Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN KIM HOÀNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Hà Nội-2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN KIM HOÀNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.02.04
Người hướng dẫn: GS.TS PHÙNG HỮU PHÚ
Hà Nội-2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Trần Kim Hoàng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn này xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Phùng Hữu Phú, với tinh thần trách nhiệm và tấm lòng của một người Thầy đã hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ em trên con đường nghiên cứu khoa học
Xin cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn_ĐHQGHN và Thầy, Cô giảng dạy các chuyên đề trong quá trình học Các anh, chị, em học viên cao học đã luôn định hướng, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin được gửi tới gia đình, người thân và bạn bè lời biết ơn sâu sắc vì sự quan tâm, thấu hiểu và sẻ chia
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu luận văn 9
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG 10
1.1 Công tác tư tưởng và những nguyên tắc của công tác tư tưởng 10
1.1.1 Khái niệm tư tưởng 10
1.1.2 Khái niệm công tác tư tưởng 14
1.1.3.Các nguyên tắc trong công tác tư tưởng 18
1.1.3.1 Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng 18
1.1.3.2 Nguyên tắc tính khoa học trong công tác tư tưởng 20
1.1.3.3 Nguyên tắc công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống 22
1.2 Lãnh đạo và lãnh đạo công tác tư tưởng 24
1.2.1 Khái niệm lãnh đạo 24
1.2.2 Khái niệm lãnh đạo công tác tư tưởng 27
CHƯƠNG 2:TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG 29
2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng 29
2.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò lãnh đạo công tác tư tưởng 29
2.1.1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng 29
Trang 62.1.1.2 Vị trí, vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh 32
2.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh 33 2.1.3 Nội dung và phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm
Hồ Chí Minh 37
2.1.3.1 Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh 37 2.1.3.2 Phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh 45
2.1.4 Quan điểm Hồ Chí Minh về cán bộ lãnh đạo công tác tư tưởng 48
2.1.4.1 Đạo đức cách mạng là gốc của người cán bộ lãnh đạo công tác tư tưởng 50 2.1.4.2 Có năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng 53 2.1.4.3 Có trình độ lý luận và không ngừng nâng cao trình độ lý luận 56
2.2 Hồ Chí Minh - tấm gương mẫu mực về thực hành lãnh đạo công tác
tư tưởng 57
2.2.1 Người khởi xướng lãnh đạo công tác tư tưởng của cách mạng Việt Nam 57 2.2.2 Người lãnh đạo công tác tư tưởng đầu tiên của cách mạng Việt Nam 63
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG 73 3.1 Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng 73 3.2 Những vấn đề đang đặt ra đối với lãnh đạo công tác tư tưởng hiện nay 83
3.2.1 Tình hình tư tưởng 83
Trang 73.2.2 Thực trạng lãnh đạo công tác tư tưởng 84
3.3 Tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng 86
3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện nhận thức về lãnh đạo công tác tư tưởng 86 3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện những nhiệm vụ, giải pháp lãnh đạo công tác tư tưởng 96
KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có biết bao vĩ nhân, anh hùng mà cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của họ tiêu biểu cho lý tưởng, ý chí, khát vọng của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy “Hồ Chí Minh” - những chữ ấy đã trở thành một biểu tượng, một niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới
Dân tộc ta sinh ra Hồ Chủ tịch, và chính Người - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới - người mà tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa Liên Hợp quốc (UNESCO) đánh giá là đã “để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” - đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta Cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và lý luận cách mạng mà Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại là một di sản vô cùng quý giá Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng
tư tưởng và lãnh đạo quá trình tư tưởng trong Đảng và trong xã hội Người nhấn mạnh: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”, theo Người “Tư tưởng không đúng
Trang 9đắn thì công tác ắt sai lầm” Trong tổ chức thực hiện, lãnh đạo công tác tư tưởng phải đi trước một bước và quan trọng nhất, không ngừng đổi mới để phù hợp với những điều kiện cụ thể của hoàn cảnh, đối tượng, nâng cao hiệu quả, phục vụ cho
sự nghiệp chung của cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng lớn mà Người còn là một nhà lãnh đạo công tác tư tưởng kiệt xuất Lãnh đạo công tác tư tưởng là một trong những thực hành lớn và có ý nghĩa quan trọng của Hồ Chí Minh Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình, chúng ta có thể nhận thấy rằng, Người đã có những thực hành biện chứng trên mọi lĩnh vực: Công tác tư tưởng, giáo dục tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng, dân chủ, đạo đức cách mạng, đoàn kết và đại đoàn kết, Những thực hành đó không chỉ có ý nghĩa và giá trị đối với thời kỳ cách mạng trước đây mà còn rất quan trọng đối với thời kỳ đổi mới và hội nhập của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Nắm bắt được tầm quan trọng của “tư tưởng” và “lãnh đạo công tác tư tưởng” trong công cuộc dựng nước và giữ nước, Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú trọng tới công tác và quá trình lãnh đạo tư tưởng và coi đây là một trong những hoạt động cấp thiết của mọi thời đại Tư tưởng lòng dân có vững, có mạnh thì đất nước mới phát triển, do đó Hồ Chí Minh đã xây dựng lên một hệ thống các quan điểm về vấn
đề lãnh đạo công tác tư tưởng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Trong những hoạt động này vấn đề cốt lõi là lãnh đạo phải thống nhất, dân chủ, khoa học
và cách mạng Vấn đề tưởng như đơn giản, dễ làm nhưng thực tế đến nay nhiều lúc, nhiều nơi vẫn làm chưa tốt
Tình hình tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng của Đảng ta chịu nhiều tác động sâu sắc của đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và sức ảnh hưởng của thời đại toàn cầu hóa Các thế lực cơ hội chính trị ngoài nước đã, đang và sẽ cấu kết, ra sức chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, trong mọi lĩnh vực và dưới mọi hình thức; phản bác quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bác mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba… Sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta 28 năm qua do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, toàn diện
Trang 10Nhờ đó cũng cố được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, định hướng của Đảng
ta trên con đường đi tới CNXH Điều này đặc biệt quan trọng về mặt tư tưởng và lý luận đối với toàn Đảng và toàn dân ta Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình xây dựng và phát triển đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề gay gắt và thách thức Những yếu kém, hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý và điều hành của bộ máy nhà nước các cấp Từ đó gây bức xúc và giảm lòng tin của nhân dân đối với khả năng cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Trong khi đó căn bệnh tham nhũng, lãng phí, quan liêu của cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi, gây bức xúc cho quần chúng nhân dân: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp” [16, tr.173] Những hiện tượng đó là tiếng chuông cảnh báo để chúng ta phải làm tốt hơn nữa lãnh đạo công tác tư tưởng
Chính vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Lãnh đạo công tác tư tưởng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm để đấu tranh thắng lợi các âm mưu, diễn biến và thủ đoạn của các thế lực thù địch; xây dựng, bảo vệ và phát triển thành công nền chủ nghĩa xã hội ở nước ta; xây dựng Đảng ta vững mạnh về tư tưởng chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin, sự kiên định trong tư tưởng và hành động của quần chúng nhân dân hiện nay
Lãnh đạo công tác tư tưởng là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng,
là một đặc trưng chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo công tác tư tưởng không chỉ là định hướng, chỉ đạo, giáo dục, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, mà còn là phương thức thu hút nhân dân vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách đó
Trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, một nội dung quan trọng là xây dựng về tư tưởng chính trị, trình độ trí tuệ, nâng cao năng lực, phương thức cầm quyền của Đảng, Toàn bộ hoạt động của Đảng, trước hết là hoạt động tư tưởng có yêu cầu tự thân phải giáo dục hóa, lãnh đạo hóa, kể cả nhận thức và hành động Thực tiễn đó đòi hỏi những cán bộ, đảng viên làm công tác xây dựng Đảng về tư
Trang 11tưởng chính trị phải quan tâm thường xuyên đến vấn đề lãnh đạo công tác tư tưởng nhằm giúp Đảng hình thành quan điểm, đường lối, chủ trương để tổ chức, lãnh đạo
và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Từ nhận thức một cách sâu sắc vai trò, sức lan tỏa, tính thời sự cấp bách của
tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và vấn đề lãnh đạo công tác tư tưởng của Người nói riêng, trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước, tôi lựa
chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng - giá trị lý luận và thực tiễn” Từ đó, mở rộng thêm nhận thức về Hồ Chí Minh, góp phần đưa
tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng vào thực tiễn đời sống để giải quyết những vấn đề cấp bách về tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng đang đặt ra của xã hội Việt Nam hiện nay
Một số tác phẩm và công trình khoa học của các nhà lãnh đạo tư tưởng, các
các cơ quan của Đảng về lĩnh vực tư tưởng, như: “Hồ Chí Minh về công tác tư
tưởng” của Ban Tuyên huấn Trung ương (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985); “Tạo một chuyển biến mạnh mẽ về công tác tư tưởng” của Lê Duẩn (Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1962); “Công tác tư tưởng của Đảng” của Trường Chinh (Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1962); “Một số vấn đề về công tác tư tưởng” của Đào Duy Tùng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999); “Một số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và tổ chức
của Đảng trong thời kỳ đổi mới” của PGS.TS Tô Huy Rứa (Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2012); “Góp phần nghiên cứu một số vấn đề phát triển của Việt Nam” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Tuyển tập Đào
Duy Tùng”, Tập 1 (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Sơ khảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung
ương (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “70 năm công tác tư tưởng – văn
Trang 12hóa của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn” của Ban Tư tưởng - Văn
hóa Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Một số văn kiện của
Đảng về công tác tư tưởng – văn hóa” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000)
Các công trình của các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy về công tác tư tưởng
và lãnh đạo tư tưởng, như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận”
của Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (kỷ yếu hội thảo khoa học) (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng văn hóa” của Hữu Thọ (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); “Hồ Chí Minh văn hóa và
đổi mới” của GS Đinh Xuân Lâm, PTS Bùi Đình Phong (Nxb Lao động, Hà Nội,
1998); “Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của Đào Duy Quát (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); “Nguyên lý công tác tư
tưởng” của Lương Khắc Hiếu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, Tập 1);
“Nguyên lý công tác tư tưởng” của Đào Duy Quát, Lương Khắc Hiếu (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002, Tập 2); “Giáo trình công tác tư tưởng của Đảng” của
Đỗ Ngọc Ninh, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2003); “Công tác tư tưởng” của Hoàng Tùng (Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội, 1986); “Văn hóa chính trị
và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” của Phạm Ngọc
Quang (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Công tác tư tưởng và vấn đề đào
tạo cán bộ làm công tác tư tưởng” của PGS.TS Trần Thị Anh Đào (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2010); “Những vấn đề lý luận về công tác tư tưởng của Đảng
hiện nay” của TS Ngô Huy Tiếp (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011); “Góp phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng” của Trần Trọng Tân (Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996); “Về công tác tư tưởng - văn hóa” của Trần Trọng Tân (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng chính
trị cách mạng đối với cán bộ, công chức đảng viên, đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới” của Minh Tiến, Thanh Hà (Nxb Lao
động Xã hội, Hà Nội, 2006); “Giáo dục và quản lý sự phối hợp công tác tư tưởng” của I.D.Tơrốtchencô (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1984); “Đổi mới và nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng” của Hà Ngọc Hợi, Ngô Văn Thạo (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) Những công trình khoa học trên tập trung
Trang 13phân tích, nghiên cứu những vấn đề về tư tưởng, hệ tư tưởng, những nguyên lý
về công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng, lý luận và công tác tư tưởng trong tình hình mới dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Các các bài viết đăng ở các tạp chí như: Trần Thị Kim Cúc với bài viết “Hồ
Chí Minh và những nguyên lý công tác tư tưởng - lý luận” (Tạp chí Tư tưởng Văn
hóa, số 9, 2005); Lý Thị Bích Hồng với bài viết “Quán triệt quan điểm Hồ Chí
Minh về công tác tư tưởng, lý luận trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay” (Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 3, 2005); Hữu Thọ với bài viết “Một vài điều thu hoạch về
phong cách Hồ Chí Minh với công tác tư tưởng” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 7,
2005) Trần Bạch Đằng (2004); “Suy nghĩ về thực trạng văn hóa và công tác lãnh
đạo, quản lý của chúng ta” (Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, số 9, 2004); NguyễnVân
với bài viết “Tuyên truyền chính trị trước những đòi hỏi và thách thức mới” (Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa số 10, 1993); Trần Quang Nhiếp với bài viết “Mấy vấn đề
về bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên hiện nay” (Thông tin Công tác
tư tưởng lý luận số 9, 2004); Hà Đăng với bài viết “Đổi mới, tăng cường hoạt động
báo cáo viên, góp phần nâng cao hiệu quả tư tưởng” (Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa,
số 10, 1994); Hoàng Chí Bảo với bài viết “Về chất lượng nghiên cứu lý luận chính
trị” (Tạp chí Lý luận chính trị số 4, 2005); Hữu Thọ với bài viết “Từ thực tiễn, cần suy nghĩ sâu hơn về công tác tư tưởng” (Thông tin Công tác tư tưởng số 3, 2001);
Nguyễn Khoa Điềm với bài viết “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung
ương V về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”
(Thông tin Công tác tư tưởng lý luận số 1, 2005); Hồng Vinh với bài viết “Vai trò
của công tác tư tưởng – văn hóa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”
(Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 5, 2005); Nguyễn Viết Thông với bài “Công tác tư
tưởng với phát triển bền vững” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 12, 2004); Tô Huy
Rứa với bài viết “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong giai đoạn
phát triển mới” (Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 6, 2006)
Các công trình, sách, báo, bài viết nói trên đã góp phần làm rõ hơn tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng cũng như những hoạt động của Người trên mặt trận tư tưởng, sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo và định hướng về lĩnh vực tư tưởng trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay Tuy
Trang 14nhiên, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu, phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng và giá trị của tư tưởng này trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, trên tinh thần cầu thị và tiếp thu những kết quả của những nhà nghiên cứu đi trước và mong muốn tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả chọn đề tài này để đi vào tìm hiểu tư tưởng của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng; giá trị lý luận và thực tiễn mà tư tưởng đó mang lại, góp phần vào việc vận dụng tư tưởng đó của Người trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá về giá trị lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh
về lãnh đạo công tác tư tưởng trong kho tàng lý luận dân tộc và Mác xít; đối với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là về phương thức lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng chính trị trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng trong hệ thống tư tưởng phong phú của Người
- Những giá trị về lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
Lãnh đạo công tác tư tưởng là một lĩnh vực rộng lớn, đặc thù và phức tạp của giới lý luận, của Đảng Trên cơ sở các nguồn tài liệu, luận văn chỉ tập trung làm rõ, khái quát, phân tích về những khái luận chung về lãnh đạo công tác tư tưởng: Công tác tư tưởng và những nguyên tắc của công tác tư tưởng; lãnh đạo và lãnh đạo công tác tư tưởng Đồng thời, tập trung nghiên cứu, phân tích, khái quát một cách có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng và hoạt động thực tiễn lãnh đạo công tác tư tưởng của Người: Quan điểm về vị trí và vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng; chủ thể, nội dung và phương thức của lãnh đạo công tác tư tưởng; cán bộ lãnh đạo công tác tư tưởng; Hồ Chí Minh – tấm gương mẫu mực về thực hành lãnh đạo công tác tư tưởng; giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện lập trường, quan điểm, nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin về hệ tư tưởng và hoạt động tư tưởng; tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng; trên quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tư tưởng; kế thừa những luận điểm và tư tưởng các bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đồng chí lãnh đạo ngành tư tưởng, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đề làm rõ vấn đề
- Ngoài ra luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn:
Phương pháp tổng hợp: sử dụng phương pháp tổng hợp trong quá trình tìm kiếm thông tin, tài liệu có liên quan; sắp xếp, phân loại chúng theo các luận điểm liên quan đến nội dung chính của luận văn
Trang 16Phương pháp phân tích: trên cơ sở các thông tin và tài liệu liên quan đã được tổng hợp, tiến hành nghiên cứu các vấn đề nhằm nêu bật được nội dung chính của luận văn Từ đó rút ra nhận định, đánh giá cho luận văn
Phương pháp logic - lịch sử: được sử dụng trong luận văn khi viện dẫn những thực hành và quan điểm của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực lãnh đạo tư tưởng Qua đó đánh giá những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đó đối với công cuộc đổi mới hiện nay
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu góp phần làm rõ, tổng hợp, hệ thống và luận giải những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng, những thực hành lãnh đạo công tác tư tưởng của Người, đồng thời góp phần tổng kết, đánh giá những giá trị đặc sắc về lý luận và thực tiễn của tư tưởng này đối với việc xây dựng Đảng trên mặt trận tư tưởng ở nước ta hiện nay
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Hồ Chí Minh học và Chính trị học về lãnh đạo công tác tư tưởng; bên cạnh
đó luận văn đưa ra một số vấn đề tham chiếu cho Đảng ta trong lĩnh vực tư tưởng
mà đặc biệt là vấn đề lãnh đạo công tác tư tưởng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái luận chung về lãnh đạo công tác tư tưởng
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
Chương 3: Giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
Trang 17CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
1.1 Công tác tư tưởng và những nguyên tắc của công tác tư tưởng
1.1.1 Khái niệm tư tưởng
Thuật ngữ “tư tưởng” (idea) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hình thức Cho đến ngày nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “tư tưởng”: tư tưởng
là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh [52, tr 43]; tư tưởng là những quan điểm, ý nghĩ phản ánh thế giới vật chất trong nhận thức của con người và thể hiện mặt này hay mặt khác của thế giới khách quan [42, tr 57]; v.v…
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, đời sống xã hội có hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; do đó có hai lĩnh vực sản xuất là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần để đáp ứng hai nhu cầu đó Lĩnh vực vật chất quyết định lĩnh vực tinh thần, nhưng mặt khác, lĩnh vực tinh thần có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lĩnh vực vật chất Ph Ăngghen viết: “nhân tố lịch sử một khi được những nhân tố khác, xét tới cùng là nguyên nhân kinh tế, làm nảy sinh
ra thì nhân tố lịch sử đó cũng có thể tác động trở lại đến môi trường của nó, và thậm chí đến những nguyên nhân đã tạo ra nó” [2, tr 90]
Vì vậy, tinh thần, tư tưởng - một bộ phận của lĩnh vực tinh thần, có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người
Trong lịch sử xã hội loài người, lúc đầu con người tiến hành các hoạt động sản xuất vật chất để đảm bảo nhu cầu sinh tồn của mình, sau đó cùng với sản xuất vật chất, xã hội thường xuyên diễn ra các quá trình sản xuất tinh thần Ph Ăngghen viết: “con người trước hết cần phải ăn, uống, chổ ở và mặc đã rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, và v.v được” [3, tr 500] Ph Ăngghen đã chỉ ra ý thức đầu tiên của con người được hình thành trên cơ sở bộ não - dạng vật chất có tổ chức cao, dưới “hai sức kích thích chủ yếu” là lao động và ngôn ngữ Sau
đó, do nhu cầu không ngừng nhận thức để cải biến thế giới, phục vụ con người và giao tiếp xã hội, sản xuất tinh thần ra đời và ngày càng phát triển Quá trình sản xuất tinh thần này sinh ra ý thức bảo vệ lợi ích con người Ở xã hội nguyên thủy chưa
Trang 18xuất hiện giai cấp, đời sống tinh thần còn nghèo nàn, song lúc đó đã có một dạng tâm lý xã hội - như tình cảm, tâm trạng mong muốn… của con người - hình thành tự phát dưới dạng ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sống
Có quan điểm cho rằng, xã hội nguyên thủy đã có tư tưởng Điều đó chỉ đúng, nếu hiểu khái niệm tư tưởng theo nghĩa ban đầu của nó Thực ra, xã hội nguyên thủy mới chỉ có “mầm mống tư tưởng” Khi xã hội phát triển, phân chia thành giai cấp, có sự tách rời giữa lao động trí óc và lao động chân tay, tầng lớp trí thức xuất hiện thì mới có các nhà tư tưởng bảo vệ lợi ích cho những người mà mình đại diện một cách có ý thức Có thể thấy rõ sự xuất hiện tư tưởng trong xã hội Hy Lạp cổ đại - quốc gia có chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình - từ những “mầm mống
tư tưởng” như thế nào Trong cuốn Lược khảo Lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và
cộng sản chủ nghĩa, giáo sư Đỗ Tư cho rằng: “Trên quan điểm khoa học, vào thế kỷ
XI - IX trước công nguyên, hình thái kinh tế - xã hội Hy Lạp về cơ bản vẫn còn là hình thái kinh tế cộng đồng nguyên thủy và sự xuất hiện của các nhân tố giai cấp, nhà nước cũng chỉ mới là bắt đầu Tình hình kinh tế - xã hội Hy Lạp trong thời kỳ này được phản ánh trong hai tập sử thi Iliát và Ôđixê mà theo truyền thuyết thì tác giả là Hôme” [51, tr.11] Dù tác giả đó là có thật hay không, thì một điều chắc chắn phải có một hoặc một số ít người có trình độ tri thức nhất định mới có thể sáng tác
ra các bản trường ca đó, thể hiện rõ ý muốn bênh vực lợi ích của nô lệ, đầy tớ - những người phải lao động dưới sự cai quản khắc nghiệt và dã man của chủ nô Vào thế kỷ VIII - VI trước công nguyên, trong xã hội Hy Lạp, giai cấp và nhà nước mới chính thức ra đời thì các tập sử thi nói trên đã từ truyền miệng được ghi lại bằng chữ
Hy Lạp cổ ở thế kỷ VI trước công nguyên Việc ghi chép đó chỉ có các nhà trí thức mới làm được, trên cơ sở kế thừa và phát triển những mầm mống tư tưởng xã hội trước đó
Bất cứ tư tưởng nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định Khi phân tích mối quan hệ giữa các nhà tư tưởng tiểu tư sản, C Mác chỉ ra: sở dĩ hộ là đại biểu của giai cấp tiểu tư sản, chính là vì tư tưởng của họ bị quy định bởi lợi ích vật chất và địa vị xã hội của tiểu tư sản Từ đó, C Mác đi tới kết luận: “Nói chung, mối quan hệ giữa những đại biểu chính trị và văn học của một giai cấp với giai cấp mà họ đại diện là như thế đó” [6, tr 183-184]
Trang 19Như vậy, tư tưởng là sự phản ánh hiện thực thông qua lăng kính của nhà tư tưởng Chẳng hạn, người ta vẫn có thể dễ dàng nhận biết trong những dự báo về tương lai ở cấp độ toàn cầu của nhà tương lai học nổi tiếng người Mỹ Alvin Toffler lập trường giai cấp tư sản, ở việc đề cao quá mức vai trò kỹ trị trong xã hội hiện đại
Cũng theo C Mác, tư tưởng phải gắn với lợi ích, tư tưởng mà không gắn với lợi ích là điều hết sức vô nghĩa Chẳng hạn, khi nói về tư tưởng của Luít Napôlêông mang danh đại diện cho giai cấp nông dân Pháp giữa thế kỷ XIX nhưng hoàn toàn không gắn với lợi ích của giai cấp nông dân C Mác viết: “Những tư tưởng ấy chỉ là những ảo giác trong cơn hấp hối, là những từ đã biến thành những câu nói suông, là những thần linh đã biến thành những bóng ma” [7, tr 272]
Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp dưới hình thức lý tưởng hóa, tức là gắn cho giai cấp mình một sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn xã hội, và
do đó, lợi ích được bảo vệ cũng chính là lợi ích chung, phổ biến trong xã hội Trong
Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăngghen viết: “mỗi giai cấp mới thay thế cho giai
cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích của mình, điều nhất thiết phải biểu hiện lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những
tư tưởng duy nhất hợp lý, duy nhất có giá trị phổ biến” [8, tr 68] Lấy giai cấp tư sản trong chế độ tư bản làm ví dụ C Mác viết: “Trong chế độ này, mỗi lợi ích, mỗi thiết chế xã hội đều biến thành một tư tưởng chung, và được luận giải như là một tư tưởng” [9, tr 201] Chỉ có tư tưởng vô sản mới thực sự bảo vệ lợi ích chung phổ biến trong toàn xã hội, vì lợi ích của giai cấp vô sản phù hợp với lợi ích của đại đa
số tầng lớp nhân dân
Lẽ dĩ nhiên, trong xã hội có giai cấp thì tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai
cấp Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C Mác và Ph Ăngghen viết: “Lịch sử
tư tưởng chứng minh cái gì, nếu không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [10, tr 625] Trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh để truyền bá, thu phục lòng người, lôi kéo quần chúng nhân dân theo quan điểm tư tưởng của giai cấp thống trị, nhằm biến tư tưởng thành
Trang 20sức mạnh để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp Thực chất đấu tranh tư tưởng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp Ph Ăngghen viết: tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử, không kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội…” [11, tr 373-374] Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng đã góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng của xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và các tư tưởng thù địch, phản động để làm cho ý thức xã hội chủ nghĩa chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tính thần của xã hội
Qua đó, có thể hiểu khái niệm tư tưởng như sau: Tư tưởng là sự phản ánh
của hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích ít nhiều có tính phổ biến của con người, của xã hội
Như vậy, tư tưởng là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, trừu tượng; phản ánh lợi ích của tập đoàn, giai cấp, dân tộc, thời đại nhất định (lợi ích có tính phổ biến) và trong xã hội có giai cấp, luôn có sự đấu tranh tư tưởng giữa các giai cấp Trong lịch sử, các giai cấp thống trị xã hội đã phát triển tư tưởng (hệ thống hóa, khái quát hóa tư tưởng của giai cấp mình thành lý luận, thành các học thuyết chính trị - xã hội) làm vũ khí lý luận trong đấu tranh giai cấp Hệ tư tưởng cũng là sản phẩm của nhà tư tưởng trên cơ sở hệ thống hóa, bảo vệ và phát triển các quan điểm tư tưởng phản ánh lợi ích giai cấp của họ Ăngghen viết: “Hệ tư tưởng là một quá trình do con người mệnh danh là nhà tư tưởng đã hoàn thành một cách có ý thức” [12, tr 776] Hoạt động tư tưởng của các giai cấp có hệ tư tưởng diễn ra qua các khâu như: sản xuất ra hệ tư tưởng (xây dựng các quan điểm, tư tưởng của giai cấp mình thành hệ thống lý luận); tái sản xuất hệ tư tưởng (bảo vệ, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng trong giai cấp và toàn thể xã hội); vật chất hóa hệ tư tưởng (biến hệ tư tưởng thành sức mạnh vật chất thông qua việc thúc đẩy con người hành động vì lợi ích giai cấp)
Tư tưởng và hệ tư tưởng đều ra đời trong xã hội có giai cấp, là sự phản ánh lợi ích của giai cấp thông qua lăng kính của các nhà tư tưởng Hình thức biểu hiện
Trang 21của nhà tư tưởng là các hình thái của ý thức xã hội như triết học, chính trị, tôn giáo, khoa học và văn học - nghệ thuật
Sự ra đời, tồn tại của tư tưởng và hệ tư tưởng gắn liền với lợi ích của giai cấp
và xã hội Muốn truyền bá hoặc giải quyết các vấn đề về tư tưởng có hiệu quả phải quan tâm đến lợi ích thiết thân, chính đáng của đối tượng
1.1.2 Khái niệm công tác tư tưởng
Trong lịch sử, các hoạt động tư tưởng do giai cấp thống trị thực hiện thường chi phối các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội nhằm tác động vào ý thức
xã hội; từ giáo dục quốc dân đến định hướng các giá trị, chuẩn mực đạo đức, từ sáng tạo tri thức đến hình thành các quan điểm triết học, chính trị, tôn giáo… Các lĩnh vực này thuộc đời sống tinh thần của xã hội Mọi chính đảng, mọi nhà nước đều tiến hành công tác tư tưởng, coi đó là hoạt động quan trọng của mình Do đó,
họ sử dụng mọi thành quả trí tuệ, văn hóa và công nghệ tiến tiến phục vụ công tác này
Có nhiều cách tiếp cận để đi đến khái niệm công tác tư tưởng:
- Cách tiếp cận theo quá trình hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng của các giai cấp trong lịch sử Theo cách này, công tác tư tưởng được hiểu với nghĩa rộng: “là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động
vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng” [22, tr 11]
- Cách tiếp cận theo quá trình hình thành, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp vô sản: “Công tác tư tưởng là hoạt động đa dạng và quan trọng vào bậc nhất của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng, xác lập, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin, định hướng giá trị đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho con người hành động tích cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [41, tr 23]
- Gắn liền với công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam có một số cách trình bày như sau:
“Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân - thông qua Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị nhằm bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ
Trang 22nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng ý thức xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin khoa học, thúc đẩy quần chúng tham gia vào sự nghiệp đổi mới đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội” [22, tr 12]
“Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta nhằm xây dựng cho con người có tư tưởng đúng để hành động đúng” [46 tr 35]; “Công tác tư tưởng là một bố phận cấu thành rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Đảng… Nó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhằm nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo của họ trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng
đề ra; góp phần vào việc hình thành đường lối, chính sách của Đảng; góp phần quan trọng vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, vào việc hình thành thượng tầng kiến trúc mới về mặt hình thái ý thức” [50, tr 5-6]
“Công tác tư tưởng ở Việt Nam hiện nay là hoạt động tư tưởng có mục đích của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Thông qua Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tư tưởng có nhiệm vụ bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thông tin theo định hướng của Đảng trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Công tác tư tưởng nhằm xây dựng ý thức xã hội chủ nghĩa; định hướng giá trị xã hội đúng đắn; hình thành niềm tin cách mạng
có căn cứ khoa học, thúc đẩy quần chúng tích cực tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện thực hóa đất nước, xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội
Các khái niệm về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản nói lên bản chất công tác tư tưởng là hoạt động làm cho tư tưởng của giai cấp công nhân chi phối toàn bộ xã hội, góp phần bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Vai trò của công tác tư tưởng trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
là đem đến cho nhân dân lao động tri thức cách mạng và tình cảm cách mạng Cốt lõi tri thức cách mạng đó là hệ tư tưởng giai cấp vô sản giúp cho quần chúng nhân dân hiểu và hành động hợp quy luật vận động của xã hội, vì lợi ích cách mạng trong
Trang 23đó có lợi ích thiết thân của họ Tình cảm cách mạng là động lực thúc đẩy quần chúng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của giai cấp vô sản trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà cụ thể và trực tiếp là biến chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước xã hội chủ nghĩa thành hiện thức trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của dân tộc
Có thể phân định ba hình thái cơ bản cấu thành trong công tác tư tưởng là:
Công tác lý luận, công tác tuyên truyền, công tác cổ động
Công tác lý luận hướng vào nghiên cứu để ngày càng nhận thức đúng đắn và
đầy đủ hơn bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của đất nước, đề ra đường lối lãnh đạo chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội, làm cơ sở giáo dục hệ tư tưởng và đường lối đó trong nhân dân Bởi vậy, công tác lý luận là toàn bộ cái gốc của công tác tư tưởng
Công tác tuyên truyền nhằm truyền bá và giải thích sâu rộng trong quần
chúng nhân dân hiểu rõ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản, trang bị cho quần chúng nhân dân tri thức về các quy luật phát triển của xã hội, trên cơ sở đó xây dựng niềm tin vào lý tưởng cộng sản và nâng cao tính tích cực, sáng tạo của quần chúng trong cuộc đấu tranh xây dựng xã hội mới
Công tác cổ động nhằm tác động trực tiếp vào tâm lý và tình cảm quần
chúng bằng việc thông tin, giải thích cho quần chúng hiểu biết kịp thời những sự kiện đang diễn ra trong đời sống, có liên quan đến đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước; động viên, cổ vũ họ tham gia hành động cách mạng cụ thể
Lênin đã xác định ba hình thái này của công tác tư tưởng Ba hình thái này
có cùng một nội dung, chung một mục đích tác động đến ý thức, tính tích cực hành động của quần chúng, nhưng hình thức và phương pháp tác động khác nhau Mỗi hình thái đó có vị trí, vai trò nhất định trong công tác tư tưởng nói riêng và sự nghiệp cách mạng nói chung
Đối tượng của công tác tư tưởng bao gồm giai cấp, các tầng lớp nhân dân,
các cộng đồng dân tộc, các tập thể và cá nhân trong toàn xã hội tiếp nhận tác động của công tác tư tưởng Trong xã hội ta, đó là toàn thể cán bộ, đảng viên và quần
Trang 24chúng nhân dân, trong đó có lực lượng nòng cốt xây dựng xã hội mới là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Đối tượng của công tác tư tưởng không những tiếp nhận tác động của công tác tư tưởng một cách thụ động mà còn chủ động hướng tới công tác tư tưởng, và còn có tác động trở lại to lớn thậm chí chi phối chủ thể công tác tư tưởng ở một số mặt nào đó Chẳng hạn, với trình độ dân trí ngày càng cao, môi trường thông tin ngày càng đa dạng và nhiều chiều, trên mỗi vấn đề tư tưởng xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau Không ít ý kiến sắc sảo, nhiều góc cạnh, nhiều lập luận đòi hỏi chủ thể công tác tư tưởng phải nâng cao trình độ, cải tiến phương pháp và hình thức để thuyết phục được ý kiến đi đến thống nhất Thậm chí, đôi khi có những vấn đề đối tượng đưa ra mà chủ thể công tác tư tưởng chưa từng biết đến hoặc biết chưa đầy đủ buộc chủ thể sau đó phải tìm hiểu kỹ hơn, qua đó mà kiến thức chủ thể được nâng lên
Trình độ nhận thức các vấn đề tư tưởng - lý luận của đối tượng là không
đồng đều Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng:
“Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu” [30, tr 336] Do đó, cần phải đi sâu tìm hiểu đối tượng thông qua ý kiến, phản ứng của họ trong mỗi vấn đề tác động của công tác tư tưởng để điều chỉnh, đưa ra nội dung giáo giáo dục tuyên truyền phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể Đối tượng có trình độ cao có thể đưa
ra những vấn đề ở tầm khái quát cao hoặc mức độ tìm hiểu sâu, nhưng đối với những đối tượng có trình độ còn hạn chế thì vấn đề đưa ra cần cụ thể, dễ hiểu, v.v
Công tác tư tưởng không được bỏ sót bất cứ đối tượng nào, bởi nếu không nhận được tác động, công tác tư tưởng của Đảng lập tức đối tượng sẽ bị tác động bởi các luồng tư tưởng trái ngược khác như tuyên truyền thù địch của phần tử cơ hội, bất mãn, các thế lực thù địch; tác động tiêu cực của tôn giáo, mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu…
Công tác tư tưởng của ta hiện nay cần chú trọng hơn nữa đối với đồng bào các tôn giáo, dân tộc, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng cũ Thực
tế cho thấy việc lơi lỏng các trận địa này sẽ có nguy cơ tổn hại cho cách mạng bởi
sự lôi kéo, lợi dụng “diễn biến hòa bình” của kẻ địch
Trang 251.1.3 Các nguyên tắc trong công tác tư tưởng
1.1.3.1 Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng
Trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp đều có tư tưởng chủ đạo của mình Tư tưởng đó phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất, địa vị kinh tế của một giai cấp Giai cấp nào giữ địa vị thống trị trong xã hội, thì tư tưởng của giai cấp đó sẽ là tư tưởng
thống trị trong xã hội Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C Mác và Ph
Ăngghen khẳng định: “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ
là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [4, tr 625] Chừng nào trong xã hội còn
có giai cấp và đấu tranh giai cấp thì không thể có hệ tư tưởng nói chung, không thể
có hệ tư tưởng phi giai cấp Bất cứ quan điểm lý luận nào, một học thuyết nào cũng đều mang dấu ấn của giai cấp, đều có tính chất giai cấp, đều phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định và bảo vệ lợi ích của giai cấp ấy V.I Lênin viết “… vấn đề
đặt ra chỉ là như thế này: hệ tư tưởng tư sản hoặc là hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa
Không có hệ tư tưởng trung gian (vì nhân loại không tạo ra một hệ tư tưởng “thứ ba” nào cả; vả chăng, trong một xã hội bị những sự đối kháng giai cấp chia sẽ thì không bao giờ có hệ tư tưởng ở ngoài hoặc trên các giai cấp) Vì vậy, mọi sự coi nhẹ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mọi sự xa rời hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản” [55, tr.49-50]
Tính đảng là biểu hiện tập trung của tính giai cấp Tính đảng trong công tác
tư tưởng của Đảng là biểu hiện tập trung của tính giai cấp công nhân Chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân và bảo vệ lợi ích của giai cấp đó Đặc điểm của giai cấp công nhân là sự phát triển của nó phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, lợi ích của nó nhất trí với lợi ích của những người lao động Cho nên, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân cũng bảo vệ lợi ích của những người lao động
Nguyên tắc tính đảng trong công tác tư tưởng đòi hỏi chúng ta phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, luôn luôn xuất phát từ thế giới quan Mác - Lênin, từ quan điểm của Đảng để giải thích cho quần chúng hiểu biết đúng đắn những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội Vì vậy, tính đảng trong công tác tư tưởng cũng thống nhất với tính khoa học Tính đảng đòi hỏi người làm công tác tư tưởng phải có tính trung thực Xa rời lập trường giai cấp công nhân, xa rời
Trang 26quan điểm của Đảng trong công tác tư tưởng là biểu hiện nghiêm trọng của sự xa rời tính đảng trong công tác tư tưởng Nếu xa rời tính đảng, thì người làm công tác
tư tưởng sẽ lý giải sai lầm những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, dễ dàng tiếp thu quan điểm của giai cấp tư sản Đứng trước khó khăn của cách mạng, họ dễ dao động, không chịu đựng nổi khó khăn; không cắt nghĩa đúng nguyên nhân của khó khăn; thậm chí cắt nghĩa, giải thích những khó khăn trái với cách nhìn, quan điểm của Đảng
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hạt nhân của thế giới quan khoa học và cách mạng của Đảng Cộng sản Đường lối của Đảng ta là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam Vì vậy, nguyên tắc tính đảng đòi hỏi công tác tư tưởng phải tuyên truyền không mệt mỏi cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho đường lối, quan điểm của Đảng Mỗi bài viết, bài nói đều phải có nội dung tư tưởng chính trị, nghĩa là bài viết, bài nói đó phải thấm nhuần quan điểm của Đảng, thấm nhuần thế giới quan Mác - Lênin, V.I Lênin đã phê bình rằng:
“không có một nội dung tư tưởng rõ ràng, có suy nghĩ chính chắn, thì công tác cổ động sẽ thoái hóa thành những lời nói suông” [55, tr 95] Người còn nhấn mạnh:
“Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị
và tư tưởng của các bài giảng” [55, tr 248]
Tính chiến đấu chính là một biểu hiện của tính đảng trong công tác tư tưởng
Tính chiến đấu trong công tác tư tưởng đòi hỏi các chiến sỹ của Đảng phải đấu tranh không khoan nhượng chống những tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ quan điểm của Đảng Tính chiến đấu trong công tác tư tưởng là một yêu cầu cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng, đồng thời là thước đo chất lượng công tác tư tưởng Hiệu quả của công tác tư tưởng phụ thuộc một phần quan trọng ở tính chiến đấu của nó
Một người kém tính đảng và không có tính đảng cao không thể được lựa chọn vào hàng ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng Bồi dưỡng về tính đảng phải là một nội dung rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ làm công tác tư tưởng Dựa vào tính đảng, các cấp ủy, các cơ quan tham mưu làm công tác tư tưởng có được căn cứ quan trọng để đánh giá một bài giảng, một bài báo, một buổi phát thanh v.v
Trang 27Tính đảng phụ thuộc rất lớn vào trình độ lý luận, trình độ chính trị và tư tưởng của người làm công tác tư tưởng Một cán bộ có trình độ lý luận, nhạy cảm với cái mới và có lập trường, tư tưởng vững vàng nhất định sẽ quán triệt sâu sắc tính đảng trong công tác tư tưởng Do đó, để nâng cao tính đảng trong công tác tư tưởng một vấn đề quan trọng hàng đầu là phải chú ý nâng cao trình độ lý luận, chính trị và tư tưởng cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng
1.1.3.2 Nguyên tắc tính khoa học trong công tác tư tưởng
Tính khoa học là một nguyên tắc rất cơ bản của công tác tư tưởng Quán triệt tính khoa học có nghĩa là toàn bộ công tác tư tưởng phải luôn luôn xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy đó làm cơ sở lý giải cho quần chúng hiểu một cách có căn
cứ khoa học những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra, để từ đó họ hành động một cách tự giác và có hiệu quả Sở dĩ chủ nghĩa Mác - Lênin có thể làm được như vậy là vì nó đã kết hợp được trong bản thân nó hai đặc tính cơ bản: tính khoa học chặt chẽ và cao độ… với tinh thần cách mạng, như V.I Lênin đã nêu ra
Tính khoa học trong công tác tư tưởng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch
sử cụ thể, quan điểm biện chứng, trong khi đề cập, lý giải hoặc phân tích các sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội Điều đó có nghĩa là khi chúng ta phân tích một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong những điều kiện không gian, thời gian nhất định, phải vạch rõ quá trình phát triển, biến đổi của nó, chỉ rõ bản chất của nó
và phải giải quyết như thế nào cho khoa học và đạt kết quả cao
Tính khoa học trong công tác tư tưởng đòi hỏi nội dung công tác tư tưởng phải phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan Vì thế, giai cấp công nhân và chính đảng của nó đặc biệt coi trọng việc phát hiện, nắm vững những quy luật vận động, biến đổi, phát triển của thế giới khách quan, quan tâm sâu sắc đến việc vận dụng các quy luật ấy Bảo đảm tính khoa học trong việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cho quần chúng là làm cho quần chúng hiểu được các quy luật vận động và phát triển của xã hội, thấy rõ được vị trí và vai trò lịch sử của mình, do đó mà nâng cao tính tự giác trong hoạt động cách mạng, trong việc sáng tạo lịch sử Tính khoa học trong công tác tư tưởng càng cao bao nhiêu thì tính tự giác của quần chúng càng sâu sắc bấy nhiêu, do đó công tác tư tưởng càng phục vụ tốt cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Trang 28Tính khoa học trong công tác tư tưởng còn thể hiện ở tính chân thật Tính
chân thật là một tiêu chuẩn quan trọng của công tác tuyên tuyền, giáo dục quần chúng Đối với quần chúng, Đảng ta luôn luôn nói lên sự thật Tính chân thật làm cho quần chúng ngày càng tin tưởng sâu sắc vào sự đúng đắn của các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng
Hoạt động vì lợi ích của nhân dân, người cộng sản không thể che giấu sự thật với nhân dân V.I Lênin đã chỉ ra rằng: “…giai cấp vô sản cần biết sự thật, và chẳng có gì tai hại hơn cho sự nghiệp của họ bằng những lời dối trá có vẻ đẹp đẽ và
êm tai của bọn tiểu tư sản” [56, tr 112] Vì vậy, người cộng sản phải nhìn thẳng vào
sự thật, bằng quan điểm của Đảng, nói thẳng cho quần chúng biết rõ sự thật đó và hướng họ hành động đúng
Tính chân thật có nghĩa là trình bày nội dung vấn đề một cách khách quan, chẳng hạn, trong tuyên truyền chúng ta có thể trình bày cả thành tích, thắng lợi cũng như khuyết điểm, sai lầm nếu có, nói rõ thuận lợi, đồng thời nêu những khó khăn, thách thức Chúng ta phải đối quan điểm “tô hồng” làm cho quần chúng say sưa với thành tích, thắng lợi, không thấy hết khó khăn, khuyết điểm cần khắc phục Đồng thời, chúng ta cũng kiên quyết chống lại quan điểm “bôi đen”, chỉ khuếch đại khuyết điểm, sai lầm, khó khăn nhất thời mà không thấy hoặc phủ nhận thành tích, thắng lợi Các Nghị quyết của Đảng là một tấm gương lớn về tính chân thực về đánh giá tình hình chung cũng như tình hình xây dựng Đảng ta Điều đó giúp đảng viên và quần chúng hiểu một cách khách quan, có căn cứ khoa học về những thành tích chúng ta đã đạt được trên các lĩnh vực, về những khuyết điểm, sai lầm và những nguyên nhân của nó mà Đảng ta đã mắc phải, để từ đó Đảng và quần chúng cùng ra sức phát huy những ưu điểm và hạn chế hay nhanh chóng khắc phục khuyết điểm, sai lầm
Tính khoa học trong công tác tư tưởng còn đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu đặc điểm của các tầng lớp quần chúng lao động, nắm vững quy luật của quá trình nhận thức, sử dụng phương pháp thích hợp, nhằm đưa tư tưởng của Đảng đến với quần chúng một cách hiệu quả nhất Nói cách khác là phải tiến hành công tác tư tưởng một cách khoa học, phải vận dụng những thành tựu mới của khoa học tâm lý, khoa học sư phạm, tổng kết kinh nghiệm công tác tư tưởng của Đảng ta, tham khảo
Trang 29những bài học về công tác tư tưởng của các Đảng anh em, tạo cho công tác tư tưởng một cơ sở khoa học vững chắc
1.1.3.3 Nguyên tắc công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống
Những nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học đã nhiều lần nó rõ tầm quan trọng của lý luận đối với cách mạng và nhấn mạnh học thuyết của mình
“không phải là một giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động” C.Mác đã chỉ rõ: triết học không phải chỉ để nhận thức thế giới, mà quan trọng hơn là để cải tạo thế giới Điều đó nói lên sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn; lý luận soi đường cho thực tiễn; thực tiễn kiểm nghiệm lý luận Toàn bộ cuộc đời và hoạt động của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin là tấm gương sáng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Xuất phát từ những luận điểm nói trên, những người làm công tác
tư tưởng phải có ý thức sâu sắc rằng, truyền bá cho quần chúng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chủ trương của Đảng không phải chỉ là trang bị cho họ lý luận, những nhận thức mới mà điều quan trọng là phải làm cho họ nắm được lý luận, biết dùng nó để cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên, cải tạo bản thân mình, nhằm đưa đất nước và xã hội ta tiến nhanh trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đòi hỏi công tác tư tưởng phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống
Công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống thể hiện trước hết ở chỗ, nó phải bám chắc vào thực tiễn cách mạng, vào quá trình đấu tranh của quần chúng cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên, phải luôn luôn tính đến đặc điểm và tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân Nói cách khác, mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp công tác tư tưởng phải xuất phát từ yêu cầu của đời sống Công tác tư tưởng phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, phải gắn với nhiệm vụ chính trị, có nghĩa là phải gắn với cuộc sống Bởi vì, đường lối chính trị, nhiệm vụ chính trị không có gì khác là những giải pháp cụ thể do Đảng đề ra nhằm giải quyết những nhiệm vụ của cách mạng V.I Lênin luôn luôn nhắc nhở những người làm công tác tư tưởng không được xa rời cuộc sống Người nói: “Hãy bớt làm rùm beng về chính trị đi Hãy bớt những nghị luận kiểu trí thức đi Hãy gần gũi đời sống hơn nữa Hãy chú ý nhiều hơn nữa xem trong công việc thường ngày của họ, quần chúng công nông
đang thực tế sáng tạo cái mới như thế nào Hãy kiểm nghiệm kỹ hơn xem cái mới đó
có tính chất cộng sản đến mức độ nào” [57, tr.109]
Trang 30Công tác tư tưởng không chỉ gắn với cuộc sống mà còn góp phần thúc đẩy
cuộc sống tiến lên Nó phải trang bị cho quần chúng nhưng tư tưởng mới, tình cảm mới, những kiến thức khoa học để quần chúng có thể lý giải được những vấn đề trong cuộc sống, xác định phương hướng hành động đúng, tích cực tham gia vào việc hoàn thành những nhiệm vụ chính trị cụ thể Nó phải hóp phần quyết định vào việc xây dựng con người mới, xây dựng thượng tầng kiến trúc mới về mặt hình thái
và có tính thuyết phục Đó cũng là điều kiện để khắc phục bệnh chủ quan, lý luận suông và quan điểm duy tâm trong công tác tư tưởng
Khi vận dụng nguyên tắc công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống,
chúng ta phải đề phòng và khắc phục hai thiên hướng: một là, chủ nghĩa giáo điều,
tách công tác tư tưởng xa rời cuộc sống, xa rời những nhiệm vụ chính trị cụ thể, không trả lời những vấn đề của quần chúng nêu lên, tuyên truyền cổ động theo lối
sách vở; hai là, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường lý luận, không biết sử dụng thế
giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng nhằm giúp cho quần chúng nâng cao nhận thức, để tạo cơ sở tự giác cho hành động của quần chúng
Trong bản tham luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Trường Chinh đã phân tích sâu sắc chủ nghĩa kinh nghiệm với chủ nghĩa giáo điều trong thời kỳ ấy: “Chủ nghĩa kinh nghiệm biểu hiện ở chỗ công tác tư tưởng của chúng ta phần nào còn tách rời lý luận; việc phân tích, phê phán những tư tưởng sai lầm nhiều khi còn hời hợt, đơn giản, gò ép; sức thuyết phục còn yếu Chủ nghĩa giáo điều biểu hiện ở chỗ nhiều khi chúng ta thoát ly thực tế, vận dụng một cách máy móc những kinh nghiệm hoặc những kết luận có tính chất lý luận của một
số đảng an hem, chưa phát huy hết tinh thần độc lập nghiên cứu của mình, chưa đi
Trang 31sâu nghiên cứu đầy đủ thực tế của nước mình để làm cho công tác lý luận, công tác
tư tưởng được sinh động, phong phú và có sáng tạo”
Các nguyên tắc của công tác tư tưởng nêu trên có quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau, tác động và bổ sung lẫn nhau, đó là một thể hoàn chỉnh, không thể tách rời nguyên tắc nọ với nguyên tắc kia một cách máy móc Đó là những nguyên tắc chung, song khi vận dụng cần chú ý điều kiện và hoàn cảnh từng nơi và chức năng, nhiệm vụ của từng binh chủng của công tác tư tưởng thì mới đem lại hiệu quả cao
1.2 Lãnh đạo và lãnh đạo công tác tư tưởng
1.2.1 Khái niệm lãnh đạo
Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo
Theo H Koontz và các tác giả: Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh, và đi trước [20, tr 499]
Theo P Hersey và Ken Blanchard: Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được tình huống nhất định [20, tr 120]
Từ những quan niệm về lãnh đạo, xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo và quản lý
có thể đưa ra một định nghĩa về lãnh đạo (theo nghĩa rộng) như sau:
Lãnh đạo là tác động gây ảnh hưởng tích cực tới con người để phát huy và
phối hợp tiềm năng và năng lực của họ nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức Khi đề cập đến lãnh đạo như là một hoạt động thực tiễn đặc biệt, trước hết chúng ta nói đến hoạt động đặc biệt của các nhà lãnh đạo, các thủ lĩnh, người đứng đầu tổ chức và có thầm quyền đặc biệt trong tổ chức (khái niệm tổ chức ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm các loại tổ chức khác nhau, các phạm vi và quy
mô khác nhau)
Bất kể một dạng lao động nào của nhiều người nhằm mục đích chung đều cần lãnh đạo Nhà tâm lý học Xôviết A.G.Kôvaliốp đã viết “Việc thực hiện các mục tiêu đòi hỏi phải có một hoạt động có kế hoạch, một mối liên hệ hữu cơ giữa thành viên này với thành viên khác trong tập thể Do đó, nảy sinh sự cần thiết phải phối hợp hoạt động của mọi người với nhau và điều đó sẽ do một người được cử ra lãnh đạo, thực hiện Nếu không có sự lãnh đạo thì không thể xây dựng được một tập thể
Trang 32Ngay cả trong những cộng đồng người tạm thời như trò chơi cũng cần có người lãnh đạo”[24, tr 149]
Theo Từ điển Tâm lý học: “Người lãnh đạo là người được giao các chức
năng quản lý tập thể và tổ chức hoạt động của nó một cách chính thức” [53, tr 248]
Qua đó, có thể hiểu người lãnh đạo là người có quyền hạn quyết định và ra quyết định, tổ chức việc thực hiện các quyết định đó Người lãnh đạo là người có chức vụ đứng đầu tổ chức, có quyền điều hành, kiểm tra kỹ thuật và có quyền ra quyết định chiến lược và thay đổi tổ chức trong quá trình phát triển không ngừng của tổ chức Có những người quản lý thực hiện chức năng lãnh đạo nhưng không thể có quyền hạn như những nhà lãnh đạo đứng đầu tổ chức Có những người không
có chức vụ có thể gây ảnh hưởng làm thay đổi những quá trình cụ thể, nhưng cũng không thể quyết định được những vấn đề trọng đại của tổ chức Chỉ có nhà lãnh đạo đứng đầu tổ chức mới có đủ năng lực, bản lĩnh đương đầu với các vấn đề khó khăn, nan giải của tổ chức
Một cách hiểu khác về lãnh đạo: “Lãnh đạo là một phạm trù của chính trị học
và quản lý học Trong khoa học chính trị, lãnh đạo là sự dẫn dắt xã hội bằng chính trị và đạo đức của người đứng đầu; là một chức năng cơ bản của đảng cầm quyền, lãnh tụ quốc gia, nhằm đưa đất nước tới các mục tiêu nhất định bằng cương lĩnh, đường lối chính trị, các chiến lược phát triển, công tác tổ chức - cán bộ… Chủ thể lãnh đạo là những cá nhân, tổ chức có quyền lực cao nhất trong một hệ thống chính trị, thể chế Chủ thể lãnh đạo có thẩm quyền cao hơn, lớn hơn các chủ thể quản lý” [19, tr 19 - 20]
Cũng có khái niệm khác về lãnh đạo: “Lãnh đạo là việc đề ra chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược, gắn với những vấn đề tổng quát, mang tính định hướng Lãnh đạo thiên về hoạch định đường lối chính trị; người lãnh đạo là nhà chính trị Về phương thức tác động, lãnh đạo sử dụng chủ yếu là phương pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng Về nội dung, lãnh đạo gồm có: xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trương, chiến lược, điều hòa phối hợp các mối quan hệ và phân công, giao quyền lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; động viên thuyết phục toàn xã hội cùng thực hiện Về hiệu lực, lãnh đạo giúp cho các tổ chức, cá nhân tự tổ chức, thực hiện được mục đích, tôn
Trang 33chỉ mà lực lượng lãnh đạo đặt ra một cách đầy đủ, nghiêm túc, đồng thời tham gia giám sát các tổ chức, cá nhân thực hiện đầy đủ, nghiêm túc” [62, tr 248 - 249]
Ở nước ta, khái niệm lãnh đạo có những sắc thái riêng do xuất phát trước hết
từ đặc thù của hệ thống chính trị nhất nguyên do một Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền lãnh đạo Chế độ chính trị nước ta sau Cách mạng tháng Tám - 1945, đặc biệt
là sau năm 1975, được tổ chức theo nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Hiến pháp 1980, 1992, 2013 đều đã khẳng định tại Điều 4:
“Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ với một số nội dung chính là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc, cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên, giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy); hệ thống tổ chức của Đảng được lập tương ứng với hệ thống tổ chức của Nhà nước
Như vậy, ở nước ta hiện nay, khái niệm lãnh đạo được dùng dùng trước hết ở tầm vĩ mô, chỉ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng Cộng sản đối với toàn
xã hội; chủ thể lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị phải là tập thể cấp ủy, đứng đầu là bí thư và ban thường vụ cấp ủy Nói đến “người đứng đầu tổ chức” trước hết là nói đến thẩm quyền và trách nhiệm của người giữ chức danh bí thư cấp
ủy của tổ chức đó Nói đến năng lực lãnh đạo của cán bộ trước hết là nói đến năng lực thực hiện chức trách của các cấp ủy viên, tiêu biểu là năng lực của một bí thư cấp ủy, được chế định bởi Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ và các quy định của Đảng
Hệ thống chính trị nước ta là một chỉnh thể thống nhất, Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng có vai trò lãnh đạo toàn hệ thống và lãnh đạo xã hội Phương thức lãnh đạo tập thể của Đảng ta đòi hỏi những vấn đề quan trọng, phức tạp thuộc phạm vi, thẩm quyền của lãnh đạo phải được đưa ra tập thể (thường là cấp
ủy có thẩm quyền) bàn bạc, để đi đến một quyết định chung, thống nhất, chống sự chuyên quyền, độc đoán cá nhân Song không phải vì vậy mà vai trò người đứng đầu cấp ủy (bí thư) và thủ trưởng đơn vị lại bị hạ thấp, coi nhẹ; trái lại, Đảng ta luôn
đề cao trách nhiệm cá nhân của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là trách nhiệm cá
Trang 34nhân của người đứng đầu tổ chức Các chức danh đứng đầu là bí thư cấp ủy và thủ trưởng cơ quan hành chính, sự nghiệp là những người có thầm quyền và trách nhiệm cao hơn trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo so với cấp phó của họ và các thành viên khác trong tập thể lãnh đạo
1.2.2 Khái niệm lãnh đạo công tác tư tưởng
Qua việc xem xét, phân tích khái niệm về công tác tư tưởng và khái niệm về lãnh đạo, chúng ta có thể khái quát chung về lãnh đạo công tác tư tưởng, như sau: Lãnh đạo công tác tư tưởng là một chức năng cơ bản và quan trọng, là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm thúc đẩy, chỉ đạo về mọi mặt của công tác tư tưởng với mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển hệ tư tưởng trong giai cấp với chính đảng của mình và quần chúng nhân dân
Với đặc trưng là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Lãnh đạo công tác tư tưởng được xem là hoạt động đặc biệt và vô cùng quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm lãnh đạo toàn dân tộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Chúng ta có thể đi đến quan niệm về lãnh đạo công tác tư tưởng dựa trên đặc trưng của của nước ta:
Lãnh đạo công tác tư tưởng là hoạt động thường xuyên, vô cùng quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm chỉ đạo, dẫn dắt, định hướng công tác tư tưởng nhằm bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đảm bảo thông tin theo định hướng của Đảng trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, xây dựng và bảo vệ ý thức xã hội chủ nghĩa; xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”
Lãnh đạo công tác tư tưởng là việc đề ra chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược về công tác tư tưởng bằng các phương thức chủ yếu là động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng Đồng thời, xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trương công tác tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; động viên thuyết phục toàn xã hội cùng thực hiện
Tiểu kết chương 1
Mọi chính đảng, mọi nhà nước đều tiến hành công tác tư tưởng, coi đó là hoạt động quan trọng của mình Với ba hình thái cơ bản cấu thành trong công tác tư
Trang 35tưởng là: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền, công tác cổ động, cùng với ba nguyên tắc: nguyên tắc tính đảng, nguyên tắc tính khoa học, nguyên tắc công tác tư tưởng gắn với thực tiễn cuộc sống Công tác tư tưởng được xem là hoạt động tư tưởng có mục đích của giai cấp công nhân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Thông qua Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, công tác tư tưởng có nhiệm vụ bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thông tin theo định hướng của Đảng trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội Công tác tư tưởng nhằm xây dựng ý thức xã hội chủ nghĩa; định hướng giá trị xã hội đúng đắn; hình thành niềm tin cách mạng có căn cứ khoa học, thúc đẩy quần chúng tích cực tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện thực hóa đất nước, xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong khoa học chính trị, lãnh đạo là sự dẫn dắt xã hội bằng chính trị và đạo đức của người đứng đầu; là một chức năng cơ bản của đảng cầm quyền, lãnh tụ quốc gia, nhằm đưa đất nước tới các mục tiêu nhất định bằng cương lĩnh, đường lối chính trị, các chiến lược phát triển, công tác tổ chức - cán bộ… Chủ thể lãnh đạo là những cá nhân, tổ chức có quyền lực cao nhất trong một hệ thống chính trị, thể chế Chủ thể lãnh đạo có thẩm quyền cao hơn, lớn hơn các chủ thể quản lý
Ở nước ta hiện nay, khái niệm lãnh đạo được dùng dùng trước hết ở tầm vĩ
mô, chỉ vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội; chủ thể lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị phải là tập thể cấp ủy, đứng đầu là bí thư và ban thường vụ cấp ủy Nói đến năng lực lãnh đạo của cán bộ trước hết là nói đến năng lực thực hiện chức trách của các cấp ủy viên, tiêu biểu là năng lực của một bí thư cấp ủy, bị chế định bởi Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ và các quy định của Đảng
Lãnh đạo công tác tư tưởng là một khái niệm chỉ hoạt động thường xuyên, vô cùng quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm chỉ đạo, dẫn dắt công tác tư tưởng nhằm bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đảm bảo thông tin theo định hướng của Đảng trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, xây dựng và bảo vệ ý thức
xã hội chủ nghĩa; xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Trang 36CHƯƠNG 2
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG
2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
2.1.1 Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò lãnh đạo công tác tư tưởng
2.1.1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo công tác tư tưởng
Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, dân tộc ta Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận lỗi lạc Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của công tác tư tưởng cũng như về lãnh đạo công tác tư tưởng Người đòi hỏi công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng và Nhà nước phải được đặt trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng của Đảng, của dân tộc Người đã thực hiện lãnh đạo công tác tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình
Trong tác phẩm được viết năm 1901 Mạn đàm với những người bảo vệ chủ
nghĩa kinh tế , Lênin đã chỉ rõ, một người “chỉ xứng đáng với danh hiệu nhà tư
tưởng khi nào họ đi trước phong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết, trước những người khác, tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề về tổ chức mà “những yếu tố vật chất” của phong trào húc phải một cách tự phát” [59, tr 445- 446] Như vậy, thực chất Lênin đã nhấn mạnh, nhà tư tưởng tức
là người lãnh đạo tự giác
Đầu năm 1930, nhằm đáp ứng đòi hỏi của phong trào cách mạng trong nước
và yêu cầu hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, đồng chí Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản từ Thái Lan đến Hương Cảng (Trung Quốc) đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị hợp nhất có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam Những văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh và Điều lệ đầu tiên của Đảng Với các sự kiện lịch sử nói trên, Hồ Chí Minh đã trở thành nhà tư tưởng theo đúng quan niệm của Lênin Bởi vì, với việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thông qua Cương lĩnh cách mạng - cương lĩnh
Trang 37dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam đã được dẫn dắt bởi một đảng cách mạng tiên phong, với một lý luận cách mạng tiên phong Từ đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Ở Việt Nam thoát khỏi tình trạng tự phát, theo cách nói của Lênin đã “nâng tính tự phát lên đến tính tự giác”
Nhà tư tưởng, theo quan niệm của Lênin, gắn bó chặt chẽ với nhà lý luận,
nhà tổ chức Năm 1894, trong tác phẩm Những “người bạn dân” là thế nào và họ
đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao? Lênin đã viết “Không thể là
một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không làm công tác lý luận nói trên, cũng như không thể là một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không hướng công tác đó theo những nhu cầu của sự nghiệp, mà lại không tuyên truyền trong công nhân những kết luận của lý luận đó và không giúp đỡ họ tổ chức nhau lại” [60, tr 382] Vì vậy có thể nói, nhà tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là nhà lý luận, nhà tổ chức mác xít tài giỏi
Nhà tư tưởng, nhà lý luận Hồ Chí Minh kế thừa những di sản tư tưởng quý báu của Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn quan tâm sâu sắc tới công tác tư tưởng Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng luôn được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu
Trong những năm chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tác
phẩm Đường Kách mệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cách mệnh, “Trước
hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy” [27, tr 289] Từ chỉ dẫn của Người ta thấy rõ, những vấn đề chủ yếu của “sự lãnh đạo” của Đảng, gồm: chủ thể lãnh đạo (Đảng Cộng sản Việt Nam), đối tượng lãnh đạo (nhân dân lao động Việt Nam), nội dung lãnh đạo (thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam), phương thức lãnh đạo của Đảng (đó là cách thức vận động, liên lạc, tổ chức nhân dân, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới vì thắng lợi của cách mạng nước ta) Người còn quan niệm, Đảng là người lãnh đạo, người cầm lái, vững vàng đưa con thuyền cách mạng đi đến đích Người cầm lái vững vàng, kiên định mục tiêu con đường đã chọn, thông minh, sáng suốt trong xử lý
Trang 38đúng đắn mọi tình huống thì mới đưa con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, phong ba, bão táp đến đích đã được xác định, tức là cách mạng thành công
Để lãnh đạo công tác tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến khái niệm “lãnh đạo”, “lãnh đạo đúng” của Đảng và chỉ ra những nội hàm chủ yếu của khái niệm này Người viết: “Lãnh đạo đúng nghĩa là phải giải quyết mọi vấn đề một cách đúng đắn; phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức sự kiểm soát” [30, tr 325] Đây cũng là những yếu tố chủ yếu tạo nên sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Sự kiểm soát theo tư tưởng của Người, bao hàm cả sự kiểm tra và giám sát và được xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng, cả trong quá trình thu thập, xử lý thông tin để hình thành dự thảo nghị quyết của Đảng; trong bàn bạc, thảo luận ra nghị quyết; trong suốt quá trình tổ chức thực hiện quyết định; sơ kết, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm
Khi bàn và quan niệm về lãnh đạo công tác tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng” Trong các tác phẩm, bài nói, bài viết của mình, khi nêu lên những nhiệm vụ và công tác chính, Hồ Chí Minh luôn chốt lại, trong những nhiệm vụ và công tác ấy “thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất” Người nói: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc” [34, tr 309] Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá II (15-7-1954), trong mười công tác được xác định thì công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất
Người cũng khẳng thêm: “Để đưa cuộc đấu tranh đến thắng lợi, sự lãnh đạo của Trung ương và của toàn Đảng cần cải tiến hơn nữa Trước hết là lãnh đạo tư tưởng Chúng ta cần phải ra sức sửa chữa những tư tưởng sai lầm, như tư tưởng thái bình, khuynh hữu, muốn nghỉ ngơi, hưởng lạc, v.v ” [40, tr.444]
Hồ Chí Minh cũng quan niệm: lãnh đạo công tác tư tưởng là, “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng Nghĩa là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay
Trang 39không Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành” [30, tr 330-331]
Với những luận điểm trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, lãnh đạo công tác tư tưởng đối với Hồ Chí Minh luôn là việc quan trọng nhất và ưu tiên hàng đầu trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn Bên cạnh việc đưa ra những luận điểm về lãnh đạo công tác tư tưởng, Người không quên đánh giá
vị trí và vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng
2.1.1.2 Vị trí, vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh
Để làm nổi bật vị trí, vai trò của lãnh đạo công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh đã
đi sâu luận chứng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhận thức tư tưởng với hành động của một người, một tập thể và toàn xã hội
Hồ Chí Minh luôn khẳng định tư tưởng đúng thì hành động đúng, tư tưởng nhất trí thì hành động nhất trí, tư tưởng thống nhất thì hành động thống nhất… Theo
Hồ Chí Minh: “Tư tưởng có thống nhất, hành động mới thống nhất Tư tưởng và hành động có thống nhất mới đánh thắng được giặc” [32, tr 75]
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Tư tưởng hẹp hòi, thì hành động cũng hẹp hòi, thì nhiều thù, ít bạn Người hẹp hòi ít kẻ giúp Đoàn thể hẹp hòi không thể phát triển” [30, tr 88]
Hồ Chí Minh chỉ rõ, sở dĩ có quan liêu, tham ô, lãng phí cũng như mọi khuyết điểm khác, nguồn gốc của nó là do tư tưởng không đúng Hồ Chí Minh cho rằng: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm Thí dụ: vì thiếu quan điểm quần chúng (tư tưởng), nên trong công tác mắc bệnh mệnh lệnh, quan liêu” [32, tr.114] Nói một cách chung nhất, Hồ Chí Minh kết luận “mỗi việc thành hay bại đều do tư tưởng đúng hay sai”
Trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng của tình hình trong nước
và quốc tế, Hồ Chí Minh càng đề cao vai trò của tư tưởng và lãnh đạo công tác
tư tưởng Trong điều kiện ấy, theo Hồ Chí Minh: “Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng, không kịp thời lãnh đạo, thì tư tưởng sẽ hỗn loạn, hành động sẽ hỗn loạn” [33, tr 553]
Trang 40Như vậy, có thể thấy rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng, bởi theo Người “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”; rằng “Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất” [33, tr 554 - 555] Công tác tư tưởng tự bản thân nó đã hàm chứa những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đa chiều, liên quan đến tâm tư nguyện vọng của cán bộ, đảng viên, nhân dân; liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu “Cán bộ lãnh đạo và cán bộ các ngành, tư tưởng
phải thông, phải thật thông Phải có quyết tâm khắc phục khó khăn, làm tròn nhiệm
vụ” [36, tr 530] “Phải đánh thông tư tưởng và động viên sáng kiến và lực lượng của toàn Đảng, toàn dân Mọi người quyết tâm làm cho được và tin tưởng làm nhất định được” [36, tr 555] Mỗi lần về thăm các nhà máy, công trường, hợp tác xã, Bác Hồ luôn nhắc nhở, động viên cán bộ, đảng viên, nhân viên “Muốn quản lý tốt thì cán bộ và công nhân phải thông suốt tư tưởng” [36, tr 572]
Trên cơ sở quy luật của công tác tư tưởng, Người đã trù liệu hệ quả khi đảng viên chưa thông suốt tư tưởng sẽ dẫn tới những biến dạng khôn lường “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” Như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng” [36, tr 606] Do đó mà Người luôn canh cánh kỳ vọng làm sao tư tưởng tiên tiến, tư tưởng XHCN phải trở thành chủ đạo, trường tồn cùng với Đảng, với cán bộ, đảng viên và nhân dân Người chỉ rõ “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại” [36, tr 590]
Qua những luận điểm trên, ta có thể thấy Hồ Chí Minh đặt vị trí lãnh đạo tư tưởng luôn ở hàng đầu và có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động, công tác và trong tiến trình cách mạng Việt Nam
2.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam - chủ thể lãnh đạo công tác tư tưởng theo quan điểm Hồ Chí Minh
Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản thành một đảng cách mạng chân chính, bộ tham mưu sáng