Vấn đề tiêu cực trong đào tạo chưa được khắc phục… Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, việc góp phần tổng kết thực tiễn quá trình phát triển của giáo dục đại học sau hơn 20 năm đổi mới d
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 - 2000) 6 1.1 Yêu cầu khách quan của việc phát triển giáo dục đại học trong sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 6 1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục đại học đối với sự nghiệp đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá 6 1.1.2 Tình hình giáo dục đại học trước năm 1996 11 1.2 Đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng trong những năm đầu
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 17 1.3 Quá trình tổ chức thực hiện đường lối phát triển giáo dục đại học của
Đảng (1996-2000) 24 1.3.1 Quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
giáo dục đại học từ 1996 đến năm 2000 24 1.3.2 Một số thành tựu cơ bản về giáo dục đại học 34
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI (2001 - 2005) 43 2.1 Yêu cầu mới đối với giáo dục đại học 43 2.2 Đường lối của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục đại học 48 2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục đại học trong những năm
2001-2005 56 2.3.1 Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển giáo
dục 56 2.3.2 Kết quả thực hiện các mục tiêu chiến lược trong giai đoạn 2001 -
2005 66
Trang 2Chương 3 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC (1996 - 2005) 81
3.1 Kết quả 10 năm lãnh đạo phát triển giáo dục đại học 81
3.1.1 Thành tựu 81
3.1.2 Hạn chế 92
3.2 Kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo phát triển giáo dục đại học 99
3.2.1 Chỉ đạo việc quy hoạch các trường đại học, cao đẳng kết hợp với việc mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo 99
3.2.2 Đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập 103
3.2.3 Chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên, nhân tố cơ bản quyết định sự thành công của giáo dục đại học 107
3.2.4 Tăng cường công tác quản lý giáo dục đại học 110
3.2.5 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng trong nhà trường 112
3.2.6 Tăng cường nguồn lực cho giáo dục đại học, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy học tập, thực hiện xã hội hoá giáo dục 114
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 125
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐH, CĐ : Đại học, cao đẳng GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo KH- CN : Khoa học công nghệ NSNN : Ngân sách nhà nước XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, xu thế chung của thế giới là toàn cầu hoá, hội nhập khu vực và quốc tế, với những tác động nhiều mặt đa phương, đa dạng Thế giới đi vào nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, lợi thế so sánh nghiêng về những nước phát triển, làm chủ khoa học - kỹ thuật Chất xám, trí tuệ trở thành động lực chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội Phát triển giáo dục đại học để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đặt ra đối với tất cả các quốc gia
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ trên thế giới diễn ra mạnh mẽ Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như Mác dự đoán, còn công nghệ được đổi mới hết sức nhanh chóng Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học - công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định vị thế và sức mạnh của mỗi quốc gia trên thế giới Đảng ta nhận định: cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cùng với xu thế toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới là thuận lợi cơ bản để phát triển, đồng thời cũng là một thách thức gay gắt đối với các nước, nhất là những nước còn chậm phát triển Vì vậy, cùng với nâng cao nhận thức đối với giáo dục đào tạo, chúng ta phải hiểu sâu sắc vai trò của khoa học - công nghệ trong việc phát huy nhân tố con người
Việt Nam đang đứng trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo, kém phát triển, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra ngày càng cấp bách Nguồn lực con người là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới, tập trung đào tạo nguồn nhân lực mới giữ được độc lập tự chủ, phát huy được nội lực vững vàng đi lên hoà nhập với xu thế tiến bộ văn minh của thời đại Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới chúng ta cần có giáo dục trong đó giáo dục đại học là cực kỳ quan trọng với tư cách là bậc học trực tiếp cung cấp nguồn lao động có trí tuệ, kỹ thuật cao cho đất nước
Trang 5Trong 10 năm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996
- 2005), giáo dục đại học đã đạt được những thành tựu cơ bản Song bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn có những hạn chế, yếu kém trong nhiều mặt như
cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu của dạy và học, chất lượng giáo dục chưa cao Công tác quản lý đào tạo còn nhiều bất cập Vấn đề tiêu cực trong đào tạo chưa được khắc phục…
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, việc góp phần tổng kết thực tiễn quá trình phát triển của giáo dục đại học sau hơn 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ rõ những thành tựu, những yếu kém và nguyên nhân của
nó, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học đã và đang diễn ra là công việc hết sức cần thiết Vì vậy, tôi chọn
đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển giáo dục đại học từ
năm 1996 đến năm 2005” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng
2 Tình hình nghiên cứu
Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay, vấn đề đổi mới giáo dục đại học đặt ra hết sức bức thiết, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Vì lẽ đó, tình hình nghiên cứu về giáo dục đại học trở thành
đề tài thời sự được các nhà nghiên cứu, quản lý giáo dục hết sức quan tâm
Hàng loạt các công trình nghiên cứu về giáo dục đại học được công bố
Có thể nên một vài công trình như sau:
Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
XXI, Nxb CTQG; Ban Khoa giáo Trung ương (2001), Báo cáo kiểm điểm việc
thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII; Bộ Giáo dục - Đào tạo (2001), Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước đầu thế kỷ XXI; Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục
- đào tạo trong thời kỳ đổi mới Chủ trương, thực hiện đánh giá; Viện Chiến
lược và Chương trình giáo dục (2005), Đề tài cấp Bộ trọng điểm “Đánh giá
Trang 6việc thực hiện chiến lược giáo dục trong giai đoạn I (2001 - 2005) và chuẩn
bị kế hoạch thực hiện giai đoạn II (2006 - 2010)
Những luận văn, luận án đã bảo vệ: Phan Quốc Huy (1996), Đảng công
sản Việt Nam với sự nghiệp đổi mới ngành giáo dục nước nhà 1987 - 1995;
Lã Quý Đô (2003), Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển giáo dục đại
học trong những năm 1986 - 2002,…
Ngoài những công trình xuất bản thành sách, kỷ yếu thì có rất nhiều
bài viết trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Công tác khoa giáo, Phát triển
giáo dục…
Các công trình bài viết của học giả trong và ngoài nước hết sức phong phú, đa dạng đề cập đến nhiều khía cạnh của giáo dục đại học Việt Nam như: Vai trò của đào tạo đại học, thực trạng hiện nay, những thành tựu, những tồn tại yếu kém, một số công trình còn đưa ra xu thế phát triển của giáo dục đại học… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ
và cụ thể về giáo dục đại học từ 1996 đến năm 2005
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Làm rõ đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục đại học; quá trình chỉ đạo thực hiện; từ đó, tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về giáo dục đại học
* Nhiệm vụ
- Phân tích yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đối với giáo dục đại học
- Phân tích thực trạng giáo dục đại học trước 1996
- Nghiên cứu một cách có hệ thống đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng (từ Đại hội VIII tới Đại hội IX)
- Nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và kết quả thực hiện
- Tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 7Luận văn chủ yếu nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đại học từ năm 1996 đến năm 2005
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về giáo dục đại học từ 1996 - 2005; quá trình tổ chức thực hiện phát triển giáo dục đại học; đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của giáo dục đại học
- Về thời gian: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục đại
học từ năm 1996 đến năm 2005
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
* Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu là:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về giáo dục đại học
- Các báo cáo của Bộ Giáo dục - Đào tạo về giáo dục đại học
- Tham khảo các tác phẩm của các chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đã được công bố
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giáo dục đại học
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử, phương pháp logic Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so sánh… để thực hiện đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm rõ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lãnh đạo phát triển giáo dục đại học từ năm 1996 đến năm 2005
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo giúp các nhà nghiên cứu tiếp tục lĩnh vực này
- Từ việc nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục đại học, những thành tựu đạt được, những hạn chế yếu kém cần khắc phục, luận
Trang 8văn đề xuất những giải pháp nhằm đẩy nhanh sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương :
Chương 1: Quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục đại học của Đảng
trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 - 2000)
Chương 2: Đảng lãnh đạo phát triển giáo dục đại học trong những năm
đầu thế kỷ XXI (2001 - 2005)
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo
phát triển giáo dục đại học (1996 - 2005)
Trang 9Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 - 2000)
1.1 Yêu cầu khách quan của việc phát triển giáo dục đại học trong
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Tầm quan trọng của giáo dục đại học đối với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước từng bước xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng (1996) đã chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH trên phạm vi cả nước Đảng ta xác định:
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiêu biểu, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ của khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao [20, tr.65]
Điều kiện nước ta tiến hành CNH, HĐH là từ một nền kinh tế kém phát triển lại phải khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh vệ quốc
Vì vậy, sau những sai lầm trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, Đảng
ta đã rút ra những bài học kinh nghiệm để lựa chọn ra con đường CNH, HĐH phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta và xu thế phát triển của thế giới hiện nay
Đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế thị trường tạo nền tảng cơ bản đưa nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Trong đó chúng ta cần kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại Như vậy, CNH, HĐH là khâu then chốt để đưa nước ta phát triển đi lên trở thành một nước công nghiệp có cơ sở
Trang 10vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, lực lượng sản xuất phát triển, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc
Vậy làm thế nào để chúng ta sớm có thể thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH đất nước được? Đứng trước vấn đề đó, nhiều nhà khoa học đã tìm tòi, nghiên cứu trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta và học hỏi kế thừa kinh nghiệm từ các nước khác trên thế giới đã nhất trí với nhau rằng nguồn lực trí tuệ là nhân tố quyết định nhất giúp cho việc thành công hay thất bại của quá trình CNH, HĐH ở nước ta Điều đó được thể hiện rõ trên một số khía cạnh như:
Thứ nhất, trí thức tham gia phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền
kinh tế - xã hội như một lực lượng sản xuất trực tiếp Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển với tốc độ ngày càng cao, khoa học công nghệ đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp thì tri thức chính
là yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình phát triển Chỉ có nhân tố con người mới có thể thúc đẩy nhanh việc cải tiến cơ cấu sản xuất làm nâng cao năng suất lao động, đổi mới phương pháp sản xuất để việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả hơn phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của xã hội
Thứ hai, trí thức là yếu tố quan trọng nhất trong việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc (nền tảng tinh thần của xã hội) và kế thừa tiếp thu những tinh hoa văn hoá hiện đại để làm đa dạng phong phú hơn nền văn hoá dân tộc
Với vai trò chủ thể trong các hoạt động sáng tạo văn hoá, tầng lớp trí thức luôn là lực lượng nhận thức được rõ nhất các giá trị của văn hoá dân tộc từ
đó phát huy việc bảo tồn phát triển các giá trị văn hoá chân thiện mỹ của dân tộc loại bỏ những yếu tố tiêu cực không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc trong giai đoạn hiện nay Việc giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trên tinh thần kế thừa những tinh hoa văn hoá tiên tiến của nhân loại như là một trách nhiệm, “thiên chức” của những người trí thức Việt Nam
Trí thức có vai trò quyết định trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của đất nước đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH đất nước Sự nghiệp CNH, HĐH của nước ta thành công hay thất bại điều đó được
Trang 11phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong sự nghiệp CNH, HĐH của dân tộc, trí thức không chỉ trực tiếp tham gia và đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đó mà trí thức còn thể hiện
rõ trong công tác nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài Những hoạt động của trí thức tác động vào quá trình phát triển của giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ làm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên, chính kết quả phát triển của quá trình CNH, HĐH cũng có sự tác động ngược trở lại làm cho đội ngũ trí thức của chúng ta ngày càng phát triển hơn cả về chất lượng và số lượng Như vậy, những hoạt động của đội ngũ trí thức không chỉ làm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH của đất nước mà nó còn góp phần phát triển chính đội ngũ trí thức của dân tộc
Thứ ba, vai trò của trí thức còn thể hiện trong lãnh đạo quản lý và điều
hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trong quá trình CNH, HĐH quá trình đổi mới của đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn cần có một đội ngũ trí thức đủ đức đủ tài để giữ vai trò trọng trách quản lý cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ Trong bối cảnh thể giới hiện nay việc giao lưu hội nhập kinh tế, việc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế để có thể chuyển từ nền kinh tế thị trường sang nền kinh tế trí thức đang là xu thế tất yếu của thời đại Do đó, việc bồi dưỡng xây dựng đội ngũ trí thức đủ đức đủ tài gắn bó với nhân dân giàu lòng yêu nước, yêu CNXH có ý chí và hoài bão khoa học… là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng và Nhà nước ta và của bản thân đội ngũ trí thức
Từ những phân tích trên cho ta thấy quá trình CNH, HĐH càng đi vào chiều sâu, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về số lượng và chất lượng của đội ngũ trí thức càng trở lên cấp bách đòi hỏi quá trình đào tạo giáo dục nguồn nhân lực của chúng ta cần có sự vận động phát triển để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi đó
Giáo dục đại học là bậc đào tạo cao nhất trong hệ thống giáo dục đào tạo
ở nước ta, với 2 bậc học là đại học và sau đại học Trong đó bậc đại học đào tạo cao đẳng và đại học - người học ở bậc này gọi là sinh viên, tốt nghiệp là cử nhân, kỹ sư… và bậc đào tạo sau đại học gọi là học viên cao học, nghiên cứu sinh, tốt nghiệp là thạc sỹ, tiến sỹ Mục tiêu chung của giáo dục đại học là nhằm đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực ở trình độ cao có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng
Trang 12lực chuyên môn tương xứng với trình độ đào tạo và có sức khoẻ đáp ứng được yêu cầu công việc Mục tiêu cụ thể ở bậc đại học là trang bị cho người học kiến thức chuyên môn cơ bản và kỹ năng thực hành cơ bản về một số ngành nghề nhất định và từ đó khả năng giải quyết các vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo Đối với bậc sau đại học, ở trình độ đào tạo thạc sỹ mục tiêu đào tạo là giúp cho học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ thực hành cao, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo Còn đối với trình độ tiến sỹ, mục tiêu của giáo dục đào tạo là nhằm cho nghiên cứu sinh có trình độ chuyên môn sâu về lý thuyết và thực hành; có năng lực nghiên cứu độc lập và sáng tạo, năng lực giải quyết những vấn đề khoa học công nghệ và hướng dẫn hoạt động chuyên môn Quá trình phát triển của giáo dục đại học chính là quá trình cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho CNH, HĐH đất nước
Giáo dục đại học là quá trình cung cấp thường xuyên và ổn định nguồn nhân lực cho quá trình CNH, HĐH Với chức năng và nhiệm vụ của mình, giáo dục đại học thường xuyên cung cấp cho đất nước một số lượng lớn cán bộ, trí thức mới đảm bảo cho sự ổn định và phát triển số lượng của nguồn nhân lực Bên cạnh đó, giáo dục đại học là bậc học khác cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp so với cấp học khác vì vậy giáo dục đại học không chỉ trực tiếp đào tạo ra cán bộ trí thức mới mà còn góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng nguồn lực trí thức Điều đó có thể thấy trên một số khía cạnh như:
Giáo dục đại học là môi trường thuận lợi nhất để nâng cao chất lượng nguồn lực trí thức Như chúng ta đã biết tri thức của con người được biểu hiện
ở 2 cấp độ tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học Mặc dù có vai trò rất quan trọng nhưng để có thể hiểu được bản chất của các sự vật, hiện tượng, để nâng cao năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn thì con người không thể chỉ dựa vào tri thức kinh nghiệm mà phải vươn tới chiếm lĩnh được tri thức khoa học Muốn đạt được điều đó con người nhất thiết phải cần đến quá trình giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Bởi chỉ có ở đó con người mới có môi trường học tập và nghiên cứu, có sự hướng dẫn của các giảng viên
có trình độ chuyên môn cao về từng yếu tố phù hợp với yêu cầu phát triển Giáo dục đại học cũng trang bị cho người học thế giới quan và phương pháp
Trang 13luận khoa học để tiếp cận và nghiên cứu sáng tạo ra những tri thức mới ở những trình độ ngày càng cao, phát huy những yếu tố nội sinh để người học tiếp thu tìm tòi ra chân lý Những tri thức của giáo dục đại học mang lại sẽ giúp cho người lao động chủ động hoạt động để đạt hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn từ đó không ngừng nâng cao năng lực trí tuệ góp phần nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình CNH, HĐH đất nước
Giáo dục đại học là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện lập trường tư tưởng cho nguồn nhân lực của quá trình CNH, HĐH đất nước Quá trình giáo dục đại học sẽ giúp cho người học hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp xúc các giá trị văn hoá tiên tiến của nhân loại, từ đó hình thành nên tình yêu quê hương đất nước, yêu CNXH, hình thành nên nhân cách cao đẹp của người lao động Chính điều đó đã giúp người lao động có được bản lĩnh vững vàng trước những âm mưu dụ dỗ, chia rẽ, chống phá xuyên tạc… của kẻ thù đối với quá trình CNH, HĐH phát triển đất nước
Giáo dục đại học là yếu tố giúp cho người lao động có một hệ thống kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản, chuyên sâu về một ngành nghề, một lĩnh vực đồng thời khơi dậy và phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và những người làm chủ tri thức cho đội ngũ trí thức nói riêng, là nguồn nhân lực cao của quá trình CNH, HĐH đất nước nói chung, để đáp ứng yêu cầu phát triển của quá trình CNH, HĐH ngày càng đi vào chiều sâu của đất nước Giáo dục đại học làm phát triển nguồn nhân lực thông qua việc nâng cao dân trí và phát triển trí tuệ đỉnh cao của đất nước Khi mặt bằng dân trí được gia tăng, yếu
tố trí tuệ, tri thức và năng lực sáng tạo của con người, của người lao động phát triển sẽ là nền tảng để con người tiếp tục phát huy những kỹ năng khác, vươn lên làm chủ hoàn cảnh và làm chủ chính bản thân mình Giáo dục đại học chính
là yếu tố quan trọng nhất trong việc tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ quá trình CNH, HĐH đất nước
Giáo dục đại học cũng là yếu tố quan trọng trong việc góp phần định hướng và điều chỉnh cân đối hợp lý nguồn nhân lực góp phần cân bằng cơ cấu lĩnh vực ngành nghề trong quá trình CNH, HĐH cho phù hợp vơi từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Trang 14Trong thời gian gần đây cùng với quá trình CNH, HĐH Đảng ta đã định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng tập trung vào phát triển nền kinh tế tri thức đã từng bước chủ động hội nhập vào xu thế kinh tế chung của nhân loại Do đó quá trình CNH, HĐH không chỉ yêu cầu giáo dục đại học cung cấp một lực lượng lao động chất lượng cao mà còn yêu cầu sự đóng góp trong việc cân đối hợp lý về cơ cấu kinh tế ngành nghề lĩnh vực vùng miền nhất là trong lĩnh vực khoa học công nghệ cao để từ đó giải quyết hài hoà, tạo động lực phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện hoàn thiện quá trình CNH, HĐH của dân tộc
Như vậy, giáo dục đại học có vai trò to lớn đối với quá trình CNH, HĐH, nó không chỉ là yếu tố đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH mà còn là yếu tố góp phần quyết định cho sự thành công của quá trình CNH, HĐH đất nước
1.1.2 Tình hình giáo dục đại học trước năm 1996
Trước xu thế hội nhập mở cửa, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nguy cơ tụt hậu về kinh tế - xã hội, về khoa học kỹ thuật và công nghệ của nước ta ngày càng cao so với các nước trên thế giới đã đặt ra vấn đề cấp thiết phải đổi mới giáo dục đại học để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực với yêu cầu ngày càng cao cho sự nghiệp đổi mới
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12 - 1986) của Đảng là đại hội khởi xướng sự nghiệp đổi mới trên tất cả mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội Đảng, Nhà nước ta và ngành giáo dục - đào tạo đã kịp thời nhân thức rõ sự non kém về nhiều mặt, từng bước giải quyết những vấn đề cấp bách của giáo dục như ngăn chặn sự giảm sút về công tác đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, nhà trường, chăm
lo đời sống giáo viên, phát động toàn dân tham gia xây dựng giáo dục…
Đại hội VII của Đảng (6 - 1991) đã khẳng định: “cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu” [26, tr.187] Điều khẳng định này là hoàn toàn chính xác Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới
Trang 15Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VII) năm
1993 đã đưa ra những quan điểm chỉ đạo đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo như sau:
Một là, giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ được xem là
“quốc sách hàng đầu” Đó là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện những mục tiêu kinh té - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước
Đảng ta nhấn mạnh coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước để phục vụ đắc lực nền kinh tế - xã hội Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Giáo dục - đào tạo không chỉ là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là động lực quan trọng đẩy nhanh quá trình đổi mới hiện nay, đổi mới phải dựa trên nền tảng giáo dục Cơ sở để định hướng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội suy cho cùng, phải đi từ nguồn lực con người mà muốn có con người có trình độ cao thì giáo đục đại học đóng vai trò quan trọng
Hai là, phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp lao động tự chủ sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức
Quan điểm này khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, là chế độ vì con người, hướng tới phát huy mọi khả năng của con người Nguyên Tổng Bí thư
Đỗ Mười đã khẳng định: “Cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn chế” [26, tr.9]
Ba là, giáo dục vừa phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước,
vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân
Trang 16Để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao đó, ngành giáo dục - đào tạo phải tập trung giải quyết hàng loạt vấn đề như: quy mô giáo dục, chất lượng giáo dục,
cơ cấu hệ thống và đa dạng hoá các loại hình trường lớp, đội ngũ giáo viên, cơ
sở vật chất, xã hội hoá giáo dục, tiến hành công tác quản lý… đặc biệt phải gắn với việc đào tạo, nghiên cứu khoa học với triển khai ứng dụng công nghệ Mở rộng quan hệ trong đào tạo, nghiên cứu khoa học với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển nhằm tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và những tiến bộ về các thành tựu giáo dục của thế giới
Bốn là, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục nhằm tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người học tập, hình thành xã hội học tập Đảng chủ trương cho phép mở rộng loại hình đào tạo không chính quy, đa dạng hoá loại hình đào tạo: công lập, bán công, dân lập, tư thục, các trung tâm đào tạo thường xuyên, đào tạo từ xa… làm cho mỗi người dân có thể lựa chọn một hình thức học tập phù hợp Người đi học phải đóng học phí, cá nhân, tổ chức sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng học phí đào tạo Nhà nước có chính sách đảm bảo cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học
Bốn quan điểm chỉ đạo trên đây thể hiện rõ vị trí quan trọng hàng đầu của giáo dục - đào tạo trong nền kinh tế quốc dân
Mười năm 1986 - 1996 có vị trí đặc biệt trong quá trình tồn tại và phát triển của đất nước Đó là thời kỳ đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Đường lối đổi mới đã đưa đất nước ta, trong đó có giáo dục đại học bước sang một giai đoạn mới Giai đoạn này là giai đoạn phát triển giáo dục đại học theo đường lối đổi mới Đường lối đổi mới bắt đầu từ tư duy, trong đó có đổi mới tư duy về giáo dục đại học, đưa giáo dục đại học lên một trình độ phát triển mới
Vào những năm 1987 - 1988, khi bắt đầu công cuộc đổi mới theo đường lối của Đại hội VI đề ra, giáo dục đại học nước ta đang lâm vào tình trạng yếu kém về nhiều mặt
Mạng lưới đại học Việt Nam có hơn 100 trường đại học và cao đẳng, nhìn chung chủ yếu là công lập Quy mô các trường quá nhỏ hẹp, tổ chức theo ngành
Trang 17chuyên môn không được mở rộng Đa số các trường đại học, cao đẳng được tập trung tại Hà Nội với khoảng 37 trường, ở Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20 trường, rải rác khắp đất nước có các loại trường chuyên môn hẹp khác
Bên cạnh các trường đại học Việt Nam hiện có, lúc đó cũng tồn tại song song với 252 viện nghiên cứu quốc gia, hoạt động nghiên cứu khoa học tách rời các trường đại học và vì những lý do lịch sử mà hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đều được xây dựng theo mô hình Liên Xô cũ Cho nên các trường đại học
ở Việt Nam không có các trường đại học lớn bao gồm nhiều ngành đào tạo, theo kiểu UNIVERSITY như nhiều nước khác
Về đội ngũ cán bộ giảng dạy, toàn ngành giáo dục hiện có 36.608 cán
bộ, công nhân, viên chức, riêng cán bộ giảng dạy đại học có 20.744 người (chiếm 57%), cán bộ nữ có 6.536 người (chiếm 31,3%), dân tộc ít người chiếm
2 đến 3% Trong đó cán bộ giảng dạy đại học, thì mới chỉ có 87% có trình độ đại học trở lên với 211 tiến sỹ, 2.666 phó tiến sỹ, 2.773 thạc sỹ, số còn lại chủ yếu là đại học Đa phần cán bộ giảng dạy chủ yếu được đào tạo từ Liên Xô và Đông Âu, phần còn lại chủ yếu là tự đào tạo và trưởng thành ở trong nước Nhìn chung, giảng viên đại học ở nước ta ít được nâng cao trình độ, ít có khả năng đào tạo lại, giao lưu trao đổi khoa học với các nước tiên tiến trên thế giới
Vấn đề quan tâm lúc đó và khó khăn nhất là đời sống cán bộ giảng dạy, đồng lương ít ỏi buộc họ vừa phải đảm bảo việc lên lớp, nghiên cứu khoa học, vừa tìm mọi nguồn thu nhập khác để sống Những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, có lúc họ quan niệm “người thầy giáo có nghề phụ là nghề dạy học” Cuộc sống khó khăn nên họ chưa toàn tâm, toàn ý cho việc dạy học là lẽ đương nhiên, từ đó tác động đến sự xuống cấp của toàn bộ nền giáo dục là vấn
đề không thể tránh khỏi Dù rằng, đa số cán bộ giảng dạy vẫn trụ vững trên giảng đường và luôn đề cao “nghề dạy học là một nghề cao quý” Bên cạnh đó, tình trạng “lão hoá” đội ngũ cán bộ giảng dạy tiếp tục gia tăng, nguồn cán bộ trẻ, có năng lực ngày một thiếu hụt Sự hụt hẫng đội ngũ trí thức có trình độ cao ngày càng bộc lộ rõ nét, nhất là ở các trường đại học Tại một cuộc điều tra vào năm 1994 ở 17 trường đại học ở Hà Nội thì số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi chỉ có 8% Đội ngũ cán bộ trẻ rất hiếm ở các trường đại học lớn như: Đại học
Trang 18Bách khoa, Đại học Tổng hợp số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi là 1,2%, Đại học Sư phạm là 1,9%
Về đào tạo sau đại học, tính đến tháng 7 - 1995 nước ta có 120 cơ sở đào tạo sau đại học, với 7.982 học viên cao học và 3.262 nghiên cứu sinh đang theo học
Về đội ngũ sinh viên của giáo dục đại học Việt Nam trước năm 1996 là không ổn định Vấn đề đó có nhiều nguyên nhân, vừa do chuyển đổi cải cách giáo dục, vừa do quy định nghiêm ngặt theo kế hoạch tuyển sinh của Nhà nước Cuộc sống khó khăn nên thời ấy vào đại học là mơ ước của nhiều người, nhất
là lớp trẻ Bên cạnh đó, chất lượng đào tạo vẫn không được tăng lên, thực ra nó chịu tác động dưới nhiều sức ép, trước hết là chịu tác động về sự xuống cấp của
cơ sở thiết bị dạy và học Hiện trạng các trường đại học, cao đẳng của nước ta lúc đó không những không được trang bị thêm mà vẫn giữ nguyên cơ sở vật chất, trang thiết bị của Liên Xô và Đông Âu cũ, đã lạc hậu cũ kỹ, rồi tiếp tục xuống cấp thêm…
Tình trạng dạy chay, học chay, cách truyền đạt vẫn chỉ diễn giải lý thuyết là chủ yếu Cách dạy “truyền thống” trên giảng đường đại học vẫn chưa được khắc phục Sinh viên đào tạo ít được thao tác kỹ thuật hoặc tiếp cận với những công nghệ mới
Trong thời kỳ bao cấp, giáo dục - đào tạo nói chung được xem như là một thứ phúc lợi, là gánh nặng của ngân sách, cho nên trong mọi văn bản của Nhà nước, các ngành, các cấp khi bàn về giáo dục - đào tạo chỉ là những câu hỏi rất chung chung, làm được đến đâu hay đến đó Từ đó, ngân sách chi cho giáo dục hết sức eo hẹp, có lúc có nơi lại sử dụng vào việc khác, tình trạng buông trôi thả lỏng có thời làm điêu đứng các nhà trường và đời sống của giảng viên
Trước năm 1990, sự nghiệp giáo dục đào tạo được phân bổ tài chính rất thấp, số đó chỉ đủ trả lương và học bổng cho cán bộ, sinh viên Ngân sách dành cho giáo dục chưa bao giờ vượt quá 10% tổng chi ngân sách Nhà nước Số đó không thể đẩy nhanh được tốc độ vận hành và phát triển của giáo dục lúc đó
Trang 19Ngân sách chi cho giáo dục còn thể hiện ở mức chi phí cho đào tạo trên mỗi đầu sinh viên trên mỗi năm học
Tóm lại, thực trạng giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng, cái đạt được là rất lớn song cái chưa đạt được cũng còn quá lớn Để kết thúc phần này, tôi lấy đánh giá chung về giáo dục - đào tạo, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua công trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo cùng với chương trình phát triển của Liên hợp quốc - UNDP và Tổ chức Văn hoá, khoa học, giáo dục của Liên hợp quốc UNESCO Trong 2 năm 1991
- 1992 tiến hành dự án: Phân tích tình hình giáo dục và nhân lực Việt Nam VIE89/022 Dự án đã đi tới kết luận: Giáo dục Việt Nam đang đứng trước 7 vấn đề gay cấn như sau:
1 Giáo dục phổ thông giảm sút về số lượng và suy thoái về chất lượng mọi bậc học, kể cả giáo dục mầm non
2 Giáo dục nghề nghiệp không liên hệ chặt chẽ với sản xuất và thị trường lao động
3 Giáo dục đại học yếu kém trong giảng dạy, mạng lưới các trường bố trí không hợp lý, thiếu quan hệ với nghiên cứu khoa học, sản xuất và việc làm
4 Đội ngũ thầy giáo yếu kém về chuyên môn, gặp nhiều khó khăn trong công tác và đời sống
5 Nguồn lực cho giáo dục - đào tạo thiếu nghiêm trọng và chưa được sử dụng hợp lý
6 Hệ thống luật pháp, tổ chức, quản lý giáo dục đào tạo chưa phù hợp với những đổi mới về quản lý kinh tế - xã hội đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay
7 Hệ thống luật pháp, tổ chức, quản lý giáo dục - đào tạo chưa phù hợp với những đổi mới về quản lý kinh tế - xã hội đang diễn ra ở Việt Nam hiện nay
Những vấn đề nêu trên đang là nỗi lo chung của chúng ta Đó là một trong những cơ sở để Đảng hoạch định những vấn đề về chiến lược giáo dục - đào tạo trong tương lai Đó cũng là sự thúc bách để Đảng ta có Hội nghị chuyên đề về giáo dục đào tạo, chăm lo sức khoẻ nhân dân, về văn hoá, thanh niên…
1.2 Đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng trong những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 20Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng quyết định đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh vững bước đi lên CNXH Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của
sự phát triển bền vững
Đại hội tiếp tục khẳng định: Cùng với khoa học - công nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả 3 mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục - đào tạo trong
5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc làm, khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục
Đại hội xác định: Đến năm 2020, phát triển đào tạo sau đại học, tăng số lượng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài và tại các trung tâm đào tạo quốc tế trong nước Xác định rõ hơn mục tiêu, thiết kế nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, lựa chọn những nội dung có tính cơ bản, hiện đại Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Tổng kết cải cách giáo dục, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách Nhà nước về giáo dục - đào tạo Nâng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục Phát huy trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể, các doanh nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Trong phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996 - 2000 về chương trình phát triển giáo dục - đào tạo, Đại hội xác định mục tiêu: Nâng cao mặt bằng dân trí, đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ vững mạnh, đủ sức giải quyết những vấn đề được đặt ra trong chương trình phát triển khoa học - công nghệ Phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, chú trọng các lĩnh vực khoa học công nghệ, văn hoá nghệ thuật, quản lý kinh tế - xã hội và quản trị sản xuất kinh doanh
Trang 21Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khóa VIII (12 - 1996) đã ra nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển GD - ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH và “nhiệm vụ đến năm 2000” Đây là hội nghị BCH Trung ương đầu tiên triển khai việc thực hiện nghị quyết Đại hội VIII về phát triển GD - ĐT và KH - CN Hội nghị bổ sung, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, các chủ trương, chính sách, biện pháp lớn để đẩy nhanh việc phát triển GD - ĐT Có thể khẳng định đây là những định hướng quan trọng nhất mà Đảng đã đúc kết trong tiến trình lãnh đạo cách mạng nói chung, lãnh đạo sự phát triển sự nghiệp GD - ĐT nói riêng Điều đó cho thấy sự nhận thức của Đảng ta về tầm quan trọng của hai lĩnh vực này trong tiến trình đổi mới của đất nước Nghị quyết của hội nghị tập trung vào 6 quan điểm chỉ đạo phát triển GD
Bên cạnh đó cũng cần tích cực ngăn chặn các tác động tiêu cực, các tệ nạn
xã hội: ma túy, cờ bạc… Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp giáo dục, trong các chính sách, nhất là các chính sách về công bằng xã hội Chống khuynh hướng “thương mại hóa” trong giáo dục, coi GD - ĐT như là một hình thức kinh doanh, đề phòng khuynh hướng “phi chính trị hóa” trong GD - ĐT…
Như vậy, thực chất quan điểm này là giữ vững mục tiêu đinh hướng XHCN trong GD - ĐT chống nguy cơ chệch hướng, đổi màu, không thể hiện bản chất của chế độ nước ta
Trang 22Hai là, Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu
Nghị quyết nêu rõ GD - ĐT cùng với KH - CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho phát triển Quan điểm này đã từng được nêu ra trong Đại hội VII, nghị quyết Trung ương 2 khóa (VIII) đã được cụ thể hơn với 4 nội dung:
+ Coi giáo dục là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, đầu tư toàn diện cả nhân tài, vật lực, trí tuệ…
+ Giáo dục là bộ phận quan trọng hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội ở từng địa phương, từng khu vực và trong cả nước
+ Có chính sách ưu tiên cao nhất cho giáo dục - đào tạo: ưu tiên đầu tư, ưu đãi tiền lương
+ Để quan điểm trên trở thành hiện thực cả ở tầm vĩ mô và vi mô cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ: các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cần coi trọng
sự nghiệp GD - ĐT, cần quan tâm, đầu tư tâm sức, nguồn lực tương xứng
Như vậy, tư tưởng coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu được đề ra ở Đại hội VII (1991), được ghi vào Điều 35 của Hiến pháp năm 1992 được cụ thể hóa một bước ở Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) và được khẳng định lại ở Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã cho chúng ta thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với GD - ĐT và cũng qua đó ta nhận thức được việc cần thiết phải tăng cường sự chỉ đạo từ Trung ương đến các cấp và sự tham ra nhiệt tình tâm huyết của toàn thể nhân dân thì mới giải quyết được các vấn đề của GD -
ĐT và mới thực hiện thành công được quan điểm này của Đảng
Ba là, Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân
Đảng chủ trương thực hiện phong trào học tập rộng rãi trong nhân dân Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động sự tham gia tích cực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế - xã hội, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các hình thức đào tạo từ xa qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng nhằm huy động
và sử dụng mọi nguồn lực của nhân dân để phát triển giáo dục
Xã hội hóa giáo dục bao gồm hai mặt: toàn dân học tập và toàn dân chăm
lo, toàn dân làm giáo dục Nền giáo dục phải hướng tới phục vụ nhân dân, mọi người được tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời Có sự phối hợp
Trang 23liên ngành cùng chăm lo cho giáo dục, kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh Xã hội hóa giáo dục cũng đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho giáo dục, huy động mọi nguồn lục để đầu tư phát triển giáo dục theo hướng giáo dục phục vụ nhân dân
Tuy nhiên, nói xã hội hóa giáo dục không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, khoán trắng cho xã hội Nghị quyết cũng chỉ rõ việc Đảng và Nhà nước phải nắm giáo dục, phải chăm lo phát triển giáo dục “tăng cường xây dựng và củng cố tổ chức Đảng để thực sự trở thành hạt nhân lãnh đạo các trường” [20, tr.46 - 47]
Xã hội hóa giáo dục không chỉ tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo
và bồi dưỡng nguồn nhân lực, tạo ra động lực cho nền giáo dục Việt Nam phát triển, từng bước hòa nhập chung với thế giới mà còn làm thay đổi toàn bộ nhận thức của Đảng ta về giáo dục, từng bước hướng tới mục tiêu đưa GD - ĐT trở thành “quốc sách hàng đầu”, phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mội công dân
Bốn là, Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và những tiến bộ khoa học công nghệ
Sự nghiệp CNH - HĐH chỉ có thể thành công khi chúng ta có nguồn nhân lực mạnh, đội ngũ lao động lành nghề có chất lượng cao, có kinh nghiệm, có sức khỏe… và chúng ta quản lý sử dụng tốt lực lượng đó Để tạo ra được nguồn nhân lực thì vai trò quan trọng hàng đầu là công tác GD - ĐT, giáo dục sẽ góp phần thay đổi về chất trong lực lượng lao động góp phần thực hiện thành công các chỉ tiêu kinh tế - xã hội
Nước ta bước vào CNH với lực lượng lao động dồi dào, khoảng 38 triệu lao động, đây là một thuận lợi lớn song khó khăn của ta là nguồn lao động chất lượng thấp, 80% dân số ở nông thôn, lao động thủ công là chủ yếu, số lao động qua đào tạo có chuyên môn kỹ thuật thấp (khoảng 4 triệu người) chiếm khoảng 10% lực lượng lao động Hàng năm chúng ta lại có lực lượng lao động bổ sung khoảng 1,2 triệu người Nguồn lao động này phải qua đào tạo mới có thể đáp ứng được nhu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới Do đó, việc bồi
Trang 24dưỡng nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo cán bộ cho CNH
là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta lại đang có sự bất hợp lý trong đào tạo và sử dụng Hiện tượng chảy máu chất xám ra ngoài và tại chỗ khá phổ biến, một bộ phận lao động qua đào tạo có chất lượng cao đang tập trung đổ dồn vào làm việc cho các công ty, doanh nghiệp nước ngoài (Năm 1996, ở Hà Nội khoảng 2000 lao động, ở Thành phố Hồ Chí Minh là khoảng 4000 lao động) Các doanh nghiệp nước ngoài không mất chi phí đào tạo mà nghiễm nhiên được hưởng lợi trong khi các doanh nghiệp trong nước không thu hút được cán bộ
Kế hoạch phát triển giáo dục phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương, cải thiện tình trạng bất hợp lý trong cơ cấu nhân lực được đào tạo, tăng hướng nghiệp và đào tạo nghề; giảm lý thuyết và tăng thực hành, thực hiện học đi đôi với hành; lý thuyết gắn với thực tiễn Việc phát triển quy mô đào tạo đại học phấn đấu đến năm 2000 tăng 1,5 lần so với năm 1995 đi liền với tăng cường chất lượng tương xứng với trình độ bằng cấp đòi hỏi và đặc biệt phải phát triển quy mô giáo dục gắn với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực Giáo dục đại học phải hướng đúng vào các lĩnh vực ngành nghề
mà nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cần Nhà nước cần có các chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích phát triển giáo dục một cách phù hợp, thu hút các nguồn đầu tư của các doanh nghiệp vào hoạt động khoa học công nghệ, xây dựng cơ sở hạ tầng Công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học cần được đẩy mạnh làm sao cho tương xứng với tiềm năng của các trường Bên cạnh đó các trường cũng cần chủ động đổi mới trong hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với giảng dạy đào tạo thực tiễn
Phát triển GD - ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh Coi trọng cả ba mặt mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Khẳng định vai trò của GD -
ĐT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên Đảng ta cũng đã khẳng định: “coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng nhất cho sự phát triển của đất nước Gắn chiến lược phát triển giáo dục với chiến lược phát triển khoa học công nghệ và cả hai đều gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” [20, tr.10]
Trang 25Năm là, Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục
Đảng chủ trương tạo điều kiện để ai cũng được học hành Có chính sách thiết thực cụ thể nhằm giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục nói chung, cho các đối tượng chính sách, đối tượng là người dân tộc thiểu số, ít người, vùng cao, vùng sâu, vùng xa… để đảm bảo cho đại bộ phận nhân dân đến tuổi đi học được đến trường, người dân có nhu cầu được đi học
Công bằng xã hội đòi hỏi sự hưởng thụ công bằng hợp lý những lợi ích
mà xã hội đem lại, cũng như trách nhiệm mà mỗi người phải đóng góp cho sự phát triển xã hội Thực hiện công bằng xã hội cũng đòi hỏi phải áp dụng các nguyên tắc điều chỉnh và ưu tiên xã hội Việc huy động mức đóng góp của nhân dân không theo hướng bình quân chủ nghĩa mà phải tùy thuộc vào đối tượng, vào mục đích huy động Cần có chính sách giải quyết tình trạng mù chữ và tái
mù chữ, tình trạng bỏ học của học sinh sinh viên trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn… có chính sách về quản lý kiểm tra, giám sát với các chương trình phát triển giáo dục nhất là ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cần chấn chỉnh lại nội dung chương trình giảng dạy, tổ chức thi cử đặc biệt là đối với tuyển sinh để tạo sự công bằng trong cơ hội học tập… Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và quan điểm về bình đẳng, công bằng xã hội cũng chính là thực hiện đinh hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta
Sáu là, Giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục - đào tạo
Đa dạng hóa các loại hình GD - ĐT để tạo cơ hội cho mọi người có thể chọn cách học phù hợp Trong đó lấy các trường công lập làm nòng cốt (về chất lượng giáo dục, mẫu mực thực hiện kỷ cương, nề nếp quản lý, chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước…) đi đôi với đa dạng cách loại hình đào tạo như dân lập, bán công, tư thục… Nhà nước thống nhất quản lý về nội dung chương trình, quy chế học tập thi cử, văn bằng và tiêu chuẩn giáo viên
Những quan điểm của Đảng về GD - ĐT nói chung và giáo dục học đại học nói riêng thể hiện rõ chủ trương đổi mới sâu sắc, toàn diện và triệt để đối với giáo dục đại học trên cơ sở giữ vững nguyên tắc xây dựng nền giáo dục XHCN, đổi mới không đổi màu Những quan điểm trên đã thể hiện sự coi trọng đặc biệt
Trang 26của Đảng với sự nghiệp giáo dục, nó cho phép huy động tối đa các nguồn lực và
sự quan tâm của toàn xã hội đối với giáo dục, đặt nhiệm vụ trọng trách cho giáo dục đại học là đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, có trình độ khoa học công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.3 Quá trình tổ chức thực hiện đường lối phát triển giáo dục đại học của Đảng (1996-2000)
1.3.1 Quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục đại học từ 1996 đến năm 2000
Có được Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của Đảng về lĩnh vực lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo
Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục đào tạo Việt Nam trước ngưỡng cửa của thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phân tích bối cảnh thế giới, xu hướng phát triển của tình hình kinh tế, chính trị xã hội, giáo dục thế giới và qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn giáo dục của nhiều nước, nhất là những nước phát triển Nghị quyết Trung ương 2 đã thể hiện những quan điểm, tư tưởng lớn xuyên suốt của Đảng định hướng phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ mới Đồng thời Nghị quyết đã xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt của giáo dục
- đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng từ năm 1996 đến năm 2000 Chỉ
rõ những giải pháp lớn để đưa giáo dục đào tạo phát triển Chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng chính là cơ sở, là điều kiện quan trọng hàng đầu để Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo Tuy vậy, đường lối đó mới chỉ dừng lại ở những nét đại thể và chưa được thực tiễn kiểm nghiệm Quá trình tổ chức thực hiện với thực tiễn phong phú sinh động, nhiều vấn đề mới phát sinh cần có giải pháp cụ thể, thiết thực Quán triệt tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
ra nhiều chỉ thị, quyết định quan trọng lãnh đạo nhân dân thực hiện những nhiệm
vụ mục tiêu đề ra đối với giáo dục đại học
Một là, Chấn chỉnh công tác quản lý, lập lại trật tự kỷ cương, đẩy lùi tiêu cực trong giáo dục đại học
Trang 27Sau khi có Nghị quyết Trung ương 2, đặc biệt là khi Luật Giáo dục được ban hành (12/1998), Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội đã xây dựng và làm rõ chức năng nhiệm vụ quản lý Nhà nước về giáo dục của cơ quan Bộ, tránh tình trạng chồng chéo hoặc buông lỏng vì không có sự phân công rõ ràng Theo đó nội dung quản lý của cơ quan Bộ bao gồm bốn lĩnh vực chính đó là: 1 - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển giáo dục; 2 - Ban hành và chỉ đạo hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; 3 - Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn và cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức xuất bản,
in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; ban hành quy chế thi cử và cấp phát bằng; 4 - Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật về giáo dục
Trong 5 năm qua, cơ sở pháp lý về giáo dục đã từng bước được tăng cường và hoàn chỉnh Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Giáo dục và tháng 12/1998, Chính phủ đã ban hành 14 văn bản (Nghị định, Quyết định và Quy định), Bộ Giáo dục đã ban hành 137 văn bản, Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội đã ban hành 10 văn bản của Bộ và liên bộ thi hành luật, Bộ Tài chính, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy
về giáo dục
Ngành giáo dục đã quy định mức học phí tối đa cho các trường đại học, cao đẳng công lập, ngoài công lập theo nguyên tắc không thu bình quân, có sự miễn giảm đối với sinh viên nghèo thuộc đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc
ít người, vùng sâu, vùng xa… Tuy vậy, việc này mới chỉ thực hiện được ở các trường đại học, cao đẳng công lập, còn các cơ sở ngoài công lập vẫn chưa có các quy định chung để thống nhất quản lý Các trường ngoài công lập vẫn tương đối
tự do trong việc quy định các mức học phí và quản lý tài chính
Nhằm khắc phục tình trạng thiếu kỷ cương trong việc xuất bản và phát hành sách giáo khoa, giáo trình dùng trong nhà trường, Bộ đã ban hành và công
bố công khai các loại sách giáo khoa, giáo trình, phối hợp với các cơ quan chức năng chống in và phát hành sách lậu Tuy vậy, giáo trình cho các trường học, cao đẳng và dạy nghề vẫn còn thiếu Nhiều giáo trình, tư liệu học tập được biên soạn
Trang 28chưa mang tính khoa học, có chất lượng cao về nội dung, do vậy vấn đề giáo trình vẫn đang là mọt vấn đề cấp bách cần được giải quyết
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bước đầu kiện toàn bộ máy thanh tra và đổi mới hoạt động thanh tra, đã có nhiều biện pháp tích cực để đấu tranh với các tệ nạn về văn bằng chứng chỉ không hợp pháp, tổ chức rà soát, kiểm tra văn bằng chứng chỉ của hơn nửa triệu người, đã phát hiện 5.742 người sử dụng văn bằng không hợp pháp, trong đó buộc thôi việc 275 cán bộ, công chức, xử lý cả hình thức kỷ luật khác vói 359 cán bộ công chức Tuy vậy, cho đến nay nước ta vẫn chưa ban hành văn bản quy định việc xử lý sai phạm trong việc sử dụng quản lý, cấp phát văn bằng chứng chỉ không hợp lý
Hai là, Quy hoạch sắp xếp các trường đại học: Đại học Quốc gia, Đại học
Sư phạm, đại học vùng, chấn chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu vùng miền
Bộ Giáo dục và Đào tạo trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng 2001 - 2010 (Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001) Trong những năm từ 1997 đến năm 2001 cho phép thành lập thêm 4 trường đại học ở địa phương (Đại học Tây Bắc, Đại học
An Giang, Đại học dân lập Cửu Long, Đại học Sư phạm Hải Phòng), mở thí điểm 7 trường cao đẳng cộng đồng Chính phủ đã có kết luận về mô hình Đại học Quốc gia và tiến hành tổ chức lại Đại học Quốc gia Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh trở thành những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao Đại học Quốc gia đã bước đầu thí điểm đào tạo hệ cử nhân tài năng để bồi dưỡng đào tạo những sinh viên đặc biệt xuất sắc,
có năng khiếu về một ngành khoa học cơ bản qua đây nhằm xây dựng một quy trình đào tạo chất lượng cao ngang tầm khu vực Thủ tướng Chính phủ cũng đã
có Quyết định 201/QĐ/TTg ngày 12/10/1999 thành lập trường Đại học Sư phạm trọng điểm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đây là những trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên giỏi có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến, là cái “máy cái” làm nòng cốt, làm động lực thúc đẩy sự phát triển hệ thống sư phạm, hệ thống phổ thông trong cả nước góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân
Trang 29Tuy vậy, việc triển khai các Nghị quyết của Chính phủ, của Bộ Giáo dục - Đào tạo còn chậm, các tiêu chí về chất lượng cao còn chưa được quan tâm đúng mức, việc xây dựng mô hình tổ chức, bố trí cán bộ, sắp xếp tổ chức bộ máy của các trường này cần phải tiếp tục được quan tâm giải quyết Trong phạm vi cả nước hiện nay còn nhiều bất hợp lý lớn về phân bố các trường đại học, cao đẳng theo địa bàn lãnh thổ, theo cơ cấu ngành nghề dào tạo Nhiều tỉnh ghi vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh về mở trường đại học tại địa phương tỉnh mình mà chưa tham khảo ý kiến các cơ quan quản lý Nhà nước, gây nhiều khó khăn trong việc thực hiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học của Chính phủ Việc chuẩn bị đề án tổng thể xây dựng các ký túc xá sinh viên cho các trường đại học được tiến hành rất chậm; chủ yếu mới chỉ dừng lại ở mức sửa chữa, cải tạo ký túc xá hiện có, việc quy hoạch xây dựng ký túc xá mới có rất ít trường làm được
Các văn bản hướng dẫn về mở trường đại học dân lập, bán công, tư thục còn có một số điểm chưa rõ ràng, thiếu thống nhất, công tác quy hoạch và quản
lý các trường ngoài công lập còn chưa theo kịp sự phát triển trong thực tiễn Chưa chú trọng phát triển các trường nằm trong hoặc gắn với doanh nghiệp Các loại hình học tập tại chức, từ xa, du học tự túc, du học tại chỗ chưa được quản lý chặt chẽ Nhiều trường tổ chức các hình thức đào tạo không đúng chức năng, nhiệm vụ Buông lỏng quản lý đối với các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập dẫn đến hiện tượng tiêu cực, “thương mại hoá” ngày càng nặng nề hơn
Ba là, Mở rộng quy mô đào tạo đại học, phát triển hệ cao học và đẩy mạnh đào tạo nghiên cứu sinh Việc phát triển quy mô gắn với bảo đảm chất lượng và nâng cao hiệu quả giáo dục đại học
Từ khi có Nghị quyết Trung ương 2, quy mô giáo dục và đào tạo tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, ngành học đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn của nhân dân Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng phát triển mạnh, số lượng các trường ngoài công lập tăng đáng kể, nhất là bậc đại học
Tuy vậy, việc mở rộng quy mô còn có những vấn đề thực hiện chưa tốt Việc hướng nghiệp chưa có tiến bộ đáng kể Cái bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo giữa dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, cơ cấu bậc học, cơ cấu xã hội chưa được khắc phục
Trang 30Giáo dục đại học tăng quá nhanh, chưa sát với nhu cầu sử dụng và mục tiêu đào tạo Chất lượng hiệu quả thấp, chưa đạt chỉ tiêu 22 đến 25% lao động qua đào tạo (năm 2000 mới đạt 20%) Chưa có giải pháp khắc phục sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng, miền về quy mô phát triển giáo dục Phát triển giáo dục đại học chưa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xă hội Sở dĩ có tình trạng trên là khâu quản lý giáo dục còn yếu kém, nhất là từ dạy nghề đến đại học còn nhiều bất cập Một số trường đại học đã chạy theo nhu cầu không chính đáng, đã vi phạm nghiêm trọng quy chế tuyển sinh và tổ chức đào tạo như Trường dân lập Đông
Đô Vẫn còn nhận thức không đúng, coi đào tạo đại học chỉ như việc “nâng cao dân trí” thụ động trước áp lực vào đại học của xã hội, chưa bám sát mục tiêu đào tạo nhân lực cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việc tăng quy mô ở đại học chỉ tăng chủ yếu ở các khối ngành kinh tế, luật, khoa học xã hội nên càng không góp phần tạo ra một cơ cấu nhân lực hợp lý có trình độ đại học, thậm chí còn làm tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp không có việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề đào tạo, gây lãng phí lớn cho xã hội và bản thân người học
Về đào tạo và bồi dưỡng nhân lực trình độ cao, nhất là cán bộ khoa học công nghệ phục vụ các ngành và lĩnh vực mũi nhọn, ở nước ngoài Thực hiện chủ trương này, năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt dự án cử những người giỏi,
có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước theo những ngành nghề và lĩnh vực mũi nhọn về khoa học cơ bản, công nghệ cao, hiện đại những nước có nền khoa học công nghệ phát triển Mặc dù triển khai hoạt động hoạt động này đã chậm so với yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 2, vậy mà năm 2000 Bộ Giáo dục - Đào tạo vẫn không tuyển đủ chỉ tiêu được phê duyệt Vì vậy, việc tổ chức thực hiện chủ trương này còn nhiều điểm cần phải rút kinh nghiệm về cách giao chỉ tiêu, cách tổ chức tuyển chọn người, chính sách về học bổng, cách tổ chức liên hệ và quản lý người được cử đi đào tạo… để đảm bảo thực hiện được đề án và đặc biệt đảm bảo được mục tiêu và hiệu quả đào tạo
Công tác nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, cao đẳng được đẩy mạnh, gắn kết các trường với viện nghiên cứu, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, qua đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mô hình tiêu biểu cho sự gắn
Trang 31kết này là Học viện Bưu chính Viễn thông, nằm trong Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam vừa đào tạo chuyển giao công nghệ và ứng dụng sản xuất Tuy nhiên, lĩnh vực này trong các trường đại học, cao đẳng còn nhiều hạn chế Tình trạng dạy chay, thiên về lý thuyết ra rời thực tế Việc gắn giáo dục nhà trường và gia đình, xã hội, với lao động sản xuất, đời sống, học đi đôi với hành còn rất hạn chế Một số trường cao đẳng, đại học đã không hoặc ít tổ chức cho sinh viên thực hành, kiến tập, thực tập, tham gia công tác xã hội
Về tạo điều kiện học tập cho các dân tộc ít người và con em gia đình diện chính sách Chúng ta đã tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu củng cố và phát triển giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người, vùng cao, vùng sâu, hải đảo và những vùng có nhiều khó khăn với mục đích chủ yếu đào tạo nguồn cán bộ, trước hết là đội ngũ giáo viên, cán bộ ngành y tế, lâm nghiệp, quản lý xã hội cho miền núi, vùng dân tộc và các khu vực khó khăn Đối với hệ đại học, chúng ta tiếp tục thực hiện chính sách cử tuyển và đối tượng là học sinh người dân tộc các khu vực đặc biệt khó khăn Tuy vậy, công tác cử tuyển vẫn còn nhiều thiếu sót, việc tuyển chọn chưa gắn với quy hoạch đào tạo cán bộ các cấp cho những vùng này, ở nhiều nơi tuyển sinh không đúng đối tượng, không đúng địa chỉ Đối với sinh viên đã tuyển cần có biện pháp bảo đảm chất lượng đào tạo và có chính sách để sau khi họ tốt nghiệp trở lại địa phương công tác Đối với con em các gia đình chính sách, cán bộ nghèo tiếp tục thực hiện giảm học phí và các khoản đóng góp khác thông qua việc thực hiện quyết định về trợ cấp đối với sinh viên là con thương binh, con liệt sỹ, con thương bệnh binh… thực hiện không thu học phí đối với sinh viên sư phạm, lập quỹ tín dụng ưu đãi cho sinh viên nghèo
Bốn là, Tăng cường công tác chính trị tư tưởng, đẩy mạnh phát triển đảng viên trong các trường đại học, cao đẳng
Giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạo những thế hệ trí thức không chỉ giỏi
về chuyên môn nghiệp vụ mà trước hết phải có đạo đức, có lòng yêu nước, thiết tha gắn bó với nhân dân và chế độ, sẵn sàng góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Vì vậy, bên cạnh việc coi trọng nâng cao chất lượng đào tạo về chuyên môn, Đảng, Nhà nước ta luôn luôn đề cao công tác chính trị tư tưởng trong các trường đại học, cao đẳng, trước hết là trong đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên, coi đây là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt động của
Trang 32nhà trường, một nội dung cơ bản trong việc bồi dưỡng nhân cách và bản lĩnh của sinh viên
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, bên cạnh mặt tích cực, cũng có những mặt trái tác động và ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ giảng dạy, sinh viên, xuất hiện khuynh hướng “thương mại hoá”, sự phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo Những tiêu cực và tệ nạn xã hội thâm nhập vào học đường Trong
đó vấn đề nổi cộm nhất hiện nay đó là giáo dục lý tưởng đạo đức, lối sống cho sinh viên và cả đội ngũ giảng viên bị xem nhẹ Việc giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chăm lo đội ngũ giảng viên các môn học này chưa được quan tâm đúng mức Đội ngũ giảng viên còn thiếu, trình độ còn hạn chế dẫn đến chất lượng giảng dạy chưa cao, chưa có giáo trình phù hợp với từng đối tượng sinh viên Phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin chủ yếu thuyết trình trên lớp Nhiều trường lại bố trí học rất đông, hàng trăm sinh viên ở hội trường, rất ít có hoạt động tham quan, thực tế, thảo luận Ở nhiều nơi không coi đội ngũ giáo viên các môn này là những người trực tiếp làm công tác nắm bắt tư tưởng, định hướng chính trị cho sinh viên mà biến họ thành những “thợ dạy”, có nơi còn “kinh doanh” cả giờ dạy các môn Mác-Lênin Ý thức học tập chính trị của đa số sinh viên chưa cao, phổ biến chỉ là để đối phó thi, thậm chí “chạy điểm” cho xong
Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, cao đẳng tuy đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, sinh viên, cải thiện và tăng cường các điều kiện để cung cấp thông tin, tổ chức hoạt động văn hoá, thể thao, đền ơn đáp nghĩa lồng ghép giáo dục chính trị tư tưởng, nhưng các hoạt động này vẫn chưa được tổ chức thường xuyên, chưa thu hút được đông đảo sinh viên tham gia Bên cạnh một số ít trường đại học, cao đẳng, Đảng uỷ có Nghị quyết
về công tác chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức trong sinh viên, có sự đầu tư chỉ đạo của Ban Giám hiệu và các bộ phận chức năng Ở đa số các trường công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa được đầu tư đúng mức, nhiều nơi “khoán trắng” cho phòng công tác chính trị và cho các tổ chức đoàn, hội sinh viên Đội ngũ cán
bộ giảng dạy, kể cả giảng viên các môn khoa học Mác-Lênin, chưa được huy động tham gia làm công tác này, một số giảng viên còn có những việc làm không gương mẫu, phản tác dụng giáo dục đối với sinh viên Ở một số trường
Trang 33đại học dân lập công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa thực sự được chú ý và nhiều khi không quản lý được nội dung giảng dạy
Công tác phát triển Đảng trong sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng cũng chưa thực sự được quan tâm đúng mức Bên cạnh một số trường làm tốt công tác này như Phân viện Báo chí Tuyên truyền, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, các trường thuộc khối lực lượng vũ trang hàng năm kết nạp hàng trăm sinh viên, còn lại các trường đại học, cao đẳng việc phát triển Đảng trong sinh viên còn rất khó khăn Từ năm
1994 đến năm 1998 đảng bộ các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội đã kết nạp được 1.484 đảng viên mới trong đó 754 là sinh viên Ở nhiều trường khác trong
cả nước cũng đã kết nạp được một số đảng viên là sinh viên Trong 5 năm qua, tổng số kết nạp 7 349 sinh viên, học sinh vào Đảng, trong đó năm sau cao hơn năm trước Cụ thể là 1996 có 887, các năm tiếp theo là 1997 có 997; 1998 có 1.248; 1999 có 2.102 và năm 2000 có 2.115 sinh viên, học sinh được kết nạp vào Đảng Điều này cho thấy ý thức chính trị của sinh viên có chuyển biến tích cực Tuy vậy, nhìn chung công tác phát triển Đảng trong các trường đại học, cao đẳng còn yếu, còn phải có sự quan tâm hơn nữa
Năm là, Giải quyết các điều kiện phát triển giáo dục đại học
Trong 5 năm qua nguồn lực cho giáo dục đã được tăng cường, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục tăng từ 11% năm 1996, lên 15% trong tổng ngân sách nhà nước năm 2000, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Trung ương 2 đề ra Trong đó chi cho giáo dục đại học khoảng 10% tổng ngân sách chi thường xuyên cho giáo dục
- đào tạo Có nhiều giải pháp huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho giáo dục, chủ yếu là nguồn đóng góp của nhân dân, của người học thông qua chế độ học phí qui định công khai, minh bạch Ước tính nguồn đóng góp của nhân dân đạt
25 - 30% ngân sách giáo dục, khắc phục tình trạng lạm thu, chi tiêu thiếu công khai minh bạch Một phần nguồn lực giáo dục đại học là vốn và hợp tác quốc tế
đã được Nhà nước ưu tiên dành cho giáo dục thông qua các dự án của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Châu Á và các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ nước ngoài, các dự án phát triển giáo dục đại học, xây dựng cơ sở trường lớp, đào tạo giáo viên… mang lại nguồn tài chính lớn cho giáo dục đại
Trang 34học Ngân hàng Công thương Việt Nam đã thành lập quỹ tín dụng đào tạo cho sinh viên các trường đại học vay ưu đãi để đảm bảo học tập (Tính đến 28 - 2 -
2001 đã có trên 26.000 sinh viên vay tổng số khoảng 40 tỷ đồng) Đây là một cố gắng lớn của ngành ngân hàng, đáp ứng một phần nhu cầu của bộ phận sinh viên khó khăn Nhiều trường đại học, cao đẳng đã kết hợp và đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất kinh doanh theo chuyên môn của các trường đem lại một nguồn thu đáng kể
Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định sự nghiệp và chất lượng giáo dục Trong những năm gần đây, điều kiện giáo dục và đời sống giảng viên được cải thiện So với năm học 1995 - 1996, năm học 2000 - 2001 số lượng giảng viên được nâng từ 22.544 lên 36.010 người Chính phủ đã ban hành chế độ phụ cấp đối với giảng viên đứng lớp, sinh viên ngành sư phạm không phải đóng học phí, chế độ đãi ngộ đối với nhà giáo công tác tại các địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Đời sống giáo viên được cải thiện thu hút nhiều sinh viên giỏi vào ngành sư phạm Đây là thành tựu nổi bật trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
Công tác đổi mới phương pháp giảng dạy học tập, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập cũng được chú trọng Ngành giáo dục đã có nhiều dự
án, nghiên cứu nhằm đổi mới phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, tăng khả năng tư duy sáng tạo của người học Cải tiến và đổi mới công tác tuyển sinh, chương trình nội dung giảng dạy, chế độ thi cử Đặc biệt là các môn khoa học Mác-Lênin đã xây dựng lại chương trình và viết giáo trình mới, tập huấn hàng năm cho đội ngũ giảng viên các môn học này Các môn cơ bản và chuyên ngành được phân cấp cho các trường tự xây dựng biên soạn chương trình, giáo trình trên cơ sở chương trình khung cho các ngành đào tạo
Tóm lại, trên cơ sở 6 quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức quản lý của Nhà nước, của Bộ Giáo dục - Đào tạo
và các trường đại học, cao đẳng, Nghị quyết Trung ương 2 đã từng bước hiện thực hoá trong đời sống xã hội đất nước, tạo sự chuyển biến đáng kể trong bộ mặt giáo dục đại học, tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo của ngành giáo dục đại học nước nhà
Trang 351.3.2 Một số thành tựu cơ bản về giáo dục đại học
Trong 5 năm 1996 - 2000, thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 toàn ngành giáo dục đã nỗ lực phấn đấu, quyết tâm đổi mới nhằm tạo chuyển biến rõ nét cả
về quy mô, chất lượng, hiệu quả từng bước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, đạt được những thành tựu sau:
Một là, quy mô giáo dục không ngừng tăng lên, mạng lưới trường lớp
được mở rộng
Đầu năm 2000 - 2001, tổng số học sinh, sinh viên trong cả nước là gần 23 triệu, tăng khoảng 24% so với năm học 1995 - 1996 Trong đó sinh viên đại học, cao đẳng gần 1 triệu (con số chính xác là 974.000 so với năm học 1995 - 1996 là 414.000 tăng hơn gấp đôi) Số sinh viên đại học, cao đẳng tăng nhanh, gấp khoảng 2,3 lần
Cùng với việc tăng quy mô, mạng lưới trường lớp và các loại hình đào tạo tiếp tục được củng cố, phát triển rộng khắp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân Tính đến năm 2000, số trường đại học, cao đẳng là 153 trường Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng được sắp xếp hợp lý hơn Hai Đại học Quốc gia được tổ chức lại, 3 đại học khu vực (Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng) tiếp tục được củng cố và phát triển; các trường đại học trọng điểm của các khối: sư phạm, công nghệ, nông nghiệp, kinh tế được tăng cường
Trang 36Biểu đồ 1.1: Số trường cao đẳng, đại học năm học 1995 - 1996
và 1999 - 2000
135
153
120 130 140 150
160
Năm 95-96 Năm 99- 00
Nguồn: Trung tâm Thông tin quản lý giáo dục, Văn phòng Bộ GD - ĐT Hai là, chất lượng giáo dục đã có những chuyển biến tích cực, các hoạt
động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Hiện nay, đánh giá về chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học trong xã hội còn có nhiều ý kiến khác nhau Nhìn nhận một cách khách quan, trong 5 năm qua các trường đại học, cao đẳng đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục Đặc điểm nổi bật và rất cơ bản của
sự nghiệp giáo dục đại học trong những năm qua là, mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp được giữ vững Việc giáo dục lý tưởng XHCN và xây dựng nhân cách con người mới cho sinh viên luôn là mối quan tâm hàng đầu của cấp uỷ Đảng trong các trường đại học, cao đẳng Theo điều tra chọn mẫu trong các năm 1999, 2001 thì số sinh viên tốt nghệp đại học, cao đẳng có hoạt động kinh tế chiếm 96% Trong đó, tỷ lệ có việc làm là 94,61% và chưa có việc làm là 5,39%
Chất lượng đào tạo một số ngành khoa học cơ bản và khoa học - công nghệ đã được nâng cao một bước Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ ở các cơ sở giáo dục, trước hết là các trường đại học trong những năm qua đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo Trong 5 năm qua, các trường đại học đã thực hiện và triển khai có hiệu quả trên
49 đề án và dự án sản xuất thử, thuộc 10 chương trình cấp Nhà nước (gồm 2 chương trình khoa học xã hội nhân văn và 8 chương trình khoa học - công nghệ) cùng với 20 đề tài độc lập cấp Nhà nước khác Hàng năm, thực hiện khoảng 220
Trang 37nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản Ngoài ra, các trường đại học còn triển khai trên
2000 đề tài nghiên cứu cấp Bộ và 40 dự án sản xuất thử Hoạt động khoa học - công nghệ cũng góp phần cụ thể, thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, nâng cao vị thế của các trường đại học trong xã hội, xác lập những căn cứ khoa học, cơ sở lý luận cho việc đề ra các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Ba là, các điều kiện đảm bảo dạy và học có chất lượng, bao gồm đội ngũ
giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, trường lớp, thiết bị dạy học… không ngừng được củng cố, tăng cường và có nhiều chuyển biến tích cực
Tính đến năm học 1999 - 2000, tổng số giáo viên, giảng viên toàn ngành
là 845.485, tăng 24% so với năm học 1995 - 1996 Trong đó, số giảng viên đại học, cao đẳng là 30.205, tăng 45%
Biểu đồ 1.2: Số cán bộ giáo dục ở giáo dục đại học
năm học 1995 - 1996 và 1999 - 2000
21142
30205
0 10000 20000 30000
40000
Năm 95-96 Năm 99- 00
Nguồn: Trung tâm Thông tin quản lý giáo dục, Văn phòng Bộ GD - ĐT
Về chất lượng đội ngũ, trong tổng số 30.205 giảng viên đại học và cao đẳng có 1569 giáo sư và phó giáo sư, 4.373 tiến sỹ và tiến sỹ khoa học, 5.477 thạc sỹ và 543 chuyên khoa cao cấp I + II
Đến đầu năm 2000 - 2001, nhiều trường đại học, cao đẳng đã có trung tâm thư viện khang trang, hiện đại Các trường đại học lớn như Đại học Bách Khoa, Đại học Xây dựng, Đại học Đà Nẵng… đã xây dựng được thư viện điện tử, góp phần nâng cao chất lương rõ rệt trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính đã giúp Chính phủ tăng ngân sách cho giáo dục, bảo đảm yêu cầu định mức do Nghị quyết Trung ương 2 đề ra Năm 1996 ngân sách Nhà nước cho
Trang 38giáo dục là 11%, thì đến năm 2000 con số này đã tăng lên 15% Về con số tuyệt đối, phần ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục năm 2000 so với năm 1996 gấp 1,6 lần
Biểu đồ 1.3: Ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo trong 5 năm 1998 - 2000
Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ GD - ĐT
Mặc dù vậy, ngân sách nhà nước mới chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu tối thiểu của giáo dục, phần lớn ngân sách dùng để trả lương và các khoản phụ cấp theo lương (có nơi đến 90%) Trên thực tế, tổng vốn đầu tư cho giáo dục còn thấp và phương thức phân bổ cho giáo dục còn dàn trải, thiếu sự thống nhất quản
lý và phối hợp giữa các dự án, do đó hiệu quả đầu tư chưa cao, các điều kiện phát triển giáo dục còn xa mới đạt được yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá
Bốn là, chủ trương xã hội hoá giáo dục đang phát huy tác dụng và đã góp
phần quan trọng làm cho giáo dục thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân
Đảng thực hiện phong trào học tập rộng rãi trong nhân dân Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, huy động sự tham gia tích cực của nhân dân cùng các tổ chức kinh tế - xã hội, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, bên cạnh các trường công lập cho phép mở các trường dân lập, bán công, tư thục Các hình thức đào tạo từ
xa qua các phương tiện đại chúng, qua mạng huy động và sử dụng mọi nguồn lực trong nhân dân để phát triển giáo dục
Năm học 2000 - 2001, trong cả nước có 16 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp ngoài công lập Số lượng học sinh, sinh viên ngoài công
Trang 39lập ngày càng tăng chiếm 12,1% sinh viên đại học và cao đẳng Số giảng viên ngoài công lập chiếm 7,2% giảng viên cao đẳng và 19,6% giảng viên đại học
Đã có nhiều dự án trong và ngoài nước trực tiếp đầu tư hỗ trợ kỹ thuật cải cách hệ thống dạy nghề, xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo cán bộ quản lý, giảng viên
Năm là, công bằng xã hội trong giáo dục đã được quan tâm thực hiện Các
trường đại học, cao đẳng và các địa phương đã có nhiều biện pháp trợ giúp tạo điều kiện học tập cho con em gia đình thuộc diện chính sách, con em đồng bào dân tộc và học sinh nghèo vượt khó
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước các trường đã nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về miễn giảm học phí, cấp học bổng cho sinh viên Năm học 2000 - 2001, cả nước có 3.000 sinh viên là người dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 0,3% so với tổng số sinh viên Các trường đại học, cao đẳng hàng năm đều thực hiện chế độ cử tuyển đối với sinh viên dân tộc thiểu số, thực hiện chế
độ ưu tiên xét tuyển vào đại học, cao đẳng đối với thí sinh theo khu vực Nhà nước thực hiện chế độ miễn giảm học phí, chế độ học bổng, trợ cấp xã hội đối với sinh viên dân tộc thiểu số, sinh viên vùng sâu, vùng xa, sinh viên thuộc diện chính sách, con em gia đình thương binh liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, sinh viên nghèo vượt khó Các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đã phối hợp xây dựng quỹ khuyến học nhằm giúp đỡ sinh viên nghèo tiếp tục học
Sáu là, thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ
quốc tế, kết hợp với chính sách xã hội hoá giáo dục, trong những năm qua ngành giáo dục đã chủ động mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ của nhiều cơ
sở giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học nước ngoài và các tổ chức quốc tế
Ngành giáo dục đã có quan hệ hợp tác với 69 nước, 19 tổ chức quốc tế và
70 tổ chức phi chính phủ Quan hệ quốc tế mở rộng đã góp phần tăng cường cơ
sở vật chất cho nhà trường, hiện đại hoá nội dung chương trình và phương pháp đào tạo, góp phần đào tạo cán bộ và nâng cao năng lực quản lý Tranh thủ tối đa các nguồn tài trợ quốc tế: vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, vốn vay Ngân hàng thế giới WB và Ngân hàng phát triển Châu Á ADB để xây dựng một số cơ
Trang 40sở đào tạo trọng điểm ở các bậc học và triển khai các dự án lớn của ngành như:
dự án nâng cao năng lực đào tạo ở các trường đại học, đồng thời triển khai mạnh
mẽ các đề án về đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước… Sự mở rộng quan hệ trao đổi và hợp tác quốc tế đã tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để trong những năm qua ngành có thể gửi số lượng lớn đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển bằng nhiều con đường khác nhau (viện trợ song phương, ngân sách nhà nước, du học tự túc…) Đây có thể coi là một trong những lĩnh vực có nhiều kết quả nội trội trong những năm qua
Mặc dù có nhiều cố gắng và đã đạt được một số kết quả nêu trên, song giáo dục đại học nước ta vẫn còn đang bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, đồng thời đang đứng trước khó khăn thách thức cần phải vượt qua
Một là, chất lượng và hiệu quả giáo dục đại học còn thấp so với yêu cầu
phát triển đất nước, chưa tiếp cận được với trình độ và kết quả giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường còn hạn chế về năng lực sáng tạo,
về kỹ năng thực hành, về khả năng thích ứng nghề nghiệp Nội dung, chương trình giáo dục còn thiên về lý thuyết, ít gắn với thực tế cuộc sống, thiếu tính liên thông giữa các cấp học, bậc học, các loại hình đào tạo Phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên Giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ còn nặng về hình thức, thiếu điều kiện thực hành nên ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục toàn diện Việc giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn, các môn khoa học Mác-Lênin cũng như công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và nhân cách cho học sinh, sinh viên vẫn chưa đạt hiệu quả cao Tâm lý khoa cử còn nặng nề, các
kỳ thi, nhất là kỳ thi tuyển sinh vẫn còn căng thẳng, tốn kém, dễ làm phát sinh tiêu cực
Hai là, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng miền trong hệ
thống giáo dục còn chưa hợp lý
Công tác chỉ đạo cũng như tâm lý xã hội vẫn còn nặng về đào tạo đại học, chưa chú trọng đúng mức đến đào tạo nghề, đặc biệt là nghề trình độ cao Công