1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đảng bộ tỉnh cao bằng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo tu nam 2001 den nam 2010

119 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 18,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nhiệm kỳ 1996 - 2000 đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới là “Chủ động, tích cực khai thác các điều kiện thuận lợi, nỗ lự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4 Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 10 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trước năm 2001 10

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng

1.3.1 Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo 25 1.3.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về thực hiện xóa đói, giảm nghèo30 1.3.3 Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm

2001 đến năm 2005 49

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 53 2.1 Chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010 53

Trang 3

2.2 Chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ

tỉnh Cao Bằng 57

2.2.1 Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo 57 2.2.2 Sự chỉ đạo của Tỉnh ủy thực hiện xóa đói, giảm nghèo 59

2.3 Kết quả và hạn chế 85

2.3.1 Kết quả 85

2.3.2 Hạn chế 87

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 92

3.1 Một số nhận xét 92

3.2 Một số kinh nghiệm 98

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 115

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đang đứng trước thời khắc trọng đại của lịch sử là đang tiến vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũng xuất hiện không ít những vấn đề gay gắt, mang tính toàn cầu Một trong những vấn đề đó là đói nghèo Nó tồn tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của các chế độ xã hội, của mỗi quốc gia, dân tộc Cuộc chiến chống đói, nghèo luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn cầu hóa, quốc tế hóa nền kinh tế đang là xu hướng chủ đạo, chi phối sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Một số quốc gia, tổ chức quốc tế đã tổ chức các diễn đàn quốc tế

và các hoạt động chống đói, nghèo Coi đó là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong chương trình hoạt động của mình

Ở nước ta, công tác xóa đói, giảm nghèo được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước, đã và đang trở thành một nội dung quan trọng của chương trình công tác của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể Công tác này được bắt đầu từ khi xuất hiện xu hướng phân hóa giàu, nghèo trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Trong quá trình thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và được thế giới biết đến Đó là nhờ từ rất sớm (từ năm 1991), vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và triển khai thành phong trào xóa đói giảm nghèo sâu rộng trong cả nước Theo tổng kết của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), trong điều kiện kinh tế, xã hội của mình so với những nước có cùng mức GDP, Việt Nam đã sử dụng những nguồn lực có

Trang 5

được một cách hiệu quả vào việc nâng cao mức sống người dân, trình độ dân trí, tuổi thọ, bình đẳng giới…Điều này nói lên những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Báo cáo Chính trị Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức…đến cuối năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn Việt Nam cho giai đoạn 2001 - 2005) còn 7% (năm 2001 là 17,5%, kế hoạch

là 10%)[27, tr.157] Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 22% năm 2005 (theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010) xuống còn 9,45%) Có được những thành công này là nhờ sự nỗ lực của toàn dân trong đó phải kể tới nhân tố quan trọng hàng đầu là chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam với chiến lược phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; đó là sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế và sự

nỗ lực của các tỉnh thành trong cả nước

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc còn gặp nhiều khó khăn, có tới 95% đồng bào là dân tộc thiểu số và hơn 70% số xã nằm trong diện đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp và chưa đồng đều giữa các dân tộc, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ đói, nghèo cao (gần 47,82%, trong đó vùng đặc biệt khó khăn còn tới trên 70%, có xã trên 90%, ở các vùng dân tộc thiểu số còn trên 80% đói nghèo, năm 2006), đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém GDP bình quân đầu người chỉ đạt 602 USD/người/năm (vào năm 2010) Cao Bằng hiện vẫn đang

là một trong những tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước

Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo, ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng

bộ tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp và toàn thể nhân dân, Cao

Trang 6

Bằng đã đạt được những thành tựu lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo: tỷ

lệ hộ nghèo năm 2006 là 47,82% đã giảm xuống còn 23% vào năm 2010 Tuy nhiên, công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn cả

về khách quan và chủ quan, những nguồn lực sẵn có chưa phát huy hết hiệu quả nên thành tựu đạt được còn khá khiêm tốn so với khả năng hiện có của tỉnh Để lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong những năm tới đạt kết quả cao hơn, vấn đề quan trọng hàng đầu cần thực hiện tốt là tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm để công tác xóa đói giảm nghèo của tỉnh đạt kết quả cao hơn Nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó, tôi chọn và thực

hiện đề tài luận văn thạc sỹ: “Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Đói, nghèo và xóa đói, giảm nghèo là vấn đề lớn, bức thiết ở nước ta hiện nay, đã và đang thu hút các cơ quan, các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp Kết quả nghiên cứu của các công trình, các nhà khoa học đã được đăng tải trong các sách, tạp chí và trong các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ

và các phương tiện thông tin đại chúng khác Sau đây là các công trình khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài:

- “Xóa đói giảm nghèo” của Bộ Lao động – Thương binh xã hội (1993)

- “Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay” của

Nguyễn Thị Hằng (NXB chính trị quốc gia Hà Nội - 1997)

- “Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo

ở Viêt Nam” chủ biên GS PTS Vũ Thị Ngọc Phùng (NXB chính trị quốc gia

Hà nội - 1999);

- “Đói nghèo ở Việt Nam” chủ biên: Chu Tiến Quang (NXB Nông

nghiệp Hà nội - 2001);

- “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo” của

Lê Quyết (NXB lao động, Hà nội - 2002);

Trang 7

- “Đánh giá chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và

chương trình 135” của Bộ LĐ- TB & XH và UNDP - 2004

- “Tăng trưởng, đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam” (Tạp chí Lao

- “Tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo đối với sự phân hóa xã

hội ở nước ta” của Trần Văn Phong (Tạp chí Lý luận chính trị, 2006, số 4)

- “Đảng bộ tỉnh Kon tum lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn

hiện nay”, Luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng

Cộng sản Việt Nam của Lê Như Nhất, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2007)

- “Hoàn thiện các chính sách xóa đói, giảm nghèo chủ yếu của Việt

Nam đến năm 2015” (Luận án Tiến sĩ Kinh tế - Nguyễn Thị Hoa, 2009)

- “Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm

nghèo trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên

ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam của Trịnh sơn, Học viện Chính trị

- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2010)…

Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác nhau các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để thực hiện đề tài luận văn Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ của khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao

Trang 8

Bằng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010 (từ Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XV đến kết thúc nhiệm kỳ Đại hội

Đảng tỉnh lần thứ XVI)

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng quán triệt chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta vào việc lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo ở Tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010, qua đó rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào giai đoạn cách mạng tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010

- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm từ công tác lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trên địa bàn tỉnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trên địa bàn của tỉnh

- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về xóa đói, giảm nghèo

5.2 Nguồn tài liệu

Trang 9

Để thực hiện luận văn này tác giả đã sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu là các tác phẩm kinh điển, Hồ Chí Minh toàn tập, các Văn kiện, Nghị quyết Đảng Cộng sản Vịêt Nam liên quan đến đói nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo Các văn kiện, Nghị quyết, Báo cáo của Đảng bộ Cao Bằng trong thời

kỳ 2001 - 2010 Các Báo cáo tổng kết Chương trình xóa đói, giảm nghèo qua các năm của các Ban, ngành và Sở Lao động Thương binh - xã hội tỉnh Cao Bằng và một số bài viết về Cao Bằng Đây là nguồn tư liệu cơ bản để thực hiện đề tài và được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu là tại Trung tâm Lưu trữ của Tỉnh ủy Cao Bằng, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng,

Sở Lao động Thương binh - xã hội tỉnh Cao Bằng, Thư viện tỉnh Cao Bằng

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu nhưng pháp chủ yếu

là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra, khảo sát thực tiễn

6 Dự kiến đóng góp của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ những thành công, hạn chế và những bài học

kinh nghiệm trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng những năm 2001 – 2010

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo

để công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh đạt kết quả lớn hơn trong những năm tới

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn

Trang 10

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI,

GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng

và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trước năm 2001

1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Cao Bằng

*Điều kiện tự nhiên

Về vị trí địa lý, Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao biên giới, phía

Đông Bắc của tổ quốc Nằm ở tọa độ địa lý 22o22’ - 23o07’ vĩ Bắc, 105o40’ -

106o40’ kinh Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc, có đường biên giới dài 311 km2 Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và

Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn Tỉnh Cao Bằng có 12 huyện, 01 thị xã với 189 xã, phường, thị trấn Diện tích

tự nhiên là 6.690,72km2

chiếm 2,12% diện tích tự nhiên của cả nước Có 3 cửa khẩu (Tà Lùng, Hùng Quốc, Sóc Hà) là lợi thế quan trọng tạo cho Cao Bằng điều kiện thuận lợi giao lưu kinh tế với nước ngoài, nhất là với Trung Quốc Cao Bằng là tỉnh nằm sâu trong nội địa, xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng Đông Bắc và cả nước (Thị xã Cao Bằng cách thủ đô Hà Nội 286 km theo Quốc lộ 3), giao lưu chỉ có duy nhất theo đường bộ Do hạn chế về điều kiện giao thông nên việc giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh, các vùng trong

cả nước còn nhiều khó khăn

Về địa hình, địa hình tỉnh Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp hình

thành 4 tiểu vùng kinh tế sinh thái:

Trang 11

Tiểu vùng đá vôi ở phía Bắc và Đông Bắc chiếm 32% diện tích tự nhiên

của tỉnh, phần lớn nằm dọc biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Bảo lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên, Phục Hòa, Thạch An Đặc trưng chủ yếu là xen kẽ giữa các dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp, thiếu nước về mùa khô, độ cao trung bình 700 - 1000m Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: ngô, đỗ tương, dược liệu, khoáng sản

Tiểu vùng núi đất ở phía Tây và Tây Nam chiếm 18% diện tích tự nhiên

của cả tỉnh thuộc các huyện Bảo Lạc và Nguyên Bình Đặc trưng chủ yếu là địa hình chia cắt mạnh, dốc lớn, độ cao trung bình 700 - 1100m Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, khoáng sản

Tiểu vùng núi đất thuộc thượng nguồn sông Hiến chiếm 38% diện tích

tự nhiên của tỉnh Đặc trưng chủ yếu là thoải dần xuống bồn địa Cao Bằng, địa hình vẫn còn chia cắt mạnh, độ dốc vẫn còn lớn, xen kẽ giữa các dãy núi cao là những thung lũng hẹp, độ cao trung bình 200 - 600m Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: chăn nuôi và lâm nghiệp

Tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyện Hòa An dọc sông Bằng

chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh Đây là vùng trồng lúa nước lớn nhất của tỉnh Tiềm năng thế mạnh của tiểu vùng này là: lúa, thuốc lá, thủy sản

Về khí hậu, Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí

hậu lục địa miền núi cao (khí hậu Châu Á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt thay đổi lớn, lượng mưa ít và phân bố không đều Mưa, bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa trung bình hàng năm 1.500mm Vùng mưa nhiều gồm các huyện Nguyên Bình, bắc Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Hạ Lang là 1.500 - 1.900mm; vùng mưa trung bình: Hòa An, nam Hà Quảng, Trùng Khánh là 1.300 - 1.500mm Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương

Trang 12

muối, mưa đá xảy ra thường xuyên Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất

350oC, thấp nhất 0oC Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8) nhiệt độ trung bình là 30 - 34oC; tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông, nhiệt

độ trung bình là 5 - 6oC, tháng lạnh nhất là tháng 1 Tần suất sương muối thường xảy ra vào tháng 1 và tháng 2 Với đặc điểm khí hậu đặc thù, đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây con phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như dẻ hạt, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng…mà nhiều nơi khác không

có điều kiện phát triển

Về nguồn lao động: theo tổng điều tra dân số 1/4/1999, dân số Cao

Bằng có 490.335 người, trong đó có 421.999 người sống ở nông thôn, chiếm 86,06% tổng dân số; gồm có các dân tộc chủ yếu sau: dân tộc Tày 208.822 người, chiếm 42,58%; dân tộc Nùng 161.134 người, chiếm 32,86%; dân tộc Dao 47.218 người, chiếm 9,63%; dân tộc Mông 41.437 người, chiếm 8,45; dân tộc Kinh 22.956 người, chiếm 4,68% Ngoài ra là các dân tộc: Sán Chỉ,

Lô Lô, Hoa, Mường, Thái, người nước ngoài và một số ít dân tộc khác Dân

số từ 13 tuổi có 335.746 người, chiếm 68,47%, trong đó có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 36.670 người chiếm 10,92% Trong số này số người có trình

độ Cao Đẳng và Đại học là 7.306 người, chiếm 2,76% Lao động nông - lâm - nghiệp chiếm 79% Như vậy, lực lượng lao động đã qua đào tạo mới chỉ chiếm khoảng 15,1% tổng số lao động, thấp hơn nhiều so với trung bình của

cả nước (22%), còn thiếu lao động có kỹ thuật và tay nghề cao, hệ số sử dụng lao động ở nông thôn mới đạt khoảng trên 70%, năng suất lao động thấp

Về tài nguyên đất, Cao Bằng có 598.735,1 ha đất nông - lâm nghiệp,

chiếm 89,1% diện tích đất tự nhiên Trong đó đất nông nghiệp truyền thống

có diện tích trên 85,3 nghìn ha (chiếm 12,5%), đất lâm nghiệp gần 514,9 nghìn ha (chiếm 76,6%), đất nuôi trồng thủy sản là 313,33 ha (chiếm 0,05%)

Trang 13

Hệ số sử dụng đất đạt 1,3 lần Đất phi Nông nghiệp chiếm 3, 18% diện tích đất tự nhiên (khoảng 21.340,7 ha), bao gồm đất thổ cư, đất dành cho công trình hạ tầng và quốc phòng – an ninh Ngoài ra, Cao Bằng còn có 51.880 ha đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, với diện tích đất phù sa, bằng phẳng, tuy chỉ chiếm 10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh nhưng cũng có những cánh đồng nhỏ, mầu mỡ dọc theo triền các dòng sông, hoặc trên những thung lũng như: Sóc Hà, Đôn Chương, Phù Ngọc, Đồng Mu, Bó Bạch, Thạch Bình, Cổ Nông, Thông Huề, Pò Tấu, Tiên Thành…mà trong số đó lớn nhất là cánh đồng của huyện Hòa An trải dài trên 20km, đất đai phì nhiêu, tiện lợi canh tác, vì thế những nơi này dân cư rất đông đúc và có cuộc sống sung túc hơn

Về tài nguyên rừng, thế mạnh của tỉnh Cao Bằng trước hết là rừng và

đất rừng, tỷ lệ che phủ rừng năm 2001 có quy mô là 286.363 ha, trong đó rừng tự nhiên là 271.531 ha, chiếm 94,8% Rừng của Cao Bằng có giá trị kinh

tế cao với nguồn lâm thổ sản phong phú, trong đó phải kể đến các loại: Sa Nhân, Mộc Nhĩ, Nấm Hương, Cánh Kiến…và các loại hạt có dầu (Trẩu, Sở, Lạc…) các cây dược liệu, thuốc bổ đông y quý hiếm như Nhân Sâm, Tam Thất, Ngũ Gia Bì…Trong rừng còn có nhiều Mây, Song và nhiều loại gỗ quý như Trai, Nghiến, Lim, Lát, Đinh, Dổi…Đây là một trong những lợi thế tiềm năng của Cao Bằng

Về tài nguyên khoáng sản, Cao Bằng là một trong những tỉnh miền núi

có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, trong đó có những khoáng sản có tiềm năng lớn, giá trị kinh tế cao, đã và đang được khai thác phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Qua khảo sát, có tới

150 điểm mỏ với 22 loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt như mỏ Quặng sắt (Nà Lủng - thị xã); Thiếc (Tĩnh Túc - Nguyên Bình); Măng Gan (Trà Lĩnh, Trùng Khánh)… Đáng kể nhất là Sắt trữ lượng khoảng 60 triệu tấn, Bôxít trữ lượng khoảng 180 triệu tấn, Măng Gan trữ lượng khoảng

Trang 14

2,7 triệu tấn, Thiếc trữ lượng khoảng 11,5 nghìn tấn Ngoài ra còn có Vàng, Đồng, Niken, Chì, Urani, Berili, Barit, Fluorit, Photphorit, đá quý Rupi, Saphia…có thể khai thác trong vài chục năm tới; đá Vôi có trữ lượng hàng ngàn triệu tấn, có nhiều công dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp trong tương lai

Như vậy, với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và những nguồn tài nguyên sẵn có, Cao Bằng có những nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế

- xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tạo những thuận lợi nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Song điều kiện tự nhiên của Cao Bằng cũng gây nên những khó khăn nhất định trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt là đối với các xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh

*Điều kiện kinh tế - xã hội

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, Cao Bằng có nhiều thuận lợi nhất định trong phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu ngành nghề đa dạng

Về nông - lâm nghiệp: Cao Bằng có gần 95.000 ha (chiếm 14,12% đất

tự nhiên toàn tỉnh) đất dành cho sản xuất nông nghiệp, trên 534.000 ha (trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đất lâm nghiệp có rừng và trên 400 ha đất nuôi trồng thủy sản Là một tỉnh biên giới, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện thời tiết khắc nghiệt song ngành nông nghiệp của Cao Bằng vẫn khá phát triển. Giá trị sản xuất của ngành liên tục tăng qua các năm Cơ cấu ngành nông nghiệp chia thành 3 ngành chính là trồng trọt (chiếm trên 65% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp), chăn nuôi (chiếm trên 30%) và dịch vụ (dưới 5%) Cây trồng chủ yếu của tỉnh gồm các cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn); cây công nghiệp ngắn ngày (đỗ tương, lạc, mía, thuốc lá); cây ăn quả (lê, mận, cam, hạt dẻ); cây rau, đậu và gia vị; và cây công nghiệp (chè đắng) Ngành chăn nuôi của Cao Bằng tập trung vào các loại gia súc lớn như trâu,

bò, ngựa; gia súc nhỏ như lợn, dê, và các loại gia cầm Cao Bằng có 2 giống

Trang 15

bò địa phương là bò Cỏ và bò U H’Mông, trong đó bò U H’Mông có trọng lượng lớn, chất lượng tốt Đồng thời, tỉnh cũng đầu tư xây dựng trại lợn giống

có tỷ lệ nạc cao và tập trung phát triển các dịch vụ nông nghiệp Về lâm nghiệp, là một trong những ngành có đóng góp tương đối lớn cho sự tăng trưởng GDP của tỉnh Cao Bằng Tỷ lệ che phủ rừng năm 1996 là 21,4% đến năm 2000 đã tăng lên 40% Trong tổng số 534.000 ha đất lâm nghiệp có rừng, rừng sản xuất chiếm 26.700 ha, rừng phòng hộ chiếm gần 497.000 ha và rừng đặc dụng chiếm trên 10.800 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An và Hòa An Giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp có xu hướng tăng dần qua các năm Bên cạnh đó, tuy là tỉnh miền núi nhưng Cao Bằng còn có tiềm năng tương đối lớn về ngư nghiệp Sản xuất ngư nghiệp Cao Bằng đang chuyển dịch từ tập quán nuôi quảng canh, năng suất thấp sang nuôi công nghiệp, nuôi bán công nghiệp và kết hợp nuôi cá trên ruộng trồng lúa nước Giá trị sản xuất ngư nghiệp của Cao Bằng đang từng bước tăng lên Trong những năm tới, Cao Bằng tập trung nâng cao năng suất nuôi trồng thủy sản, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ngành thủy sản khoảng 30%/năm

Về Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Theo số liệu thống kê năm

2002, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 1.965 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Hầu hết các cơ sở sản xuất đều được đặt ở Thị xã, tỷ lệ tập trung chiếm khoảng 80% Đã xây dựng và đưa vào sản xuất Lò cao luyện gang 22m3, nhà máy xi măng 3,5 vạn tấn/năm, nhà máy Đường 700 tấn mía/ngày, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng 20 triệu viên gạch/năm…Thời kỳ 1996 -

2000 giá trị sản xuất công nghiệp tăn g bình quân hàng năm là 23,5% Mạng lưới điện quốc gia đã được xây dựng đến trung tâm tất cả các huyện, 105/189

xã, phường, thị trấn đã có điện đến trung tâm với 55% hộ dân được dùng điện Các trục đường giao thông quan trọng được nâng cấp, hệ thống đường giao

Trang 16

thông nông thôn được quan tâm đầu tư, đến hết năm 2001 chỉ còn 5 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm Hệ thống thông tin liên lạc đã tự động hóa đến tất cả các huyện và địa bàn trọng yếu với 125/189 xã có điện thoại

Về kinh tế du lịch, với lịch sử hình thành lâu đời và trải qua nhiều thời

đại, Cao Bằng đã để lại nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị Theo báo cáo của sở văn hóa - thông tin, toàn tỉnh có 37/226 di tích đã được Bộ văn hóa - thông tin xếp hạng Đây là nguồn tài nguyên quan trọng có khả năng thu hút cao khách du lịch trong và ngoài nước Bao gồm nhóm di tích lịch sử - văn hóa như đền Kỳ Sầm, thành nhà Mạc; nhóm di tích lịch sử cách mạng trong

đó đáng chú ý nhất là cụm di tích lịch sử Pác Bó - một trong 9 di tích đặc biệt quan trọng có ý nghĩa lịch sử quốc gia; các danh lam thắng cảnh như: thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao…Ngoài ra, lễ hội các dân tộc thiểu số cũng là một loại hình du lịch nhân văn, hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch

Với điều kiện kinh tế - xã hội nêu trên, Cao Bằng có những thuận lợi nhất định trong việc thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo Song bên cạnh

đó Cao Bằng cũng còn có những khó khăn nhất định, đặc biệt là sự chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư còn rất lớn Đây là vấn đề đang đặt ra cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh cũng như các cấp, các ngành có liên quan để thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo

1.1.2 Công tác xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Cao Bằng trước năm 2001

Xóa đói, giảm nghèo là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư Với Cao Bằng, nhận thức rõ thực trạng của một tỉnh miền núi biên giới đời sống xã hội còn ở mức thấp, kinh tế chưa phát triển, còn có tới 138/189 xã đặc biệt khó khăn nên chương trình xóa đói, giảm nghèo đã được tỉnh xây dựng, triển khai từ năm 1995

Trang 17

Tỉnh đã thành lập ban chỉ đạo xóa đói, giảm nghèo các cấp từ tỉnh đến

cơ sở xã, và đi vào hoạt động, xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện chương trình theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đã đề ra Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV nhiệm kỳ 1996 - 2000 đã xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới là “Chủ động, tích cực khai thác các điều kiện thuận lợi, nỗ lực vượt qua những khó khăn, thử thách, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, cải thiện đời sống nhân dân, hạ thấp

tỷ lệ nghèo, nâng cao một bước trình độ dân trí, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, làm lành mạnh đời sống xã hội, trong đó xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách của tỉnh” và đề ra mục tiêu: trong 5 năm tới toàn tỉnh phấn đấu xóa được đói, giảm được nghèo, toàn bộ số hộ giàu chính đáng, các cấp

ủy, chính quyền cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để xóa đói, giảm nghèo Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây dựng Chương trình xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn (1996 - 2000) Trong quá trình thực hiện đã triển khai việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên các địa bàn huyện, xã Xây dựng các dự án, thu hút nguồn vốn tập trung cho công tác xóa đói, giảm nghèo, kể

cả các nguồn vốn của nước ngoài như: Dự án ngân hàng Bò của tổ chức ADRA (Úc), dự án tín dụng cho người nghèo vay vốn để phát triển sản xuất của tổ chức MISEREOR (CHLB Đức) tài trợ…

Với những nỗ lực đó, sau 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ XIV và chương trình xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, trên địa bàn tỉnh đã đạt kết quả đáng khích lệ Tỷ lệ đói nghèo theo tiêu chí cũ quy định giai đoạn (1996 - 2000) năm 1996 là 39,3% đã giảm xuống còn 11,03% vào cuối năm 2000, bình quân mỗi năm giảm 5,6% (khoảng 5.500 hộ), hàng vạn

hộ đã vượt qua đói nghèo Đời sống của những vùng nghèo, hộ nghèo được

Trang 18

cải thiện bớt khó khăn hơn, hạ tầng cơ sở các vùng đặc biệt khó khăn được đầu tư, đổi mới đáng kể Trong 5 năm, từ 1996 - 2000 toàn tỉnh đã giảm được 27.500 hộ đói nghèo; Tổng nguồn vốn huy động cho các chương trình, dự án liên quan đến mục tiêu Quốc gia xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm khoảng trên 620 tỷ đồng, riêng trong 2 năm 1999 - 2000 là 292 tỷ đồng; Các

dự án thuộc chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo theo quyết định số 133/1998/QĐ-TTg ngày 23/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ như: dự

án đầu tư cơ sở hạ tầng; dự án tín dụng; dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; dự án định canh, định cư, ổn định dân cư, kinh tế mới; dự án hướng dẫn cách làm ăn và khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho người nghèo; dự án đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và cán bộ xã nghèo; dự án hỗ trợ về y tế; dự án hỗ trợ người nghèo về giáo dục; dự án hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề đều đạt được những kết quả quan trọng trong 2 năm 1999 - 2000 Đồng bào đã có nhận thức bước đầu

về chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, về sản xuất hàng hóa Đồng thời qua thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền và vai trò của các tổ chức đoàn thể có sự đổi mới, gắn bó hơn với cơ sở, với nhân dân

Về giải quyết việc làm, trong 5 năm (1996 - 2000) đã có gần 40.000 người được giải quyết việc làm mới và có thêm việc làm, đã đào tạo nghề và dạy nghề gắn với việc làm cho gần 3.000 người, trong số đó có gần 70% số người được đào tạo đã có việc làm, Trung tâm dịch vụ việc làm đã tư vấn giới thiệu việc làm cho 2.542 người, gửi học sinh đi học tại các trường công nhân

kỹ thuật trung ương Những kết quả đó đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội trên địa bàn của tỉnh

Được sự chỉ đạo sát sao và triển khai thực hiện tích cực của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự hỗ trợ của các đoàn thể, lực lượng vũ trang, phong

Trang 19

trào xóa đói giảm nghèo của Cao Bằng trong 5 năm (1996 - 2000) đã phát triển sâu rộng, động viên được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo nhân dân và giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo, một số hộ vươn lên khá giả, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ đói và giúp cho các hộ còn nghèo, đói giảm bớt khó khăn

Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo của tỉnh còn rất gay gắt, số hộ phát sinh nghèo mới còn cao (trên 1%/năm), chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng và các nhóm dân cư chưa được thu hẹp, tiến độ xóa đói giảm nghèo chuyển biến chậm, kết quả đạt được chưa bền vững, còn nhiều yếu tố có khả năng dẫn đến đói nghèo Theo kết qủa điều tra khảo sát hộ nghèo theo tiêu chí mới của Bộ Lao động - Thương binh xã hội quy định giai đoạn 2001 - 2005 tại thời điểm tháng 3 năm 2001, tỷ lệ nghèo toàn tỉnh chiếm 25% với 24.435 hộ nghèo Số

hộ nghèo tập trung chủ yếu ở khu vực III chiếm 37,7% với 18.708 hộ, khu vực II chiếm 14,13% Mức sống của nhân dân nói chung, thu nhập của người lao động nói riêng vẫn còn thấp

Tình trạng thiếu việc làm, lao động dôi dư của các doanh nghiệp còn nhiều, lao động có sức khỏe ở thị xã, thị trấn thất nghiệp còn lớn Số người có việc làm thường xuyên chủ yếu ở ngành nông - lâm nghiệp chiếm tỷ lệ cao 79%, công nghiệp xây dựng 5%, thương mại và dịch vụ 16%, tiến độ chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, năng suất lao động thấp, khả năng đầu tư phát triển hạn chế đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Qua điều tra lao động việc làm (thời điểm 1/7/2000) tỷ lệ lao động không có việc làm (thất nghiệp) ở khu vực thành thị còn 6,05%, tỷ lệ thiếu việc làm chung cả hai khu vực (thành thị

và nông thôn) còn 8,1%

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này như:

Một là, điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, hạn hán thường xảy ra, hậu

quả của chiến tranh để lại còn nặng nề, nhiều hộ gia đình thiếu đất canh tác,

Trang 20

thiếu kiến thức, thiếu vốn đầu tư, thiếu kinh nghiệm sản xuất lại đông con và chưa thực hiện tiết kiệm trong chi tiêu

Hai là, ý chí quyết tâm vượt đói nghèo của nhiều hộ chưa cao, còn tồn

tại tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của nhà nước và cộng đồng xã hội; chưa phát huy và khai thác được thế mạnh của địa phương, lực lượng lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp còn lớn nhưng lại thiếu kỹ thuật, thiếu trình độ tay nghề

Ba là, chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm là

chương trình kinh tế - xã hội tổng hợp, diễn ra trên phạm vi rộng, đòi hỏi phải

có một nguồn lực lớn cũng như một chính sách thật đồng bộ linh hoạt thì quá trình triển khai mới được thuận lợi Tuy nhiên, trong thực tế nguồn lực đầu tư cho xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm còn hạn hẹp, tiến độ giải ngân các nguồn vốn còn chậm bởi nhiều thủ tục rườm rà

Bốn là, trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác này, nhận thức của

Đảng bộ tỉnh và các cấp đảng cơ sở về tầm quan trọng của chương trình xóa đói giảm nghèo cũng như trách nhiệm đối với công tác xóa đói giảm nghèo và việc làm ở một số địa phương, đơn vị nhất là cơ sở còn chậm, chưa kịp thời nên sự lãnh đạo chưa được nhất quán, việc điều hành phối hợp còn lúng túng, công tác tuyên truyền vận động ở từng cấp còn hạn chế về nội dung, hình thức

và chưa thực sự đi sâu vào quần chúng nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chưa khơi dậy được mạnh mẽ ý thức nội tâm của từng cơ sở và các hộ nghèo; các giải pháp khắc phục nguyên nhân nghèo chưa mang tính bền vững, công tác tổ chức cán bộ chưa được coi trọng đúng mức, trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế, công tác đào tạo quy hoạch và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở chưa được giải quyết kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình

Trang 21

Thực tế nêu trên đã đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với Đảng bộ tỉnh

và các Ban, Ngành liên quan phải luôn chú ý quan tâm, rà soát để có chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn Đặc biệt, cần có nhiều cố gắng, nỗ lực và giải pháp thiết thực, đúng đắn hơn nữa để đạt được những thành quả lớn hơn trong công tác xóa đói giảm nghèo những năm tiếp theo

1.2 Chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005

Bước vào thập niên 90 của thế kỷ trước, vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được đề ra trong các diễn đàn, các nghiên cứu và sau đó dần dần được triển khai trong thực tiễn Đến năm 1996, sau 10 năm đổi mới, đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề đói nghèo cũng được quan tâm Đảng đã

đưa ra quan điểm “ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng

trưởng kinh tế phải luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”[23, tr.31]

Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996) của Đảng cũng xác định xóa đói, giảm nghèo là một trong mười một Chương trình phát triển kinh tế - xã hội và đặt

ra mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% năm 1996 xuống khoảng 10% vào năm 2000[23, tr.38] Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ra quyết định số 133/1998/QĐ-TTg, ngày 23/7/1998,

phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn

1998 - 2000 Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng chương trình quốc gia về

xóa đói, giảm nghèo một cách có hệ thống Ngay sau đó, Chính phủ ra quyết

định số 135/1998/QĐ -TTg, ngày 31/7/1998, phê duyệt Chương trình phát

triển kinh tế đối với các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa

Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I từ năm 1998 đến năm 2000; Giai đoạn II từ năm 2001 đến

Trang 22

năm 2005 Tuy nhiên đến năm 2006, Nhà nước quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm và xác định: Từ năm 1997 đến năm 2006 là giai đoạn I Giai đoạn II từ năm 2006 đến năm 2010

Mục tiêu của giai đoạn I là: Phát triển sản xuất, nâng cao mức sống cho

các hộ dân tộc thiểu số; phát triển cơ sở hạ tầng; phát triển các dịch vụ công cộng địa phương thiết yếu như điện, trường học, trạm y tế, nước sạch; nâng cao đời sống văn hóa

Mục tiêu giai đoạn II là: Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất; thúc đẩy

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước; đến năm 2010, trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%

Trách nhiệm tổ chức điều hành triển khai thực hiện chương trình này gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và xã Trong đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đảm nhiệm khâu tổ chức điều hành chương trình ở địa phương Khâu thực hiện được giao cho Ủy ban nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân xã

Đại hội lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã tiếp tục xác định xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ mới Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 Đảng đã cụ thể hóa quan điểm trên thành mục tiêu chiến lược về xóa đói, giảm nghèo như sau:

“Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm…đối với những vùng nghèo, xã nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chính đáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp xã hội đối với

Trang 23

người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng

Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo, thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo” [25, tr.211]

Cũng trong năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 Về các chương trình mục tiêu Quốc Gia giai đoạn 2001 - 2005 Đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo và việc làm, Chương trình đưa ra quan điểm: Xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm

là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, là một trong những chương trình trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội, là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ chính sách kinh tế - xã hội nhằm phát triển kinh tế đáp ứng yêu cầu bức xúc của con người, cải thiện đời sống nhân dân Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững, gắn xóa đói, giảm nghèo với phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ, dịch vụ, ngành nghề, lồng ghép xóa đói, giảm nghèo với các chương trình mục tiêu Quốc Gia và an sinh xã hội

Ngày 27 tháng 09 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 chỉ rõ mục tiêu tạo ra các điều kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân

Ngày 07 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng tiếp tục ban hành Quyết định

số 186/2001/QĐ-TTg về phát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh đặc biệt khó khăn

Trang 24

miền núi phía Bắc thời kỳ 2001 - 2005 bao gồm Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La, Bắc Kạn, Lai Châu Đây thật sự là một chủ trương có ý nghĩa

vô cùng quan trọng đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, là động lực để các tỉnh này vươn lên mạnh mẽ trong quá trình phát triển kinh tế, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, hòa chung với nhịp độ phát triển của cả nước

Ngày 21 tháng 5 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến

lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo” Đây là chiến lược đầy

đủ, chi tiết, phù hợp với mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp Quốc công bố Đồng thời Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu: Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói; Đạt phổ cập giáo dục tiểu học; Tăng cường bình đẳng giới nâng cao vị thế phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh; tăng cường sức khỏe bà mẹ; phòng chống bệnh HIV/AISD, sốt rét và các bệnh khác; Đảm bảo bền vững môi trường; Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu và mục đích phát triển

Bước sang năm 2003, Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg ngày 11/6/2003

về việc phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến năm 2010 được ban hành tiếp tục phát triển và hoàn thiện hơn nữa chủ trương và quan điểm của Đảng đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo đặc biệt

là với các tỉnh miền núi phía Bắc nằm dọc tuyến biên giới Việt - Trung, trở thành động lực lớn cho công tác xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh này

Để đẩy mạnh hơn công tác xóa đói, giảm nghèo, nhanh chóng đạt được các mục tiêu đã đề ra trong giai đoạn 2001 - 2005, ngày 20 tháng 7 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một

số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ đồng

Trang 25

bào dân tộc thiểu số nghèo để có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo

Những chủ trương, chính sách trên của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản trong công tác xóa đói, giảm nghèo, đồng thời ngày càng tham gia một cách tích cực với cộng đồng quốc tế cùng giải quyết những vấn đề đói, nghèo Những quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về xóa đói, giảm nghèo không chỉ bảo đảm tính hiệu quả của công tác xóa đói, giảm nghèo mà còn đảm bảo tính bền vững trước những nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển

1.3 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về xóa đói, giảm nghèo từ 2001 đến 2005

Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo thông qua các hoạt động đề ra chủ trương, nghị quyết về xóa đói, giảm nghèo và chỉ đạo chính quyền, các tổ chức và nhân dân thực hiện nhằm đạt mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đã được xác định

Trên cơ sở chủ trương, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 - 2005, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng mà trực tiếp là Tỉnh ủy đã đề ra các chủ trương, nghị quyết về vấn đề này của tỉnh và chỉ đạo thực hiện

1.3.1 Chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo

Phát huy thành quả đạt được của công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn

1996 - 2000, trên cơ sở chủ trương, quan điểm của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XV (2001 - 2005) nhấn mạnh: “Trong những năm tới cần khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng, thế mạnh đặc thù của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển Cải thiện một bước vật chất, tinh thần của nhân dân,

Trang 26

đặc biệt là nơi vùng sâu, vùng xa Tập trung tốt các mục tiêu đề ra nhất là chương trình xóa đói giảm nghèo…xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”[11, tr.21]

Thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo và để lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn này, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đã tập trung chỉ đạo việc tổ chức, tạo môi trường thuận lợi nhất để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, Ban Thường vụ tỉnh ủy cũng thường xuyên quan tâm, theo dõi tình hình để đề ra những quyết sách đúng đắn, ban hành những chỉ thị về những nội dung cụ thể để chỉ đạo các cơ quan hữu quan thực hiện Một trong những hình thức quan trọng được Tỉnh ủy coi trọng thực hiện là thông qua các Ban cán sự Đảng hoạt động ngay trong các Sở, Ban, Ngành Ban cán sự Đảng có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, giải thích những chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh, đồng thời chỉ đạo quá trình tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách đó tại cơ quan mình hoạt động Hình thức này bảo đảm việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, trực tiếp tránh tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế

Triển khai Nghị quyết của Đại hội lần thứ XV của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, tại Hội nghị lần thứ III của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ra nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 01/08/2001 về Chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 Nghị quyết đã nêu những vấn đề quan trọng như: mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản, các giải pháp và tổ chức thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005

Về mục tiêu, Nghị quyết nêu rõ: Phấn đấu đến năm 2005 giảm tỷ lệ nghèo theo tiêu chí mới từ 25% năm 2001 xuống dưới 10% năm 2005, bình quân mỗi năm giảm trên 3% Đến năm 2003 không còn hộ đói kinh niên; Đảm bảo các xã nghèo cơ bản có đủ các công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu

Trang 27

(điện, đường, trường, trạm, thủy lợi nhỏ, nước sinh hoạt, chợ); Mỗi năm giải quyết việc làm mới cho khoảng 7000 - 8000 lao động; Giảm tỷ lệ thất nghiệp

từ 6,2% năm 2000 xuống còn 4% năm 2005; Nâng tỷ lệ thời gian lao động nông thôn từ 75% năm 2000 lên 85% năm 2005 Phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các xã nghèo, vùng nghèo, đảm bảo xóa đói giảm nghèo bền vững tạo đà vươn lên làm ăn khá giả, tiến tới làm giàu

Từ mục tiêu trên, Nghị quyết xác định những nhiệm vụ cơ bản là: Tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện xóa đói giảm nghèo giai đoạn

2001 - 2005, tiếp tục khảo sát điều tra, nắm hộ còn đói nghèo theo tiêu chí mới; Đẩy mạnh triển khai thực hiện các dự án, công trình đầu tư vào xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn; Đầu tư các dự án phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp và phát triển cơ sở hạ tầng, các chương trình lồng ghép liên quan đến xóa đói giảm nghèo và việc làm; Xây dựng cơ chế chính sách cụ thể và phù hợp đối với các hộ nghèo, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho hộ nghèo phát triển sản xuất, thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, ưu tiên giao đất, giao rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng cho những hộ nghèo ít đất, hoặc không có đất canh tác; trang bị kiến thức khuyến nông, khuyến lâm cho hộ nghèo, đảm bảo đầu vào sản xuất và đầu ra (tiêu thụ sản phẩm) cho nông dân, các hộ gia đình và các thành phần kinh tế; Phát triển dịch vụ ngành nghề truyền thống,

mở mang tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn, nhất là chế biến nông lâm thủy sản, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, tăng thu nhập cho hộ nghèo, quy định bố trí dân cư ở những nơi cần thiết, có điều kiện nhất là các xóm giáp biên, vùng dân tộc; tiếp tục thực hiện tốt chính sách của Đảng, Nhà nước về hỗ trợ các hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn; xây dựng các vùng chuyên canh, vùng cây công nghiệp, trồng rừng tạo ra cho hộ nghèo sản xuất hàng hóa; củng cố đổi mới phương thức hoạt động của các lâm trường quốc doanh,

Trang 28

các doanh nghiệp, trạm, trại để các cơ sở này tạo điều kiện cho các hộ nghèo quanh vùng có điều kiện khảo sát, quy hoạch, cân đối lại giữa đất đai và lao động ở một số vùng; tích cực giải quyết và giúp đỡ những hộ nghèo thiếu đất canh tác, thiếu sức kéo và thiếu kỹ thuật canh tác; Tổ chức triển khai có hiệu quả các dự án ổn định dân cư, phát triển vùng kinh tế mới

Đồng thời, Nghị quyết cũng đề ra quy trình tổ chức thực hiện cũng như vai trò cụ thể của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể với công tác xóa đói giảm nghèo, đó là: Các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở phải coi xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 là một nhiệm vụ chính trị quan trọng trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX toàn quốc và Nghị quyết Đại hội đại biểu Tỉnh Đảng bộ lần thứ XV; Cải tiến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, phân công theo dõi chỉ đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo Các đảng bộ, chi bộ cơ sở phải là nòng cốt chỉ đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Các ban Đảng tham mưu giúp Ban chấp hành Đảng bộ theo dõi, kiểm tra, quán triệt thực hiện

Ủy ban nhân dân các cấp tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo ở cấp mình, cụ thể hóa công tác xóa đói giảm nghèo thành các chương trình, dự án cụ thể, giao nhiệm vụ cho các ngành triển khai thực hiện; Đổi mới công tác quản lý, điều hành của ủy ban nhân dân các cấp, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết về chương trình xóa đói giảm nghèo

Các sở, ban, ngành và đoàn thể xây dựng chương trình hành động nhất quán, vận động cán bộ, công chức, đoàn viên hưởng ứng tham gia thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện để các thành viên thoát khỏi đói nghèo; Động viên, khơi dậy sức bật các tầng lớp nhân dân làm công tác xóa đói giảm nghèo

Đặc biệt nghị quyết nhấn mạnh: “xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm là nhiệm vụ của toàn đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành Đây là

Trang 29

công việc khó khăn, phức tạp, lâu dài đòi hỏi phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Đảng ủy, sự điều hành của chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành và sự nỗ lực phấn đấu của bản thân những hộ nghèo Đó là điều kiện quyết định để công tác xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm đạt kết quả tốt” [41, tr.5]

Để cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh trong Đại hội lần thứ XV;

Cụ thể hóa “Chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005” của Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh; Tiếp tục chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm giai đoạn 1996 -

2000, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005”

Chương trình đã nêu những mục tiêu: Phấn đấu đến cuối năm 2005 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% theo tiêu chí mới, bình quân mỗi năm giảm từ 2 - 3%, tăng nhanh hộ khá và giàu, phấn đấu không còn hộ đói kinh niên Giữ vững kết quả xóa đói giảm nghèo hàng năm, chống tái nghèo

Ngoài việc đặt ra được các mục tiêu cơ bản, Tỉnh ủy cũng nhận thức cần xây dựng được các giải pháp phù hợp mới có thể biến những mục tiêu đó thành hiện thực Vì thế, Chương trình đã xây dựng một hệ thống giải pháp Đối với

nội dung xóa đói giảm nghèo, một số giải pháp được xác định gồm: Thứ nhất,

tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền cả về chiều rộng lẫn chiều sâu với nhiều hình thức phong phú và đa dạng để các cấp, các ngành, mọi tầng lớp nhân dân hiểu và nhận thức đầy đủ về chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm từ đó tham gia tích cực vào chương

trình Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nghèo, xã nghèo từng bước ổn

định đời sống phát triển sản xuất và vươn lên xóa đói giảm nghèo một cách

hiệu quả và bền vững Thứ ba, thực hiện đồng bộ các chính sách đối với người

nghèo gồm: chính sách hỗ trợ về y tế; chính sách hỗ trợ về giáo dục; chính sách

Trang 30

hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn ổn định đời sống, phát triển sản xuất; chính sách an sinh xã hội; chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở, phấn đấu

xóa nhà dột nát, nhà lụp xụp Thứ tư, thực hiện các dự án hỗ trợ trực tiếp xóa

đói giảm nghèo như: dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để sản xuất kinh doanh; dự án hướng dẫn cho người nghèo cách làm ăn khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; dự án xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo các xã nghèo;

dự án xây dựng cơ sở hạ tầng các xã nghèo tập trung đầu tư những công trình trọng điểm; dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã nghèo, xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới; dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo; dự án ổn định dân cư và xây dựng vùng kinh tế ở các

xã nghèo; dự án định canh, định cư ở các xã nghèo

Đối với giải quyết việc làm, chương trình cũng đưa ra một số giải pháp phù hợp như: phát triển kinh tế xã hội tạo mở việc làm trên tất cả các lĩnh vực như nông, lâm nghiệp, thủy sản, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển thương mại dịch vụ du lịch, xuất khẩu lao động; hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm như: tổ chức các dịch vụ việc làm, đào tạo nghề gắn với việc làm, tổ chức cho vay vốn, điều tra lao động việc làm hàng năm, thông tin thị trường lao động…

Chương trình cũng nêu lên những vấn đề về tổ chức thực hiện như: về

cơ chế vận hành; tổ chức bộ máy; nhiệm vụ của các Sở, Ban, Ngành, Đoàn thể…Trên cơ sở đó, trong quá trình tổ chức thực hiện, Đảng bộ tỉnh cũng như các Sở, Ban, Ngành…đã không ngừng tổng kết thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, từng bước nâng cao nhận thức về vấn đề xóa đói, giảm nghèo

1.3.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về thực hiện xóa đói, giảm nghèo Một là, tổ chức huy động mọi nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo, tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn

Trang 31

Với chuẩn nghèo mới được áp dụng, tỷ lệ nghèo ở Cao Bằng chiếm tới 25% dân số toàn tỉnh, với 189 xã, phường, thị trấn theo chuẩn nghèo giai đoạn

2001 - 2005, trong đó có tới 138 xã đặc biệt khó khăn, tập trung chủ yếu là ở các xã vùng cao, vùng sâu, biên giới Nét đặc trưng của các xã này là điều kiện tự nhiên phức tạp, địa bàn phân tán, xa các trung tâm kinh tế, đường giao thông đi lại rất khó khăn, một số xã chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, trình

độ văn hóa của nhân dân còn thấp, điều kiện sản xuất, canh tác còn nhiều khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, trồng trọt và chăn nuôi còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp và còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ chưa phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, nhất là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới, vùng đồng bào dân tộc ít người Ở những xã này cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu cả

về điện, đường, trường, trạm, Nhiều hộ gia đình còn ở nhà tranh vách đất, nhà dột nát, xiêu vẹo, không đảm bảo an toàn cũng như những nhu cầu tối thiểu về nhà ở Những xã này có rất nhiều khó khăn chồng chất, chính quyền địa phương không có đủ nguồn lực và điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng cho địa phương mình, sự tham gia đóng góp của người dân cũng rất hạn chế

Giải quyết những vấn đề nêu trên, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ

XV (25 - 28/12/2000) đã chỉ rõ: Thu hút mọi nguồn vốn đầu tư cho phát triển Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

- hiện đại hóa, nhất là giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, bưu điện, trường học…

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng bộ, Chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 đã nêu phương hướng chỉ đạo cụ thể: “Huy động, bố trí nguồn lực tập trung cho địa bàn trọng điểm là các xã đặc biệt khó khăn khu vực

Trang 32

III, cần tập trung giải quyết các công trình phù hợp với nhu cầu thiết yếu của nhân dân để đảm bảo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế và ổn định đời sống”

Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, thực hiện các mục tiêu của chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005, tỉnh đã huy động tập trung mọi nguồn lực cho việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, bao gồm

từ ngân sách nhà nước cấp, nguồn do nhân dân gây quỹ xóa đói giảm nghèo, nguồn tài trợ của các cơ quan, tổ chức đoàn thể trong và ngoài tỉnh tài trợ quốc tế để thực hiện chủ trương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo, xã nghèo được sử dụng có hiệu quả Đặc biệt, hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam về cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, ngày 26/3/2001 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định số 142/QĐ-TU về việc thành lập Ban vận động, xây dựng, quản lý, sử dụng “Quỹ vì người nghèo”; Ngày 09/05/2003 Tỉnh ủy Cao Bằng tiếp tục ra chỉ thị số 26-CT/TU nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng “Quỹ vì người nghèo” kêu gọi toàn dân ủng hộ quỹ vì người nghèo, mở ra một hướng đi, một nguồn lực mới trong bước phát triển mới của công tác xóa đói giảm nghèo ở Cao Bằng Từ nguồn vốn này, Ban vận động ủng hộ quỹ của tỉnh đã trực tiếp hỗ trợ kịp thời cho các hộ đói nghèo, các hộ gặp rủi ro vay để phát triển sản xuất, thực hiện xóa đói giảm nghèo Đây là việc làm thiết thực giúp đỡ người nghèo có cơ hội vượt qua khó khăn, vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no

Trong 5 năm (2001 - 2005), Tỉnh đã huy động được trên 1.343 tỷ đồng

để đầu tư hỗ trợ giúp đỡ các hộ nghèo, xã nghèo có vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm, từng bước giải quyết khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần trên tất cả các lĩnh vực, góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu XĐGN

và giải quyết việc làm đã đề ra Có 138 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư nguồn vốn chương trình 135, hỗ trợ đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng như

Trang 33

đường giao thông, trường học, nước sinh hoạt, điện thắp sáng, trạm xá, trung tâm cụm xã, đặc biệt là các công trình thủy lợi phục vụ cho ổn định và phát triển sản xuất với nguồn vốn đầu tư là: 402.480 triệu đồng Ngoài ra, tỉnh còn huy động ngân sách tại chỗ và vốn nhân dân đóng góp để xây dựng các công trình giao thông, chợ, thủy lợi, nước sinh hoạt, các công trình nước ăn theo vùng cao, công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, xây dựng trạm y tế, mua sắm trang thiết bị y tế cho các xã nghèo, hỗ trợ học bổng, miễn giảm tiền học phí và tiền mua sách giáo khoa cho học sinh nghèo…được hàng chục tỷ đồng lồng ghép vào chương trình 135 Nguồn vốn đầu tư cho các cơ sở hạ tầng thiết yếu như: Giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt chiếm trên 60% tổng số vốn đầu tư thực hiện đúng theo tinh thần chỉ đạo của Tỉnh ủy Đến cuối năm

2005 tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh đã giảm từ 25% đầu năm 2001 xuống còn 9,43% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2001 - 2005) Bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn, biên giới đã có nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, góp phần thực hiện phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững

Hai là, tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, chính sách và

dự án xóa đói giảm nghèo

Để thực hiện thuận lợi và đạt hiệu qủa cao nhất, Cao Bằng đã phân định các xã thành 3 khu vực (I, II, III) theo trình độ phát triển và tập trung phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái đối với đồng bào vùng dân tộc; gắn tăng trưởng kinh tế của tỉnh với giải quyết các vấn đề xã hội; trong đó trọng tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, thiết thực

Chương trình 135: Được bắt đầu tổ chức triển khai thực từ năm 1999

tại 138 xã đặc biệt khó khăn, với nguồn vốn 515.349 triệu đồng, trong đó có

Trang 34

395.650 triệu đồng là nguồn vốn chương trình 135, còn 114.795 triệu đồng là vốn lồng ghép từ các dự án khác, huy động sức dân đóng góp 4.904 triệu đồng để đầu tư 5 dự án thành phần:

Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng: Với nguồn vốn trên 400 tỷ đồng đã đầu

tư xây dựng hoàn thành 643 công trình Trên địa bàn các xã thuộc Chương trình 135 có: 100 xã có trường tiểu học, 85% xã có trường THCS kiên cố, đưa vào sử dụng 211 công trình với 1.796 phòng gòm phòng học, nhà hội đồng, nhà công vụ của giáo viên; 100% có đường ô tô đến trung tâm xã với 197 công trình cầu và đường; 82% xã có điện lưới quốc gia; 74% xã có trạm y tế kiên cố phục vụ chữa bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; trên 40% số hộ dân được sử dụng nước sinh hoạt với 34 công trình nước sinh hoạt gồm 15.807 bể, lu chứa nước và 63km đường ống dẫn nước; trên 40% số xã bưu điện văn hóa xã… Đến hết năm 2005, có 28 xã đầu tư đầy đủ 8 hạng mục công trình thiết yếu và hoàn thành chương trình [3, tr.1]

Dự án trung tâm cụm xã: được thực hiện từ năm 1996 đến 2006, với

nguồn vốn 111,8 tỷ đồng đã đầu tư xây dựng 22 trung tâm cụm xã, trong đó

có 8 trung tâm hoàn thành đủ các hạng mục Các trung tâm đưa vào sử dụng

đã phát huy hiệu quả tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, trao đổi hàng hóa và nâng cao đời sống nhân dân

Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với chế biến sản phẩm: Tỉnh đã

bố trí 6,67 tỷ đồng để xây dựng các mô hình sản xuất có giá trị để nhân rộng

và chuyển giao cho đồng bào, với 10.570 hộ đồng bào được trực tiếp tham gia

và hưởng lợi tạo nên bước chuyển quan trọng trong nhận thức của người dân Đồng bào các dân tộc từ chỗ đốt nương làm rẫy, độc canh cây lúa, cây ngô đã biết trồng lúa nước, trồng thêm lạc, đỗ tương, biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thay thế các giống lúa cũ bằng giống lúa mới…Bước đầu đã hình thành 1 số vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa tập trung, góp phần

Trang 35

từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường ở vùng đặc biệt khó khăn

Dự án quy hoạch, bố trí lại dân cư nơi cần thiết với tổng vốn đầu tư

cho dự án này là 10.097 tỷ đồng cho các hạng mục: khai hoang 448.4 ha, ổn định dân cư cho 652 hộ

Dự án đào tạo cán bộ thôn, bản: với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, tập

huấn nâng cao năng lực quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý dự án cho cán bộ xã, thôn, bản, tỉnh đã bố trí 4.045 tỷ đồng để đào tạo 1.240 cán bộ xã

và tập huấn 907 lớp với 21.913 lượt người tham gia Thông qua các lớp tập huấn, đồng bào các dân tộc đã biết cách áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, bước đầu đem lại hiệu quả, tăng thu nhập

Nhìn chung, việc tổ chức triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình 135 ở Cao Bằng đến 2005 thực hiện đúng theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, đầu tư đúng mục đích, địa chỉ và danh mục, không để xảy ra tình trạng thất thoát vốn hoặc tình trạng công trình chất lượng quá kém không đủ điều kiện nghiệm thu Kết quả đó đã tạo được nền tảng ban đầu cho phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư ở địa bàn các xã đặc biệt khó khăn Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân được cải thiện, trật tự an toàn xã hội,

an ninh quốc phòng được giữ vững Bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn có nhiều đổi thay, lòng tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao

Chính sách 134: Quán triệt quyết định 134/TTg, ngày 20/7/2004 của

Thủ tướng Chính phủ về thực hiện một số chính sách ưu đãi đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn Ngày 4/11/2004 Tỉnh ủy Cao Bằng ra chỉ thị số 43-CT/TU yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các lực lượng xã hội trong tỉnh thực hiện tốt một số nội dung quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi quyết định 134 của Thủ tướng

Trang 36

Chính phủ Ngay sau đó, ngày 08 tháng 11 năm 2004, Ủy ban nhân dân tỉnh

Cao Bằng đã ra quyết định số 2881 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Quyết định

134 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó chỉ rõ:

Đối với các hộ dân tộc thiểu số nghèo không có đất hoặc thiếu đất sản xuất sẽ được tỉnh giao thêm đất sản xuất để đảm bảo tối thiểu mỗi hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha ruộng lúa nước hai vụ Đảm bảo 100% số hộ dân tộc thiểu số nghèo, tại chỗ có đủ đất sản xuất, góp phần cơ bản xóa hết hộ đói, giảm hộ nghèo xuống dưới 10% vào năm 2010

Đối với các hộ dân tộc thiểu số nghèo chưa có đất ở hoặc chưa đủ đất ở

sẽ được tỉnh giao đất ở với mức 200m2

hoặc di chuyển đi nơi khác theo quy hoạch nếu hộ gia đình có nhu cầu Đảm bảo 100% dân tộc thiểu số nghèo có đất ở ổn định lâu dài

Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo chưa có nhà ở hoặc nhà

ở tạm bợ hoặc mái lợp tạm bợ, dột nát hoặc nhà có nhiều thế hệ cùng sinh sống quá chật chội (bình quân dưới 10m2/người và có nhu cầu tách hộ mới) hoặc nhà ở có khả năng xảy ra thiên tai nguy hiểm hoặc nhà bị thiên tai đột xuất phải làm lại, được nhà nước hỗ trợ 5 triệu đồng/hộ để làm nhà ở Căn cứ tình hình và khả năng ngân sách của tỉnh, huyện có thể hỗ trợ thêm 20% và huy động sự giúp đỡ của cộng đồng Đến hết năm 2006, phấn đấu 100% số hộ dân tộc thiểu số có nhà ở tương đối vững chắc

Đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống phân tán trên vùng cao, vùng núi đá chưa có bể nước sinh hoạt thì hỗ trợ 300 - 500 ngàn đồng/hộ để đào giếng tạo nguồn nước sinh hoạt; Đối với các hộ đã có bể nước sinh hoạt nhưng bị rò rỉ hoặc rạn nứt được hỗ trợ tu sửa tùy theo mức độ cụ thể; Hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho các thôn bản có từ 50% số hộ là đồng bào DTTS trở lên và 50% vốn đối với thôn

Trang 37

bản có từ 20% - 50% số hộ đồng bào DTTS; Đảm bảo 30 - 60 lít nước/người/ngày và xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt theo nguyên tắc phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từng vùng, đảm bảo hiệu quả lâu dài

Thực hiện quyết định 134/2004/QĐ-TTg, qua rà soát Cao Bằng có: 6.709 hộ đồng bào thiếu đất sản xuất, với 2.214 ha đất ruộng và rẫy; 10.816

hộ cần hỗ trợ nhà ở (làm mới 7.151 hộ, cải tạo 3.665 hộ); 11.668 hộ cần hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán; số thôn xóm cần đầu tư nước sinh hoạt tập trung

là 705 xóm, với 435 công trình, với 13.390 hộ thuộc diện 134 và 9.933 hộ khác được hưởng Vì vậy, ngày 7/3/2005 UBND tỉnh đã ban hành quyết định

số 272/QĐ-UB phê duyệt đề án giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn

Chính sách 134 có tác dụng to lớn đối với việc thực hiện chính sách định canh định cư Để thực hiện việc hỗ trợ về đất sản xuất, đất ở và nhà ở đạt hiệu quả lâu dài, điều đầu tiên là giúp đồng bào DTTS ổn định nơi sinh sống

và yên tâm sản xuất Do vậy, Tỉnh ủy đã chỉ đạo cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách định canh định cư cho nhân dân Năm 2005, qua khảo sát toàn tỉnh

có 1.097 xóm cần phải định canh định cư, với 23.274 hộ bằng 125.409 khẩu,

đã triển khai và di chuyển được 3 xóm với 35 hộ đồng bào Mông sống phân tán ở vùng núi đá cao đến địa điểm định cư mới thuận lợi hơn về cuộc sống và sản xuất (điểm định cư Minh Long và điểm định cư Pù Lầu xã Bắc Hợp huyện Nguyên Bình; điểm định cư Rỏng Tém xóm Lũng Phầy xã Hồng Việt huyện Hòa An)

Về hỗ trợ nhà ở cho đồng bào nghèo, mức hỗ trợ được thực hiện theo Nghị quyết Hội đồng nhân dân Tỉnh: làm nhà mới 7 triệu đồng/1 nhà, trong đó ngân sách Trung ương 5 triệu đồng, ngân sách địa phương 2 triệu đồng; cải tạo,

Trang 38

sửa chữa nhà ngân sách TW hỗ trợ từ 3 - 5 triệu đồng/1 nhà Hết năm 2005 trên 1.262 hộ nghèo được hỗ trợ làm nhà ở với kinh phí 8.834 triệu đồng [31, tr.70]

Về nước sinh hoạt phân tán: Theo đề án là 10.500 hộ có nhu cầu hỗ trợ Tuy nhiên, do đồng bào sống phân tán ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, giá thành vật liệu cao, trong khi mức hỗ trợ thấp, do đó đếnvhết năm 2005 mới hỗ trợ được 327 hộ, kinh phí 248 triệu đồng, bình quân 760.000 đồng/hộ [31, tr.71]

Về nước sinh hoạt tập trung, tổng số công trình cần hỗ trợ đầu tư xây dựng theo đề án là 568 công trình, với số hộ được hưởng là 26.429 hộ ở 815 thôn bản, trong đó số hộ dân tộc thiểu số 26.420 hộ, số hộ dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn là 14.588 hộ [31, tr.71] Nhìn chung, các công trình thuộc quyết định 134 đều nhỏ lẻ thuộc các xóm vùng cao, xa xôi, núi đá, địa hình chia cắt giao thông đi lại khó khăn, đồng bào sống phân tán, hàng năm vào mùa khô thiếu nước sinh hoạt từ 2 - 4 tháng, vận chuyển cơ bản bằng sức người và ngựa thồ nên xuất đầu tư lớn và rất khó khăn khi thi công Quá trình thực hiện đã chỉ đạo lồng ghép việc giải quyết nước sinh hoạt nông thôn theo Quyết định 134 với các nguồn vốn thuộc Chương trình 120, 135, 186, Chương trình nước sạch quốc gia, hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài, kết hợp giữa việc xây dựng các công trình thủy lợi với giải quyết nước sinh hoạt Đến 31/12/2005 đã xây dựng được 108 công trình cho 143 thôn, bản thiếu nước sinh hoạt với 5.506 hộ được hưởng, trong đó có 3.088 hộ dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, đời sống khó khăn, kinh phí 24.009 tỷ đồng [31, tr.71]

Dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để sản xuất kinh doanh: Khi

xem xét tình trạng đói nghèo, một trong những nguyên nhân là tình trạng thiếu vốn để phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế Vì vậy, dự án tín dụng giúp người nghèo sản xuất được coi là một trong những biện pháp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo Tỉnh đã tập trung triển khai đồng bộ có

Trang 39

hiệu quả Nghị định 78/2002/NĐ-CP Ngân hàng phục phục vụ người nghèo (nay là ngân hàng Chính sách xã hội) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo vay vốn để đầu tư, sản xuất, kinh doanh Theo chỉ đạo của Ban đại diện Hội đồng quản trị ngân hàng, công tác cho vay tiếp tục triển khai mạnh ở các

xã khu vực III và các xã ĐBKK, trong 5 năm từ 2001 - 2005 tổng nguồn vốn đạt 190.629 triệu đồng Bình quân mỗi hộ được vay 3,3 triệu đồng [36, tr.5]

Ngoài ra, Cao Bằng còn thực hiện một số dự án thuộc chương trình xóa đói giảm nghèo như: Các dự án phát triển nông lâm nghiệp; Hướng dẫn người nghèo cách làm ăn (khuyến nông, lâm, ngư): dự án giống cây trồng vật nuôi, trợ giá, trợ cước về giống và phân bón, giao đất lâm nghiệp; Hướng dẫn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa giống mới có năng suất cao và ổn định vào sản xuất được đặc biệt chú trọng và tự giác… Nhờ đó, nhận thức và thói quen canh tác lạc hậu, cổ truyền của đồng bào từng bước có chuyển biến, từ sản xuất độc canh

tự cấp, tự túc sang sản xuất sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, các quan

hệ sản xuất bước đầu được củng cố

Ba là, tổ chức triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo

Ngoài việc thực hiện những chủ trương, chính sách nhằm xóa đói, giảm nghèo tận gốc và bền vững thì việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với người nghèo cũng được Đảng bộ tỉnh Cao Bằng coi trọng, vì nó góp phần giải quyết những khó khăn mà người nghèo gặp phải trong cuộc sống thường ngày Khi đánh giá nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, các cơ quan chuyên trách

đã khẳng định có những nguyên nhân cơ bản như điều kiện tự nhiên, thiếu vốn làm ăn, thiếu kinh nghiệm sản xuất…song cũng không thể không kể đến những nguyên nhân bất thường như gặp thiên tai, rủi ro, tai nạn…nên những

hộ gia đình này thường gặp những khó khăn chồng chất trong việc khám,

Trang 40

chữa bệnh, cho con đến trường hay những nhu cầu cần thiết như: nhà ở, nước sạch sinh hoạt…họ bị đẩy vào cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo Vì vậy, việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người nghèo những vấn đề trên không chỉ thể hiện tấm lòng nhân ái, truyền thống “lá lành đùm lá rách” mà còn là một trong những việc làm giúp người nghèo có được những nền tảng thuận lợi để vươn lên thoát nghèo

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, Đảng bộ Tỉnh, HĐND, UBND và các cơ quan hữu quan đã rất chú trọng tập trung thực hiện những chính sách hỗ trợ người nghèo những vấn đề

cơ bản như chế độ bảo hiểm y tế với người nghèo, thực hiện hỗ trợ về giáo dục với con em hộ nghèo…và đạt những kết quả đáng kể

Về thực hiện chính sách hỗ trợ y tế: Chủ trương hỗ trợ về y tế đã được

quán triệt trong Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 của tỉnh với mục tiêu: trợ giúp người nghèo trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, đa dạng hóa các hình thức khám chữa bệnh cho người nghèo như cấp thẻ bảo hiểm y tế, tăng cường mạng lưới

y tế cơ sở, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế thôn bản, xây dựng cơ sở vật chất và đưa bác sĩ về các trạm y tế cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại tuyến xã, phường, nhất là ở các xã nghèo Để đạt mục tiêu này, ngay trong Nghị quyết số 10 - NQ/TU, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã sớm có chỉ đạo: Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế; Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, quan tâm người trong diện chính sách, người cao tuổi

Thực hiện những nội dung chỉ đạo trên, với vai trò nòng cốt của ngành Y

tế, Tỉnh đã hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, phối hợp với Bảo hiểm xã hội tổ chức mua và cấp thẻ bảo hiểm

y tế cho 168.960 lượt người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí cho 16.979 lượt

Ngày đăng: 29/12/2015, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo phát triển Việt Nam (2004), “Nghèo”, Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị Tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghèo
Tác giả: Báo cáo phát triển Việt Nam
Năm: 2004
5. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2004), Số liệu Thống kê xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 và 2001- 2003, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu Thống kê xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 và 2001- 2003
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2004
6. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Chương trình phát triển liên Hợp quốc (2004), Đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và chương trình 135, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và chương trình 135
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Chương trình phát triển liên Hợp quốc
Năm: 2004
7. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, tháng 9 - 2005: “Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo 2006 - 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo 2006 - 2010
9. Báo Dân tộc và phát triển, số 45 - 2009: “Trợ giá, trợ cước ở Cao Bằng: tiếp sức cho xóa đói giảm nghèo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trợ giá, trợ cước ở Cao Bằng: tiếp sức cho xóa đói giảm nghèo
15. Chính phủ Việt Nam (27 - 9 - 2001), Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg, “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005””, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005””
16. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Văn kiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
17. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003): Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2003
18. PGS. TS Nguyễn Thị Cúc (2006), Báo cáo tổng quan đề tài khảo sát: Khảo sát việc xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan đề tài khảo sát: "Khảo sát việc xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Thị Cúc
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ Đảng khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu BCHTƯ Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ Đảng khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCHTƯ Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ BCHTƯ khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ BCHTƯ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khóa X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w