Bên cạnh nhưng thành tựu đạt được, những đóng góp của công tác xây dựng và phát triển văn hóa đối với đời sống kinh tế - xã hội, công tác xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Ninh Bình còn bộc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ NGỌC THÙY
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ NGỌC THÙY
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2005 14
1.1 Cơ sở của việc xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình 14
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 14
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 15
1.1.1.3 Truyền thống lịch sử văn hoá 18
1.1.2 Lý luận chung về văn hoá 19
1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa 19
1.1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa 20
1.1.2.3 Quan niệm về đời sống văn hóa 22
1.1.3 Thực trạng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình trước năm 1998 29
1.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1998 – 2005 36
1.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta 36
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng đời sống văn hoá 47 1.2.3 Quá trình tổ chức thực hiện xây dựng đời sống văn hoá của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình 53
1.2.4 Kết quả, hạn chế và nguyên nhân 57
Chương 2: ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 62
2.1 Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng và phát triển đời sống văn hóa theo quan điểm của Đảng giai đoạn 2006 – 2010 62
Trang 42.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển đời
sống văn hoá theo quan điểm của Đảng 62
2.1.2 Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển đời sống văn hoá 74
2.2 Thành công của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển đời sống văn hoá từ năm 2006 đến năm 2010 89
2.2.1 Thành tựu 89
2.2.2 Hạn chế 104
Chương 3 : Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM 108
3.1 Ý nghĩa 108
3.1.1 Xây dựng đời sống văn hóa góp phần ổn định chính trị - xã hội 109
3.1.2 Xây dựng đời sống văn hóa có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển 111
3.1.3 Xây dựng đời sống văn hóa nhằm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân 114
3.1.4 Xây dựng đời sống văn hóa góp phần xây dựng nông thôn mới 117
3.2 Những kinh nghiệm từ việc xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Ninh Bình 120
3.2.1 Tăng cướng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng một cách sáng tạo, phù hợp vào tình hình cụ thể của tỉnh Ninh Bình 120
3.2.2 Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về văn hóa; phát huy vai trò chủ động và trách nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng trong xây dựng đời sống văn hóa 123
3.2.3 Khơi dậy những mặt tích cực của văn hóa truyền thống đi đôi với chống những hủ tục lạc hậu 126
3.2.4 Xây dựng đời sống văn hóa phải là hoạt động tự giác của nhân dân, vì cuộc sống của nhân dân 128
KẾT LUẬN 133 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH : Ban chấp hành
VHTT : Văn hóa thông tin
Trang 6BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH NINH BÌNH
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra nhiều động lực và điều kiện quan trọng để phát triển đất nước (nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay) Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực, cản trở sự nghiệp đổi mới Đó là sự so sánh thiệt hơn về lợi ích kinh tế,
sự xuống cấp về đạo đức, lối sống; xu hướng thị trường hóa, thương mại hóa và hoạt động văn hóa ở nhiều địa phương khác trong cả nước
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCHTW khóa VIII đề ra là: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết vạch ra “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là tổng thể những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần Theo nghĩa rộng, đời sống văn hóa bao quát mọi mặt của đời sống xã hội, bao gồm các lĩnh vực hoạt động sống của con người và các dạng thức hoạt động khác nhau Theo nghĩa hep, đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội và thường được biểu hiện là đời sống văn hóa tinh thần Xuất
Trang 8phát từ các nhu cầu văn hóa của con người, đời sống văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động sản xuất và tiêu thụ, sản xuất và hưởng thụ những sản phẩm văn hóa, thông qua các thiết chế văn hóa và các thể chế văn hóa Như vậy nói đến đời sống văn hóa là nói đến những quan hệ tương tác giữa các yếu tố
Xây dựng đời sống văn hoá là một chủ trương có ý nghĩa chiến lược, được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm nhằm đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần của nhân dân đi đôi với nâng cao mức sống vật chất, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hoá, tạo dựng một lối sống văn minh lịch sự, những phong tục tập quán tốt đẹp Đồng thời xuất phát từ yêu cầu của xã hội muốn làm cho văn hoá trở nên trong sạch vững mạnh, tạo ra mảnh đất thuận lợi để tiến hành kiên quyết và có hiệu quả trong cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội
Thấm nhuần đường lối phát triển văn hóa của Đảng, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
đã tiến hành chỉ đạo công tác tổ chức xây dựng đời sống văn hóa nhằm tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, đời sống kinh tế phát triển, đảm bảo trật tự an ninh quốc phòng
Những kết quả đạt được của Ninh Bình trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, là mục tiêu và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong những năm 1998-2010
Bên cạnh nhưng thành tựu đạt được, những đóng góp của công tác xây dựng và phát triển văn hóa đối với đời sống kinh tế - xã hội, công tác xây dựng đời sống văn hóa tỉnh Ninh Bình còn bộc lộ một số hạn chế và gặp không ít những khó khăn, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng hoạt động của các phong trào văn hóa trong thời kì đổi mới
Vì vậy, việc tìm hiểu “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010” có ý nghĩa về mặt khoa học, thực tiễn và giáo dục
Trang 9Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010” làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Đời sống văn hóa là một vấn đề đã được nhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước
và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ và phạm vi khác nhau như:
Những tác phẩm viết về văn hóa nói chung: Phạm Văn Đồng (1994): Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Trần Quốc Vượng (1998): Cơ sở văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục); Lê Thanh (1999): Văn hóa và đời sống, Nxb Thanh niên, Hà Nội; Đào Duy Anh (2000): Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội Ở những ấn phẩm này, văn hóa được nhìn nhận dưới góc
độ văn hóa học, đồng thời làm rõ những vấn đề văn hóa chung nhất
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đến văn hóa trong tư
tưởng Hồ Chí Minh: Hồng Vinh (2003): Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (Ban
Tư tưởng Văn hóa Trung ương); Lê Xuân Vũ (2004): Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam (Nxb Văn học, Hà Nội) Ở những công trình này, văn hóa
được đề cập dưới nhiều góc độ qua những bài viết khác nhau của nhiều tác giả từ mối quan hệ giữa văn hóa với con người, văn hóa với sự phát triển chung của xã hội đến chiến lược phát triển văn hóa
Những sách báo, tạp chí viết về xây dựng đời sống văn hóa : Viện Văn hóa,
Bộ Văn hóa (1984): Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Nxb Văn hóa, Hà Nội; Nguyễn Văn Hy (1985): Những vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay, Nxb Văn hóa, Hà Nội; Phạm Việt Long, Nguyễn Đạo Toàn (1998): Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở nông thôn hiện nay, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội; GS TS Hoàng Vinh (1999): Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước ta, Nxb VHTT, Hà Nội; Trung Đông (2002):
Trang 10Để có một phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Viện Văn hóa, Hà Nội; Ngô Tam Hùng (2004): Điển hình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Nxb VHTT, Hà Nội; Văn Đức Thanh (2004): Về Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Tạp chí Cộng sản (9/2006): Văn hóa gia đình và phong trào xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay, số 9- Cơ quan lý luận và chính trị của Trung ương ĐCSVN Những công
trình này đã phác thảo khá đầy đủ về công tác xây dựng đời sống văn hóa ở nước
ta Các công trình của nhiều học giả viết về văn hóa trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước và những tác động của văn hóa đối với con người và
xã hội như: Trần Văn Bính (1998): Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Đỗ Huy (2002): Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (2003): Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Nguyễn Văn Huyên (2006): Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Đề cương văn hóa Việt Nam chặng đường 60 năm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội);
Tuy nhiên, viết về đời sống văn hoá của tỉnh Ninh Bình một cách toàn diện
và có hệ thống cho đến nay chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào Về nội dung này mới chỉ có một số kỷ yếu hội thảo và báo cáo bước đầu tổng kết đời sống văn hoá Trong đó đáng chú ý có: Báo cáo sơ kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình 2 năm (1999-2000); Báo cáo tổng kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình 2000-2010; Luận văn “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở
cơ sở (1998-2007) của Tạ Thị Mỹ Linh Ở những ấn phẩm này, đã giới thiệu khái quát về một số giá trị văn hóa tiêu biểu và một số vấn đề trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở tỉnh Ninh Bình
Trang 11Mặc dù những vấn đề trên đã đề cập đến lĩnh vực văn hóa nói chung, công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói riêng nhưng đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu trực tiếp vấn đề "Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010", dưới góc độ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Tuy nhiên, các công trình trên là những tài liệu quý mà tôi có thể tham khảo
để thực hiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Làm rõ vai trò của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong lãnh đạo, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của tỉnh trong những năm 1998 đến 2010, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời
kỳ mới
* Nhiệm vụ
- Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương đường lối phát triển văn hóa của Đảng trong những năm đổi mới và sự vận dụng thực tiễn của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
- Nêu bật những thành quả xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Ninh Bình trong những năm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Làm rõ một số kinh nghiệm về xây dựng và phát triển văn hóa ở tỉnh Ninh Bình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình trong việc xây dựng đời sống văn hóa
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thời gian từ 1998 đến năm 2010
- Về không gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 125 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tài liệu nghiên cứu
- Hồ Chí Minh toàn tập và các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam có liên quan đến văn hóa
- Các ấn phẩm, sách báo tạp chí viết về văn hóa nói chung và về tỉnh Ninh Bình nói riêng
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
* Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp logic và lịch sử Ngoài ra còn kết hợp một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích…Các phương pháp nêu trên được sử dụng thích hợp với từng nội dung của luận văn
Trang 13Chương 1
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở TỈNH NINH BÌNH
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Cơ sở của việc xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ninh Bình là một vùng đất được hình thành từ lâu đời, nằm ở phía nam đồng bằng Sông Hồng, nơi tiếp giáp và ngăn cách với phía bắc miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp đã đi vào lịch sử Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam với chiều dài 15km, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định lấy con sông Đáy làm ranh giới với chiều dài 87km, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ với chiều dài 16,5km, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hòa Bình với chiều dài 66km, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa với chiều dài 87km Ninh Bình nằm chếch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên tọa độ 19055 - 22027 vĩ độ Bắc và 1050 33 - 105010 kinh độ Đông với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.439km2
Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90km, trên tuyến đường giao thông xuyên Bắc Nam Ninh Bình có biển, hệ thống sông ngòi, có sông thông ra biển và cảng sông công suất 2 triệu tấn lưu thông hàng hóa/năm, thuận lợi cho vận tải đường sông, đường biển đến các địa phương trong nước và quốc tế… Đó là tiền đề quan trọng
để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Ninh Bình cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng, có khí hậu mang tính đặc thù của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, có mùa đông lạnh nhưng còn nhiều ảnh hưởng của khí hậu ven biển, vùng núi so với điều kiện trung bình cùng
vĩ tuyến Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, nhiệt độ trung bình thấp nhất khoảng 13 - 150C và cao nhất (tháng 7) khoảng 29 - 300C Lượng mưa trung bình trên 1.800mm, nhưng phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa trên vào mùa
Trang 14Hạ, trung bình có 125 - 157 ngày mưa Nhìn chung khí hậu và thời tiết ở Ninh Bình thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển
Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình dày đặc, phân bố khá đều trên địa bàn toàn tỉnh bao gồm nhiều hệ thống sông ngòi lớn nhỏ như: Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc, sông Khê Đần, sông Thần Phù, sông Bôi, sông Lạng Phong… có tổng chiều dài trên 1000km, diện tích 2607,9 ha Tuy nhiên địa hình tỉnh Ninh Bình lại rất đa dạng, vừa có đồi núi và nửa đồi núi, vừa có đồng bằng, vừa có vùng trũng và đồng bằng ven biển Do tính đa dạng và phân bố phức tạp của địa hình, thiên nhiên
đã ban tặng cho Ninh Bình nhiều nguồn tài nguyên quý như đá vôi, nước khoáng, suối nước nóng và rất nhiều các hang động sinh thái như Tam Cốc – Bích Động, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, khu du lịch sinh thái Tràng An, suối nước nóng Kênh Gà
Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều nguồn địa lý khác nhau, tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp, du lịch và đó cũng là tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi cho Ninh Bình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Ninh Bình là một vùng đất có lịch sử lâu đời Theo “Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên” của tác giả Nguyễn Tử Mẫn thì từ cổ xưa vùng đất này thuộc trấn Nam Giao, nhà Tần thuộc Tượng Quận, nhà Hán gọi nơi đây là Giao Chỉ Trải qua nhiều biến đổi về địa danh, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) trấn Ninh Bình chính thức ra đời Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Ninh Bình thành tỉnh Ninh Bình [59, tr.10]
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ hai, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V đã quyết định hợp nhất tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh Trước khi tái lập
Trang 15tỉnh, Ninh Bình có 6 huyện và một thị trấn trực thuộc tỉnh, đó là các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Gia Khánh, Yên Mô, Kim Sơn và thị trấn Tam Điệp
Ngày 26/12/1991, kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII quyết định tái lập tỉnh Ninh Bình trên cơ sở chia tách tỉnh Hà Nam Ninh Tỉnh Ninh Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/1992
Đến nay tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện bao gồm: thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Yên Khánh, huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư, huyện Yên Mô, huyện Kim Sơn [24, tr 12]
Người dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài trồng lúa người dân còn trồng nhiều cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây công nghiệp Ninh Bình là một trong những tỉnh có nhiều nghề thủ công mỹ nghệ nổi tiếng, điển hình nhất là nghề trạm trổ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư), nghề dệt chiếu cói và các mặt hàng từ cói ở hầu khắp các xã thuộc huyện Kim Sơn và một
số xã thuộc huyện Yên Khánh và Yên Mô…
Tinh thần yêu nước và cần cù lao động là nét nổi bật nhất của người dân Ninh Bình Hơn thế con người nơi đây còn đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong lao động, sản xuất và có khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của địa phương Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua đã có những bước phát triển nhất định
Dân cư Ninh Bình phân bố không đều, chủ yếu sống tập trung ở vùng nông thôn do quá trình định canh, định cư trong lịch sử Cộng đồng dân tộc sinh sống ở Ninh Bình chủ yếu là người Kinh, Mường, Thổ…trong đó đông nhất vẫn là người Kinh chiếm tới 97,9%, dân tộc Mường chiếm 2,1% dân số toàn tỉnh [24, tr 18] Về tôn giáo, đại bộ phận người dân Ninh Bình theo đạo Phật, cũng khá đông người theo đạo Công giáo, còn số ít theo các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào
Trang 16Ngay từ đầu thế kỷ XX, huyện Kim Sơn đã trở thành một trong những trung tâm Thiên chúa giáo lớn nhất ở nước ta
Tuy là tỉnh có xuất phát điểm về kinh tế thấp hơn so với những tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng, nhưng trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến nay, kinh tế của tỉnh Ninh Bình đã có những khởi sắc, đặc biệt là ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch
Kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá, từ năm 2006 đến 2010 bình quân đạt 16,5%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ, trong đó năm 2010: công nghiệp – xây dựng 48,9%, dịch vụ 35,3%, nông, lâm nghệp và thuỷ sản 15,8% (tương ứng năm 2005: 38,3%; 32,5%; 29,2%) Sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là 28,4% Du lịch có bước phát triển khá, năm 2010 doanh thu du lịch đạt 550 tỷ đồng gấp 8,7 lần so với năm
2005 Giáo dục đào tạo phát triển toàn diện, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện nhiều mặt, an sinh xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,15% (theo tiêu chí 2005) Công tác xây dựng Đảng được chú trọng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức An ninh quốc phòng được giữ vững Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng hoạt động [68, tr 28] Hoạt động văn hoá thông tin phát triển ngày càng đa dạng, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, tiềm lực kinh
tế của Ninh Bình nói chung còn yếu, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng suất lao động thấp, hàng hoá, dịch vụ thiếu sức cạnh tranh Số người chưa có việc làm vẫn còn nhiều, nhất là ở khu vực thành thị Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, tiêm chích, mại dâm…có xu hướng gia tăng Tiềm lực kinh tế của tỉnh tuy dồi dào nhưng chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá Phát triển ngành du lịch và dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh
Trang 17Vì vậy, đến nay tỉnh Ninh Bình vẫn còn là một tỉnh nghèo so với nhiều tỉnh thành trong cả nước Điều đó đặt ra yêu cầu cho lãnh đạo chính quyền các cấp và nhân dân Ninh Bình cần phải năng động hơn nữa để tìm ra những giải pháp nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trên, mà một trong những giải pháp đó chính là việc đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn toàn tỉnh Đây chính là một nút thắt, một khâu chính yếu nhất để vượt qua khó khăn, vươn lên trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
1.1.1.3 Truyền thống lịch sử văn hoá
Cùng với những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Ninh Bình là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử Những di chỉ khảo cổ học cho thấy các quần cư của người Việt Cổ đã tồn tại cách đây hàng ngàn năm Cuộc sống sản xuất, đấu tranh với thiên tai, giặc dã đã khiến con người nơi đây vừa gan dạ, vừa lạc quan yêu đời, gắn với một nền văn hóa, văn nghệ dân gian dồi dào và đậm đã bản sắc văn hóa dân tộc
Ninh Bình - vùng đất chứa đựng bao dấu ấn và sự tích huyền thoại trong lịch
sử phát triển của dân tộc Vùng “địa linh” này đã tạo nên những “nhân kiệt” tiêu biểu của quê hương như: Anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, Hoàng hậu Dương Vân Nga, Quốc sư Nguyễn Minh Không, danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu, Bảng nhãn Vũ Duy Thanh… Là tỉnh có nhiều núi đá, có rừng, có biển, nhân dân Ninh Bình đã tạo dựng những làng nghề độc đáo Những nghệ nhân dân gian điêu khắc
gỗ, đá ở các làng nghề Ninh Bình góp phần dựng nên những công trình kiến trúc độc đáo như: Nhà thờ đá Phát Diệm, đền vua Đinh - vua Lê, Đình Trùng Hạ, Đình Trùng Thượng và đặc biệt đặc sắc và tinh xảo nhất mới đây là xây dựng và phát triển chùa Bái Đính, một trong những ngôi chùa lớn và đồ sộ nhất Đông Nam Á
Ninh Bình là một tỉnh có bề dày truyền thống cách mạng, nhiều di tích lịch
sử và danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán tốt đẹp
Trang 18được lưu giữ qua các lễ hội truyền thống, các gia phả của gia đình, dòng họ và được thể hiện rõ nét trong hương ước, quy ước xây dựng làng xã
Với những truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, người dân nơi đây đã hình thành được một bản lĩnh, một trí tuệ và kết tinh tạo thành sức mạnh tinh thần tiềm
ẩn hết sức to lớn không những ở trong lịch sử xa xưa, trong giặc ngoại xâm mà còn đối với công cuộc xây dựng và phát triển quê hương đất nước hiện nay
Truyền thống không thể thay thế được hiện thực nhưng truyền thống sẽ biến thành sức mạnh vật chất một khi hiểu biết cội nguồn, tự hào về cội nguồn
để vững vàng vươn tới tương lai Trong dòng chảy không ngừng của thời gian bất tận, Ninh Bình với bề dày truyền thống và lịch sử đã và sẽ viết nên những trang sử mới hào hùng, cùng nhân dân cả nước xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, văn minh
Trong những năm qua, cùng với việc quan tâm xây dựng tỉnh trở thành đơn vị phát triển toàn diện Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan ban ngành đoàn thể và nhân dân Ninh Bình đã luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hoá, vượt qua những khó khăn bước đầu góp phần tích cực vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước
1.1.2 Lý luận chung về văn hoá
1.1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa
Chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm rằng: Người ta sinh ra ăn, mặc, ở trước rồi mới hát, múa, vẽ và bàn triết lý sau Kinh tế là nền tảng của một xã hội, là hạ tầng
cơ sở Chính trị, pháp luật, văn hóa là những cái được xây dựng trên nền tảng đó,
là thượng tầng kiến trúc của xã hội
Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin là những người thầy, những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân đã làm cuộc cách mạng vĩ đại trong thế giới quan, xây dựng một học thuyết mới về văn hóa Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: Văn hóa bao gồm mọi sinh hoạt của con người, nó không chỉ hạn chế trong lĩnh vực
Trang 19tư tưởng, đời sống tinh thần của xã hội Văn hóa là tất cả những gì con người xây dựng nên, tất cả những thành tích của loài người về mặt sản xuất, xã hội và tinh thần
Lênin đưa ra quan điểm được coi là định nghĩa về văn hóa và xây dựng nền văn hóa mới: "Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa ra Tất cả cái
đó là hoàn toàn nhảm nhí Nền văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của cái vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, của xã hội địa chủ, của xã hội quan liêu [47, tr 17] Như vậy, nền văn hóa mới theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài, là sự kết tinh những thành tựu văn hóa từ trước đến nay của loài người Văn hóa vô sản không đơn thuần là nền văn hóa xuất hiện, hình thành và phát triển khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, mà nó còn là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp theo một định hướng mới về mặt lý luận và tư tưởng
Theo Lênin, văn hóa vô sản không thủ tiêu văn hóa dân dộc mà lại đem lại tính nhân dân mới cho nền văn hóa dân tộc và ngược lại, văn hóa dân tộc không thủ tiêu văn hóa vô sản mà còn đem lại hình thức cho văn hóa vô sản
Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa là những phác thảo
cơ bản về văn hóa mới mang nội dung và đại diện cho giai cấp công nhân Nền văn hóa đó có truyền thống từ lâu đời, là tinh hoa của mỗi dân tộc và toàn nhân loại
1.1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hóa
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam
Đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh hoa và bản sắc dân tộc Việt Nam
Trang 20Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, tắm mình trong hoạt động thực tiễn phong phú của nhân dân, Hồ Chí Minh đã có cách nhìn nhận sâu sắc về văn hóa: " Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [49, tr 431]
Người phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và cơ sở hạ tầng, văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội Người nói: văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được; có thực mới vực được đạo; xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy [49, tr 434] Nhưng mặt khác, đến lượt mình, văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội, phát triển kinh
tế Người đã khẳng định: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi phải đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ Phải xúc tiến công tác văn hóa, để đào tạo con người mới và cho công cuộc kháng chiến [85, tr 5]
Như vậy, văn hóa mà Hồ Chí Minh đề cập ở đây là văn hóa theo nghĩa rộng
Đó là sự hiểu biết và trí tuệ của con người và do con người tích lũy được, cùng tâm hồn cao thượng, đạo lý tốt đẹp trong mối quan hệ của con người với đồng loại, với
xã hội và tự nhiên, được xây dựng bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử; nó làm nên nền tảng tinh thần của xã hội, giữ vai trò cực kỳ quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Hồ Chí Minh đã đưa ra chiến lược văn hóa từ khá sớm, năm 1942, khi nói đến định nghĩa về văn hóa, Người đồng thời nên lên 5 điểm lớn về chiến lược phát triển văn hóa Đó là:
"1 Xây dựng tâm lý: lý cách, tinh thần độc lập, tự cường
Trang 212 Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3 Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội
4 Xây dựng chính trị: dân quyền
5 Xây dựng kinh tế" [49, tr 431]
Có thể nói, 5 quan điểm lớn của một chiến lược văn hóa trên mà không thể xem nhẹ bất cứ một điểm nào Thể hiện rõ và thực hiện một cách đầy đủ cả năm quan điểm trên sẽ có một chiến lược phát triển văn hóa trong xã hội mới
Trong hoạt động thực tiễn, Người luôn nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của văn hóa, vì vậy, tháng 1/1946, Bác phát động phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới Tiếp đến tháng 4/1946, Người kí sắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vận
động đời sống mới Tháng 3 năm 1947, Người viết tài liệu "Đời sống mới" để hướng
dẫn việc xây dựng đời sống mới trong các giai cấp và tầng lớp nhân dân của xã hội
Theo Hồ Chí Minh, Văn hóa đời sống thực chất là đời sống mới, được Người nêu ra với ba nội dung: đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới Ba nội
dung này có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức mới giữ vai trò chủ yếu
1.1.2.3 Quan niệm về đời sống văn hóa
* Khái niệm
Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là tổng hợp những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một thực thể sinh học, nhu cầu tinh thần giúp con người tồn tại như một thực thể xã hội, tức là nhân cách văn hóa Hai nhu cầu về vật chất và tinh thần xuất hiện ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người Khi xã hội phát triển đến mức độ cao, đạt tới trình độ khác nhau của nền văn minh thì những nhu cầu cũng đạt tới trình độ tương ứng Từ hai nhu cầu cơ bản trên của con người đã hình thành nhu cầu văn hóa
Trang 22Nhu cầu văn hóa là biểu hiện của nhu cầu tinh thần, nhưng nó không đồng nhất với nhu cầu tinh thần, chỉ có các bộ phận nhu cầu tinh thần hướng tới giá trị cao cả, và sự đáp ứng các nhu cầu này góp phần phát triển con người theo hướng nhân bản hóa thì mới xem là nhu cầu văn hóa Nhu cầu văn hóa không phải là cái nhất thành bất biến, mà nó có tính năng động và phát triển Đáp ứng nhu cầu văn hóa cũng phải năng động và thường xuyên đổi mới chất lượng Các hoạt động nhằm vào sự đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người được gọi là hoạt động văn hóa
Con người là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa Các sản phẩm ấy phối kết hợp với mạng lưới hoạt động văn hóa của con người hình thành trên môi trường văn hóa Đó chính là vườn ươm tạo nên nhân cách văn hóa của con người Con người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của chính họ Phẩm chất văn hóa được thể hiện ở trình độ ứng xử của con người đối với thiên nhiên, với xã hội
và với chính bản thân con người
* Vai trò của công tác xây dựng đời sống văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa phải thực hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, từng cá nhân thành viên của các cấp các ngành Vì vậy, hoạt động xây dựng đời sống văn hóa có hai tác động cơ bản: Một mặt đưa những giá trị văn hóa cao tới quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng tiếp cận được với những giá trị đó Mặt khác cần phải động viên, tổ chức phát động quần chúng tiếp cận đông đảo tham gia hoạt động sáng tạo, trao đổi văn hóa
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch coi xây dựng đời sống văn hóa là một trong những trọng tâm công tác của ngành Đây không chỉ là chủ trương chiến lược lâu dài mà còn mang tính thời sự cấp bách Công tác xây dựng đời sống văn hóa vừa đảm bảo thực hiện tốt các hoạt động văn hóa theo định hướng chung, vừa biết khơi dậy những sáng tạo văn hóa ở cơ sở, phát huy truyền thống văn hóa ở địa phương góp phần làm phong phú nền văn hóa của dân tộc Cuộc đấu tranh chống
Trang 23các tệ nạn xã hội, các biểu hiện tiêu cực của xã hội tiến hành đồng thời với công tác xây dựng đời sống văn hóa
Xây dựng đời sống văn hóa được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là công việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa để tiến hành các hoạt động giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân lao động, đồng thời tổ chức sự giao lưu văn hóa giữa họ Ngoài ra, xây dựng đời sống văn hóa còn là xây dựng những điều kiện tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh trong thời gian rảnh rỗi của nhân dân Góp phần sáng tạo ra lực lượng sản xuất mới, củng cố quan
hệ sản xuất mới, xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới trong mọi mặt của đời sống vật chất cũng như tinh thần ở địa phương, là bước đầu xây dựng khắp nơi một cuộc sống hạnh phúc, trong đó mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người
Xây dựng đời sống văn hóa nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo dựng một lối sống văn minh lịch sự, những phong tục tập quán tốt đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại Đồng thời, đó còn là động lực to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội
Các hoạt động chủ yếu của công tác xây dựng đời sống văn hóa:
* Hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động
Nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin, tuyên truyền cổ động là tập trung phục vụ nhiệm vụ chính trị và những công tác lớn của địa phương, thực hiện phổ biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bao gồm các quyết định của cơ quan lãnh đạo địa phương, đồng thời nêu gương người tốt việc tốt, phê phán các thói hư tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn hóa Các cơ quan phát thanh, truyền hình và báo chí của địa phương là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, phản ánh nguyện vọng của nhân dân Trong công tác thông tin, cổ động và triển lãm là hình thức giáo dục trực quan nhẹ nhàng
Trang 24mà sâu sắc Các tổ đội thông tin cổ động cũng là hình thức tổ chức linh hoạt, có thể đem tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến tận những bản làng xa xôi hẻo lánh
Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin, con người dễ dàng tiếp nhận thông tin từ nhiều luồng khác nhau, nên dễ rơi vào tình trạng lúng túng trước nhiều nguồn thông tin phong phú và đa dạng Công tác thông tin tuyên truyền, cổ động ở địa phương có nhiệm vụ sàng lọc và định hướng, giúp nhân dân lựa chọn, định hướng tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, nhanh chóng và thuận lợi Nhờ đó mà xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong nhân dân Đồng thời hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động còn là một con đường để thực hiện xã hội hóa các phong trào xây dựng đời sống văn hóa
* Hoạt động văn nghệ quần chúng
Hoạt động văn nghệ quần chúng là dạng hoạt động văn nghệ không chuyên, khá hấp dẫn được coi như diện mạo khởi sắc làm nên sức sống của một đơn vị văn hóa
Nhiệm vụ của hoạt động văn nghệ quần chúng chủ yếu là phản ánh kịp thời
và sinh động cuộc sống đa dạng của nhân dân địa phương Từ đó nêu gương người tốt, việc tốt, phê phán những thói hư tật xấu Đáp ứng những đòi hỏi về hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng, qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức, xây dựng thị hiếu thẩm mỹ theo hướng lành mạnh, tiến bộ Mặt khác, hoạt động văn nghệ quần chúng đáp ứng nhu cầu sáng tác, biểu diễn của quần chúng, từ đó phát hiện và nhanh chóng bồi dưỡng các tài năng trẻ trở thành hạt nhân cho phong trào Có thể xem văn nghệ quần chúng là vườn ươm nghệ thuật
*Hoạt động thông tin thư viện, đọc sách, báo
Sách, báo là nguồn tri thức vô tận, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân dân Trong đời sống tinh thần của mỗi người, sách đóng vai trò rất quan trọng: là chiếc chìa khóa vạn năng mở cửa lâu đài trí tuệ và tâm hồn con người, là người thầy siêu việt thắp sáng trong mỗi người nguồn tri
Trang 25thức vô biên, dạy chúng ta biết sống và biết hy sinh Có thể nói sách chính là người bạn tâm giao chia sẻ mọi nỗi vui, buồn sâu kín của mỗi con người, và đọc sách từ lâu đã trở thành một nhu cầu cần thiết của xã hội loài người trên thế giới Vì vậy, hoạt động thông tin thư viện, xây dựng phòng đọc chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động khai dân trí của cơ quan văn hóa
Tổ chức hoạt động trung tâm thông tin thư viện và vận động quần chúng đọc sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau Phong trào đọc sách báo phải lấy thư viện,
tủ sách làm cơ sở, ngược lại thư viện phải dựa vào phong trào đọc sách báo của nhân dân mà duy trì phát triển
* Hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa
Nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và cách mạng, ngành văn hóa phải chủ trương xây dựng các nhà bảo tàng, phòng truyền thống ở những nơi có địa danh văn hóa, lịch sử và cách mạng nổi tiếng trong phạm vi cả nước Ngoài ra, ở tất cả các đơn vị văn hóa có thể xây dựng phòng truyền thống hoặc góc truyền thống đặt trong cơ quan nhà văn hóa hoặc trụ sở làm việc của các cơ quan Ngành văn hóa còn chủ trương bảo tồn những địa điểm danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, những địa điểm, hiện vật khảo cổ học quan trọng dành cho việc nghiên cứu và tham quan du lịch
* Hoạt động xây dựng làng, khu phố, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa
Cơ sở hạ tầng xã hội của văn hóa là gia đình, dòng họ và làng xã Trong truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, làng xã có vị trí vô cùng quan trọng: làng
là tế bào, là bộ phận kết nối, hợp thành trong mối quan hệ keo sơn gắn bó giữa cá nhân - gia đình - họ hàng - làng - nước Làng là nơi thể hiện rõ nét nhất tinh thần cộng đồng truyền thống, là nền tảng của lòng yêu nước, của truyền thống đoàn kết trong lao động sản xuất và chiến đấu, là nơi nuôi dưỡng và phát triển những giá trị
Trang 26văn hóa truyền thống Là nơi bắt nguồn và kết tinh biết bao di sản, giá trị tinh thần, đạo đức của văn hóa, góp phần chung đúc thành những giá trị chung của dân tộc
Làng và văn hóa làng giữ vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa Sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta do vậy cần phải dựa chủ yếu trên nền tảng xây dựng đời sống văn hóa ở đô thị, ở nông thôn, đặc biệt là cơ
sở làng và văn hóa làng, thể hiện cụ thể là xây dựng làng văn hóa
Xây dựng LVH cũng chính là thực hiện một cách cụ thể, thiết thực và sinh động chủ trương của Đảng: "Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông ta để lại, khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp văn hóa trên cả hai phương diện sáng tạo và hưởng thụ" Xây dựng LVH, GĐVH là một trong những biện pháp nhằm thực hiện chiến lược con người và chiến lược văn hóa của Đảng và Nhà nước ta
Thực chất của việc xây dựng GĐVH là xây dựng đời sống văn hóa ngay trong từng tế bào của xã hội Đó là yếu tố nền tảng và cốt lõi nhất Bởi vì, dưới chế độ XHCN, gia đình được xem với tư cách là "tế bào" của xã hội và là cái "nôi" nuôi dưỡng suốt cuộc đời của mỗi con người Gia đình thực hiện hai chức năng cơ bản là: duy trì nòi giống - tái sản xuất giống loài và xã hội hóa con người - văn hóa con người
Nếp sống văn hóa là những mô thức ứng xử của con người, biểu hiện trong mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và với chính bản thân con người, được vận dụng, lặp đi, lặp lại nhiều lần trong cuộc sống và trở thành thói quen, thành phong tục tập quán, thành một hệ thống các chuẩn mực xã hội được cộng đồng chấp nhận
và tự nguyện xây dựng nếp sống văn hóa là tiêu chuẩn, là điều kiện cần thiết để xây dựng làng, khu phố, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa
* Hoạt động thể dục - thể thao, vui chơi giải trí
Hoạt động thể dục - thể thao rất đa dạng, nhưng trong xây dựng đời sống văn hóa cần quan tâm đến các trò chơi dân gian, các môn truyền thống phù hợp với từng lứa tuổi, nghề nghiệp Hoạt động thể dục - thể thao không chỉ nhằm mục
Trang 27đích tăng cường thể chất, mà còn rèn luyện nên những phẩm chất tinh thần như ý chí, sự kiên trì, lòng dũng cảm, sự linh hoạt, thông minh và tinh thần tập thể đồng đội và làm tan biến những căng thẳng sau thời gian làm việc liên tục
Ở những nơi có điều kiện như nhà văn hóa, hội trường, sân vận động thì có thể xây dựng thành các điểm vui chơi thường xuyên Nơi chưa có điều kiện thì nên
tổ chức các hoạt động thể thao, vui chơi giải trí theo định kỳ
* Xây dựng Thiết chế văn hóa
Các thiết chế văn hóa - thông tin là một trong những nội dung cơ bản của đời sống văn hóa, có vị trí quan trọng hàng đầu trong việc đáp ứng và nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa cho nhân dân
Sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, sự đa dạng của các sản phẩm văn hóa do xã hội tạo ra có thể đến trực tiếp với từng người Nhưng do nhu cầu có sự điều tiết cho phù hợp với từng đối tượng, cho nên sản phẩm của văn hóa phải thông qua các thiết chế văn hóa - xã hội, tức là phải qua trạm trung chuyển để đến với công chúng Bộ máy trung chuyển đó bao gồm ba yếu tố cơ bản: Một là, có bộ máy điều hành, bao gồm cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn; Hai là, các quy chế, điều lệ hoạt động văn hóa; Ba là, cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ các hoạt động văn hóa
Các yếu tố trên quy tụ vào cơ quan văn hóa như: nhà văn hóa, trung tâm văn hóa, thư viện, nhà bảo tàng, các câu lạc bộ có nhiệm vụ chuyên chở các sản phẩm văn hóa đến cho mọi người trong xã hội Những yếu tố đó được gọi là thiết chế văn hóa
Trước đây, khi bàn đến thiết chế văn hóa, người ta thường nghĩ ngay tới việc xây dựng nhà văn hóa Đến nay, rút kinh nghiệm thực tiễn qua vài chục năm xây dựng đời sống văn hóa, người ta thấy rằng thay vào nhà văn hóa cần xây dựng
"trung tâm văn hóa" - là thiết chế văn hóa tổng hợp, trung tâm văn hóa bao chứa hầu hết các hoạt động văn hóa Tại đây có thể xây dựng sân khấu ngoài trời, xây dựng một số phòng, khu khác như thư viện, phòng truyền thống, phòng họp trụ sở
Trang 28của cơ quan văn hóa Ngoài ra, còn có thể xây dựng cả sân vận động để tổ chức các hoạt động thể dục - thể thao, vui chơi giải trí
1.1.3 Thực trạng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình trước năm 1998
Ngày 30-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta kết thúc thắng lợi vẻ vang, đất nước thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân tỉnh Ninh Bình tin tưởng,
tự hào, phấn khởi bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục
và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội Bước vào giai đoạn mới, Ninh Bình - vùng đất có bề dày văn hiến, có truyền thống yêu nước, sáng tạo, có đóng góp quan trọng trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, nhưng cũng gặp phải nhiều thách thức, khó khăn Sau chiến tranh, tỉnh cũng như các địa phương khác ở miền Bắc, cơ sở hạ tầng nghèo nàn, trình độ sản xuất còn lạc hậu, hậu quả chiến tranh nặng nề, chưa thể khắc phục một sớm một chiều Đời sống nhân dân khó khăn Năng lực quản lý lãnh đạo của cấp ủy, của chính quyền, các đoàn thể nhân dân nhiều nơi còn non yếu, nên trong lãnh đạo, chỉ đạo, còn nhiều lúng túng Một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tự giác, thiếu tinh thần đoàn kết, kém ý thức tổ chức kỷ luật, cá nhân chủ nghĩa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến phong trào Tuy nhiên, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, khẩn trương lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, thách thức từng bước ổn định và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa, Đảng bộ tỉnh đã dành sự quan tâm sâu sắc nhằm từng bước xây dựng kiến trúc thượng tầng cơ sở cho chủ nghĩa
xã hội và giáo dục tinh thần yêu lao động, yêu chủ nghĩa xã hội cho nhân dân Trong những năm 1975 - 1998, công tác xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn tỉnh đã xóa bỏ được những tàn dư lạc hậu của chế độ xã hội thực dân nửa phong kiến tồn tại trong tư tưởng và nếp sống của nhân dân, xác lập những nhân tố mới
của nền văn hóa XHCN đã đạt được những thành tựu bước đầu
Trang 29Từ năm 1989 (thời kỳ còn chung tỉnh Hà Nam Ninh) Sở Văn hoá – Thông tin đã tham mưu với Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh chỉ đạo phong trào xây dựng làng văn hoá trên địa bàn toàn tỉnh Ngày 31/8/1990 Sở Văn hoá – Thông tin đã ban hành văn bản số 260/CV-VH về việc hướng dẫn xây dựng quy ước làng văn hoá và kế hoạch 262/KH-VH về hướng dẫn xây dựng làng văn hoá
Từ năm 1998 trở về trước, ban chỉ đạo “Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá” tỉnh Ninh Bình đã tích cực hướng dẫn các đại phương trong tỉnh thực hiện tốt “Quy ước nếp sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình (ban hành kèm theo Quyết định số 153/QĐ-UB ngày 10/3/1993 của UBND tỉnh); thực hiện tốt Nghị quyết của HĐND tỉnh khoá IX, kỳ họp thứ IX, ngày 06/5/1994 về
“Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình
Kể từ khi tái lập tỉnh đến nay, đời sống văn hoá ở Ninh Bình được xây dựng dựa trên nhiều tiêu chí, nhưng cơ bản là xoay quanh các trục chính như: Xây dựng nếp sống văn minh, xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng làng văn hoá, cơ quan, trường học, đơn vị văn hoá Trong đó nội dung xây dựng làng văn hoá có ý nghĩa bao trùm và đóng một vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới
Ngay từ năm 1992 đến đầu 1993 Tỉnh uỷ Ninh Bình đã chỉ đạo sở văn hoá – thông tin kịp thời tham mưu với UBND tỉnh ban hành Quyết định số 398/QĐ ngày 26/6/1992 thành lập ban chỉ đạo phong trào xây dựng nếp sống văn hoá tỉnh (nay gọi là ban chỉ đạo cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”)
Ngày 10/3/1993 UBND tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 153/QĐ-UB về việc ban hành quy ước nếp sống văn hoá, nhằm đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá trong cộng đồng xã hội Quyết định nêu rõ:
“Sở Văn hoá thông tin và thể thao phải có nhiệm vụ hướng dẫn, truyền đạt rộng rãi
và cùng các ngành, các đoàn thể, các tổ chức xã hội thực hiện tốt quy ước này trong toàn thể nhân dân” Đồng thời UBND tỉnh cũng ban hành Quy ước nếp sống
Trang 30văn hoá kèm theo Quyết định số 153/QĐ-UB Quy ước bao gồm những quy định
cụ thể về nếp sống văn hoá nơi công cộng; nếp sống văn hoá trong cơ quan – xí nghiệp, trường học; nếp sống văn hoá trong làng, xã, phường, thị trấn; nếp sống văn hoá trong gia đình; nếp sống văn hoá trong việc cưới; nếp sống gia đình trong việc tang
Ngày 10/2/1994, UBND tỉnh Ninh Bình tiếp tục ra Quyết định số
154/QĐ-UB về việc ban hành quy chế mở hội truyền thống Quyết định bao gồm những quy định chung, quy định cụ thể về việc mở hội truyền thống Điểm chú ý nhất là những quy định về những thủ tục mở hội và tổ chức lễ hội đối với hội làng và hội vùng
Tại kỳ họp thứ IX ngày 06/5/1994, HĐND tỉnh khoá IX đã ra nghị quyết về việc “Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hoá” Trên cơ sở thực trạng tình hình hoạt động văn hoá của tỉnh, HĐND tỉnh quyết định: “Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động nếp sống văn hoá tỉnh Ninh Bình” Nghị quyết nhấn mạnh vào việc xây dựng nếp sống, lối sống, đạo đức XHCN là nhiệm vụ rất quan trọng
và là nhiệm vụ của tất cả các ngành, các cấp, là trách nhiệm của mọi người phải tham gia thực hiện
Với vai trò tiên phong trong việc thực hiện xây dựng nếp sống văn hoá, ngày 31/5/1996, Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Ninh Bình đã mở hội nghị gồm các đồng chí trưởng phòng văn – thể các huyện thị, các chuyên viên có kinh nghiệm về xây dựng đời sống văn hoá, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá trong ngành Hội nghị đã thảo luận hết sức sâu sắc những vấn đề liên quan đến việc xây dựng đời sống văn hoá Những kết luận chủ yếu của hội nghị này được trình bày trong Thông báo số 140/TB-VH
Ngày 06/6/1996, UBND tỉnh Ninh Bình và Sở Văn hoá - Thông tin ra thông báo số 140/TB-VH về việc đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, làng văn hoá của tỉnh Ninh Bình Thông báo chỉ rõ: “Việc xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá là việc làm thường
Trang 31xuyên, liên tục của nhiều ngành, nhiều cấp dưới sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền mà ngành văn hoá thông tin là cơ quan tham mưu cho cấp uỷ và chính quyền”
Ngay sau Hội nghị, các huyện thị đã khẩn trương tổ chức triển khai ở đơn vị mình Đặc biệt ở huyện Yên Khánh và thị xã Ninh Bình đã chỉ đạo kịp thời, sâu sát
và có biện pháp tuyên truyền cổ động quần chúng nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các đoàn thể quần chúng Bên cạnh đó việc kiện toàn và củng cố Ban chỉ đạo xây dựng nếp sống ở các xã, phường do chủ tịch UBND xã, phường làm trưởng ban được tiến hành khẩn trương
Tuy nhiên, để đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng làng xã văn hoá của tỉnh Ninh Bình thêm một bước, dựa trên một số văn bản hướng dẫn về công tác xây dựng làng văn hoá của cục Văn hoá - Thông tin (Bộ Văn hoá - Thông tin), UBND
và Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh đã ra văn bản hướng dẫn công tác xây dựng làng,
xã văn hoá, xây dựng gia đình văn hoá (ngày 20/6/1996) Đồng thời văn bản hướng dẫn còn nêu ra những quy định về tiêu chuẩn cộng nhận làng, thôn, xã, gia đình văn hoá
Dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh, các cấp các ngành, đời sống văn hoá của tỉnh Ninh Bình kể từ khi tái lập tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng kể Phong trào xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá đã góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội ngày càng phát triển ổn định, an ninh chính trị được đảm bảo Những địa phương điển hình trong công tác xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình ngày một nhiều như thị xã Ninh Bình (nay là thành phố Ninh Bình), thị xã Tam Điệp, xã Quảng Lạc, xã Yên Quang, xã Thạch Bình (Nho Quan), xã Liên Sơn (Gia Viễn), xã Trường Yên, xã Ninh Phong (Hoa Lư), xã Khánh Thịnh, xã Yên Phong, xã Yên Từ (Yên Mô), xã
Ân Hoà, xã Định Hoá (Kim Sơn)
Công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi ở tất cả các địa phương, làng, xã Năm 1998 tỷ lệ hộ đói nghèo
Trang 32giảm từ 20,3% xuống còn 17%, hộ khá giàu cũng vì thế mà tăng lên rõ rệt, từ 12,3% năm 1992 lên 22%, thu nhập lương thực bình quân trên đầu người tăng lên
từ 263kg năm 1991 lên 450kg [24, tr 19]
Trên cơ sở đời sống kinh tế từng bước ổn định và phát triển, đời sống văn hoá xã hội cũng ngày càng được nâng lên rõ rệt Nhân dân có điều kiện xây dựng nhà cửa, mua sắm tiện nghi trong gia đình, điện sinh hoạt đã đến hầu hết các xã trong tỉnh, hệ thống phát thanh truyền hình được xây dựng và phục hồi cơ bản ở các đại phương, hệ thống bưu điện văn hoá xã đã phát triển rộng khắp trên đại bàn toàn tỉnh Công tác xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá đều được các cấp uỷ Đảng chính quyền và nhân dân quan tâm và thu được những thành tựu nhất định
Năm 1998 Sở Văn hoá - Thông tin đã có sáng kiến tổ chức “Hội thi nét đẹp trong đám cưới” có tác dụng tuyên truyền và phát triển thành phong trào rộng khắp Đại bộ phận các đám cưới đã được tổ chức theo nếp sống mới song vẫn đảm bảo được tính trang trọng, vui tươi, lành mạnh và tiết kiệm
Việc tang lễ đều được các tổ chức Đảng và chính quyền, các đoàn thể và mọi người quan tâm Ở tất cả các địa phương trong tỉnh nơi nào cũng thành lập Ban tang lễ với đầy đủ các thành phần Đảng, chính quyền, đoàn thể, mặt trận và gia đình tang chủ để tiến hành tổ chức tang lễ với những nghi thức phù hợp với phong tục tập quán ở địa phương
Về lễ hội, nhìn chung các Hội làng, Hội vùng ở Ninh Bình được thực hiện theo đúng quy chế lễ hội truyền thống của Bộ Văn hoá - Thông tin và UBND tỉnh, đảm bảo tính vui tươi lành mạnh, an toàn và tiết kiệm, hạn chế đến mức thấp nhất việc xảy ra các biểu hiện vi phạm pháp luật và mê tín dị đoan
Đối với việc xây dựng gia đình văn hoá, từ năm 1992 đến 1998 phong trào xây dựng gia đình văn hoá ở các đại phương trong tỉnh đã phát triển khá mạnh Kết quả tính đến tháng 6 năm 1996 toàn tỉnh có 8.986 gia đình văn hoá, năm 1997
Trang 33có 27.436 gia đình văn hoá và cuối năm 1998 có 138.644 gia đình văn hoá (đạt gần 50% tổng số hộ trong tỉnh) [24, tr 24]
Mặt khác phong trào xây dựng làng văn hoá nhanh chóng lan rộng khắp tỉnh Cuối năm 1998 toàn tỉnh có tới 75% các làng, phố, xã, phường xây dựng được hương ước, quy ước văn hoá trên cơ sở thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ
sở Năm 1998, UBND tỉnh đã công nhận 16 làng văn hoá cấp tỉnh, 36 đơn vị được công nhận là cơ quan, trường học văn hoá [24, tr 29]
Trong những năm 1975 - 1998, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, công tác xây dựng đời sống văn hóa đã đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế: Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa, GĐVH phát triển chưa thật vững chắc Việc xây dựng làng, khu phố văn hóa còn chậm, chưa tương xứng với những điều kiện và tiềm năng của tỉnh Các hoạt động VHTT và TDTT chưa thường xuyên, hiệu quả xã hội còn hạn chế
Vì vậy, mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân thị xã còn thấp, nghèo nàn Các thiết chế hoạt động VHTT và TDTT ở nhiều nơi bị xuống cấp đến mức nghiêm trọng Nhiều cơ sở vật chất hoạt động VHTT hiện chưa được khai thác và phát huy tốt, chưa đi đúng vào quỹ đạo của một thiết chế VHTT Các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, truyền thống còn diễn ra tự nhiên, tự phát, chưa có sự hướng dẫn, nghiên cứu và nâng cao Các hủ tục lạc hậu trong việc cưới, tang, xây cất mồ mả, giỗ tết chưa được ngăn chặn
Những hạn chế nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trước hết, ở nhiều nơi các cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành đoàn thể chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác xây dựng đời sống văn hóa, nên chưa quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ và đầu tư kinh phí cho các hoạt động văn hóa
Trong nhận thức và tổ chức chỉ đạo thực hiện còn có sự tách rời công tác xây dựng đời sống văn hóa với việc thực hiện các nhiệm vụ về kinh tế - chính trị -
Trang 34xã hội, chưa thực sự coi văn hóa là động lực trực tiếp thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị
Nhu cầu đầu tư kinh phí cho các hoạt động văn hóa thì cao và lại đòi hỏi có
kế hoạch, thường xuyên Trong khi đó, ngân sách xã, phường rất eo hẹp, ngân sách của trung ương, tỉnh và hỗ trợ lại hết sức hạn chế Việc huy động các tổ chức, đoàn thể nhân dân tham gia đóng góp kinh phí để xây dựng đời sống văn hóa còn nhiều khó khăn, vướng mắc, nhất là việc xây dựng các thiết chế văn hóa mới Vì vậy, không đảm bảo những điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động thường xuyên cho các hoạt động văn hóa
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa của tỉnh còn rất thiếu, chưa được đào tạo, tập huấn hệ thống chuyên môn, nghiệp vụ, lại thường xuyên bị xáo trộn, thay đổi, chưa yên tâm công tác, do một phần không đảm bảo chế độ
Do điều kiện lao động và sinh hoạt của đại bộ phận nhân dân, đặc biệt là các
xã vùng nông thôn còn rất khó khăn, nên nhu cầu thưởng thức, hưởng thụ và tham gia các hoạt động VHTT và TDTT còn nhiều hạn chế
Các mô hình tổ chức và hoạt động văn hóa chưa được thực tiễn khẳng định Nhiều mô hình, phương thức hoạt động văn hóa chưa khai thác và phát huy tiềm năng, thế mạnh, chưa phù hợp với đặc điểm tình hình của nhiều nơi, dẫn đến bị tan
vỡ, tạo nên sự khủng hoảng về phương pháp, nội dung tiến hành xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định trong việc thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng xã văn hoá, nhưng những kết quả mà tỉnh Ninh Bình
đã đạt được trong xây dựng đời sống văn hoá có tác dụng rất lớn Kết quả đó đã góp phần đắc lực vào cuộc đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, đồng thời phát huy
và giữ gìn được thuần phong mỹ tục của con người Ninh Bình, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một phát triển
Trang 351.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1998 – 2005
1.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng đời sống văn hoá ở nước ta
Công tác tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa là một trong những chủ trương lớn, được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm Ngay từ năm 1943 Đảng đã có
“Đề cương văn hóa” do đồng chí Trường Chinh soạn thảo, nhằm khẳng định văn hóa là một trong ba mật trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) và định hướng cho hoạt động văn hóa ở nước ta theo tinh thần “Dân tộc, khoa học, đại chúng” “Đề cương văn hóa” được đánh giá như một bản tuyên ngôn, cương lĩnh về văn hóa của Đảng,
là phương hướng chỉ đạo mọi hoạt động văn hóa của cả nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành xây dựng CNXH ở miền Bắc
Năm 1975, Khi đất nước hòa bình thống nhất sau 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Đảng tiếp tục lãnh đạo cả nước bước vào thời kỳ quá
độ đi lên xây dựng CNXH Nhằm khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại, từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội mới, động viên tinh thần của nhân dân, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976), Đảng xác định
“Nắm vững chuyên chính vô sản… tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng XHCN: cách mạng quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học - kỹ thuật; cách mạng trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng…” [31, tr 298].
Để thực hiện cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Đảng đưa ra nhiệm vụ: “…Phát triển nền văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, đẩy mạnh phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng Nâng cao không ngừng trình độ thưởng thức và năng lực sáng tạo nghệ thuật của quần chúng, thoả mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa của nhân dân trên mọi miền của đất nước…Xây dựng nếp sống văn minh, trật tự, tươi vui lành mạnh trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất Xây dựng
Trang 36nhiều công viên, cung văn hóa, cung thiếu nhi, câu lạc bộ, nhà văn hóa Chú ý tổ chức tốt đời sống văn hóa ở các vùng kinh tế mới, ở các công trường, nông trường, lâm trường, các vùng dân tộc, miền núi, hải đảo” [31, tr 321]
Sau một thời gian tiến hành thực hiện, công tác văn hóa chưa đi vào đời sống của nhân dân có hiệu quả Cũng cần nói thêm rằng, cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp cũng ăn sâu vào nếp nghĩ, tâm lý của những người làm công tác lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Thêm vào đó cũng như các lĩnh vực khác, chúng ta chưa có ý thức phân biệt công việc lãnh đạo với công việc quản
lý các hoạt động văn hóa - nghệ thuật…
Những sai sót và yếu kém trên tuy chưa gây trở ngại lớn cho việc phát triển văn hóa sau khi đất nước được hoà bình, thống nhất, nhưng đã dần tích lũy và cản trở sự phát triển của văn hóa trong giai đoạn mới Yêu cầu đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa là cực kỳ quan trọng và cần thiết
Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội nước
ta, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế, xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng XHCN
Trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Đảng cũng có quan điểm mới, đặc biệt chú ý tới xây dựng quan hệ xã hội và lối sống lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực Tư tưởng đó không chỉ giải đáp được những băn khoăn trong suy nghĩ của những người làm văn hóa, mà còn là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng định hướng và có hiệu quả Về vị trí và vai trò của văn hóa, Đại hội VI nhấn mạnh: “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn hóa, văn học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” [26, tr 138] Vì vậy Đảng chủ trương:
“Công tác văn hoá, văn học, nghệ thuật phải được nâng cao chất lượng… Đẩy
Trang 37mạnh các hoạt động văn hoá quần chúng thành nề nếp, nhất là trong thanh niên, khắc phục bệnh phô trương, hình thức Xây dựng và sử dụng các hệ thống thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, viện bảo tàng, nhà truyền thống từ trung ương đến
cơ sở, ở các ngành và các địa phương…phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng thông tin, đưa đến tận các đơn vị cơ sở những giá trị văn hoá, nghệ thuật của dân tộc và thế giới, những kiến thức phổ thông và hiện đại
về khoa học, kỹ thuật Đưa văn hoá, văn nghệ đến vùng rừng núi và nông thôn hẻo lánh… Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho văn hoá, văn nghệ, giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử, văn hoá” [26,
tr 139]
Từ Đại hội VI công cuộc đổi mới tư duy nói chung và đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa của Đảng đã được tiếp tục Nhưng trong khuôn khổ của một Đại hội Đảng, lĩnh vực văn hóa mới chỉ được đề cập ở khía cạnh những quan điểm và phương hướng cơ bản, trở thành nền tảng cho nội dung các hoạt động về văn hóa, văn nghệ, trong đó có vấn đề lãnh đạo và quản lý hoạt động này
Bám sát yêu cầu của đường lối đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, Bộ Văn hoá Thông tin đã chủ động đổi mới phương thức tổ chức xây dựng đời sống văn hoá thông tin văn hoá ở cơ sở cho phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước Năm 1990, Bộ Văn hoá -Thông tin đã tiến hành phát động phong trào thực hiện xây dựng làng văn hoá
Tiếp nối tinh thần trên, Đại hội VII (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chỉ rõ:
“Xã hội chúng ta xây dựng là xã hội có một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Đảng chủ trương “Phát triển sự nghiệp văn hoá Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Vận động toàn dân thực hiện lối sống cần, kiệm, văn minh, lịch sự
Trang 38Phát động phong trào quần chúng bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội khác” [27, tr 201]
Trên cơ sở đó, Đảng nhận thức rõ: “Xây dựng gia đình văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hoá dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi người, kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống có văn hoá” [27, tr 206]
Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng được Đảng ta đánh giá là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và khuyến khích tự do sáng tạo văn hóa, nghệ thuật là tiến tới hoàn thiện con người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, đề cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, phấn đấu làm cho dân giầu nước mạnh, phê phán những thói hư tật xấu, cái độc ác, thấp hèn Đồng thời phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí,xuất bản theo hướng dẫn nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân Tăng đầu tư phương tiện phát thanh, truyền hình, đưa thông tin đến mọi vùng của đất nước, đến phần lớn các gia đình, nhất là ở nông thôn miền núi
Trên cơ sở thực tiễn và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường lành mạnh cho sự phát triển của xã hội” [28, tr 135]
Trang 39Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hành phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác” [28, tr 136].
Từ Đại hội VII (năm 1991), cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá đã được thực hiện trong cả nước Nhiều tỉnh, thành phố đã có những việc làm thiết thực đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, thôn ấp văn hoá; bước đầu hình thành một số nghi thức mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, phát huy truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, hiếu thảo, thuỷ chung của dân tộc
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế sang cơ chế thị trường ở nước ta đã có phần buông lỏng chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hoá - xã hội, xem nhẹ việc giáo dục nếp sống và lối sống, thiếu sự hướng dẫn kịp thời về phong tục, thiếu những quy định cụ thể của Nhà nước đối với việc cưới, việc tang, lễ hội nên đã để phát sinh nhiều hiện tượng không lành mạnh trong xã hội Nhiều gia đình, trong đó có cả những cán bộ có chức quyền, vì động cơ hiếu danh, vụ lợi, tổ chức đám cưới, đám tang linh đình, phô trương, có những trường hợp thực chất là "bán cỗ thu tiền" Mê tín dị đoan cùng nhiều hủ tục, kể cả một số
hủ tục mới hình thành do thói đua đòi, và do cách học theo nước ngoài thiếu sự phê phán, chọn lọc, đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển khá phổ biến ở nhiều nơi
Những hiện tượng trên trở thành những vấn đề xã hội nhức nhối, làm xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống, lối sống cần kiệm, giản dị của dân tộc, phá hoại thuần phong, mỹ tục, ảnh hưởng xấu tới đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, ngày càng bị những bộ phận tiên tiến trong nhân dân lên án, không đồng tình
Trước tình hình đó, theo Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12-1-1998, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh xây
Trang 40dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá, trong đó có việc thiết lập nếp sống lành mạnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo những định hướng:
“Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu; nghiên cứu xây dựng và hình thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong việc cưới, việc tang, lễ hội
- Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu
- Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi
- Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan” [71, tr 11].
Để thực hiện chủ trương trên, cần làm tốt một số công việc sau đây:
- Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp phải thực sự quan tâm, có kế hoạch
cụ thể chỉ đạo xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi
đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương ngay trong dịp tết và Xuân Mậu Dần này
- Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức
tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh - gia đình văn hoá
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội đóng vai trò nòng cốt phối hợp kế hoạch tiến hành cuộc vận động từ cơ sở xã, phường, lôi cuốn mọi người, mọi lực lượng tham gia, tạo ra dư luận xã hội mạnh mẽ phê phán những biểu hiện cổ hủ, xa hoa lãng phí, hiếu danh, vụ lợi trong cưới xin, ma chay, tế lễ không phù hợp với yêu cầu của cuộc sống văn minh
- Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nhân viên nhà nước và cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân phải gương mẫu chấp hành những quy định của Nhà nước, quy ước của địa phương, cơ quan, đơn vị về nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, cổ hủ, xa hoa lãng phí, vụ lợi trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi đây là một tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ,