đồng minh cũng tham dự
Trang 21Ông Nguyễn Văn Huyên, Giám đốc Đại học vụ, đã đọc diễn văn khai mạc nêu lên ý nghĩa của nền đại học Việt Nam: “Buổi lễ hôm nay anh em giáo sư và sinh viên chúng tôi muốn là một dịp để tỏ cho thế giới biết rằng trong giờ phút nghiêm trọng của tiền đồ Tổ quốc lúc này, dân tộc Việt Nam, ngoài công cuộc đấu tranh bằng xương máu trên chiến địa cũng nỗ lực tham gia vào công cuộc tiến triển văn hoá của nhân loại Chúng tôi muốn rằng nền Đại học mới này là một lực lượng mạnh trong những lực lượng chiến đấu của dân tộc Việt Nam Chúng tôi muốn nó là một thành lũy để trường kỳ kháng chiến, phục hồi hoàn toàn lãnh thổ và giải phóng tinh thần cho dân tộc chúng tôi là một dân tộc văn hiến có ngoài nghìn năm lịch sử độc lập và đã tự gây nên được một nền văn minh đặc sắc trên ven bể Thái Bình Dương này” [29,12]
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau những cố gắng và sự khẩn trương của của Bộ Quốc gia Giáo dục, riêng ở bậc đại học, Ban Văn khoa có 253 sinh viên, Ban Chính trị-Xã hội có
529 sinh viên, tất cả các trường đại học có 1149 sinh viên chính thức và 270 sinh viên dự thính, đã bước vào học tập từ sau ngày 15-11-1945
Sự vận động để hình thành nền giáo dục mới của Việt Nam là sự vận động cách mạng Trong suốt quá trình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người định hướng và trực tiếp hướng dẫn thực hiện
Nền giáo dục mới ở nước ta là nền giáo dục dân tộc, dân chủ, nó là thành quả của Cách mạng Tháng tám -1945, là một mặt trận trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của dân tộc Việt Nam
Để xây dựng và phát triển nền giáo dục đó xứng tầm với một quốc gia độc lập, tự do, đi đúng đường lối cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-8-1946, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh 146/SL đặt những nguyên tắc căn bản, và quy định về các cấp học của nền giáo dục mới
Về nguyên tắc, Sắc lệnh nêu rõ: “Nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nền giáo dục duy nhất đặt trên ba nguyên tắc căn
Trang 22bản: đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ” [58]
Về tổ chức các cấp học, Sắc lệnh 146/SL quy định: sau bậc học ấu trĩ (giáo dục trẻ con dưới 7 tuổi), là ba cấp học: đệ nhất cấp, đệ nhị cấp, đệ tam cấp Đệ nhất cấp, là bậc học cơ bản, 4 năm, nhận học sinh từ 7 tuổi, năm thứ
4 thi lấy bằng giáo dục cơ bản, bậc học này cưỡng bách từ năm 1950, tuỳ theo tình hình kinh tế và xã hội trong nước mà tiến hành dần làm nhiều thời
kỳ Đệ nhị cấp gồm ngành học tổng quát và ngành học chuyên môn, ngành học tổng quát gồm bậc phổ thông (4 năm) và bậc chuyên khoa (3 năm), học xong thi lấy bằng tổng quát; ngành học chuyên môn gồm bậc thực nghiệm
và bậc chuyên nghiệp, hạn học ít nhất là 3 năm, chủ yếu đào tạo cán bộ thực tiễn Đệ tam cấp, là bậc đại học, hạn học ít nhất là 3 năm, học sinh học xong thi lấy bằng đại học sỹ hoặc bác sỹ Ngành sư phạm (được quy định trong Điều 9 của Sắc lệnh 146/SL) gồm sư phạm sơ cấp, sư phạm trung cấp, sư phạm cao cấp, đào tạo giáo viên cho các bậc học
Sắc lệnh 146/SL còn quy định ở tất cả các các bậc học, học sinh không phải trả học phí, và trong các kỳ thi tốt nghiệp, học sinh cũng không phải nộp một khoản nào, học sinh xuất sắc mà nghèo sẽ được học bổng của Chính phủ Với Sắc lệnh 146/SL về giáo dục của Chính phủ, nền giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có cơ sở pháp lý vững chắc để xây dựng, củng cố và phát triển
*
* *
Tóm lại, từ ngày Cách mạng thành công (19-8-1945) đến ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung sức mạnh tinh thần và vật chất vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa,
sự nghiệp đấu tranh chống lại âm mưu bành trướng và xâm lược của các thế lực đế quốc thực dân Trong sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đó, một nền
Trang 23giáo dục theo đường lối và sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được tổ chức hoạt động
Bình dân học vụ là con đẻ của Cách mạng tháng Tám, nhằm xoá nạn
mù chữ trong nhân dân đã nhanh chóng trở thành một phong trào sôi nổi, rộng khắp, lôi cuốn hàng triệu người tham gia, tạo nên một dấu ấn đẹp đẽ về một nền giáo dục dân tộc đại chúng
Giáo dục Phổ thông được đồng loạt khai giảng vào tháng 9 năm 1945 với chủ trương đem lại “một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” cho thế hệ trẻ, những công dân hữu ích của nước nhà trong tương lai
“Sự ra đời của nền giáo dục đại học Việt Nam ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đã đem lại cho giáo sư và sinh viên các trường đại học lúc bấy giờ một niềm tự hào sâu sắc về một nền đại học của một nước Việt Nam độc lập, tự do và là một động lực lớn để giáo sư và sinh viên nêu cao quyết tâm xây dựng nền đại học dân tộc và sẵn sàng đi vào cuộc thử thách vô cùng gian khổ của sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc” [25,86]
Từ năm học 1945-1946, năm học đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám, nền giáo dục đã có sự biến đổi khá toàn diện về tổ chức và tính chất
“Đánh giá tổ chức và hoạt động của nền giáo dục mới trong năm đầu dưới chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta đã làm được nhiều việc về giáo dục, làm hơn hẳn người Pháp” ” [ 25,142 ]
Trang 24Chương 2
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC
KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC (1946 -1954)
2.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng nền giáo dục kháng chiến kiến quốc những năm 1946-1950
2.1.1 Chủ trương chuyển hướng giáo dục phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc đã bùng nổ vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946
Thời kỳ kiên trì đấu tranh theo chủ trương “hoà để tiến”, để bảo vệ độc lập, bảo vệ chính quyền, xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà, và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khó tránh khỏi đã qua
Cả nước bước vào thời chiến Mặt trận quân sự ngày càng lan rộng và quyết liệt, mọi hoạt động trên các mặt chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh
tế, văn hoá, xã hội đều phải chuyển hướng theo hoàn cảnh thời chiến và phục vụ thời chiến
Về giáo dục, thành tựu của chặng đường “gây dựng” những năm
1945-1946 là rất cơ bản, đặt cơ sở cho chặng đường tiếp theo (1945-1946-1950) tiếp tục phát triển Nhưng vấn đề đặt ra hết sức quan trọng là phải chuyển hướng công tác giáo dục như thế nào cho phù hợp với tình hình của chiến tranh, có giá trị góp sức mạnh cho cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc
Nếu ở chặng đầu, hoạt động giáo dục đã gặp khó khăn do nạn đói, do
sự căng thẳng trong việc giữ chính quyền, giữ độc lập, hoà bình, thì hoạt động giáo dục trong giai đoạn này lại gặp khó khăn do tình trạng chiến tranh Chiến tranh là biểu hiện của sự đối đầu chính trị đến mức dữ dội, quyết liệt nhất Nó chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của xã hội các bên tham chiến,
Trang 25nhất là trong hoàn cảnh kinh tế xã hội kém phát triển như nước ta phải chống lại hai tên đế quốc hung hãn hợp lực với bọn bù nhìn ngoan cố để bảo vệ từng sinh mạng của người dân, từng tấc đất của Tổ quốc
Thông thường, những hoạt động cần trạng thái tĩnh như hoạt động giáo dục, khi gặp chiến tranh sẽ bị đảo lộn, khó duy trì Song, nền giáo dục mới của nước ta có một sinh mệnh đặc biệt Nó là sản phẩm của Cách mạng Tháng Tám Nó vừa được giành giật từ tay thực dân về tay nhân dân Trong lòng bản thân nó vẫn đang diễn ra cuộc chiến tinh thần giữa nô lệ và tự do, nên nó còn là một vũ khí mà Cách mạng không thể lơi lỏng
Cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta thực chất là tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Cuộc kháng chiến phải bảo vệ mọi thành quả của cách mạng, trong đó có nền giáo dục dân chủ non trẻ Và, nền giáo dục ấy lại phải phụng sự kháng chiến
Vì vậy, Nhà nước ta xác định phải tổ chức lại nền giáo dục trong thời kỳ chiến tranh
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra phương châm giáo dục là kết hợp “học với hành”, tổ chức hoạt động giáo dục chính là “thực hiện kháng chiến bằng văn hoá, văn hoá của kháng chiến” [38,370]
Nhân dịp Hội nghị giáo dục toàn quốc họp tại Việt Bắc vào giữa tháng 7-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội nghị, nêu rõ:
“Chúng ta cần phải có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc ”
Đây là quan điểm chỉ đạo hoạt động giáo dục của đất nước trong thời gian nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp và tay sai cho đến ngày toàn thắng
Ngày 31-3-1949, tại Việt Bắc, Hội đồng giáo dục đặc biệt do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm chủ tịch đã khai mạc “Theo Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ thì Hội đồng giáo dục gồm có các vị trong Chính phủ và các nhà chuyên môn, mục đích định kế hoạch phát triển nền giáo dục cho xúng đáng với sự phát triển của dân tộc về mọi mặt: quân sự,
Trang 26chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Chính phủ nhận định trong năm vừa qua,
mọi khả năng về nhân lực, vật lực, và tài lực đã đặt vào các ngành khác hơn
là cho giáo dục, vì vậy giáo dục đã đi chậm, nên cần phải định cho giáo dục
một kế hoạch phát triển cho kịp thời” [29,175]
Để giúp Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, ngày
4-9-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một Sắc lệnh số 120/SL thành lập Hội
đồng Giáo dục Hội đồng Giáo dục gồm có Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ
Quốc gia Giáo dục, Tổng Giám đốc Đại học vụ, Trung học vụ, Tiểu học vụ,
Bình dân học vụ, Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật, đại biểu các bộ,
Tổng đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam và một số thân sỹ (17 vị), do
Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Văn Huyên làm Chủ tịch Hội
đồng Quốc gia có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc gia Giáo dục ấn định chính sách
và kế hoạch giáo dục
Sự chuyển hướng giáo dục không chỉ tập trung vào việc sửa đổi
chương trình và phương pháp đào tạo theo phương châm “thiết thực là
chính”,
mà còn phải đề cao chất lượng giáo dục phù hợp với yêu cầu đào tạo nhân
tài cho đất nước, phải tổ chức giáo dục toàn diện gồm các loại hình giáo dục
chính quy, bổ túc, và hệ thống trường chính trị, quân sự, dù chiến tranh ngày
càng ác liệt, việc tổ chức lớp học ngày càng khó khăn
2.1.2 Chỉ đạo xây dựng nền giáo dục kháng chiến kiến quốc
Nền giáo dục dân chủ của nước ta được xây dựng từ Cách mạng tháng
Tám 1945 đến ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 nằm trong giai đoạn
lịch sử kháng chiến kiến quốc của dân tộc Việt Nam Nó mang trong mình
bản chất tốt đẹp của một nền giáo dục Việt Nam hoàn toàn mới, khác hẳn
với nền giáo dục của thực dân Pháp vừa bị lật đổ
Nền giáo dục mới khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc, lại được
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo, dìu dắt để có những phẩm chất mới, đủ sức
tôi luyện trong lò lửa chiến tranh
Trang 27Đương nhiên, mỗi ngành học được Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch cho một hướng đi cụ thể để tự rèn luyện và trưởng thành
* Với ngành học Bình dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi từng ngày từng giờ những bước đi của ngành học này Người là vị lãnh tụ rất thiết tha với việc học hành để mở mang đầu óc của những người bình dân, của những người lao khổ sau bao năm bị kìm hãm trong cuộc sống nô lệ
Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng dẫn Bình dân học vụ tổ chức các lớp học bình dân mang tính cộng đồng, tại chỗ, liên tục, kết hợp chặt chẽ với tăng gia sản xuất, với chiến đấu, với mọi công việc của kháng chiến
Ở đâu có nhân dân quần chúng thì ở đó có giáo dục Bình dân học vụ Bình dân học vụ được tổ chức trong mọi địa bàn, mọi lĩnh vực, mọi lúc, bộ phận nằm trong toàn thể, toàn thể là gồm những bộ phận tự giác
Cho nên, tiếng nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Bình dân học vụ, dù
về một địa phương, một cá nhân đều nằm trong một hệ thống liên hoàn của
sự chỉ đạo
Một ngành học của hằng chục triệu người đang chuyển động như một chiến dịch thì Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ kiến thiết nó theo phương pháp vận động quần chúng, vận động cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra công việc và phương châm hoạt động cho Bình dân học vụ:
“Chẳng những phải biết chữ mà còn phải học đạo đức công dân, phổ thông chính trị… Trước học một đường, hành một nẻo Nay phải sửa chương trình làm sao để học thì hành được ngay Đồng bào bây giờ phải biết chữ hết
để trả lời cho thế giới biết nước ta là nước văn minh, ai cũng biết chữ” [38,59]
Chủ tịch Hồ Chí Minh bồi dưỡng, uốn nắn, đôn đốc công tác Bình dân học vụ qua các tổ chức, cơ quan chuyên ngành của ngành học này, qua các đơn vị bộ đội, qua các cơ quan hành chính, qua những cán bộ được
Trang 28phân công đảm nhận công việc hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến Bình dân học vụ
Ngày 6-8-1947, Người có “Điện văn gửi Hội nghị Bình dân học vụ khu XII” Điện văn viết: “Tôi rất mong khu XII cố gắng, lấy kinh nghiệm của các khu khác, nhập với sự sốt sắng của khu mình, sao cho trong một kỳ hạn mấy tháng, sẽ có nhiều nơi toàn dân biết chữ, để tranh lấy cái danh dự khu kiểu mẫu Tôi trân trọng gửi lời khen ông giám đốc và tất cả anh chị em Bình dân học vụ về thành tích đã đạt được, và khuyên tất cả mọi người gắng sức thêm Đồng thời tôi mong các ủy ban, các đoàn thể, các vị phụ lão, thân hào và toàn thể đồng bào khu XII phải giúp sức để phát triển Bình dân học vụ ” [38,182] Người biểu dương thành tích công tác giáo dục Bình dân học vụ của khu XII, nhưng Người cũng ân cần nhắc nhở và nâng đỡ bằng cả tấm lòng nhân hậu của một lãnh tụ Công tác Bình dân học vụ ở một địa phương không thể tách biệt, phải nhìn ra bên ngoài, biết học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm, và nhất là phải phối hợp hoạt động, phải có nhiều lực lượng, phải có vai trò của chính quyền, của đoàn thể, của các tầng lớp nhân dân, các lực lượng ấy không thể bàng quan, ít nhiệt tình, ít trách nhiệm
Ngày 10-11-1947, Người có “Thư gửi ông Giám đốc và toàn thể nam
nữ giáo viên Bình dân học vụ khu III” Người rất vui lòng nhận được báo cáo trong tháng 9 năm 1947, toàn thể khu III đã có 2030 làng mở được 7.768 lớp học với 8.153 giáo viên và 328.308 học trò, lại có 42 lớp huấn luyện cho giáo viên và 1.182 giáo viên dự bị, có 6 làng ở tỉnh Hải Dương “mà tất cả nhân dân đều biết chữ ”
Người khen khu III: “Được thành tích đó, là nhờ sự chỉ đạo khôn khéo của ông giám đốc và sự hăng hái cố gắng của toàn thể anh chị em giáo viên” [38,307] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của cá nhân trong công tác chỉ đạo và vai trò của tập thể giáo viên trong công tác giảng dạy của ngành Bình dân học vụ Chung quy, là đánh giá cao tính tổ chức và trình độ
tổ chức của công tác này
Đồng thời, Người cũng “mong rằng các lớp Bình dân học vụ chẳng những dạy cho đồng bào học chữ, làm tính mà dạy thêm về công cuộc kháng
Trang 29chiến, cứu nước, tăng gia sản xuất, giúp mùa đông binh sỹ, giúp đồng bào tản cư, khoa học thường thức” [38,307]
Đây là điểm quan trọng đang đặt ra cho hoạt động Bình dân học vụ của
cả nước Căn cứ vào hoàn cảnh và yêu cầu của kháng chiến, vào sự phát triển tất yếu của Bình dân học vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo cho ngành Bình dân học vụ trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến (1946-1950) là phải cải tiến và nâng cao nội dung giảng dạy Chỉ có như thế, giáo dục mới thật sự thực hiện được phương châm “kháng chiến bằng văn hoá, văn hoá của kháng chiến” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng Chỉ có như thế giáo dục Bình dân học vụ mới trở thành một bộ phận hữu cơ, có khả năng đi tiên phong trong “nền giáo dục kháng chiến kiến quốc”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành riêng sự quan tâm hết sức đặc biệt của Người cho công tác “diệt dốt” trong lực lượng vũ trang Trong “Thư gửi toàn thể bộ đội khu II và khu III ” ngày 24-2-1948, Người viết:
“Tôi rất vui lòng được Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy báo cáo rằng: tất cả binh sỹ trong các bộ đội ở khu III và khu II nay đều biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ
Thế là tốt lắm Đó là một thắng lợi to cho quân đội ta, cho Chính phủ
ta, cho nhân dân ta
Dốt nát cũng là kẻ địch Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm Địch dốt nát tấn công ta về tinh thần, cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng
Bộ đội ta tiêu diệt được giặc dốt, tức là tiêu diệt được một lực lượng hậu thuẫn của thực dân
Có sự thắng lợi đó, là do các cấp trên khéo cổ động, các chính trị viên khéo tổ chức, các bình sỹ đều hăng hái học hành” [38,379]
Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhắc nhở bộ đội: “Sự học là vô cùng Nay đã biết đọc biết viết, anh em phải cố gắng học thêm Học làm tính, học chính trị, học lịch sử, học khoa học thường thức Rồi gắng học cao hơn nữa Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch” [38,380]
Trang 30Nhân dịp Hội nghị giáo dục toàn quốc họp tại Việt Bắc từ 10 đến
15-7-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư quan trọng cho Hội nghị
Riêng về Bình dân học vụ, Người chỉ rõ: “Về Bình dân học vụ, nhờ sự
hy sinh cố gắng của nam nữ giáo viên, đã có kết quả rất tốt đẹp Bây giờ, số đông đồng bào đã biết đọc, biết viết thì chúng ta phải có một chương trình để nâng cao thêm trình độ văn hoá phổ thông của đồng bào” [38,462]
Ý kiến gắn giáo dục với kháng chiến, với kiến quốc, đổi mới chương trình Bình dân học vụ để nâng cao trình độ cho nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn đến từng làng, từng xã đang vừa sản xuất vừa chiến đấu, hoặc đang góp người, góp của cho kháng chiến khi chưa phải giáp mặt với quân thù Ngày 26-9-1947, khi viết thư gửi đồng bào xã Nhâm Lang (huyện Hưng Hà, tinh Thái Bình) là xã hoàn thành sớm nhất nước việc xoá nạn mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi mong xã N.L nay đã thành một xã kiểu mẫu trong cuộc đấu tranh chống giặc dốt, thì trong mọi công việc kháng chiến, kiến quốc, xã N.L cũng sẽ cố gắng làm kiểu mẫu” [38,216]
Ngày 13-11-1947, trong thư gửi đồng bào xã Duyên Trang (huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Nhưng học hành là vô cùng Học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt, vậy tôi khuyên đồng bào trong xã gắng học thêm thường thức như làm tính, lịch sử, địa dư, chính trị, vệ sinh Đồng bào cố gắng tăng gia sản xuất để ủng hộ kháng chiến” [38,309]
Ngày 21-6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh điện vào Nam Bộ: “gửi lời thân ái khen đồng bào xã Giới Xuân đã thanh toán nạn mù chữ và tôi mong các xã khác sẽ cố gắng bắt chước xã Giới Xuân Chúng ta cần đánh tan giặc dốt, cũng như đánh tan giặc ngoại xâm” [38,453]
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi giáo dục Bình dân học vụ là một mặt trận Mặt trận này cần sức mạnh tổng hợp Ngoài nam nữ thanh niên là những người khoẻ mạnh, tiên phong, Người đặc biệt chú ý các thân hào, thân sỹ, các cụ phụ lão Bộ phận này thường giúp Bình dân học vụ rất thiết thực từ
uy tín tập hợp đến cơ sở trường lớp, phương tiện, thì giờ, kinh phí, lòng hảo tâm, là những thứ cần thiết đôi khi vô giá, để duy trì lớp học, giữ vững
Trang 31không khí thi đua Những nơi phong trào Bình dân học vụ chưa phát triển mạnh, chưa đồng đều thì trước hết Uỷ ban kháng chiến hành chính ở địa phương đó phải chăm lo, phải chịu trách nhiệm
Đường lối giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối nhân dân, đường lối thuyết phục Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Bình dân học vụ vừa
có cái sốt sắng lo toan của người đứng đầu Chính phủ về trình độ văn hoá của nhân dân, vừa có cái ân cần vị tha của một ông thầy đức cao vọng trọng
vì sự học hành tiến bộ của học trò
Đi đôi với việc biểu dương, đôn đốc tập thể làm công tác Bình dân học vụ
từ Trung ương đến địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn động viên khen ngợi đến từng cá nhân có thành tích nổi bật trong các kỳ thi của Bình dân học
vụ Lời khen ngợi và khuyên nhủ các học viên đủ mọi lứa tuổi, mọi vùng, mọi đối tượng, nhất là các cụ già và phụ nữ, đều thể hiện quan điểm của Người về việc xây dựng một nền giáo dục kháng chiến kiến quốc là phải nhất quán, đồng
bộ trong việc giáo dục quốc dân Học phải đi đôi với hành, mỗi cá nhân học tập tốt đều phải có ý thức tốt, hành động tốt tham gia công việc kháng chiến Có như vậy, giáo dục mới thiết thực, mới hữu ích cho đoàn thể, cho đất nước đang kháng chiến và kiến quốc
Trong thư gửi cụ Nguyên Ban, xã An Tường, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (tháng 2-1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cụ gửi thư cho tôi biết rằng cụ đã học xong chữ quốc ngữ Đọc bức thư cụ, tôi rất lấy làm vui sướng, cụ đã 77 tuổi mà còn gắng học trong ba tháng đã được thành công như vậy là cụ chẳng những làm kiểu mẫu siêng năng cho con cháu mà lại còn tỏ cái ý chí hùng mạnh của dân tộc Việt Nam Noi gương cụ, con cháu
cụ, đồng bào Việt Nam từ 7 tuổi đến 70 tuổi ai mà nỡ lòng làm biếng, ai mà chẳng cố gắng học hành Đời xưa bên Trung Quốc có ông Tô Lão Truyền 72 tuổi mới bắt đầu học, tiếng thơm còn để đến ngày nay
Bây giờ nước Việt Nam ta cụ 77 tuổi mới đi học, chắc tiếng thơm sẽ truyền khắp cả nước Cụ là một tượng trưng phúc đức của nước nhà Đó là một thành công to lớn và ý nghĩa sâu xa ” [38,674]
Trang 32Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò chủ đạo của ông thầy trong giáo dục Ông thầy của Bình dân học vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quý trọng Người gọi họ là “anh chị em”, là “các bạn”, là “chiến sỹ bình dân học vụ”, là “chiến sỹ diệt dốt”, là những “vô danh anh hùng” Nhân ngày Quốc khánh (2-9-1948), Người gửi thư cho nam nữ chiến
sỹ Bình dân học vụ trong cả nước Sau khi đã khen ngợi công trạng to lớn
là làm cho gần 8 triệu đồng bào thoát nạn mù chữ trong vòng 3 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao những nhiệm vụ hết sức cụ thể trên chặng đường tiếp theo của các chiến sỹ Bình dân học vụ
Người viết: “Vùng nào còn sót nạn mù chữ, thì các bạn cố gắng thi đua diệt cho hết giặc dốt trong một thời gian mau chóng Vùng nào đã hết nạn
mù chữ, thì các bạn thi đua để tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào:
1 Thường thức vệ sinh, để dân bớt đau ốm
2 Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm
3 Bốn phép tính, để làm ăn có ngăn nắp
4 Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca), để nâng cao lòng yêu nước
5 Đạo đức của công dân, để thành người công dân đứng đắn
Các bạn hãy làm cho được chừng ấy đã, sau chúng ta sẽ tiến lên bước cao hơn” [38,489]
Với giáo dục Bình dân học vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà hoạch định chính sách, mà còn là một nhà khoa học giáo dục, một nhà sư phạm Người đã “cống hiến” một kế hoạch là phải thay đổi chương trình và Người lại vạch ra một chương trình tổng hợp gồm nhiều bộ môn khoa học có giá trị trực tiếp, thiết thực trong công việc giáo dục nhận thức và xây dựng nhân cách công dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho đất nước một đội ngũ giáo viên Bình dân học vụ vững về chuyên môn nghiệp vụ, giàu lòng yêu nước, hăng hái thi đua, một đội ngũ trí thức đặc biệt, ngoài biên chế, chỉ xuất hiện trong
Trang 33một giai đoạn lịch sử nhất định, làm một nhiệm vụ chống nạn mù chữ, “xây dựng nền văn hoá sơ bộ cho dân tộc”
Đội ngũ giáo viên chiến sỹ này, không quản gian lao, đi tìm người học, hoặc không có lương, hoặc có chút thù lao bé nhỏ, nhưng dồi dào niềm tin đối với sự nghiệp giáo dục
Dưới ánh sáng tư tưởng và sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào Bình dân học vụ xoá nạn mù chữ trong cả nước giai đoạn 1946-1950 được tiếp tục xây dựng và phát triển mạnh hơn trước Các Ty Bình dân học vụ tỉnh, các Ban Bình dân học vụ huyện đã tích cực hoạt động
và hoạt động có hiệu quả Ở các tỉnh và các huyện, Ban Tuyên huấn của Đảng đều chỉ đạo ngành Thông tin và Bình dân học vụ hoạt động phối hợp Các khu, liên khu đều mở lớp huấn luyện cấp tốc đào tạo các kiểm soát viên cao cấp, và sơ cấp Bình dân học vụ để làm nhiệm vụ chuyên trách đôn đốc công tác Bình dân học vụ cho các tỉnh, các huyện Đội ngũ giáo viên Bình dân học vụ được bổ sung từ nhiều nguồn đã tăng nhanh về số lượng Bộ Nội
vụ yêu cầu các địa phương không điều cán bộ Bình dân học vụ đi làm công tác khác, số cán bộ đã điều khỏi công việc Bình dân học vụ thì phải trả lại cho ngành Trong thời gian này, Hội nghị Cán bộ Trung ương lần thứ tư (miền Bắc Đông Dương) cũng đề nghị một chương trình mang tính chính sách đối với Bình dân học vụ như không công chức hoá giáo viên Bình dân học vụ, nhưng tùy địa phương mà trả thù lao cho giáo viên, khuyến khích chế độ học phẩm, các xã tự túc quỹ Bình dân học vụ, Chính phủ giúp Bình dân học vụ Trung ương thêm tiền để in sách Nha Bình dân học vụ đã cho biên soạn lại cuốn sách “vần” và cuốn sách “tập đọc sơ cấp” thành hai cuốn tương ứng có tên là
“Vần kháng chiến” và “Tập đọc kháng chiến” chứa đựng nhiều khái niệm, chủ
đề về kháng chiến để học viên vừa tập viết, tập đọc, vừa liên hệ đến những công việc của kháng chiến kiến quốc
Theo báo cáo của ông Tổng Giám đốc Bình dân học vụ tại Hội nghị giáo dục tháng 7 năm 1948 thì, ba ngày sau khi chiến tranh bùng nổ ở Thủ đô, Nha Bình dân học vụ đã lo tổ chức ngay lại cơ quan, điều kiện cùng công việc học
Trang 34theo như tổ chức cấp kỳ Vì liên lạc khó khăn, mãi đến tháng 4-1947 mới đặt được ở miền Nam Trung bộ một khu đặc biệt Bình dân học vụ do một đặc phái viên phụ trách Ở Nam bộ, công việc Bình dân học vụ vẫn tiến hành như thường, có một ban Bình dân học vụ phụ trách Mục đích của Bình dân học vụ
là phải làm cho việc học chữ quốc ngữ hết sức phát triển để chóng đi đến chỗ thanh toán nạn mù chữ cho toàn dân Trong thời kỳ kháng chiến, mỗi lớp học là một ổ tuyên truyền kháng chiến, mội giáo viên là một nhân viên tuyên truyền kháng chiến Sau 1000 ngày kháng chiến, ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã dạy thêm được 4 triệu 10 vạn người biết đọc, biết viết, 910 làng đã thanh toán xong nạn mù chữ Ở Nam bộ, phong trào Bình dân học vụ cũng rất cao, hiện đã có
8000 lớp Bình dân học vụ, hơn 8000 giáo viên, hàng vạn người theo học
Phong trào Bình dân học vụ ở vùng an toàn phát triển mạnh gấp hai, ba lần thời bình, ở vùng giặc càn quét khi lên, khi xuống, phải tổ chức tại gia đình, theo đơn vị du kích, luôn thay đổi địa điểm học, ở vùng rừng núi, rất khó khăn, thiếu giáo viên tại chỗ, phải cổ động nhiều dân chúng mới chịu đi học, ở vùng hội tề,
có khi lớp học bị tan rã, cố gắng tổ chức, phong trào lại tiến bộ lên
Sách giáo khoa cho Bình dân học vụ đã in tới 500.000 bản
Bình dân học vụ cũng đã nêu một vài “yêu sách”: xin thêm nhân viên kiểm soát, nhân viên chuyên môn và tuỳ phái cho Bình dân học vụ các tỉnh, huyện, xin thêm tiền chi cho hoạt động Bình dân học vụ [29,66]
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm sự học là không cùng Dân chúng biết đọc, biết viết rồi, vẫn cần phải học thêm các kiến thức phổ thông thường thức có giá trị thiết thực đối với sự nâng cao dân trí Hai công đoạn này đều
do Nha Bình dân học vụ trông nom, đều là nhiệm vụ của giáo viên Bình dân học vụ, đều thuộc về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân yêu nước Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có phê bình một vài địa phương về công tác giáo dục bình dân học vụ, như “Tỉnh Thanh Hoá có tiếng là văn vật, nhưng nay xét số người biết chữ còn ít hơn số người chưa biết chữ ”, như ba tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn “cách dạy học vẫn cũ kỹ, sự học không thiết thực với sự hành”
Trang 35Song, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc nâng cao trình độ của nhân dân được Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân quyết tâm thực hiện có tổ chức, có tiến độ chắc chắn
Năm 1948, Nha Bình dân học vụ đã có bộ phận chuyên trách nghiên cứu chương trình cho phù hợp với trình độ của quảng đại dân chúng theo các mức độ khác nhau, và 6 tháng cuối năm 1948 đã dạy thử chương trình
Bổ túc văn hoá, thực hiện kịp thời Nghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương của Đảng tháng 5-1948 là : “Đi đến Bình dân học vụ bổ túc, dạy kiến thức phổ thông” [55,105]
Chương trình Giáo dục bình dân có hệ thống cấu tạo như sau:
Sơ cấp
Dự bị bình dân (ngang với lớp 2 phổ thông)
Dự bị bình dân cấp 1 (ngang lớp 4 phổ thông)
Bổ túc bình dân cấp 2 (như cấp 2 phổ thông)
Việc biên soạn chương trình cho các lớp Bình dân học vụ nâng cao theo tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hướng dẫn trong thư Người gửi các nam nữ chiến sỹ Bình dân học vụ ngày 2-9-1948 chưa phải đã đầy đủ, bảo đảm tinh thần dân tộc, khoa học, đại chúng như mong muốn, nhưng đã thu được những thành tựu nhất định, góp phần nâng cao dân trí, mở rộng tư duy cho người lao động, cho binh sỹ đang đồng tâm sát cánh trong công cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc
Các lớp bổ túc cấp 1,2, nhìn chung thấy xuất hiện nhiều ở các ngành, các cơ quan, công xưởng, đơn vị bộ đội, đặc biệt là ở các trường phổ thông lao động Một số địa phương lại đi tiên phong mở trường Bổ túc văn hoá mang tính chất đào tạo tập trung cung cấp nhân lực cho kháng chiến, như Trường Hoàng Hữu Nam ở khu IV, Trường “Trung học Bình dân” ở khu V, Trường Nguyễn Văn Tố ở U Minh
Bổ túc văn hoá là sự tiếp nối tự nhiên của Bình dân học vụ sau khi đã xoá nạn mù chữ một cách chắc chắn theo yêu cầu và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được Bộ Giáo dục quan tâm xây dựng và phát triển Nó là sự đòi hỏi tất yếu của công cuộc kháng chiến kiến quốc, nhưng gặp không ít khó
Trang 36khăn trong việc phát triển theo mục tiêu nâng cao chất lượng và mở rộng quy
mô vì hoàn cảnh thiếu giáo viên và thiếu điều kiện vật chất để tổ chức lớp học
Nhờ sự chuẩn bị tích cực về tổ chức lớp học và đội ngũ giáo viên, nhờ
sự khắc phục khó khăn gian khổ do chiến sự, do cách trở địa lý, do trình độ nhận thức của đồng bào miền núi, do một số vùng bị địch chiếm đóng, v.v Bình dân học vụ vẫn được duy trì, phát triển, và phát triển mạnh hơn trước
Ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ là noi có phong trào Bình dân học vụ phát triển Cuối năm 1948, Liên khu I có 48% dân số thoát nạn mù chữ, Liên khu III có 65%, Liên khu X có 35%, và Liên khu IV có 80% thoát nạn mù chữ Đến tháng 9-1948, Liên khu III có 23.110 lớp học Bình dân học vụ với 27.110 giáo viên và 420.800 học viên, lại tổ chức được 46 lớp huấn luyện giáo viên với 1.824 người dự Khu IV là nơi có các lớp Dự bị Bổ túc phát triển mạnh nhất, đến tháng 9-1948, có 2.257 lớp dự bị với 48.263 học viên [29,139] Đến tháng 9-1948, cả nước có gần 8 triệu người thoát nạn mù chữ Đến cuối năm 1950, có 7.500 thôn thuộc 150 xã trong 84 huyện của 19 tỉnh đã hoàn toàn xoá nạn mù chữ [25,187]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư khen, và có phần thưởng cho đồng bào tỉnh Hà Tĩnh, đồng bào huyện Quỳnh Côi (Thái Bình), huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), đồng bào xã Nhâm Lang, xã Duyên Trang (Thái Bình), xã Giới Xuân (Gia Định) và xã Thanh Nông (Hoà Bình) là những đơn vị có thành tích xuất sắc về mặt thời gian trong phong trào xoá nạn mù chữ
* Với bậc học Phổ thông
Giáo dục phổ thông bao gồm giai đoạn tiểu học và giai đoạn trung học Trong quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh có một vấn đề Người luôn nhắc tới đó là mục đích “phụng sự Tổ quốc” của nền giáo dục dân tộc
Vì thế, bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu xác định rõ đối tượng của từng cấp học của giáo dục, và theo đó là việc giáo dục mục đích học tập cho đối tượng đó
Trang 37Đối tượng của Giáo dục phổ thông là thế hệ trẻ, là thanh thiếu niên và nhi đồng
Mục đích của Giáo dục phổ thông là giáo dục ý thức “thật thà phụng sự
Tổ quốc” cho thanh thiếu niên, làm sao cho các em học sinh đều biết chăm học để có kiến thức văn hoá vững vàng, biết tu dưỡng bản thân để có hạnh kiểm tốt mong trở thành con người hữu ích cho Tổ quốc
Học sinh phổ thông trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc, trong tuổi vị thành niên, là con em của nhân dân, đại bộ phận chưa phải trực tiếp cầm vũ khí ra trận, nhiệm vụ chính là học tập Đường lối giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đối tượng này là phải sớm đem lại cho các em một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, làm phát huy hoàn toàn năng lực sẵn có của các em, để các em nhận lấy một phần lớn trách nhiệm với dân tộc trong tương lai
Tuy nhiên, cũng phải thấy giáo dục phổ thông trong giai đoạn
1946-1950 gặp nhiều khó khăn
Một mặt, do bối cảnh chiến tranh, việc thu nạp thầy trò, bố trí cơ sở, phiên chế tổ chức, chuẩn bị kinh phí, sắp xếp tiện nghi.v v không phải lúc nào và ở đâu cũng có điều kiện thuận lợi để thực hiện…
Mặt khác, do tự thân ngành học, dù sao, thầy trò của các trường Phổ thông cũng vừa thoát thai từ nền giáo dục của chế độ cũ mới được một năm
Họ sẵn lòng yêu nước, yêu nhà, có khả năng giác ngộ chính trị Nhưng biết bao thay đổi đã đến với họ Họ phải có thời gian, phải có sự giúp đỡ để thay đổi cho phù hợp với yêu cầu về quyền lợi dân tộc, cho kịp với hoàn cảnh, đặc biệt là hoàn cảnh của khói lửa chiến tranh
Những cố gắng lớn của giáo dục phổ thông trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến là bảo đảm duy trì, phát triển số lượng và điều chỉnh, sửa đổi chương trình nhằm nâng cao chất lượng
Theo đánh giá ở Hội nghị giáo dục toàn quốc tháng 7-1948, giáo dục phổ thông ở các Liên khu thuộc Bắc và Bắc Trung Bộ nhìn chung đều phát triển
Ở Liên khu I, trước tác chiến có 311 giáo viên tiểu học, năm 1948 lên đến 25.240, trường trung học trước tác chiến có 2, năm 1948 lên 4
Trang 38Ở Liên khu III, giáo viên tiểu học không tăng nhiều, nhưng học sinh tiểu học bước vào trong kháng chiến tăng mạnh: năm 1946 có 94.167 học sinh, năm 1948 lên 109.340 học sinh (tăng gần 2 vạn) Năm 1948 có 386 thí sinh dự thi tốt nghiệp trung học, đỗ 177 học sinh (đạt 40,5%)
Ở Liên khu IV, học sinh tiểu học tăng nhanh ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh Năm 1948, toàn Liên khu có 33 trường trung học kể cả trường công, bán công và tư thục (tăng gần gấp đôi so với năm 1946)
Ở Liên khu X, bậc tiểu học năm 1946 có 76 trường với 138 giáo viên
và 8.929 học sinh, năm 1948 có 186 trường với 348 giáo viên và 11.534 học sinh; bậc trung học, năm 1946 có 2 trường với 10 giáo viên và 155 học sinh, năm 1948 có 5 trường với 25 giáo viên và 463 học sinh [29;54-55-56,61] Tổng hợp lại, “nền tiểu học sơ cấp và cơ bản đã phát triển điều hoà và
đi đến một cơ sở vũng vàng”, ở bậc trung học thì “cấp phổ thông tăng còn cấp chuyên khoa sút, vì học sinh phần nhiều có công tác và sỹ số các trường
(Ví dụ: Môn Công dân giáo dục và chính trị thường thức, mỗi tuần 1 giờ, học sinh được học trong 4 năm gồm những nội dung sau:
Năm thứ nhất: Quốc gia Những nền tảng để xây dựng quốc gia Sự xây dựng quốc gia Việt Nam Những bộ phận chính quyền trong một nước Bổn phận công dân: tuân theo pháp luật, tận tâm với việc công ích, đi học, bầu cử, tòng quân, đóng thuế Bổn phận học sinh và công dân trong thời kỳ kháng chiến…
Trang 39Năm thứ hai: Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Quốc hội Chính phủ Các Hội đồng nhân dân Các cơ quan Hành chính Kháng chiến Tổ chức quốc phòng: Quân đội quốc gia Việt Nam, dân quân tự vệ Các cơ quan chuyên môn (Tư pháp, Kinh tế, Giáo dục, Tài chính, Y tế…)…
Năm thứ ba: Chính sách của nước Việt Nam về nội trị và ngoại giao Sự tiến triển của nền dân chủ Việt Nam Địa vị nước Việt Nam ở Á Đông và toàn cầu…
Năm thứ tư: Chế độ đế quốc thực dân Nền quốc gia tự do độc lập Các chính thể quốc gia trên thế giới Sự tiến triển nền dân chủ trên thế giới Đại cương về tổ chức chính quyền ở các nước như Anh, Mỹ, Nga, Pháp, Trung Hoa, Ấn Độ Các tổ chức quốc tế Các giáo hội Đệ nhất quốc tế Đệ nhị quốc tế Đệ tam quốc tế Hội quốc liên và các cơ quan phụ thuộc Hiến chương Đại Tây Dương, Liên hợp quốc [29;31,33,37,40].)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “cống hiến” một giải pháp toàn diện nhằm định hướng và chỉ ra những công việc cụ thể, then chốt cho sự nghiệp giáo dục kháng chiến kiến quốc, trong đó có giáo dục phổ thông
Người nói: “Chúng ta cần phải có một nền giáo dục kháng chiến kiến quốc
Trang 40về nhận thức và hành động cho ngành học giáo dục phổ thông Vì ngành học này có địa bàn hoạt động trên phạm vi cả nước, có lực lượng thầy trò đông đảo, trong đó một bộ phận học trò có gia đình, quê hương còn nằm trong vùng địch tạm chiếm
Để đáp ứng những yêu cầu trước mắt đối với Giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu, xây dựng một kế hoạch cải tổ cần thiết về tổ chức
để tập hợp đội ngũ giáo viên, xây dựng các đoàn thể chính trị trong trường, nhằm tạo ra một cái khung cho mỗi đơn vị trường học theo cơ cấu của nhà trường dân chủ Một số trường học từ thành phố chuyển về vùng tự do để bảo đảm an toàn và giữ mối liên hệ thống nhất trong công tác quản lý của Nhà nước Nhìn chung, các trường phổ thông các cấp đều có quy mô vừa và nhỏ, thuận tiện cho việc xây dựng cơ sở vật chất, thuận tiện việc thu nạp học sinh, gồm học sinh sơ tán, học sinh tại chỗ, và học sinh theo cha mẹ đến nơi công tác Các lớp học trong một trường cũng được phân tán trên các địa điểm xa nhau, để dễ ổn định lực lượng, dễ nhận sự ủng hộ và bảo vệ của nhân dân
Chính phủ đã quyết định thành lập một số trường tiểu học, trung học nội trú tạo điều kiện học tập cho con em các gia đình cán bộ, chiến sỹ, gia đình tản cư, và con em đồng bào dân tộc ở khu căn cứ của kháng chiến, như trường THPT Việt Bắc ở Việt Bắc (1948), Trường THPT Bình Trị Thiên ở khu IV (1948), Trường THPT Nguyễn Chí Diểu ở Thừa Thiên (1949), Trường THPT "Bình dân" ở khu V, Trường THPT Huỳnh Phan Hộ
ở Nam Bộ và trường cấp I nội trú ở Bạc Liêu
Một số trường Trung học phổ thông và Trung học chuyên khoa có truyền thống học tập và quy mô, phương tiện tương đối khá, được Bộ Giáo dục quan tâm giúp đỡ bằng việc chuyển đến những địa điểm mới an toàn,
có thể gặp khó khăn nhiều vệ sự cung cấp, tiếp tế trong sinh hoạt, nhưng thầy trò yên tâm giảng dạy và học tập, có điều kiện gần gũi công nông binh
và hoà nhập với cuộc sống kháng chiến kiến quốc của toàn dân tộc Các trường đã mau chóng trưởng thành cùng kháng chiến và trở thành những cái nôi bảo vệ, nuôi dưỡng nhân tài cho kháng chiến Những trường học có