Các công trình nghiên cứu trực tiếp sự phát triển làng nghề ở địa phương như: “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
NGUYỄN THÙY DUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
Trang 2NGUYỄN THÙY DUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐI ̣A PHƯƠNG GIAI ĐOẠN 1997 – 2000 8
1.1 Khái quát địa lý - hành chính, nguồn lư ̣c và tình hình phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997 8
1.1.1 Địa lý hành chính 8
1.1.2 Nguồn lực phát triển công nghiệp địa phương 9
1.1.3 Tình hình công nghiệp đi ̣a phương tỉnh Bắc Ninh trước năm 199713 1.2 Chủ trương phát triển công nghiệp đi ̣a phương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2000 23
1.3 Quá trình chỉ đạo phát triển công nghiệp đi ̣a phương của Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh giai đoa ̣n 1997 - 2000 33
1.3.1 Phát triển làng nghề - tiểu thủ công nghiê ̣p 33
1.3.2 Bướ c đầu hình thành mô ̣t số khu công nghiê ̣p 38
Tiểu kết chương 1 45
CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG 47
TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2007 47
2.1 Chủ trương pha ́ t triển công nghiê ̣p đi ̣a phương của Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh trong những năm 2001 - 2007 47
2.1.1 Chủ trương chung của Đảng 47
2.1.2 Chủ trương phát triển công nghiệp địa phương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong những năm 2001 - 2007 54
2.2 Quá trình chỉ đạo phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương của Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh những năm 2001 - 2007 61
2.2.1 Ban hành các chính sách khuyến công 61
2.2.2 Đẩy mạnh phát triển làng nghề – tiểu thủ công nghiê ̣p 63
2.2.3 Xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng các KCN tập trung 71
Trang 4Tiều kết chương 2 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 80
3.1 Mô ̣t số nhâ ̣n xét 80
3.1.1 Ưu điểm 80
3.1.2 Hạn chế 86
3.2 Mô ̣t số bài học kinh nghiệm và những vẫn đề đă ̣t ra 92
3.2.1 Một số bài ho ̣c kinh nghiê ̣m 92
3.2.2 Những vấn đề đă ̣t ra 95
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5Toàn bộ ngành Công nghiệp được chia thành 4 nhóm: Công nghiệp quốc doanh trung ương, công nghiệp quốc doanh địa phương, công nghiệp ngoài quốc doanh và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Công nghiệp địa phương là một bộ phận cấu thành hết sức quan trọng của ngành công nghiệp Như vậy, nếu hiểu theo khái niệm rộng thì trừ công nghiệp quốc doanh trung ương, bao gồm các Tổng công ty, các doanh nghiê ̣p nhà nước độc lập nằm dưới sự quản lý trực tiếp của các Bộ, ngành, thì toàn bộ 3 nhóm còn lại đều thuộc công nghiệp địa phương Đồng thời, công nghiệp đi ̣a phương còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn nữa, chỉ bao gồm công nghiệp quốc doanh địa phương và công nghiê ̣p ngoài quốc doanh (trong đó có cả tiểu thủ c ông nghiê ̣p) nằm dưới sự quản lý của các Sở Công nghiệp
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Bắc Ninh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế công nghiệp nói riêng Tuy nhiên, năm 1997, Bắc Ninh là một tỉnh mới được tái lập nên còn gặp không ít khó khăn Xuất phát từ một tỉnh nông nghiệp là chính (chiếm gần 50% GDP), việc phát triển công nghiệp trong đó việc xây dựng các KCN tập trung, phát triển các cụm công nghiệp làng nghề, đa nghề được xác định là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ
Trang 6sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp là định hướng đúng đắn nhằm phấn đấu đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI (2001-2005), lần thứ XVII (2006-2010) đề ra Như vậy, tỉnh Bắc Ninh phải có đường lối phát triển công nghiệp và quan trọng là xây dựng chính sách phát triển công nghiệp địa phương phù hợp
Phát triển kinh tế công nghiệp địa phương chính là yếu tố sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ cho tỉnh Do đó, ngay sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ Bắc Ninh đã lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương, phấn đấu đến năm 2015 Bắc Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp Với đường lối đó, chặng đường từ năm 1997 đến 2007, Bắc Ninh đã thu được nhiều thành tựu, làm chuyển biến tích cực đời sống nhân dân trong tỉnh Đồng thời, đường lối lãnh đạo này cũng phù hợp với đường lối lãnh đạo của Đảng
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn ấy tôi chọn đề tài “Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương từ năm 1997 đến năm 2007” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứ u sự phát triển công nghiệp địa phương đang ngày được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau Thực tế có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp địa phương
Các nhà khoa học đề cập đến nội dung về công nghiệp nói chung như:
“Lý thuyết về lợi thế so sánh: Sự vận dụng trong chính sách công nghiệp và thương mại của Nhật Bản” (Trần Quang Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2000); “Kinh tế học phát triển về công nghiệp hoá và cải cách nền
kinh tế” (PGS.TS Đỗ Đức Định, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2004); “Một số vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” (GS TS Đỗ Hoài Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2003); “Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở Việt Nam: Phác thảo lộ trình” (PGS TS Trần Đình Thiên, Nhà xuất bản
Trang 7Chính trị Quốc gia, 2002); “Tăng trưởng và công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam” (TS Võ Trí Thành, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2007),
Các công trình nghiên cứu trực tiếp sự phát triển làng nghề ở địa
phương như: “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp tiêu thụ sản phẩm của
các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010” của Bộ Thương mại, Hà
Nội 8/2003; “20 năm đổi mới cơ chế chính sách thương mại Việt Nam, những
thành tựu và bài học kinh nghiệm” Bộ Thương mại, Hà Nội 2006; “Đổi mới
cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đến năm 2005” của PGS.TS Nguyễn Cúc, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2000;
“Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng” của GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh - Hà Nội 2005; “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” - Luận án tiến sĩ của Trần Minh Yến, Hà Nội 2003; “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH” của TS Dương Bá Phương, NXB
khoa học xã hội, Hà Nội 2001…
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu về đường lối của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển công nghiệp địa phương từ khi tái lập tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 8- Phân tích, đánh giá quá trình lãnh đạo trên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu
Các chủ trương , biê ̣n pháp của Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đa ̣o phát triển công nghiệp địa phương và các hoạt động chính của ngành công
nghiê ̣p đi ̣a phương Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2007
b Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứ u đường lối chung của Đảng về phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương
- Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong quá trình vận dụng
đường lối phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương của Đảng vào thực tiễn đi ̣a
phương từ năm 1997 đến năm 2007
- Hoạt động của các ngành c ông nghiệp trên đi ̣a bàn đi ̣a phương, do đi ̣a phương quản lí và các làng nghề – tiểu thủ công nghiê ̣p tỉnh Bắc Ninh từ năm
1997 đến năm 2007
5 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n, nguồn tài liê ̣u và phương pháp nghiên cứu
a Nguồn ta ̀i liệu
- Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị quyết TƯ Đảng, Bộ chính trị, Ban bí thư các khóa VI, VII, VIII, IX
về phát triển kinh tế công nghiệp
- Các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Nghị quyết của Tỉnh
ủy Các báo cáo tổ ng kết của các sở, ban, ngành, Niên giám thống kê tỉnh có
nô ̣i dung liên quan đến công nghiê ̣p và công nghiê ̣p đi ̣a phương
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài
b Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu và phân tích tài liệu còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp định lượng, phương pháp thống kê Đồng thời, còn
sử dụng phương pháp thực địa (đi khảo sát thực tế các khu công nghiệp: Quế
Võ, Tiên Sơn, Yên Phong; các làng nghề trên địa bàn tỉnh)
Trang 96 Đo ́ ng góp của luâ ̣n văn
- Hệ thống hóa các chủ trương , giải pháp của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đa ̣o phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương từ năm 1997 đến năm 2007
- Khẳng định những thành tựu và nêu ra mô ̣t số ha ̣n chế của quá trình phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương từ năm 1997 - 2007
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong lãnh đa ̣o, chỉ đạo phát triển công nghiệp địa phương thời gian 1997- 2007
- Kết quả nghiên cứu của luâ ̣n văn có thể tham khảo trong giảng da ̣y và nghiên cứu Li ̣ch sử Đảng bô ̣ đi ̣a phương thời kì đổi mới
7 Bố cu ̣c của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp đi ̣a
phương giai đoạn 1997 - 2000 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển công
nghiệp địa phương trong những năm 2001 - 2007 Chương 3: Mô ̣t số nhâ ̣n xét và kinh nghiê ̣m
Trang 101.1.1 Đi ̣a lý hành chính
Bắc Ninh xưa là tỉnh có từ lâu đời, bao gồm cả quận Long Biên, huyện Đông Anh (Hà Nội), huyện Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay Bắc Ninh và Bắc Giang trước đây là hai tỉnh đô ̣c lâ ̣p , ngày 27/10/1962 Quốc hô ̣i khó a II quyết đi ̣nh hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc Ngày 06 tháng 11 năm 1996 tỉnh Bắc Ninh được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10, với diện tích 797,9 km2, dân số 922 210 người Bắc Ninh lúc này có 6 đơn vị hành chính, gồm thị xã Bắc Ninh và 5 huyện: Quế Võ, Yên Phong, Tiên Sơn, Thuận Thành, Gia Lương, Thị xã Bắc Ninh trở thành tỉnh lỵ của Bắc Ninh
Về đi ̣a giới hành chính, Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A, đường cao tốc 18, Quốc lộ 38; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn
và Trung Quốc; Mạng đường thuỷ sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình Đây
là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu kinh tế với cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng
Địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích Toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 - 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện
Trang 11tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ
Đơn vi ̣ hành chính, diê ̣n tích, dân số và mâ ̣t đô ̣ dân số
phân theo huyê ̣n, thị xã
Số xã Thị trấn Phường Diê ̣n tích
(km 2)
Dân số TB năm 2006 (ngươ ̀ i)
Mâ ̣t đô ̣ dân số (ngươ ̀ i/km2)
1.1.2 Nguồn lực phát triển công nghiệp địa phương
a Tài nguyên thiên nhiên cho phát triển công nghiệp địa phương
- Điều kiện địa lý tự nhiên
Bắc Ninh có tọa độ địa lý từ 20o
58’ đến 21o 16’ vĩ độ Bắc và 105o 54’ đến 106o
19’ kinh độ Đông
Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh:
- Nằm trên tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá
và du khách giao lưu với các tỉnh trong cả nước
- Gần thủ đô Hà Nội được xem như là một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản,
Trang 12vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình CNH, HĐH
- Tài nguyên đất
Hiện nay, một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển của công nghiệp hiện đại chính là tài nguyên đất Ở Hà Nội và một số tỉnh, thành khác, tốc độ gia tăng dân số, tỉ lệ người nhập cư cao khiến nhu cầu về nhà ở cao, đất chuyên dụng ngày một bị thu hẹp Bắc Ninh có diê ̣n tích đất tự nhiên nhỏ nhất
so với các tỉnh trong cả nước Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82,271.2 km2; diện tích lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84% [26]
Tài nguyên đất cho công nghiệp còn không lớn, nhưng vẫn đủ điều kiê ̣n
để xây dựng các KCN tập trung, các nhà máy phục vụ cho các ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao Đây chính là một đặc trưng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại
- Tài nguyên nước:
Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km², có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình Đây là nguồn nước quan trọng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và đời sống, đặc biệt là nước cho sản xuất công nghiệp Hàng năm, các con sông này còn bồi đắp một lượng phù sa màu mỡ cho đồng bằng ven sông
Nếu được khai thác hợp lý, các điều kiện thuận lợi kể trên sẽ giúp cho Tỉnh đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội và công nghiệp, đặc biệt là vận chuyển hàng hoá, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất công nghiệp
- Về tài nguyên khoáng sản
Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có tài nguyên để sản xuất vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã
Trang 13Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh,
đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³ Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn
b Các nguồn lực kinh tế -xã hội
- Nguồn nhân lực:
Theo Niên giám thống kê năm 2007, Bắc Ninh có 1.024.151 người Bao gồm 503.200 nam (49,1%); 520.951 nữ (50,9%) Sau 10 năm (1997 -2007), dân số Bắc Ninh tăng thêm 82.045 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,84%/năm Dân cư khu vực thành thị chiếm tỷ trọng 23,6%, khu vực nông thôn chiếm 76,4% Mật độ dân số của tỉnh ngày càng tăng, chỉ đứng sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tỉnh lại dồi dào, đã tạo điều kiện cho cư dân nơi đây phát triển
Về chất lượng lao động: Năm 2007, lực lượng lao động tốt nghiệp tiểu học 8,35%, tốt nghiệp trung học cơ sở 68,71%, tốt nghiệp trung học phổ thông 21,94% Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp/học nghề trở lên chiếm 22,9% lao động qua đào tạo từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên chiếm 14,16%
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đặc điểm về dân số cũng gây ra không ít khó khăn cho Đảng bộ tỉnh trong việc đề ra chính sách thích hợp về nhân lực cho công nghiệp địa phương Hiện nay, tỉ lệ lao động trong ngành nông nghiệp còn khá cao Thêm vào đó, tỉnh đang thiếu những cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi và công nhân, kỹ thuật lành nghề Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn tới đòi hỏi lãnh đạo địa phương phải có phương án cụ thế để phải khẩn trương đào tạo mới và đào tạo lại một đội ngũ lao động kỹ thuật trong tỉnh
- Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông:
Bắc Ninh có hệ thống giao thông thuận tiện gồm 4 tuyến quốc lộ; 2 tuyến quốc lộ 1A, tuyến quốc lộ 18 và quốc lộ 38 với chiều dài 135 km
Trang 14Đường tỉnh lộ gồm 12 tuyến, chiều dài 255 km trong đó đã được dải nhựa chiếm 88%, đường huyện và đường đô thị dài 295 km trong đó được dải nhựa chiếm 53%, đường xã và đường thôn dài 3147 km trong đó được ứng hoá 70% Đường sông có 3 sông lớn là sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình và 3 cảng lớn trên sông Cầu Đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua 20 km với 4 nhà ga
Nhìn chung mạng lưới giao thông của tỉnh (đường bộ, đường sắt, đường thủy) được phân bố tương đối đều và hợp lý, thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa, hành khách nội, ngoại tỉnh
Hê ̣ thống thông tin liên lạc
Hạ tầng thông tin liên lạc của tỉnh phát triển tương đối nhanh Hệ thống
điện và bưu chính viễn thông tương đối hoàn chỉnh, 100% thôn xã có điện
lưới, đến năm 2007 đạt 13,9 máy điện thoại /100 dân, dịch vụ Internet, hộp
thư thoại được triển khai rộng khắp trên địa bàn Chất lượng thông tin liên lạc ngày càng tốt hơn, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hết năm
2004 đã phủ sóng mạng điện thoại di động đến tất cả các trung tâm huyện 100% các cơ quan, doanh nghiệp ở tỉnh và huyện được trang bị máy tính, một
số cơ quan tổng hợp đã được nối mạng nội bộ
Hệ thống điện, nước
Đối với phát triển công nghiệp nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng, điện nước là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu Bắc Ninh đã và đang đảm bảo tương đối tốt vấn đề này Hiện tại hệ thống đường dây trung thế, hạ thế, trạm biến áp các loại đang từng bước được cải tạo, nâng cấp, thay thế và xây dựng mới Đến năm 2004 đã có 100% xã có điện lưới quốc gia, điện năng cung cấp đạt trên 500KWh/người/năm, tăng 31,9% so với năm 2000 Tuy nhiên lưới điện nông thôn nhiều xã chưa đảm bảo kỹ thuật, tiêu hao điện năng còn cao, đã ảnh hưởng đến việc cấp điện vì thường xuyên xảy ra sự cố mất điện làm cho giá điện sinh hoạt ở nông thôn còn cao
- Hệ thống chính sách phát triển kinh tế công nghiệp địa phương của Đảng, Nhà nước và chính quyền tỉnh
Trang 15Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nên việc phát triển công nghiệp địa phương luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Từ những năm 50 - 60 của thế kỉ XX, Đảng ta đã xác định: “Công nghiệp địa phương ngày càng giữ một vai trò quan trọng, cần được củng cố và phát triển một cách rộng rãi”(Chỉ thị của Ban Bí thư số 191- CT/TƯ, ngày 3-3-1960 về việc xây dựng và phát triển công nghiệp địa phương) Với tinh thần
đó, trong gần nửa thế kỉ qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng đưa ra nhiều chính sách quan trọng, tạo điều kiện cho công nghiệp địa phương phát triển
Khi nói tới các nguồn lực phát triển công nghiệp địa phương của Bắc Ninh không thể không nhắc đến vai trò của Đảng bộ tỉnh cùng những chủ trương, hệ thống chính sách phát triển công nghiệp thông thoáng và rộng mở của chính quyền tỉnh Đảng bộ Bắc Ninh có tiền thân từ Đảng bộ tỉnh Hà Bắc ra đời từ rất sớm, từng bước trưởng thành trong chiến đấu và xây dựng đất nước Trải qua mấy chục năm, Đảng bộ tỉnh đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo xây dựng và bảo vệ tỉnh Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, chính quyền và nhân dân tỉnh đã xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay Trong đó, việc phát triển công nghiệp địa phương luôn được coi là trọng tâm của chính sách kinh tế Ủy ban nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đã, đang và sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống các chính sách, quy chế, đặc biệt là các chính sách về kinh tế, tài chính, đất đai, tạo môi trường pháp luật về đầu tư thực sự hiệu quả và thông thoáng cho các nhà đầu tư
Tóm lại, với vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên tương đối đầy đủ, nguồn nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đang dần được hoàn
thiện… Bắc Ninh có được những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền
công nghiệp hiện đại Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh là làm thế nào để lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương cho tương xứng với tiềm năng hiện có, nhanh chóng hội nhập vào cơ chế thị trường, vươn lên ngang tầm với cả nước
và khu vực
1.1.3 Tình hình công nghiê ̣p đi ̣a phương tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997
Trang 16Ngày 27-10-1962, Quốc hội khoá II quyết định hợp nhất tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc Công nghiệp địa phương của các vùng thuộc tỉnh Bắc Ninh, từ đây, được sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Bắc
Hà Bắc là m ột địa phương có công nghiệp phát triển tương đối sớm so với các tỉnh phía Bắc Cùng với sự ra đời các nhà máy, xí nghiệp do Trung ương quản lí, các xí nghiệp công nghiệp địa phương lần lượt được xây dựng và phát triển Từ khi thành lập tỉnh đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX, công nghiệp của Hà Bắc đã có 30 nhà máy, xí nghiệp do Trung Ương quản lý, xây dựng và đưa vào sản xuất trên 50 nhà máy, xí nghiệp
Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp ở Hà Bắc do trung ương quản lý gồm có: Nhà máy 250 xe, Nhà máy 150 xe, Nhà máy Quy Chế Từ Sơn, Nhà máy xay Đáp Cầu, Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn, Nhà máy X2 Việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp quan trọng của Trung ương trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ, thúc đẩy công nghiệp địa phương từng bước phát triển Các xí nghiệp công nghiệp địa phương như cơ khí Đáp Cầu, xí nghiệp gạch gói Cầu Ngà… đã sản xuất được các máy đóng gạch, các nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Các ngành công nghiệp thuộc các công ty nông nghiệp, y tế, giao thông, thuỷ lợi… đều sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của ngành mình, giảm bớt việc bao cấp từ Trung ương, nâng cao tính chủ động, độc lập trong sản xuất công nghiệp và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế ở địa phương Các xí nghiệp công nghiệp địa phương từng bước phát triển, sản xuất kinh doanh có lãi Tình hình sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương cũng đạt những thành tựu đáng kể Năm 1965 so với năm 1960 giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp bằng 180%, phục vụ sản xuất nông nghiệp bằng 831%, phục vụ hàng tiêu dùng bằng 153%, phục vụ xuất khẩu bằng 774% [1, tr 295]
Bước sang thời kỳ 1975-1985 là thời kỳ đất nước thống nhất, Đảng bộ tỉnh lại bước vào một giai đoạn lãnh đạo mới với những nhiệm vụ mới Sản xuất công nghiệp cũng được sắp xếp lại cho phù hợp với tình hình mới Từ 1981- 1985, nhờ những biện pháp và chủ trương tích cực của đảng bộ địa
Trang 17phương cùng với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, công nghiệp tỉnh đã phát triển ổn định cả về quy mô lẫn số lượng các đơn vị sản xuất
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra đường lối kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp
lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc Những tư tưởng cơ bản của Đại hội IV của Đảng được coi là cơ sở để xác định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước 5 năm (1976-1980)
Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, căn cứ vào thực tiễn địa phương, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã có những chỉ thị, nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III trên các lĩnh vực công tác quan trọng Tỉnh ủy chủ trương tiếp tục quán triệt quan điểm coi việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp địa phương
Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp những năm
1976 -1980 gặp nhiều khó khăn Việc cung cấp điện, nguyên, nhiên, vật liệu chậm và thiếu, nguồn hàng nhập từ bên ngoài vào bị giảm sút, một số nhà máy, xí nghiệp quốc doanh sản xuất cầm chừng, công nhân thiếu việc làm, thu nhập thấp Đến năm 1979, tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như trong tỉnh ngày càng khó khăn hơn do chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Sản xuất trì trệ, nhiều đơn vị sản xuất không đạt kế hoạch, hàng hóa khan hiếm, giá cả thị trường tăng vọt, lạm phát cao, thu chi mất cân đối Đứng trước khó khăn thách thức và yêu cầu của sản xuất, Tỉnh ủy chủ trương chỉ đạo đẩy mạnh phát triển các hợp tác xã kinh doanh làm hàng thủ công xuất khẩu; khôi phục các làng nghề, sản xuất các mặt hàng phục vụ trực tiếp sản xuất, xuất khẩu và đời sống của nhân dân
Trang 18Thực hiện chủ trương của tỉnh, các cơ sở sản xuất đã khắc phục khó khăn, vươn lên sản xuất nhiều mặt hàng thủ công xuất khẩu như: mây tre đan, thảm đay nhiều hợp tác xã kinh doanh làm hàng đồ gỗ, giường, tủ, bàn ghế
ở Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ (Tiên Sơn) tiếp tục được khôi phục và phát triển Đặc biệt ngành sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh HTX sản xuất vôi Quyết Tiến (thị xã Bắc Ninh) luôn hoàn thành vượt kế hoạch và trở thành lá cờ đầu của tỉnh trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng HTX sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Tân Hồng (huyện Tiên Sơn) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba [1, tr 265 266]
Sau khi tổng kết thí điểm về công tác quản lý kinh tế đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh, ngày 21-1-1981 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 25/CP về một số chủ trương và biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất, kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh, Quyết định số 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng các hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước Quán triệt chủ trương của Trung ương và các quyết định của Hội đồng Chính phủ, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh bước đầu đã có chuyển biến khá Nhiều xí nghiệp, HTX tiểu thủ công nghiệp, duy trì giữ vững được nhịp độ sản xuất, tạo việc làm cho công nhân Khắp nơi trong tỉnh, từ các xí nghiệp tập thể đến các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đều ra sức thi đua lao động sản xuất, phấn đấu đạt và vượt mức kế hoạch đề
ra Các xí nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đón bắt thời cơ, tự “phá rào”, khai thác nguồn hàng, tìm kiếm thị trường, bung ra sản xuất Sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng, như xe cải tiến, đồ gỗ khảm trai, đồ nhựa Một số mặt hàng đã có mặt và đứng vững trên thị trường như máy bơm nước, máy tuốt lúa, giấy viết, gạch, ngói Giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hàng năm đều tăng: năm 1984 đạt 140% kế hoạch, năm 1985 tăng 16,9% so với năm 1984 Công tác xuất khẩu đã bắt đầu có những chuyển biến tích cực, tổng giá trị xuất khẩu đạt 97 triệu đồng, vượt kế hoạch đề ra là 84% Một số hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, như Hợp tác xã
Trang 19Tương Giang (huyện Tiên Sơn) năm 1977, tổng giá trị thu nhập mới đạt 1,9 triệu đến năm 1982 đạt 17,6 triệu; Hợp tác xã Tân Hồng (huyện Tiên Sơn) giá trị thu nhập từ các nghề thủ công chiếm 43% tổng thu nhập của hợp tác xã; Hợp tác xã Hoài Thượng (huyện Thuận Thành) năm 1981 giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 2,5 triệu đồng, đến năm 1984 đạt 5,5 triệu đồng, chiếm 70% tổng giá trị thu nhập của toàn hợp tác xã [1, tr 270]
Đảng bộ và nhân dân Hà Bắc đã đi cùng hướng đi chung của đất nước
Công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh được chú trọng đầu tư để tạo nguồn hàng xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu được chú ý Năm 1985 xuất khẩu được
3 triệu Rúp - đôla, so với năm 1983 tăng 15,8% Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu
là lợn hơi, lạc nhân, tỏi, cà rốt Các huyện có doanh thu cao là Tiên Sơn, Gia Lương, Thuận Thành [1, tr 271]
Bên cạnh những thành tựu đạt được, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng gặp không ít khó khăn, sản xuất có chiều hướng giảm sút, nhất là công nghiệp quốc doanh Sản phẩm công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp còn ít Công nghiệp chế biến còn quá nhỏ, phần lớn nông sản, thực phẩm tiêu dùng và xuất khẩu còn dưới dạng thô, hàng tiêu dùng chưa được chú trọng Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa vươn lên đáp ứng yêu cầu cho sản xuất và tiêu dùng Sản phẩm chất lượng thấp, giá thành cao, chưa khuyến khích được người tiêu dùng
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VII được tiến hành từ ngày 10 đến ngày 15-10-1986 tại hội trường tỉnh (thị xã Bắc Giang) Đại hội
đã kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 1986-1990 là:
“Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, nêu cao tinh thần
tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, khai thác tốt tiềm năng lao động đất đai, ngành nghề để phát triển nông nghiệp toàn diện, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác, phục vụ đắc lực nông nghiệp Sớm hình thành cơ cấu kinh tế
Trang 20công - nông - lâm nghiệp hợp lý trên địa bàn tỉnh Trước hết tập trung giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, tăng nhanh khối lượng và chất lượng hàng hóa xuất khẩu Đồng thời đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, giải quyết tốt vấn đề lao động và dân số, từng bước ổn định đời sống nhân dân ”[1,tr 275]
Tại Bắc Ninh, các cơ sở công nghiệp có tổng giá trị hàng hóa tương đối lớn là: Nhà máy quy chế Từ Sơn (huyện Tiên Sơn), Nhà máy thuốc lá Bắc Sơn (thị xã Bắc Ninh), Nhà máy đường giấy Hồ (huyện Thuận Thành) Nhiều làng nghề truyền thống sản xuất các mặt hàng có giá trị kinh tế cao như: sắt
Đa Hội, giấy dó Phong Khê, đúc đồng nhôm Đại Bái, Quảng Phú (huyện Gia Lương), Văn Môn (huyện Yên Phong) và hàng chục làng nghề khác như Đình Bảng, Tân Hồng, Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ (huyện Tiên Sơn), Tam Giang (huyện Yên Phong), Hoài Thượng, Song Hồ (huyện Thuận Thành), Lãng Ngâm, Đại Lai, Cao Đức (huyện Gia Lương), v.v
Trong 2 năm 1986-1987, ngành tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống chiếm từ 60-70% tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Các sản phẩm đã được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng, hàng hóa đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới
Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Bắc Ninh còn nhỏ bé, lạc hậu và phân tán Mặt khác, do cơ chế chuyển đổi từ
kế hoạch hoá, tập trung bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước và nhất là do những biến động tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới đã làm cho một số cơ sở kinh tế quốc doanh, xí nghiệp bị hẫng hụt, thiếu vốn, thiếu nguyên nhiên vật liệu, thị trường bị co hẹp, trang thiết bị ngày càng lạc hậu, sản phẩm mẫu mã kém, giá thành cao, hàng hóa ứ đọng, công nhân thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn Các làng nghề truyền thống như sắt Đa Hội (huyện Tiên Sơn), giấy Phong Khê (huyện Yên Phong) và một số cơ sở khác ở trong tình trạng quá khó khăn về nguyên nhiên vật liệu và thị trường tiêu thụ Nhìn chung công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trang 21và các làng nghề truyền thống trong tỉnh đứng trước những khó khăn thách thức lớn
Thực hiện chủ trương của Đảng là xây dựng kinh tế Trung ương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp cân đối giữa công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với nông nghiệp; chú trọng phát triển làng nghề truyền thống nhằm giải quyết tốt nhu cầu cấp bách của xã hội là hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, tháng 8-1987 đã quyết nghị: chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế Hội nghị nhấn mạnh mục đích của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là phải tạo ra động lực mạnh mẽ, giải phóng mọi năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội với năng suất, chất lượng hiệu quả ngày càng cao nhằm phục vụ ba chương trình kinh tế lớn của Đảng Từng bước thực hiện “bốn giảm”, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, tạo tiền
đề để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Cùng với việc xây dựng các cơ sở sản xuất, tỉnh Hà Bắc đã tiến hành rà soát tổ chức, sắp xếp lại sản xuất, điều chỉnh cơ cấu sản xuất của các xí nghiệp theo hướng 40% sản lượng là tư liệu sản xuất, 60% sản lượng là hàng tiêu dùng Các công ty, xí nghiệp đã sắp xếp lại bộ máy quản lý, hạ tỷ lệ gián tiếp
từ 12% xuống 10%, từng bước giao quyền chủ động cho giám đốc các đơn vị,
xí nghiệp trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
Nhìn chung sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nghề truyền thống của tỉnh, các đơn vị sản xuất kinh doanh đã năng động hơn trong việc mở rộng liên doanh, liên kết, tìm kiếm thị trường, tiêu thụ sản phẩm Nhiều cơ sở sản xuất có lãi như Hợp tác xã Liên Minh (huyện Tiên Sơn), Hợp tác xã cơ khí 19-8 (huyện Quế Võ), Nhà máy sứ điện Thanh Sơn (thị xã Bắc Ninh) Huyện Tiên Sơn là đơn vị có tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cao nhất tỉnh Tổng giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của tỉnh (công nghiệp địa phương) đến năm
Trang 221989 là 480.410 nghìn đồng Các mặt hàng chủ yếu phục vụ nông nghiệp và tiêu dùng như: máy tuốt lúa, máy xay xát gạo, bình bơm thuốc sâu, xe đạp, v.v đều đạt và vượt kế hoạch
Tuy nhiên, đánh giá về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cuối năm 1989, Tỉnh ủy kết luận: “do cơ chế chuyển đổi, các ngành chưa theo kịp, nhiều ngành gặp khó khăn, sản xuất không ổn định, giá thành cao, có nơi bán cả tài sản cố định, vật tư quý hiếm, công nhân không có việc làm, công tác quản lý kém, nhiều công ty thua lỗ, hợp tác xã không chuyển kịp theo cơ chế” [1, tr 177] Ngày 08-01-1990, Tỉnh ủy họp đề ra nhiệm vụ “tiếp tục xem xét lại các doanh nghiệp Đối với các xí nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi tiếp tục củng cố, đầu tư để phát triển kiên quyết giải thể đối với các đơn
vị làm ăn thua lỗ kéo dài”
Cùng với các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế, đổi mới hoạt động các doanh nghiệp, Tỉnh ủy cũng quán triệt Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 02-5-1988 của Bộ Chính trị về các biện pháp cấp bách chống lạm phát; tăng cường đẩy mạnh các hoạt động quản lý thị trường, phân phối lưu thông, điều tiết giá cả nhằm làm cho các hoạt động thương nghiệp, tài chính, giá cả từng bước ổn định
Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh, các huyện, thị xã và các đơn vị lập lại phương án sản xuất kinh doanh, sắp xếp lại bộ máy, giảm bớt các phòng ban chưa cần thiết, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án từng đơn vị giải quyết chính sách cho số lao động dôi dư, củng cố một bước các đơn vị cơ sở Nhìn chung các cơ sở sản xuất kể cả quốc doanh và tập thể, tư nhân đều gặp khó khăn khi chuyển sang cơ chế mới, do thiết bị công nghệ lạc hậu, thiếu vốn, thiếu công nhân lành nghề nên sản phẩm làm ra chất lượng kém, giá thành cao, không cạnh tranh nổi trên thị trường
Bảng: Phần đóng góp của các hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong tỉnh Hà Bắc (giai đoạn 1991-1996) theo một số chỉ tiêu
Đơn vị:%
Trang 23(Nguồn: Sở công nghiệp Bắc Ninh, năm 1997)
Cơ cấu kinh tế của phần lãnh thổ Bắc Ninh cũng có sự tiến bộ và chuyển dịch nhanh hơn sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Bắc Nếu so với năm
1991, tỉ trọng khu vực nông nghiệp tỉnh Hà Bắc giảm được 6,2% GDP và tỉ trọng công nghiệp xây dựng tăng 3,9% thì ở phần lãnh thổ Bắc Ninh các con
số tương ứng là 7,1% và 5,4% Do kinh tế trên địa bàn Bắc Ninh tăng hơn các khu vực khác trong tỉnh Hà Bắc nên các mặt văn hóa xã hội và đời sống của nhân dân có tiến bộ hơn Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trên địa bàn Bắc Ninh được nhân dân quan tâm đầu tư
Tổng GDP năm 1996 là 1.548,3 tỷ đồng (theo giá 1994); Cơ cấu kinh tế GDP: công nghiệp – xây dựng là 24,1%, nông, lâm, thuỷ sản là 46% và dịch vu ̣ là 29,9% Năm 1996, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định là 480,2 tỷ đồng, toàn tỉnh có 8.138 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiê ̣p, trong đó 69 doanh nghiệp và hợp tác xã còn lại là hộ cá thể; Số lao động công nghiệp là 34.825 người Các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu là một số doanh nghiệp trung ương đóng trên địa bàn tập trung ở khu vực thị xã Bắc Ninh và các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong các làng nghề Là tỉnh có nhiều làng nghề thủ công truyền thống, song sự phát triển của các làng nghề tự phát, chủ yếu là các hộ cá thể hầu hết ở xen lẫn với khu dân cư, chưa có một khu, cụm công nghiệp nào được quy hoạch và hình thành, các cơ sở sản xuất công nghiệp hầu hết ở xen lẫn với khu dân cư trong thị xã, thị trấn, nông thôn
Trên đây là những thuâ ̣n lợi căn bản cho Bắc Ninh phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương Tuy nhiên, Bắc Ninh cũng đứng trước nhiều khó khăn, thử thách Đó là : “Nhi ̣p đô ̣ phát triển kinh tế còn châ ̣m, điểm xuất phát thấp Công nghiê ̣p quốc doanh đi ̣a phương còn nhỏ bé (giá trị sản xuất năm 1996 chiếm 1,8% giá trị sản xuất công nghiệp địa phương ), kim nga ̣ch xuất khẩu mới đa ̣t bình quân 13,5 USD/người” [75, tr 12-13] Công nghiê ̣p và di ̣ch vu ̣ đã
Trang 24có phát triển nhưng còn chậm , nhỏ bé , vốn ít, kỹ t huâ ̣t công nghê ̣ la ̣c hâ ̣u Nông nghiê ̣p tuy có trình đô ̣ thâm canh khá cao nhưng chưa ta ̣o được vùng có giá trị nông sản hàng hóa lớn, cơ bản vẫn còn mang tính thuần nông
“Kết cấu ha ̣ tầng kinh tế - xã hội thấp kém Hầu hết các công trình giao thông thủy lợi đều xuống cấp nghiêm tro ̣ng , mô ̣t số công trình đầu tư mới không đồng bô ̣ nên hiê ̣u quả thấp Mạng lưới cung cấp điện lực chưa đảm bảo
kỹ thuật, nguồn điê ̣n chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất Kết cấu hạ tầng của thị xã Bắc Ninh chưa tương xứng với vị trí là thị xã tỉnh lỵ… Trụ sở cơ quan Đảng, Nhà nước và đoàn thể cấp tỉnh hầu như chưa có gì” [75, tr 13] Vấn đề nguồn nhân lực và đô ̣i ngũ cán bô ̣ còn nhiều bất câ ̣p và yếu kém Mô ̣t số mă ̣t kinh tế – xã hội, Tỉnh ủy chưa có chủ trương , giải pháp đột phá nên chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh Công tác điều hành của các cơ quan chính quyền còn thiếu kinh nghiê ̣m Cải cách hành chính hiệu quả thấp
Những ha ̣n chế trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p bình quân đầu người thấp , manh mún, phân tán gây trở nga ̣i cho viê ̣c cơ giới hóa và áp du ̣ng c ác tiến bộ kỹ thuật để thâm canh , tăng năng suất; ngành công nghiệp chưa có bề dày phát triển , quy mô nhỏ, tài nguyên khoáng sản ít , các cơ sở công nghiệp chưa nhiều , nhất là công nghiê ̣p chế biến… Số lao đô ̣ng được qua đào ta ̣o so với mă ̣t bằng chung của cả nước tuy có cao hơn nhưng thực tế chưa đáp ứng đủ , nhất là đô ̣i ngũ cán bô ̣ quản lý, chuyên gia đầu ngành , công nhân kỹ thuâ ̣t còn rất ít Mă ̣t khác, tỉnh bị chia tách, thay đổi đi ̣a giới hành chính nhiều lần Ngày 12/12/1996, Bô ̣ Chính tri ̣ đã
ra quyêt đi ̣nh số 125/QĐ-TƯ thành lâ ̣p Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh và chỉ đi ̣nh Ban chấp hành lâm thời của Đảng bô ̣ tỉnh
Sau 10 năm (1986-1996) thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chính sách của Chính phủ vào điều kiện thực tiễn địa phương, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết khắc phục khó khăn, nắm bắt thời cơ phát huy thuận lợi, phấn đấu vươn lên giành được những thắng lợi rất quan trọng Kinh
tế phát triển với tốc độ khá cao, tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm
Trang 25(1991-1995) là 8,06% Kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm, nhiều
mô hình sản xuất kinh doanh giỏi xuất hiện, sản phẩm hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công tác xây dựng Đảng không ngừng đổi mới, hoạt động của HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có nhiều tiến bộ, quyền dân chủ của nhân dân được phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp đẩy nhanh quá trình phát triển đi lên của thời kỳ cách mạng mới
Trên cơ sở đường lối chung của Trung ương, căn cứ vào tình hình thực tế
ở địa phương, Đảng bô ̣ Bắc Ninh sẽ phải tìm ra cho mình những chủ trương, giải pháp cho phù hợp để đưa kinh tế Bắc Ninh phát triển Mô ̣t trong những chủ trương giải pháp quan tro ̣ng đó là phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương
1.2 Chủ trương phát triển công nghiệp đi ̣a phương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2000
Để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, tháng 11-1996, Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
Ngày 12-12-1996, Bộ Chính trị ra Quyết định số 125- QĐ/TƯ thành lập Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Ngày 18-12-
1996, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 945- QĐ/TTg thành lập Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh lâm thời
Năm 1997, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh có 5 đảng bộ huyện là: Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lương, Tiên Sơn, Quế Võ và Đảng bộ thị xã Bắc Ninh Thị
xã Bắc Ninh được xác định là trung tâm của tỉnh lỵ
Tỉnh Bắc Ninh được tái lập, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội và nguyện vọng thiết tha của đảng viên, cán bộ và nhân dân trong tỉnh
Với những kết quả đạt được, những thành tựu cũng như hạn chế trong lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương thời gian trước năm 1997, Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh mới tái lập đã rút ra một số kinh nghiệm bước đầu:
Trang 26Quyết định sự thành công: trước hết có chủ trương đúng, quyết định kịp thời, chuẩn bị kỹ, có sự phối hợp của các cấp, các ngành bằng chương trình công tác phân công cụ thể Đảm bảo tính đồng bộ từ chủ trương đến biện pháp thực hiện
Về đầu tư: Trong điều kiện vốn có hạn, phải cân nhắc, tính toán hiệu quả khi đầu tư Chú trọng đầu tư chiều sâu, tạo ra sản phẩm mới có khả năng cạnh tranh cao, nhanh đem lại hiệu quả Đầu tư mới phải tính kỹ các điều kiện, khai thác thị trường, thế mạnh của địa phương
Trong quản lý: Ngoài yếu tố đầu tư khoa học công nghệ phải coi trọng yếu tố quản lý, con người Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
kỹ thuật, công nhân lành nghề đủ mạnh, có trình độ và năng lực, có tâm huyết với chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm, xây dựng thái độ kinh doanh lành mạnh
Sau khi phân tích và đánh giá kỹ càng về kết quả phát triển công nghiệp công nghệ của tỉnh Hà Bắc th ời gian trước năm 1997, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã đánh những thuận lợi cũng như khó khăn khi tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương đến năm 2000
Về thuận lợi:
Bước đầu thời kỳ CNH, HĐH cơ chế, chính sách của Nhà nước được
bổ sung ngày càng đẩy đủ, nhất là chính sách công nghiệp và công nghệ
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) và các nghị quyết của ban Chấp hành Trung ương Đảng lần hai, ba (khóa VIII) tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng; các cơ chế chính sách
về kinh tế- xã hội đang dần hoàn thiện Sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước đã thu được những kết quả nhất định tạo cơ sở cho cho sự phát triển lên một bước mới Nền kinh tế nhiều thành phần đang phát triển đúng hướng và có bước tăng trưởng khá, dần đi vào ổn định Cơ sở vật chất kỹ thuật
và cơ sở hạ tầng của tỉnh đang từng bước được tăng cường, đầu tư theo hướng hiện đại, đảm bảo ổn định và phát triển nhanh
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhìn lại đất nước sau 10
Trang 27năm đổi mới đã nhận định: nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đa ̣i hô ̣i khẳng đi ̣nh : “Mu ̣c tiêu của CNH , HĐH là cải biến nước ta thành mô ̣t nước công nghiê ̣p, có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hê ̣ sản xuất tiến bô ̣, phù hợp với trình độ cao của sức sản xuất , mức sống vâ ̣t chất và tinh thần cao , quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước ma ̣nh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020,
ra sức phấn đấu đ ưa nước ta cơ bản trở thành mô ̣t nước công nghiê ̣p ” [34, tr 68]
Phát triển công nghiệp , ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng , hàng xuất khẩu , công nghiê ̣p điê ̣n tử và công nghê ̣ thông tin “Từng bước đưa nước ta trở thành mô ̣t trung tâm du li ̣ch , thương ma ̣i, dịch vụ có tầm cỡ trong khi vực” [34, tr 89]
Tiếp theo, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII năm 1996 đã xác định rõ:
“Hình thành các Khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả KCX, khu công nghê ̣ cao) tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị Ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử
lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn khu dân cư” Hội nghị lần 4 của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
đã xác định hướng phát triển KCN trong thời gian tới là “Phát triển từng bước
và nâng cao hiệu quả của các KCN” [34, tr 90]
Hệ thống công nghiệp sớm được hình thành, đa dạng gắn với vùng nguyên liệu của địa phương; đã có một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Về khó khăn: kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, điểm xuất phát thấp, thu chưa đủ chi, trình độ dân trí chưa đồng đều Đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật còn nhiều và yếu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Trang 28Trên cơ sở các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, những yếu
tố đặc thù tình hình thực tế về điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh, từ những thuận lợi, khó khăn, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Bắc Ninh theo thẩm quyền được phân cấp theo quy định của pháp luật đã đề ra một số đường lối cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra những quan điểm phát triển công nghiệp địa phương:
Phát triển công nghiệp phải thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH; mở rộng quan hệ để tranh thủ tối đa nguồn lực của tỉnh và huy động nguồn lực trong nhân dân
Phát triển công nghiệp, công nghệ phải khuyến khích mọi thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế phát triển, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Tập trung phát triển mạnh các ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương Đẩy mạnh phát triển công nghiệp trong nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng: chú trọng phát triển công nghệ tin học, công nghệ sinh học trong nông nghiệp
Phát triển công nghiệp phải lấy hiệu quả kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường là tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng phương án phát triển sản xuất Coi trọng đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực đã có Đầu tư mới quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, thu hồi nhanh, đảm bảo an toàn vốn
Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo, lấy khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là then chốt và động lực để phát triển nhanh, bền vững Kết hợp công nghệ hiện có với công nghệ tiên tiến, tranh thủ đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định
Kết hợp khai thác có hiệu quả công nghiệp địa phương, công nghệ hiện
có đi đôi với tiếp thu công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đầu tư vào những khâu quyết định, công nghiệp mới, đầu tư chiều sâu
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển với tốc độ cao, là nhân tố chủ yếu góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh
Sau khi tái lâ ̣p tỉnh , Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh đã xác đi ̣nh cần có những chủ trương nhằm khơi dậy và phát huy tối đa nội lực , cần kiê ̣m để đẩy ma ̣nh CNH, HĐH, nâng cao hiệu quả , sức ca ̣nh tranh của kinh tế ; ưu tiên phát triển
Trang 29lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng quan hê ̣ sản xuất phù hợp theo đi ̣nh hướng XHCN; nâng cao hiê ̣u quả và sức ca ̣nh tranh của kinh tế là đi ̣nh hướng
cơ bản cho sự chuyển di ̣ch cơ cấu kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp
đi ̣a phương nói riêng
Năm 1997 là năm đầu tỉnh Bắc Ninh hoạt động theo đơn vị hành chính mới Ngày 10/01/1997, Hô ̣i đồng nhân dân tỉnh đã tiến hành kỳ ho ̣p thứ nhất
và có Nghị quyết thông qua nh iê ̣m vu ̣ ph át triển kinh tế - xã hội năm 1997 Cũng tại Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã thảo luâ ̣n và quyết đi ̣nh 5 nhiê ̣m vu ̣ trước mắt trong đó có nhiê ̣m vu ̣ “Tâ ̣p trung mo ̣i cố gắng phát triển nông nghiê ̣p , công nghiê ̣p , tiểu thủ công nghiê ̣p và mở mang di ̣ch vu ̣” [1, tr 522] Hô ̣i nghi ̣ khẳng đi ̣nh sự quan tâm đă ̣c biê ̣t của Đảng
bô ̣ tỉnh đến phát triển công nghiê ̣p đi ̣a phương
Sau gần mô ̣t năm tái lâ ̣p , trên cơ sở những kết quả đa ̣t đượ c trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và mục tiêu phát triển công nghiệp địa phương nói riêng, Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành Đa ̣i hô ̣i đa ̣i biểu Đảng bô ̣ tỉnh lần thứ XV
Đa ̣i hô ̣i Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XV (14 đến 17/10/1997) đã khẳng đi ̣nh m ục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho giai đoạn 1997 - 2000:
“Phát huy truyền thống cách ma ̣ng và văn hiến , tinh thần làm chủ của nhân dân, khai thác mo ̣i nguồn lực , tranh thủ mo ̣i thời cơ , vượt qua mo ̣i khó khăn thử thách tiếp tu ̣c sự nghiê ̣p đổi mới , tâ ̣p trung đầu tư cơ sở vâ ̣t chất kỹ thuâ ̣t
để từng bước tiến hành CNH , HĐH nông nghiê ̣p nông thôn , đẩy ma ̣nh sản xuất tiểu thủ công nghiê ̣p và xuất khẩu ; phát triển kinh tế nhiều thành phần ,
vâ ̣n hành theo cơ chế thi ̣ trường , có sự quản lý của Nhà nước theo định hường XHCN, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế , giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện từng bước đời sống vâ ̣t chất và tinh thần của nhân dân….” [68, tr 21-22] Đại hô ̣i đã xác đi ̣nh mu ̣c tiêu kinh tế của tỉnh là : “từng bước hình thành các KCN tập trung có công nghệ cao , các CCN đồng thời xúc tiến CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn” [68, tr 24] Đây là hai hướng phát triển quan tro ̣ng có tính chiến lược đối với nền kinh tế của tỉnh
Trang 30Đồng thời, Tỉnh ủy đã đ ề ra nhiều biện pháp đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại hoá, có chiều sâu, làm bệ đỡ cho các ngành kinh
tế khác cùng phát triển:
- Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung sức người sức của vào thực hiện 3 chương trình, mục tiêu về lương thực- thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, bố trí lại cơ cấu kinh tế, điều chỉnh lại
cơ cấu đầu tư nhằm tập trung cho việc thực hiện 3 chương trình, mục tiêu đó
- Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xác định nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
- Đổi mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
Tỉnh ủy Bắc Ninh đã xác đ ịnh mục tiêu phấn đấu là: Tạo thêm vốn để
đầu tư mở rộng ngành nghề, hiện đại hóa công nghiệp, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động; phát triển sản xuất; tăng thêm khả năng cạnh tranh, tăng tích lũy cho doanh nghiệp; nâng cao đóng góp cho ngân sách nhà nước và tăng thu nhập cho người lao động; tạo điều kiện cho người lao động phát huy hết năng lực, trí tuệ và vai trò làm chủ trong quản lý doanh nghiệp Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước từng bước có đủ điều kiện hoạt động theo Nghị định 50/CP ngày 20/8/1996 của Chính phủ Đến năm 1999, thực hiện cổ phần hóa, chuyển hình thức sở hữu từ 18-25% số doanh nghiệp Nhà nước do tỉnh quản
lý Đồng thời, Ban Chấp hành Đảng bộ Bắc Ninh cũng đ ề ra phương án sắp xếp cụ thể và đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp Nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, phát triển theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, Tỉnh ủy đã vận dụng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, gắn với định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh giai đoạn 1997-2000 và 2010 Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sản xuất công nghiệp địa phương có nhiều cố gắng, vượt qua thách thức của cơ chế thị trường, đi dần vào ổn định và tiếp tục tăng trưởng
Trang 31Như vậy, ngay từ khi bước vào làm nhiệm vụ của thời kì mới, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã xác định công nghiệp và phát triển công nghiệp địa phương
có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xác định được vị trí tiên phong của ngành công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Đảng bộ Bắc Ninh trong thời gian 1997-2000 đã đưa ra các chính sách, kế hoạch và tìm kiếm nhiều biện pháp để đưa công nghiệp tỉnh đi lên Nhìn chung, chủ trương phát triển công nghiệp địa phương của Đảng bộ tỉnh xoay quanh các nội dung cơ bản sau:
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp tỉnh bằng cách tăng cường đầu tư theo chiều sâu, áp dụng các ứng dụng khoa học và công nghệ trong công nghiệp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm công nghiệp, tạo ra các mặt hàng có uy tín và có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng
ra xuất khẩu Đưa ra chủ trương này, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã xuất phát từ một
thực tế của công nghiệp địa phương là tình trạng xuống cấp, lạc hậu của cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cho công nghiệp
Trong 4 năm 1997-2000, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã đưa ra nhiều kế hoạch
để tiến hành hiện đại hóa công nghiệp địa phương, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ… nhằm gia tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra các hàng hóa công nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường Công việc này phải được tiến hành trên cơ sở sắp xếp lại sản xuất, tranh thủ mọi nguồn đầu tư đổi mới thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành mũi nhọn như chế biến nông lâm sản, thực phẩm; sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất hàng dệt may, tiêu dùng xuất khẩu; cơ khí… Đồng thời phải tăng cường công tác khảo sát, xây dựng dự án
để gọi vốn đầu tư nước ngoài Xây dựng một số xí nghiệp sản xuất sản phẩm mới với công nghệ hiện đại như sản phẩm điện tử, vật liệu xây dựng cao cấp…
Trang 32Phát triển công nghiệp địa phương thành nền công nghiệp hiện đại trên
cơ sở kết hợp nhiều loại quy mô khác nhau (quy mô lớn, quy mô nhỏ và quy
mô trung bình), tận dụng những nguồn lực hiện có, phấn đấu để thúc đẩy hình thành các khu công nghiệp Phát triển các khu công nghiệp theo hướng công nghiệp sạch, công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao Đồng thời, dựa trên đặc điểm của tỉnh là còn rất nhiều LN, sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn phổ biến… để phát triển các xí nghiệp có quy mô nhỏ trên địa bàn nông thôn, phát động mạnh mẽ phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất, khắc phục tình trạng xuống cấp cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, từng bước bổ sung thiết bị, cải tiến quản lý để duy trì và nâng cao chất lượng các sản phẩm truyền thống, chọn lọc đầu tư công nghệ tiên tiến có tính đi tắt, đón đầu, một vài dây chuyền sản xuất để tạo động lực cạnh tranh và sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
Điểm xuất phát và là cơ sở cho các chính sách phát triển LN của tỉnh Bắc Ninh từ 1997 là Nghị quyết số 04/NQ-TƯ ngày 25/5/1998 của Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về “Phát triển LN tiểu thủ công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh” Nội dung chủ yếu của Nghị quyết là xác định phương
hướng phát triển LN ở tỉnh Bắc Ninh theo 3 hướng:
- Củng cố LN hiện có, tập trung đầu tư phát triển các LN có điều kiện phát triển tốt Khôi phục LN cũ và xây dựng các LN mới gắn với kinh doanh làng văn hoá - du lịch Hình thành các cụm công nghiệp theo ngành hàng, trước mắt là các cụm hàng thủ công mỹ nghệ
- Quá trình sản xuất vừa phải tập trung khai thác triệt để thị trường nội địa vừa phải chú ý hướng ra thị trường thế giới, phấn đấu nâng cao dần tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu
- Phát triển LN theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, kết hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, đảm bảo môi trường sinh thái, giữ gìn cảnh quan thôn xóm và sức khoẻ cho nhân dân
Khu vực làng nghề truyền thống giữ vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho dân cư địa phương Do vậy, tỉnh
Trang 33xác định trọng tâm khắc phục những yếu kém và phát triển làng nghề truyền thống để tạo ra ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là giải pháp hiệu quả, phù hợp với điều kiện ngân sách tại thời điểm đó
Chính sách đặt ra mục tiêu “Giữ vững, phát triển và hiện đại hoá các làng nghề hiện có, tạo thêm nghề ở các huyện, nhân rộng những điển hình về công nghiệp hộ gia đình, khắc phục dần tình trạng thuần nông trong từng hộ gia đình” (Nghị quyết ĐH Đảng bộ tỉnh lần thứ XV) Trên cơ sở đó phương hướng phát triển làng nghề là:
Củng cố các làng nghề hiện có, tập trung đầu tư phát triển các làng nghề đang có điều kiện phát triển tốt; khôi phục các làng nghề cũ và xây dựng các làng nghề mới gắn với phát triển văn hoá-du lịch; hình thành các cụm công nghiệp theo ngành hàng, trước mắt là những cụm hàng thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu; chuyển dần những mặt hàng tiêu thụ nội địa sang xuất khẩu; phát triển làng nghề theo hướng đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức kết hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại
Những định hướng chính sách ấy đã tạo ra sức bật mới cho phát triển làng nghề, phù hợp với tình tình thực tế, đem lại lợi ích to lớn và có tác động mạnh mẽ vào khu vực nông thôn, đem lại hiệu ứng chính sách tức thì Cùng với xu hướng này, chính quyền cũng tìm tòi để xác định trọng tâm đột phá chính sách phát triển công nghiệp tại địa phương
Nghị quyết này cũng đã đưa ra một số chủ trương về bảy giải pháp phát triển LN là: Quy hoạch và tạo mặt bằng cho sản xuất; về vốn đầu tư phát triển, nguyên liệu cho sản xuất và thị trường tiêu thụ, tổ chức sản xuất và phát triển nguồn nhân lực, về thuế, phí và lệ phí, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc khôi phục, củng cố phát triển và mở rộng LN và đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước đối với các LN
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất công nghiệp, đặc biệt là sản xuất tiểu thủ công nghiệp với quy mô vừa và nhỏ Để có thể phát triển nhanh công nghiệp địa phương, nhất định phải quan tâm chú ý đầu tư đến các thành phần kinh tế Bởi lẽ, sự phát triển công nghiệp địa phương không thể
Trang 34tách rời khỏi các thành phần kinh tế này Đẩy nhanh một cách có định hướng thành phần kinh tế tập thể, tư nhân và khu vực có đầu tư nước ngoài
Quan trọng, công nghiệp địa phương muốn đạt được sự phát triển ổn định và bền vững thì phải tiếp tục duy trì sự ổn định cũng như vai trò chủ đạo của công nghiệp quốc doanh
Về cơ cấu ngành công nghiệp địa phương:
Thực hiện đường lối của Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong thời gian
từ 1997-2000 đã chủ trương mở rộng các ngành tiểu thủ công nghiệp- nhất là tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp để sử dụng nhiều lao động nhàn rỗi, thời gian dư thừa trong nông dân như đan lát, chế biến lương thực - thực phẩm,… hoặc các ngành nghề sử dụng nguyên liệu tại chỗ: sản xuất gạch ngói, khai thác cát sỏi, mộc dân dụng, chạm khắc gỗ mỹ nghệ, … nhằm huy động tối đa nguồn nhân lực hiện có
Đối với vấn đề nguồn nhân lực của công nghiệp địa phương, các cán bộ lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh chủ trương: làm tốt hơn nữa việc dạy nghề, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao kỹ thuật nghề nghiệp cho đội ngũ lao động; tiếp tục nâng cao trình độ quản lý kinh tế, trình độ ngoại ngữ, khả năng tiếp thị cho đội ngũ quản lý doanh nghiệp, đồng thời chấn chỉnh công tác hạch toán kinh tế, làm cho sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt hiệu quả, tăng tích lũy và đóng góp cho ngân sách tỉnh
Song song với việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương, Đảng
bộ Bắc Ninh đã đề ra nhiều chính sách để tiếp tục xây dựng và phát triển tỉnh Bắc Ninh, phát triển các ngành kinh tế khác để đảm bảo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành; xây dựng phòng kinh tế đối ngoại làm nhiệm vụ tư vấn và xây dựng các dự án đầu tư liên doanh, hợp tác nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế công nghiệp trên địa bàn tỉnh… Đồng thời, Đảng bộ tỉnh cũng chỉ đạo các cấp, ngành phải đảm bảo và quan tâm hơn nữa về nguyên liệu cho công nghiệp- đặc biệt là vấn đề vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến…
Các chủ trương này đã đi ̣nh hướn g cho tỉnh Bắc Ninh phát triển công nghiệp địa phương trong giai đoạn 1997-2000 Đối với ngành công nghiệp,
Trang 35các chính sách này mang tính chất khái quát, một bản quy hoạch tổng thể, đặc
cơ sở, tạo ra nền tảng cho sự phát triển của ngành kinh tế công nghiệp- ngành kinh tế đang đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của địa phương
1.3 Quá trình chỉ đạo phát tri ển công nghiệp đi ̣a phương của Đảng
bô ̣ tỉnh Bắc Ninh giai đoa ̣n 1997 - 2000
1.3.1 Phát triển làng nghề - tiểu thu ̉ công nghiệp
Khu vực kinh tế làng nghề - tiểu thủ công nghiê ̣p ở tỉnh Bắc Ninh ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ ở các LN đã giải quyết thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, nâng cao sức cạnh tranh, giảm sức cạnh tranh, giảm sức ép bất lợi về đô thị hóa, tăng phúc lợi xã hội cho người dân ở thôn, xã có làng nghề Bắc Ninh thực sự coi chính sách phát triển làng nghề làm “hạt nhân” của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và công nghiệp hóa nông thôn
Điểm xuất phát và là cơ sở cho các chính sách phát triển LN của tỉnh Bắc Ninh từ 1997 đến nay là Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 25/5/1998 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về phát triển LN tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Dưới sự chỉ đa ̣o của Đảng bô ̣ tỉnh, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ti ến hành thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh Cụ thể như sau:
- Các Quyết định của UBND tỉnh về quy định khung giá mức bồi thường các loại đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh như: Quyết định 84/CT ngày 3/6/1997; Quyết định 36/1998/QĐ-UB ngày 13/6/1998, Quyết định 74/1998/QĐ-
UB ngày 11/9/1998;
- Các Chỉ thị, Quyết định của UBND tỉnh về cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính… như: Chỉ thị 12/UB-CT ngày 24/12/1997, Quyết định 945/1998/QĐ-UB ngày 01/10/1998; v.v… nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý đất đai trên địa bàn hiệu quả minh bạch
- Quyết định 203/UB ngày 6/9/1997 của UBND tỉnh về đánh giá tác
Trang 36động môi trường các dự án phát triển kinh tế - xã hội và SXKD trên địa bàn
Các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển KT-XH nói chung và LN nói riêng ở tỉnh Bắc Ninh
Tạo lập được hệ thống kết cấu hạ hầng và mặt bằng SXKD cho các hộ, cơ sở SXKD
Thông qua các chính sách về đất đai, khuyến khích ưu đãi đầu tư Bắc Ninh đã có một hệ thống kết cấu hạ tầng và mặt bằng SXKD khá lớn cho các
hộ, doanh nghiệp SXKD Để chuyển mục đích sử dụng đất, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để trình Chính phủ phê duyệt
Ngoài các KCN tập trung, các LN, nhiều cơ sở SXKD đã được tỉnh cho thuê đất mở rộng đầu tư SXKD tách rời ngoài các khu, cụm công nghiệp và nằm rải rác khắp các địa bàn và chủ yếu là ở xung quanh các
LN
Tạo điều kiện về vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh Tỉnh đã có
quyết định thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng do mới thành lập nên chưa phát huy tác dụng Tuy nhiên bằng các chính sách tín dụng của nhà nước và sự chỉ đạo của tỉnh thông qua các chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư đã thu hút trên địa bàn hiện nay có tới 18 chi nhánh các tổ chức ngân hàng, tín dụng đang hoạt động vì vậy các cơ sở, các tổ chức kinh tế trên địa bàn đã đáp ứng được một phần nhu cầu vốn của mình để phát triển SXKD
Trang 37Giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở địa phương
Trong những năm gần đây với nhiều chính sách quan tâm của Đảng và Nhà nước, Trung ương và địa phương đối với công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động đã thu được kết quả khá tốt, trong đó phải kể đến
sự phát triển của các LN ở tỉnh Bắc Ninh
Mở rộng phát triển LN, tăng tổng sản phẩm xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thu nộp ngân sách và tăng thu nhập cho người lao động Do tác động của các chính sách cùng với cải cách hành chính mạnh mẽ mà số lượng doanh nghiệp và các hộ SXKD công thương nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng và các LN được mở rộng và phát triển lan toả sang các địa bàn lân cận Ví dụ như LN đồ gỗ Đồng Kỵ - Xã Đồng Quang - Huyện Từ Sơn đã phát triển ra các thôn trong xã Đồng Quang và nhiều thôn thuộc các xã Đồng Nguyên, Tương Giang, Phù Khê, Hương Mạc, Tam Sơn… đều đã có rất nhiều hộ, cơ sở SXKD chế biến gỗ tương tự như ở Đồng Kỵ Ở các LN hiện nay đã xuất hiện nhiều DN
Đồng thời, tỉnh cũng có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nhất là ở các làng nghề truyền thống Do đó công nghiệp địa phương phát triển với tốc độ nhanh, bước đầu hình thành một số cụm công nghiệp làng nghề như cụm công nghiệp Châu Khê, Cụm công nghiệp sản xuất giấy Phong Khê, Cụm công nghiệp sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Quang
Đến năm 2000, toàn tỉnh có 58 làng nghề, 25 nghìn hộ chuyên nghiệp và hàng nghìn hộ không chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp Cùng với đầu tư
mở rộng sản xuất, các cơ sở sản xuất đã quan tâm đổi mới công nghệ, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, thay thế dần lao động thủ công bằng lao động cơ khí
Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực LN trong những năm 1997 -2000
đã góp phần không nhỏ vào tổng giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh
Tuy nhiên , giai đoa ̣n 1997-2000, viê ̣c phát triể n LN -tiểu thủ công nghiê ̣p gă ̣p không ít những ha ̣n chế Cụ thể:
Trang 38* Thứ nhất, mặt bằng sản xuất chật hẹp, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Mặt bằng sản xuất trong các LN hiện đang là vấn đề khá bức xúc Do tốc độ phát triển các LN khá cao, nhu cầu mặt bằng lớn, khả năng đáp ứng là rất hạn chế Mặc dù tỉnh đã quy hoạch và xây dựng được các cụm công nghiê ̣p
LN nhưng so với nhu cầu còn rất thấp, số doanh nghiệp được thuê ở các khu, cụm công nghiệp LN này chỉ chiếm 25% so với tổng số doanh nghiệp tại các
LN Bản thân trong các khu, cụm công nghiệp LN cũng chật trội do công tác quy hoạch chưa chú ý tới diện tích nhà ở cho công nhân và dịch vụ
Vấn đề môi trường ở các LN ở Bắc Ninh hiện nay rất cần quan tâm,
có thể xem đây là mặt trái hiện hữu ở các LN Do hạn chế về quy hoạch tổng thể nên hầu hết các cơ sở SXKD, các hộ gia đình đã không chú trọng đến đầu tư xử lý chất thải, nên môi trường khu vực sản xuất của các LN ngày càng ô nhiễm nặng, nhất là các ngành sản xuất giấy, gốm sứ, đúc đồng, trạm khắc gỗ…
*Thứ hai, vốn sản xuất kinh doanh thiếu
Các LN ngày càng phát triển đòi hỏi cần có một lượng vốn khá lớn để đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, mở rộng sản xuất… nhưng nguồn lực sẵn có của các hộ không đủ mạnh để thực hiện với quy mô lớn Hệ thống các ngân hàng, các tổ chức tín dụng đã phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về vốn
*Thứ ba, trình độ công nghệ kỹ thuật nhìn chung là thấp và không đồng đều, đổi mới công nghệ, thương hiệu và mẫu mã sản phẩm còn nhiều hạn chế
Đa số các hộ SXKD trong các LN vẫn sử dụng phần lớn các loại máy
móc, thiết bị, công cụ thủ công thô sơ, lạc hậu và công nghệ cũ truyền thống
Vì vậy năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm không cao, sức cạnh
tranh trên thị trường thấp
Về phía địa phương chưa có biện pháp tích cực, cụ thể; chưa tạo được
sự gắn kết hoạt động SXKD của các LN với các DN, tổ chức lớn ở địa
Trang 39phương trong hỗ trợ và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là địa phương cũng chưa tích cực trong đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ giúp các LN trong xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu hàng hoá… nhằm cạnh tranh và hội nhập thị trường thế giới
* Thứ tư, năng lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh, chuyên môn kỹ thuật tay nghề người lao động còn thấp và không đồng đều
Người lao động ở các LN chủ yếu vẫn được đào tạo qua kèm cặp theo hình thức truyền nghề trong quá trình SXKD, các lớp đào tạo cơ bản là rất ít
và chỉ được một số nghề đơn điệu (như thảm ngô, ghép lứa, thêu tranh…)
* Thứ năm, thị trường nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra còn hạn chế, bấp bênh, không ổn định
Ở các LN, mặc dù nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là sẵn có trong khu
vực, song nhu cầu phát triển nguyên vật liệu đã phải khai thác từ thị trường ở
các vùng xa hơn và thị trường quốc tế rất bấp bênh, không ổn định vì chưa có
sự quản lý, quy hoạch vùng nguyên vật liệu, nguồn cung cấp là sự khai thác
tự phát, thu gom Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng thăng trầm phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường tiêu thụ trong tỉnh và một số vùng lân cận và phải cạnh tranh gay gắt với các hàng hoá tương tự ở các địa phương khác Hướng
mở rộng thị trường cho là tối ưu nhất là xuất khẩu thì gặp không ít trở ngại Hầu hết các doanh nghiệp đều rất khó khăn khi tiếp cận với thị trường quốc
tế, sự trợ giúp của Nhà nước còn nhiều hạn chế, mặt khác những trở ngại về trình độ hiểu biết thương mại quốc tế, cạnh tranh của sản phẩm, thương hiệu, mẫu mã v.v… và đôi khi là những vấn đề phi kinh tế làm ảnh hưởng việc xuất khẩu sản phẩm của các LN
* Thứ sáu, cơ sở hạ tầng các làng nghề chưa đáp ứng nhu cầu giao thưởng và phát triển sản xuất kinh doanh của các làng nghề
CSHT trong những năm qua đã được cải thiện rõ rệt song so với nhu
cầu phát triển của các LN thì chưa đáp ứng được Hệ thống giao thông nông thôn ở LN tuy đã được ứng hoá song còn chật hẹp mà không có khả năng để giải toả, mở rộng được vì chi phí quá lớn nên tình trạng ùn tắc giao thông ở
Trang 40LN là khá phổ biến, đặc biệt là ở các trục đường chính huyết mạch của thôn,
xã, gây cản trở cho việc giao thương nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm cũng như đi lại của người dân CSHT điện nước cũng chưa được đồng bộ khắp và một số LN tình trạng thiếu điện sản xuất diễn ra phổ biến như các LN sản xuất sắt thép có nhu cầu điện năng rất lớn… Hệ thống cấp thoát nước, xử
lý rác thải hầu như, chưa được chú trọng đầu tư đã ảnh hưởng không nhỏ tới
quá trình SXKD ở các LN hiện nay
* Thứ bảy, những vấn đề về sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều bất cập với các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh
Thời gian qua, hoạt động SXKD ở các LN chủ yếu mới phát triển về bề
rộng, dựa vào thị trường trong nước là chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm hàng hoá của LN ở Bắc Ninh chỉ chiếm khoảng 20% giá trị hàng hoá của LN
1.3.2 Bươ ́ c đầu hình thành một số khu công nghiê ̣p
Đầu tư phát triển các KCN đã trở thành xu hướng chính trong tổ chức không gian kinh tế, phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại Từ bài học kinh nghiệm của một số nước, sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành, mô hình phát triển khu công nghiệp đã được nghiên cứu và ứng dụng Đầu những năm 1990 nước ta đã triển khai xây dựng một số khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương nhằm đáp ứng yêu cầu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng Xí nghiệp may Kinh Bắc, Xí nghiệp may Tiên Sơn; đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất Công ty nông sản, Công ty cấp nước, triển khai xây dựng Khu công nghiệp Tiên Sơn Khu công nghiệp Tiên Sơn được xây dựng theo Quyết định số 1129- QĐ/TTg ngày 28-12-
1998 của Thủ tướng Chính phủ Đây là khu công nghiệp được hình thành khá sớm của tỉnh, có diện tích 134,76 ha Điều đó cho thấy tính năng động, kịp thời của Đảng bô ̣ tỉnh Bắc Ninh, trong điều kiện một tỉnh mới được tái lập, nhưng đã mạnh dạn thực hiện những lựa chọn đột phá trong phát triển công nghiệp
Một trong những chính sách quan trọng để thu hút đầu tư phát triển