Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN HỒNG QUÂN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học : PGS, TS Đỗ Ngọc Ninh
HÀ NỘI, 2012
Trang 2
MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI
SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 7
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá tỉnh Vĩnh Phúc
và đời sống văn hoá ở nông thôn trước năm 1997 7
1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc 7
1.1.2 Nội dung cơ bản của đời sống văn hoá ở nông thôn Vĩnh Phúc 9
1.1.3 Khái quát về đời sống văn hoá ở nông thôn Vĩnh Phúc trước năm 1997 12
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn
hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc 14
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn
hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 14
1.2.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn trước năm 1997 14
1.2.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 17
1.2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn
từ năm 1997 đến năm 2000 và kết quả 23
1.2.2.1 Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,
mừng thọ 23
Trang 31.2.2.2 Về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá 30
1.2.2.3 Về xây dựng hương ước, quy ước 35
1.2.2.4 Về xây dựng thiết chế văn hoá 38
Tiểu kết 40
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 44
2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010 44
2.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010 44
2.1.2 Quan điểm, chủ trương của Nhà nước về xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010 46
2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010 và kết quả 55
2.2.1 Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ. 55 2.2.2 Về Xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá 61
2.2.3 Về Xây dựng hương ước, quy ước 67
2.2.4 Về xây dựng thiết chế văn hoá 71
Tiểu kết 74
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 77
3.1 Một số nhận xét về Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 77
3.1.1 Thành tựu và hạn chế 77
3.1.1.1 Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ 77
3.1.1.2 Về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá 80
3.1.1.3 Về xây dựng hương ước, quy ước 83
3.1.1.4 Về xây dựng thiết chế văn hoá 85
Trang 43.1.2 Nguyên nhân hạn chế 87
3.1.2.1 Chủ quan 87
3.1.2.2 Khách quan 88
3.2 Một số kinh nghiệm về Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 89
3.2.1 Kinh nghiệm về nhận thức và chỉ đạo 89
3.2.2 Kinh nghiệm về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ 90
3.2.3 Kinh nghiệm về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá 92
3.2.4 Kinh nghiệm về xây dựng hương ước, quy ước 93
3.2.5 Kinh nghiệm về xây dựng thiết chế văn hoá 94
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 110
Trang 5BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đi qua chặng đường hơn 25 năm, thu được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử Cùng với những thành tựu quan trọng về kinh tế, an ninh - quốc phòng, đối ngoại, vấn đề phát triển văn hoá - xã hội và xây dựng con người luôn luôn được Đảng coi trọng
và đạt kết quả đáng khích lệ
Trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, Đảng luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn trên các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó
có lĩnh vực văn hoá, chỉ đạo hoạch định các chính sách văn hoá nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 05 về Văn hóa - Văn nghệ trong cơ chế thị trường; Nghị quyết của Bộ Chính trị và các kết luận về văn hóa, văn nghệ (tháng 11 năm 1988); tháng 8 năm 1989, Ban Bí thư Trung ương
ra Chỉ thị số 52- CT/TW về đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình Văn học - Nghệ thuật; tháng 6 năm 1990, Ban Bí thư Trung ương ra Chỉ thị số 61- CT/TW
về công tác quản lý văn học - nghệ thuật; tháng 1 năm 1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết Trung ương 4 về một số nhiệm vụ văn hóa- văn nghệ những năm trước mắt; tháng 7 năm 1998, Hội nghị Trung ương 5 khoá VIII
ra Nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là cơ sở đặc biệt quan trọng để xây dựng nền văn hoá đất nước trong thời kì đổi mới Đó là nền văn hoá với vai
Trang 7hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
Nông nghiệp và nông thôn nước ta có một vị trí và vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổi mới Xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn là góp phần tạo nên động lực đẩy nhanh quá trình đổi mới, đồng thời góp phần tích cực vào công cuộc bảo tồn và chấn hưng văn hóa nước nhà, vì một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn và việc thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai mạnh mẽ công tác này Trong thời gian qua, đời sống văn hóa ở nông thôn Vĩnh Phúc đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc Tuy nhiên nông thôn Vĩnh Phúc phải đối diện với những thách thức lớn như: tình trạng mê tín dị đoan, các hủ tục, những thói quen lạc hậu, nạn bạo hành, ô nhiễm môi trường vẫn còn diễn biến phức tạp Bên cạnh đó, việc cưới, việc tang vẫn còn rờm rà gây phiền hà trong khu dân cư; ở nhiều nơi truyền thống gia đình, hàng xóm đang bị xem nhẹ Nhiều nơi đã gắn bảng Khu dân cư văn hóa, song còn mang tính hình thức, ở đó còn nhiều vấn đề văn hóa chưa đạt yêu cầu Tình hình nêu trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu thuộc về sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, nhất là từ năm
1997 (năm tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập) đến nay Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến nay, mà trọng tâm từ năm 1997 đến năm 2010 là rất cần thiết, để rút ra những điều bổ ích, làm cơ sở cho việc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá của Đảng bộ tỉnh trong những năm tới đạt kết quả cao hơn
Trang 8Để góp phần vào công việc nêu trên, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Việc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn được triển khai rộng khắp trong cả nước, ở Trung ương cũng như các tỉnh đều có những công trình nghiên cứu được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí:
- Bộ Văn hóa Thông tin, Cục văn hóa Thông tin cơ sở (1997), Một số vấn
đề xây dựng làng - ấp văn hóa hiện nay, Nxb Hà Nội Cuốn sách đã nêu rõ được
thực trạng của việc xây dựng làng - ấp văn hoá trên địa bàn cả nước và đề cập đến các vấn đề được coi như là giải pháp để làm tốt công tác xây dựng làng - ấp văn hoá
- Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (1997), Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Đề
cập đến vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội nói chung và sự nghiệp đổi mới nói riêng Cuốn sách chỉ rõ việc cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hoá với những tiêu chí mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước
- Bộ Văn hóa Thông tin, Cục Văn hóa Thông tin cơ sở (1998), Hỏi và đáp
về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hó, tổ chức và quản lý
lễ hội truyền thống, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Trình bày dưới dạng hỏi,
đáp đã giải đáp tất cả những vấn đề cơ bản liên quan đến việc xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, nếp sống văn hoá và tổ chức lễ hội truyền thống Cuốn sách có vai trò tuyên truyền, hướng dẫn mọi người hiểu được bản chất và cách thực hiện những vấn đề đã nêu sao cho phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 9- Dương Thanh Tam, Lê Văn Thinh (1999), Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung
cuốn sách phản ánh về phong trào do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ) Việt Nam chủ trì Trên cơ sở nêu bật những ý nghĩa của phong trào, cuốn sách đã đưa
ra một cách phân tích sâu sắc về những vấn đề thuộc về nội dung của phong trào
và hệ thống các giải pháp để thực hiện phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư" có hiệu quả
Những năm gần đây cũng có một số cuốn sách được xuất bản về vấn đề này, điển hình như:
- Ban chỉ đạo Trung ương (2000), Hỏi và đáp về phong trào Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, Nxb Hà Nội, Hà Nội Cuốn sách đã giải đáp những vấn
đề cơ bản về phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", từ nội hàm khái niệm cho đến việc hướng dẫn thực hiện phong trào
- Văn Đức Thanh (2001), Về xây dựng Môi trường văn hóa cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Xuất phát từ việc phân tích về khái niệm văn hoá,
tác giả đã đưa ra một cách nhìn nhận chi tiết về môi trường văn hoá ở nông thôn, đồng thời nhấn mạnh đến những yếu tố cần thiết phải xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh và một hệ thống các giải pháp để làm được điều đó
- Lê Quý Trấn, Nguyễn Văn Tam, Trần Thị Ánh Tuyết (2001),“Hội nông dân Việt Nam với phong trào gia đình văn hoá, thôn ấp, bản, làng văn hoá", Nxb
Lao Động, Hà Nội Trong công trình này nhóm tác giả đã nêu bật được vai trò của Hội nông dân với phong trào xây dựng gia đình văn hoá, thôn, ấp, bản, làng văn hoá Đồng thời đề cập đến những việc đã làm được và chưa làm được của Hội nông dân đối với phong trào Từ đó các tác giả rút ra những giải pháp cần thiết để nâng cao vai trò của Hội nông dân với phong trào
- Bu Thoong Chít Ma Ni - Trưởng Ban tổ chức Trung ương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Luận án tiến sĩ bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính
Trang 10quốc gia Hồ Chí Minh (2010), “Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay” Luận án đã trình bày một cách
hệ thống quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trong đó vai trò của yếu tố văn hoá là rất quan trọng
Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá
ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 Trên cơ sở đó Luận văn rút ra những kinh nghiệm
3.2 Nhiệm vụ
Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn vào lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của tỉnh (phân chia thành hai thời kỳ: từ năm 1997 đến năm 2000 và từ năm 2001 đến năm 2010), chỉ ra
ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn Thời gian từ năm
1997 đến năm 2010
- Về không gian, luận văn nghiên cứu đời sống văn hoá nông thôn và Đảng bộ Tỉnh lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá nông thôn trên địa bàn tỉnh
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa và phát triển văn hóa;
Trang 11đồng thời luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu về mặt lý luận của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận văn
Cơ sở thực tiễn của luận văn là: Thực trạng lãnh đạo xây dựng đời sống
văn hoá ở nông thôn của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010, thể hiện trong thực tiễn và trong các văn kiện, báo cáo sơ kết, tổng kết về lãnh đạo phát triển văn hóa của Tỉnh ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng trong tỉnh, các báo cáo của Ủy ban Nhân dân, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, các văn bản khác của các tổ chức, cơ quan trong tỉnh có liên quan đến văn hóa
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin và sử dụng các phương pháp lịch sử - logic, phân tích – tổng hợp, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
- Những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho Tỉnh uỷ và các cấp uỷ trong tỉnh trong quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn trong những năm tới và cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa
ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 12Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá tỉnh Vĩnh Phúc và đời sống văn hoá ở nông thôn trước năm 1997
1.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
Mê Linh Từ 1/8/2008 huyện Mê Linh đã được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội
Đến năm 2010, Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính (thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo, Bình Xuyên, Sông Lô), 112 xã với số dân nông thôn là 777.354 người chiếm 77,75% [10, tr.14]
Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông đa dạng gồm đường sắt, đường bộ và đường thuỷ; ở gần sân bay Quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), vì vậy rất thuận lợi cho phát triển kinh tế,
Trang 13Vĩnh Phúc có 3 vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và vùng núi, cùng với nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm tương đối dồi dào, do vậy hết sức thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, xây dựng
và du lịch - dịch vụ
Tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Rừng quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, Đầm Và, Đầm Vạc Nhiều di tích lịch sử, văn hoá mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như: danh thắng đền thờ Quốc mẫu Tây Thiên, thiền viện trúc lâm Tây Thiên, tháp Bình Sơn, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu có gần 250 di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng Những làng nghề nổi tiếng như làng gốm Hương Canh, làng rèn Lý Nhân, làng mộc Bích Chu, làng thương mại Thổ Tang
Trong những năm qua Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững Vào thời điểm tái lập tỉnh, xuất phát điểm nền kinh tế rất thấp, kinh tế thuần nông, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 52% giá trị GDP, công nghiệp chiếm 12,86%; thu nhập bình quân đầu người là 140 USD; thu ngân sách gần 100 tỷ đồng Sau khi tái lập tỉnh, tăng trưởng bình quân GDP từ năm 1997 đến năm
2000 đạt 17,8%, giai đoạn 2001-2006 đạt 16,2%, giai đoạn 2006-2010 đạt là 18,0%/năm Năm 2007 cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp, xây dựng chiếm 61,06%; dịch vụ chiếm 24,68%; nông, lâm, thủy sản 14,25% Các nguồn lực được khai thác hiệu quả, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt cao
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo, Vĩnh Phúc sớm đạt được các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ năm 2002); tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2007 đạt 36,4% Duy trì được vị trí là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng Công tác
Trang 14chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, các dịch vụ y tế ngày càng được đảm bảo, năm 2007, toàn tỉnh có gần 90% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã; 80% trạm y tế xã, phường có bác sỹ; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm dần còn 18,7%
Vĩnh Phúc cũng là xứ sở của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như: Xoan ghẹo, Xa mạc, Trống quân… của nhiều trò chơi, sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo như: lễ hội Tây Thiên, chọi trâu (Hải Lựu), kéo song (Hương Canh), hát Sọong cô của dân tộc Sán dìu
1.1.2 Nội dung cơ bản của đời sống văn hoá ở nông thôn Vĩnh Phúc
Một là, việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ:
Việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ là vấn đề mang tính lịch sử tồn tại
từ lâu đời và hết sức nhạy cảm, đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cộng đồng dân
cư và mỗi con người gồm những phong tục, tập quán tốt đẹp và những hủ tục lạc hậu Bên cạnh đó là những ảnh hưởng của các nền văn hoá các nước lân cận và nền văn hoá phương Tây trong thời kỳ nước ta bị phong kiến, thực dân, đế quốc
đô hộ trước đây và hiện nay là quá trình hội nhập quốc tế
Cưới, tang, lễ hội tác động đến mọi khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ở nông thôn Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội sẽ góp phần quan trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm “nền tảng tinh thần” và là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh
Hai là, xây dựng Gia đình văn hoá (GĐVH), Làng văn hoá (LVH):
Gia đình là tế bào của xã hội, do đó, văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Gia đình tốt là cơ sở bảo đảm cho đời sống văn hoá của dân tộc lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để phấn đấu đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh
Trang 15Văn hóa gia đình là một bộ phận, là cái “gốc” của văn hóa làng, văn hóa nước Vì vậy, việc đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa không thể tách rời việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá từ góc độ văn hóa gia đình Nghĩa là, cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa và tiêu chí gia đình văn hóa phải dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Đồng thời trong quá trình xây dựng gia đình văn hóa phải biết giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Đó là cơ sở rất quan trọng để xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống tốt đẹp, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh từ trong mỗi gia đình, chống lại sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội và những tác động xấu từ mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay đến đời sống văn hoá cộng đồng
Xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng mô hình gia đình phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Xây dựng gia đình văn hóa vừa phải kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của gia đình, vừa xây dựng những giá trị văn hoá của gia đình trong thời kỳ mới phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội văn minh, nhằm mục tiêu làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người
Ba là, xây dựng hương ước, quy ước:
Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến đời sống của cộng đồng dân cư sinh sống trong làng, được hình thành dần dần trong lịch sử, được điều chỉnh và bổ sung khi cần thiết Các điều ấy, trong các chế độ xã hội trước đây thường gọi là lệ làng Hương ước còn có cách gọi khác như: Hương biên, hương lệ, hội đình, hội ước…
Trong xã hội hiện đại, hương ước có thể xem là hệ thống các quy định tồn tại song song với pháp luật nhưng không đối lập với pháp luật Hương ước đề cập tới những nội dung cụ thể gắn với hoàn cảnh phong tục, tập quán lâu đời của từng làng, là những nội dung mà các bộ luật của Nhà nước không đề cập đến
Trang 16Hương ước được xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ giữa các thành viên của cộng đồng làng, xã với nhau, giữa mỗi thành viên với cộng đồng, giữa các cộng đồng nhỏ trong làng (xóm, họ…) và làng
Hương ước không chỉ đề ra các hình thức trừng phạt với các việc làm sai trái mà còn đề ra những hình thức khen thưởng việc tốt, có ích cho làng
Nội dung của các bản hương ước thường gồm 4 loại quy ước:
1 Những quy ước về chế độ ruộng đất
2 Những quy ước về việc khuyến nông, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi
trường
3 Những quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch
trong làng
4 Những quy ước về văn hoá tinh thần và tín ngưỡng
Như vậy có thể thấy nội dung, vai trò, và sự ảnh hưởng to lớn của hương ước đối với sự phát triển của làng xã Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng Có thể thấy, Hương ước chính là một văn bản đặc biệt quan trọng trong đời sống làng xã Trong đó, có rất nhiều thuần phong mĩ tục, các nét đẹp, các giá trị truyền thống của từng làng xã Hương ước có thể thúc đẩy, cũng có thể là cản trở đối với sự phát triển của làng, xã Vì vậy, yêu cầu đặt ra khi xây dựng những bản hương ước phải phù hợp với nếp cảm, nếp nghĩ của từng địa phương, đồng thời phải tuân thủ pháp luật, phù hợp với thực trạng phát triển của mỗi địa phương Tiếp thu những yếu tố tích cực của hương ước cũ để xây dựng hương ước mới ở các làng hiện nay là việc làm cần thiết để góp phần xây dựng và nâng
cao đời sống văn hóa ở các xóm làng
Bốn là, xây dựng thiết chế văn hoá:
Xây dựng thiết chế văn hoá ở nông thôn gồm ba bộ phận: cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá, đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá và các cơ chế, chính sách văn hoá nông thôn Cụ thể là:
Trang 17Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá: Cần quan tâm vận động nhân dân tích cực thực hiện nội dung này theo phương châm Nhà nước
và nhân dân cùng làm, tạo kết quả bước đầu, tạo tiền đề cho việc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá ở nông thôn: Các địa phương đã quan tâm đến vấn đề này, nhưng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện hiện nay Ở cấp xã chỉ có một cán bộ chuyên trách làm công tác văn hoá, ở nhiều thôn, xóm cán bộ làm công tác văn hoá phải kiêm nhiệm hoặc không có Cán bộ làm công tác văn hoá là bộ phận cấu thành có tính quyết định vấn đề thiết chế văn hoá nông thôn Vì vậy, phải bắt đầu từ khâu cán bộ có năng lực, sở trường để đào tạo, đào tạo lại, đồng thời có phương án tăng thêm về số lượng cán bộ văn hoá cho cấp xã, thôn xóm
Các cơ chế, chính sách văn hoá nông thôn: Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đây là cơ sở rất quan trọng để xây dựng cơ chế, chính sách văn hoá nông thôn
1.1.3 Khái quát về đời sống văn hoá ở nông thôn Vĩnh Phúc trước năm
1997
* Thành tựu:
Đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc so với thời kỳ trước đổi mới đã có bước phát triển, tiến bộ rõ rệt, nhiều nét mới về giá trị văn hoá, đạo đức và lối sống của nhân dân từng bước được hình thành Đó là tính năng động, tính tích cực của công dân, không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội từng bước được tăng lên
Bước đầu hình thành một số nghi thức mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ Cải tạo có kết quả một bước phong tục tập quán lạc hậu, đạo lý uống nước nhớ nguồn, hiếu thảo, thuỷ chung được phát huy
Trang 18Cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH đã đạt được những kết quả đáng
kể Kinh tế có bước phát triển và tăng trưởng tương đối cao, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi Kết quả xây dựng GĐVH, LVH đã góp phần vào việc ổn định tình hình chính trị, đảm bảo trật tự
an toàn xã hội, khơi dậy, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Một số thiết chế văn hoá mới được xây dựng và phát huy tác dụng Tỉnh
đã có Đài Phát thanh Truyền hình, Báo Vĩnh Phúc, 11 tờ tin và tạp chí của các
sở, ban, ngành, đoàn thể Có 6 đài truyền thanh huyện, thị, 88 đài truyền thanh
cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa thông tin cần thiết tới người dân, đặc biệt là ở các xã miền núi [84, tr.3]
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh (UBND) đã ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của lễ hội truyền thống, quy định về sửa chữa và xây dựng nơi thờ tự, về xây dựng GĐVH, LVH giai đoạn 1998 -
2004, xây dựng quy định về tổ chức việc cưới, tang, lễ hội Các công trình như nhà văn hoá, sân chơi, bãi tập được xây dựng các vùng nông thôn trong tỉnh, tạo điều kiện cho nhân dân hoạt động văn hoá
* Hạn chế:
Về việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ: do đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, có lúc các cấp uỷ đảng trong Tỉnh đã có phần buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hoá, xã hội Nhiều cấp uỷ còn xem nhẹ việc giáo dục nếp sống và lối sống, còn chưa hướng dẫn kịp thời về duy trì các phong tục, còn thiếu những quy định cụ thể đối với việc cưới, việc tang, lễ hội nên nhiều hiện tượng không lành mạnh đã nảy sinh và phát triển ở nhiều nới
Nhiều gia đình ở nông thôn, trong đó có cả gia đình cán bộ có chức, có quyền, vì những động cơ vụ lợi, hiếu danh, đã tổ chức đám cưới, đám tang linh đình phô trương, thực chất là "Bán cỗ thu tiền" Nạn ma tuý mại dâm và các tệ
Trang 19nạn xã hội khác có chiều hướng gia tăng; mê tín, dị đoan cùng nhiều hủ tục, kể
cả một số hủ tục mới hình thành do thói đua đòi và do cách học theo nước ngoài thiếu sự phê phán, chọn lọc, đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển
Cuộc vận động xây dựng dựng GĐVH, LVH còn nhiều hạn chế, yếu kém, kết quả đạt được không đồng đều Đời sống nhân dân tuy có bước cải thiện, nhưng nhìn chung vẫn còn khó khăn Các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn có hiệu quả, ở nhiều nơi lại có chiều hướng gia tăng Tình hình phạm pháp, mâu thuẫn trong nhân dân, khiếu kiện đông người còn xảy ra phức tạp ở một số nơi
Việc xây dựng hương ước, quy ước làng xã ở một số nơi chưa được sự quan tâm thường xuyên của cấp uỷ, chính quyền và sự phối hợp của các ban ngành, đoàn thể trong Tỉnh
Thời lượng phát sóng, phát hình của Đài phát thanh và truyền hình Tỉnh tuy đã tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân Báo Vĩnh Phúc tuần 3 kỳ, song số lượng phát hành còn ít Kinh phí đầu tư cho xây dựng nhà văn hoá thôn, xã, các công trình văn hoá, thể thao còn hạn chế Các văn bản pháp quy
về hoạt động văn hoá còn chưa đầy đủ và đồng bộ nên hạn chế việc quản lý các hoạt động văn hoá trên địa bàn Tỉnh Bộ máy tổ chức và quản lý văn hoá chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ mới
1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000
1.2.1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn trước năm 1997
Việt Nam có một nền văn hóa lâu đời, phát huy giá trị to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Từ khi Đảng ra đời, nhất là từ khi trở thành Đảng
Trang 20cầm quyền, Đảng luôn quan tâm đến sự phát triển văn hoá dân tộc Cùng với quá trình thực hiện đường lối cách mạng, đường lối văn hóa của Đảng cũng dần được hình thành và từng bước được bổ sung, điều chỉnh theo yêu cầu của cách mạng, phù hợp với xu thế của thời đại và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân
Từ cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (1930) đến Đề cương văn hóa của Đảng (1943) và các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, cùng với việc xây dựng nền văn hóa mới, Đảng luôn coi trọng xây dựng đời sống văn hóa ở các vùng, miền đất nước, trong đó có vùng nông thôn rộng lớn
Trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) Đảng đã nêu rõ ba đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam là “Tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng” Sau đó là những bức thư, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ và nhất là tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đã xác định rõ đường lối văn hóa Mác xít ở Việt nam Vì vậy từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, một nền văn hóa mới đã từng bước được hình thành, phát triển và đạt được những thành tựu đáng tự hào Nền văn hóa mới đã “cổ vũ quần chúng đấu tranh và sản xuất vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội và góp phần xây dựng cuộc sống mới, con người mới” [42, tr.31- 32]
Sau khi giành được chính quyền (8/1945) và trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc xây dựng nền văn hoá mới Đạt thành tựu to lớn và tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu, trong đó có những kinh nghiệm xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn
Đại hội Đảng toàn quốc IV (12/1976) đã chỉ rõ: "cần phải có những chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào hoạt động văn hoá, văn nghệ; đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa văn nghệ của nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ nơi đông người đến những vùng xa xôi hẻo lánh Phải tổ chức đời sống ở vùng kinh tế mới, các nông
Trang 21trường, lâm trường, công trường, miền núi và hải đảo Ở các xã, ấp, làng, bản cần xây dựng những công trình văn hoá quy mô vừa và nhỏ mang mầu sắc địa phương khác nhau, thể hiện tính phong phú của nền văn hóa chung của dân tộc ta" [37, tr.113]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982) tiếp tục nhấn mạnh việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở "cần phải đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi
xã, hợp tác xã, phường, ấp đều có đời sống văn hoá Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm
vụ phải xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của từng vùng Phải hết sức chăm lo xây dựng văn hóa ở nông thôn" [38, tr.102]
Từ năm 1986, trên tinh thần đổi mới toàn diện và sâu sắc đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng đã có những nhận thức mới về vai trò, vị trí của văn hoá
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
đã khẳng định: "kinh tế và văn hóa là hai mặt tác động qua lại lẫn nhau nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người" [39, tr.10]
Quá trình mở cửa trong những năm đổi mới đã làm sống động và khởi sắc môi trường văn hóa Tuy nhiên, những mặt trái của nó ở nhiều nơi đã ảnh hưởng xấu đến môi trường văn hóa và tác động xấu đến một số điểm của nhân cách con người Vì thế, việc xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh không chỉ có ý nghĩa lâu dài đối với việc chủ động phòng chống “Văn hóa đen” và tệ nạn xã hội mà còn tạo dựng được lối sống và lẽ sống mới, thuận lợi cho quá trình hình thành nhân cách ở mỗi con người
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (7/1996), Đảng ta đã xác định phải xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm đã bản sắc dân tộc và chỉ
Trang 22rõ cần phải “Củng cố và tăng cường mạng lưới văn hoá cơ sở” [41, tr.111] Việc Đảng ta chăm lo đến đời sống văn hóa cơ sở nhằm mục đích “Nâng cao hiểu biết
và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở mọi vùng đất nước, hướng nhân dân
về nếp sống văn hóa, văn minh, chống các hủ tục mê tín dị đoan” [41, tr.111]; đồng thời để “đưa các nhân tố văn hoá, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ cách ứng xử trong gia đình, trường học cho đến các hoạt động sản xuất, giao tiếp…” [41, tr.112]
1.2.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000
Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo
cơ bản, 10 nhiệm vụ cụ thể và 4 nhóm giải pháp lớn để toàn Đảng, toàn dân phát huy nội lực xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Sau khi đánh giá về thực trạng nền văn hóa ở nước ta, Nghị quyết đã
đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa Hai trong những nhiệm vụ cụ thể được Đảng ta quan tâm là xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới và xây dựng môi trường văn hóa Hai nhiệm vụ này gắn kết với vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới là xây dựng con người “có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái” [40, tr.59]
Việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn còn nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hóa, tức là phải “tạo ra các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường… ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân” "Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của
Trang 23gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội” [40, tr.59- 60]
Sự coi trọng việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn của Đảng là
"nhằm giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam, xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đồng thời là
để thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân” [40, tr.60]
Để thực hiện được điều đó, Đảng chủ trương “đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong việc xây dựng nếp sống văn minh” Bên cạnh đó, Đảng cũng nhấn mạnh vào việc “phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia” [40, tr.60] Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa” “Ban hành chính sách khuyến khích sáng tạo văn hóa và khả năng đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân” [40, tr.69]
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh: “Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, đẩy lùi các hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực và gây rối trật tự công cộng” [40, tr.69]; “cải thiện đời sống văn hóa ở những vùng đời sống văn hóa còn thấp kém, nhất là những vùng sâu, vùng
xa, vùng núi, biên giới hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đáp ứng nhu cầu bức thiết về đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân” [40, tr.70]
Một trong những giải pháp lớn để phát triển văn hóa là dành sự ưu tiên cho việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn bằng việc: “Phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, huy động mọi lực lượng của nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà
Trang 24nước, các đoàn thể, ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào” Phong trào này, bao gồm các phong trào như: Người tốt việc tốt; Uống nước nhớ nguồn; Đền ơn đáp nghĩa; Xóa đói giảm nghèo; Xây dựng gia đình văn hóa, làng, xã, phường văn hóa; Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư … Toàn bộ các phong trào này đều vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [40, tr.71]
Ngày 12/1/1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Chỉ thị số 27-CT/TW về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội Mục đích của Chỉ thị nhằm mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, trong đó yếu tố đầu tiên là việc thiết lập nếp sống lành mạnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Chỉ thị nêu rõ những định hướng trong việc cưới, việc tang, lễ hội: Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu; nghiên cứu xây dựng và hình thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi; Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan
Chỉ thị chỉ rõ những công việc cần làm: Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp phải thực sự quan tâm, có kế hoạch cụ thể chỉ đạo xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương; phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về Nếp sống văn minh - Gia đình văn hóa
Ngày 28/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: "các ngành, các cấp có kế hoạch và tổ chức những hoạt động
Trang 25cụ thể nhằm triển khai có hiệu quả cuộc vận động này với các nội dung chủ yếu như sau:
+ Các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể phù hợp với thực tế của mình và triển khai thực hiện tới tận cơ sở, coi đây là công tác trọng tâm
+ Kiện toàn Ban Chỉ đạo nếp sống văn hóa ở các địa phương, Trưởng ban chỉ đạo do 1 Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân đảm nhiệm, Phó Trưởng ban là Thủ trưởng cơ quan Văn hóa - Thông tin và mời đại diện ủy ban Mặt trận Tổ quốc tham gia, thành viên là đại diện một số ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội Văn phòng Ban Chỉ đạo đặt tại cơ quan Văn hóa - Thông tin
+ Tổ chức chỉ đạo, thực hiện cuộc vận động này và lồng ghép vào cuộc vận động ''Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư'' do ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động [95, tr.2- 3]
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, ngày 11/7/1998, Bộ Văn hoá Thông tin ra Thông tư số 04/1998/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Thông
tư thể hiệ rõ tinh thần Chỉ thị của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, nêu rõ việc thực hiện việc cưới, tang, lễ hội phải tuỳ điều kiện từng địa phương
Ngày 19/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đề ra Chương trình hành động số1109/CP-VX thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Tiếp theo, ngày 23/12/1999 thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 235/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo cuộc vận động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)
Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ về tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước Tiếp theo Nhà nước đã ban hành một loạt văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc
Trang 26ban hành và thực hiện hương ước, quy ước như: Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 19/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư; Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Liên bộ
Tư pháp, Văn hóa – Thông tin, Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, cụm dân cư Với nền tảng pháp luật này, hương ước mới đã được chính thức hóa và được triển khai mạnh mẽ trên toàn quốc Quy trình ban hành
và thực hiện hương ước mới được tiến hành như sau:
Hình thức thể hiện của hương ước:
- Về tên gọi: Thống nhất tên gọi chung là Hương ước hoặc Quy ước (làng, thôn, ấp, bản, cụm dân cư)
- Về cơ cấu: Có lời nói đầu ghi nhận truyền thống văn hóa của địa phương, nêu mục đích của việc xây dựng hương ước, các chương, mục, điều, khoản, điểm
Nội dung quy định của hương ước:
Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử
sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ
xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật Nội dung hương ước cần tập trung quy định về các vấn đề sau:
- Các biện pháp, phương thức thích hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân
- Bảo đảm giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục, thực hiện nếp sống văn minh trong ứng xử, giao tiếp, ăn, ở, đi lại, xóa bỏ hủ tục, phát triển các hoạt
Trang 27động văn hóa lành mạnh, xây dựng và phát huy tình làng nghĩa xóm, đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước
- Các biện pháp góp phần bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và tài sản công dân, bảo vệ môi trường sống
- Các biện pháp bảo vệ thuần phong, mỹ tục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội, thờ phụng ở địa phương; khuyến khích những lễ nghi lành mạnh, tiết kiệm
- Góp phần xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, xây dựng làng, thôn, bản, ấp, cụm dân cư văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đình và cộng đồng; xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa
- Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận động các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề ở địa phương
- Các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn góp phần phòng chống các tệ nạn xã và các hành vi khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước:
Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và sửa đổi,
bổ sung hương ước:
Hương ước được xây dựng một cách dân chủ, công khai, phù hợp với pháp luật, được chia theo 4 bước sau:
Bước 1: Thành lập các Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước Bước 2: Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vào Dự thảo hương ước
Trang 28Bước 3: Thảo luận và thông qua hương ước
Bước 4: Phê duyệt hương ước
Như vậy, có thể thấy, ở phạm vi chung toàn quốc, pháp luật điều chỉnh việc ban hành và thực hiện hương ước, quy ước đã khá đầy đủ và chi tiết
1.2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 và kết quả
1.2.2.1 Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ
* Chủ trương:
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII (tháng 11/1997) đã
đề ra chủ trương "Coi trọng việc xây dựng nếp sống văn minh hội hè lành mạnh, thực hiện tốt cuộc vận động lập lại trật tự kỷ cương trong lĩnh vực văn hoá, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm,
mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu về việc cưới, việc tang, khao thọ, giỗ chạp " [53, tr.45]
Ngày 18/2/1998, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ra Chỉ thị số 03/CT-TU về việc thực hiện nếp sống văn minh, làm lành mạnh việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ và yêu cầu: bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới và phát huy những thuần phong mỹ tục của địa phương; loại bỏ những phong tục tập quán lỗi thời lạc hậu, chống mê tín dị đoan, xây dựng và hình thành nếp sống văn hoá, văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ Xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ phải gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư"
Ngày 26/5/1998, Uỷ Ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc ra Quyết định số 1412/1998/QĐ-UB quy định tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ phải gắn liền với cuộc vận động xây dựng Làng văn hoá, gia đình văn hoá và thực
Trang 29hiện "Quy ước làng xã" tiến bộ ở khu dân cư, loại bỏ những hủ tục lỗi thời, lạc hậu, mê tín dị đoan, phô trương hình thức, tính toán vụ lợi:
- Việc cưới: Thực hiện đúng Luật hôn nhân và gia đình do Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam thông qua Cấm cưới tảo hôn,
khuyến khích kết hôn: Nam ở độ tuổi 25, nữ ở độ tuổi 22 trở lên
Việc kết hôn phải gắn liền với thực hiện chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình Không mời tràn lan, chỉ được tổ chức trong một ngày Không lợi dụng việc cưới để trục lợi; xoá bỏ hủ tục "Trả nợ miệng" Khuyến khích hình thức "Thiếp báo hỷ" sau ngày cưới
Một số tập quán lễ nghi truyền thống trước và sau lễ cưới như: Lễ chạm ngõ, ăn hỏi, lại mặt chỉ làm gọn nhẹ, đơn giản trong gia đình Phần vui văn nghệ trước, trong và sau hôn lễ không được tổ chức quá 23 giờ
- Việc tang: Việc tang là nghi thức bày tỏ tình cảm thương tiếc của
người đang sống với người đã chết và chia buồn với tang chủ, cần được tổ
chức chu đáo, trang nghiêm
Khi có người qua đời, gia đình tang chủ phải khai tử với chính quyền địa phương và thực hiện giữ gìn vệ sinh trong việc chôn cất người chết theo quy định của Bộ Y tế tại Thông tư số 29/TT-BYT ngày 21/10/1971 Không để người chết trong nhà quá 36 giờ
Người chết vì bệnh truyền nhiễm, sau khi có ý kiến của chính quyền, của cơ quan chức năng phải chôn cất ngay và thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định của Nhà nước
Khâm niệm: Nên giữ nghi lễ truyền thống tốt đẹp
Báo tang và lập ban lễ tang: Các xã, phường, thị trấn, cơ quan lập ban lễ tang Ban lễ tang có trách nhiệm kết hợp chặt chẽ và giúp đỡ gia đình tang chủ tổ chức chu đáo việc tang
Trang 30Lễ viếng và đưa tang: Tổ chức viếng theo điều hành của ban lễ tang Xoá bỏ hủ tục: Đội mũ rơm, buộc dây lưng, chống gậy, lăn đường, lăn huyệt, bắc cầu, luồn cầu, chèo đò cứu cạn Không phúng viếng bằng xôi, thịt họăc các đồ ăn chín
Không sắp cỗ mời khách trong đám tang Việc cúng 3 ngày, 49 ngày và
100 ngày giỗ dầu, giỗ hết, cải táng, xây mộ chỉ làm trong nội bộ gia đình
Những nơi có tập quán cải táng phải thực hiện giữ vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế, chỉ được cải táng sau 36 tháng trở lên Việc xây cất mồ mả phải không được quá 2m2/mộ
- Lễ hội: Tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh theo quy định ban hành kèm
theo Quyết định số 1691/QĐ - UB ngày 5/12/1997 của UBND tỉnh
Do bức xúc của tình hình lễ hội, trước khi có Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị,
ngày 5/12/1997, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 1691/QĐ-UB
quy định về việc quản lý và tổ chức lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, gồm:
+ Các hoạt động lễ hội phải đảm bảo các yêu cầu giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương, nâng cao lòng tự hào về quê hương đất nước;
tổ chức phải đảm bảo tiết kiệm, an toàn, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân giữ gìn
+ Chủ trì lễ hội có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, điều hành lễ hội diễn
ra trước, trong và sau lễ hội Thời gian tổ chức lễ hội xã, phường tổ chức trong phạm vi 01 ngày Quy mô phạm vi rộng trong khu vực thì tổ chức từ 2 đến 3 ngày
Trang 31+ Nội dung phần tưởng niệm phải đảm bảo tính lịch sử, có ý nghĩa giáo dục, không được thuê tế, dạy tế và cho người nơi khác đến địa phương mình tế Phần hội tái hiện các trò diễn dân gian đảm bảo hình thức phù hợp và tiết kiệm
+ Kết thúc lễ hội chậm nhất 15 ngày thì Ban Tổ chức có trách nhiệm báo cáo kết quả lên cơ quan cấp phép
Quyết định cũng quy định cụ thể về phạm vi, thẩm quyền, thủ tục, chủ trì, trang trí, thời gian, nghi thức, các hoạt động văn hoá của lễ hội
- Mừng thọ: Tổ chức mừng thọ là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, thể
hiện đạo lý kính trọng, quan tâm chăm sóc đối với người cao tuổi; cần được tôn trọng và tổ chức chu đáo Việc mừng thọ chỉ tổ chức vào dịp đầu xuân đối với các
cụ ở tuổi 70, 80, 90 (10 năm 1 lần) Xoá bỏ tục lệ "Khao thọ" mời khách ăn uống linh định
ra Nghị quyết chuyên đề về phát triển sự nghiệp văn hoá; HĐND huyện ra nghị
đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nên việc thực hiện nếp sống văn minh trong cưới, tang, mừng thọ, lễ hội, đã đạt được những kết quả nhất định, khơi dậy và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, loại bỏ mê tín dị đoan
và các tập tục cũ, lạc hậu không phù hợp
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Văn hoá thông tin - Thể thao có các băn bản hướng dẫn học tập triển khai và tổ chức thực hiện cụ thể Mặt trận Tổ quốc và
Trang 32các đoàn thể nhân dân như Liên đoàn lao động tỉnh, Tỉnh Hội phụ nữ, Tỉnh Đoàn thanh niên, Hội nông dân đã tích cực chủ động trong công tác tuyên truyền vận động giáo dục quần chúng, phổ biến quán triệt chỉ thị 27 - 14 - 03 tới các tầng lớp nhân dân thông qua vai trò của Mặt trận và các cấp hội cơ sở
Các ngành như: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh xã hội, Sở Giao thông, Sở Giáo dục - Đào tạo, Sở Y tế, Sở Tài Chính - Vật giá, Sở Tư pháp, Kho Bạc Nhà nước, Ngân hàng công thương, Ngân hàng nhà nước tỉnh đã tổ chức các hội nghị học tập quán triệt Chỉ thị trong đảng viên và công nhân viên chức, xây dựng thành quy định của ngành, đưa việc thực hiện Chỉ thị 27 - 14 - 03 thành tiêu chuẩn thi đua xếp loại đảng viên, chi đảng bộ trong sạch vững mạnh
Các huyện, xã đều thành lập ban chỉ đạo 2 cấp về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội Huyện Tam Đảo phổ biến Chỉ thị 27 tới 32 xã, thị trấn ngay cả khi Chỉ thị mới được in ra trên báo Nhân dân Huyện Vĩnh Tường có Quy định của UBND huyện về việc cưới, tang, lễ hội, mừng thọ trước khi có Chỉ thị 27 Các huyện, thị khác đều triển khai Chỉ thị 27 - 03 tới đảng viên
và quần chúng thông qua Hội nghị phổ biến quán triệt và thảo luận học tập trong các chi đảng bộ và các tổ chức đoàn thể quần chúng cơ sở
Sở Văn hoá thông tin - Thể thao đã tổ chức cuộc đồng khởi ra quân, huy động 7 xe thông tin cổ động của 7 đội thông tin lưu động, tuyên truyền lưu động
7 ngày trong phạm vi toàn tỉnh (1 ngày tại thị xã Vĩnh Yên, 6 ngày tại các huyện thị khác, đặc biệt tới các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa của tỉnh) Mỗi huyện
là một cụm cổ động lớn, nhiều khẩu hiệu kẻ vẽ trên bảng tường, băng dôn, pa nô,
áp phích được thực hiện và duy trì Trung tâm Văn hoá - Thông tin tỉnh thực hiện 1 cụ cổ động lớn 86m2, 60 khẩu hiệu trên biển tôn sắt, 20 băng dôn dọc đường tỉnh lỵ và các đường phố trung tâm thị xã Vĩnh Yên In 30 băng cát sét cho các đội thông tin đi tuyên truyền lưu động [77, tr.12.] Phối hợp cùng với
Trang 33Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tổ chức cuộc thi tranh cổ động và tranh biếm hoạ về
đề tài thực hiện nếp sống mới
Việc tuyên truyền báo chí đã được thực hiện thường xuyên, liên tục, có hiệu quả Từ khi có Chỉ thị 27, Báo Vĩnh Phúc thường xuyên có những tin bài, tranh ảnh tuyên truyền, cổ động Nhiều chương trình truyền hình, phát thanh với nhiều thể loại đa dạng hong phú đã nêu được nhiều điển hình tiên tiến làm tốt ở nhiều địa phương Đặc biệt các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên và thị xã Vĩnh Yên gắn liền với chủ đề xây dựng nông thôn mới, xây dựng GĐVH, LVH và chủ đề xây dựng cuộc sống mới
ở khu dân cư
Các ban ngành, đoàn thể như Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Văn hoá thông tin - Thể thao, Hội phụ nữ, Tỉnh Đoàn, Hội Cựu chiến binh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng 6 bản tin nội bộ của các huyện uỷ luôn chú ý và thực hiện việc tuyên truyền phổ biến Chỉ thị 27 - 14 - 03 Hệ thống đài truyền thanh địa phương cơ sở với 105 đài, 1380 loa truyền thanh đã có chương trình tuyên truyền thường xuyên liên tục về Chỉ thị 27 - 14 - 03
Khi chưa có Chỉ thị 27-03, ở nhiều xã tình trạng cưới tảo hôn, tục thách cưới, ăn uống tràn lan, hút thuốc lá, nghi thức dạm, hỏi, xin cưới, rườm rà, gây lãng phí về thời gian, tốn kém về kinh tế cho gia đình Khi thực hiện Chỉ thị, các thủ tục nghi thức truyền thống, dạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới được tổ chức gọn nhẹ
và thuận tiện, không bày cỗ linh đình, tiệc cưới hầu hết được tổ chức trong 1 ngày, trong phạm vi gia đình nội, ngoại bạn bè thân thích, không hút thuốc lá, không mở đài loa công suất lớn quá giời quy định Xuất hiện một số Quy ước kiểu mẫu ở Phong Doanh, Thổ Tang, Bích Đại (huyện Vĩnh Tường),Chi Chỉ (huyện Yên Lạc), Hợp Thịnh (Tam Dương), Thanh Lãng (Bình Xuyên) quy rõ việc cưới, tang, lễ hội
Trang 34Ngay trong năm 1998 việc cưới ở các vùng nông thôn của tỉnh đã có những chuyển biến nhanh, rõ nét Cơ bản đã chấm dứt tệ nạn ăn uống tràn lan, kéo dài nhiều ngày Việc tổ chức đã trở nên gọn nhẹ, tiết kiệm, không còn phô trương, tiêu cực như trước đây Chi phí cho một đám cưới ở nông thôn giảm hẳn
Một số vùng nông thôn thuộc các huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương có quy định riêng về ngày cưới, ngày cải táng được nhân dân đồng tình ủng hộ đã trở thành tập quán mới ở địa phương Huyện Vĩnh Tường có mẫu thống kê hàng tháng gửi cho các cơ sở tổng hợp báo cáo trong hội nghị giao ban các trưởng ban văn hoá xã Huyện Yên Lạc xây dựng mô hình phòng cưới do Đoàn Thanh niên chủ trì tại các xã Tế Lỗ, Trung Hà Huyện Mê Linh chỉ đạo thí điểm lễ đăng ký kết hôn ở thị trấn Phúc Yên Các xã Hợp Thịnh, Thanh Vân (Tam Dương), Thanh Lãng (Bình Xuyên) khôi phục lại phòng cưới ở xã, không
tổ chức ở gia đình Các đối tượng gia đình vi phạm được áp dụng các biện pháp rất có hiệu quả như sau: Cảnh cáo trên loa truyền thanh, cắt điện thắp sáng, phạt hành chính, huỷ bỏ danh hiệu Gia đình văn hoá
Nhiều hủ tục cũ lạc hậu được loại bỏ như xã Ngọc Thanh (Mê Linh) bỏ thách cưới bằng bạc nén, lợn sống, bỏ lệ đi đưa dâu ngủ qua đêm Đồng bào dân tộc Sán Dìu, Dao, Cao Lan giản hẳn ăn uống tràn lan, kéo dài nhiều ngày Một
số địa phương huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc đã quy định thống nhất ngày cưới, ngày cải táng, ngày mừng thọ mà không theo lệ cũ phải xem ngày, xem giờ Một
số xã ở Mê Linh tổ chức cho đôi tân hôn đến nghĩa trang liệt sỹ làm lễ tưởng niệm
Các thủ tục về việc tang đều được quy định cụ thể trong hương ước của các thôn, làng; Tổ chức lễ tang, phúng viếng, an táng trang trọng, được chính quyền, đoàn thể và bà con lối xóm phối hợp chặt chẽ, giúp đỡ tận tình thể hiện tấm lòng tình nghĩa với người quá cố Không phúng viếng bằng lễ chín, khắc phục cơ bản được tình trạng bày cỗ mời khách ăn uống Các thủ tục như: đội mũ
Trang 35rơm, lăn đường được xoá bỏ, không có thủ tục cúng trừ trùng, yểm bùa nơi chôn cất Nghĩa trang nhân dân được quy hoạch khu hung táng, cải táng riêng, xây cất
mồ mả đúng quy cách Nhiều nghĩa trang nhân dân đã dần trở thành công trình văn hoá tưởng niệm của địa phương
Việc mừng thọ được thống nhất tổ chức trong một ngày vào dịp tết Nguyên Đán đối với các cụ 70- 80- 90 do UBMTTQ, Hội người cao tuổi đứng ra
tổ chức theo quy định, với ghi lễ trang trọng vui vẻ, tiết kiệm Hiện tượng khao thọ, mời khách ăn uống linh đình cơ bản được khắc phục
Năm 2000 có 5815 đám cưới, thực hiện tốt 3925 (67,5%); có 4326 đám tang, thực hiện tốt 3084 (71,3%); có 6556 lễ mừng thọ, thực hiện tốt 5291 (80,7%) [80, tr.12]
Về lễ hội, cơ bản đã được thực hiện theo quy định của UBND tỉnh Các lễ hội đã được chính quyền đoàn thể quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ có hiệu quả Hiện tượng lợi dụng lễ hội để trục lợi như hành nghề mê tín dị đoan: nổi đồng, xem bói, xóc thẻ dần dần được loại bỏ Lễ hội được tổ chức trang nghiêm, phong phú, thu hút được đông đảo nhân dân, khách thập phương đến dự, đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm linh, tín ngưỡng, đồng thời có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục truyền thống của quê hương đến với các tầng lớp nhân dân Ngoài ra lễ hội cũng được đưa vào nhiều hoạt động văn nghệ thể thao vui tươi lành mạnh, đồng thời khuyến khích khôi phục các trò chơi dân gian đậm đà màu sắc văn hoá riêng từng địa phương Lễ hội mùa xuân năm 2000 có 174 lễ hội, thực hiện đúng quy chế, có xin phép là 136 (77,9%) [80, tr.12]
1.2.2.2 Về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá
* Chủ trương:
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII (tháng 11/1997) đã chủ trương "Tăng cường công tác vận động xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá" [53, tr.45]
Trang 36Ngày 3/8/1998, UBND tỉnh Vĩnh Phúc ra Kế hoạch số 915/KH-UB về việc triển khai thực hiện nghị quyết Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Vĩnh Phúc khoá XII, kỳ họp thứ 5 về xây dựng GĐVH, LVH giai đoạn 1998 - 2004
Ngày 5/10/1998, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ra Chương trình số 04/CT-TU về Chương trình hành động thực hiện nghị quyết TW 5 khóa VIII Chương trình đã vạch ra chương trình nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa Vĩnh Phúc Chương trình hành động đã nhấn mạnh tập trung vào việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về xây dựng GĐVH, LVH tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1998 - 2004, Quy định của UBND tỉnh về tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ, kỷ niệm ngày truyền thống theo tinh thần chỉ thị 03 của tỉnh uỷ, đẩy mạnh cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"
Ngày 17/7/1998, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 07/1998/NQ-
HĐ về xây dựng GĐVH, LVH giai đoạn 1998 - 2004 (sau sửa đối đến năm 2005) Nghị quyết đã đề ra 4 tiêu chuẩn GĐVH, 4 tiêu chuẩn LVH cùng với các chỉ tiêu giải pháp xây dựng GĐVH, LVH đến năm 2004, rất phù hợp và đúng hướng khi Nghị quyết Trung ương 5 ban hành Mục tiêu về xây dựng GĐVH đến năm 2004 có từ 60% gia đình đạt tiêu chuẩn GĐVH Mục tiêu về xây dựng LVH
giải pháp quan trọng như: kiện toàn, tăng cường hoạt động của Ban chỉ đạo cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH, phát động phong trào toàn dân tham gia cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH; xây dựng nếp sống văn minh mới, tiến bộ ở nông thôn; xây dựng hương ước, quy ước; đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá, đầu tư, hỗ trợ sự nghiệp phát triển văn hoá
* 4 tiêu chuẩn Gia đình văn hoá là:
1 Mọi người trong độ tuổi lao động đều có việc làm, kinh tế gia đình
phát triển, hộ không thuộc diện đói nghèo
Trang 372 Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân, chấp hành đầy đủ các chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy ước của làng xã, khu dân cư
3 Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, con em trong độ tuổi đều đi
học và đạt được phổ cập cấp học do tỉnh quy định, giữ gìn được đạo đức thuần phong mỹ tục, không có người mắc các tệ nạn xã hội
4 Sống hoà thuận với làng xóm, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau
trong làng, xã, khu dân cư
* 4 tiêu chuẩn Làng văn hoá là:
1 Kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng từng bước được xây dựng và hoàn
thiện Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Không có hộ đói, giảm được hộ nghèo dưới mức bình quân chung của huyện Quan tâm chăm lo tới đời sống những người có công với nước, những người có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt Hoàn thành nghĩa vụ với nhà nước
2 Giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội ở địa
phương, đoàn kết nông thôn Không có các tệ nạn xã hội và hoạt động mê tín dị đoan, không có trọng án, không có khiếu kiện phức tạp và đông người
3 Sự nghiệp giáo dục phát triển, mọi người trong độ tuổi quy định đều
biết chữ, trẻ em trong độ tuổi đều được đi học đạt trình độ phổ cập cấp học do tỉnh quy định Công tác y tế đạt loại khá, thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình, đảm bảo vệ sinh môi trường
4 Phong trào văn hoá- thể thao phát triển Thực hiện việc cưới, việc
tang, lễ hội, mừng thọ theo đúng quy định của UBND tỉnh và quy ước của làng,
xã Xây dựng được cơ sở vật chất và tổ chức được các hoạt động văn hoá, thể thao như trạm truyền thanh, tủ sách, câu lạc bộ văn hoá, sân chơi, bãi tập thể thao cho thanh thiếu niên, hoạt động văn nghệ quần chúng, tổ đội thông tin
Trang 38truyền thông, xây dựng được quy ước văn hoá làng, xã Có quá nửa số làng và 60% gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá
Sau khi có Nghị quyết 07 của HĐND tỉnh, ngày 03/8/1998 UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch số 915/KH-UB kế hoạch cụ thể xây dựng GĐVH, LVH, đồng thời đề ra các giải pháp để các cấp các ngành căn cứ tổ chức thực hiện Kế hoạch đã quy định rõ việc củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo cuộc vận động xây dựng GĐVH- LVH ở ba cấp tỉnh, huyện, xã
* Tổ chức thực hiện và kết quả:
Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, Vĩnh phúc đã thành lập Ban chỉ đạo ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) do đồng chí Phó Chủ tịch UBND, phụ trách văn xã làm trưởng ban, đồng chí Giám đốc Sở Văn hoá thông tin - Thể thao và Chủ tịch UBMTTQ tỉnh làm phó ban, thống nhất cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư" do MTTQ chủ trì và cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH thành cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá"
Khi có Nghị quyết Trung ương 5 về văn hoá của Đảng, Ngành Văn hóa thông tin - Thể thao đã ban hành văn bản hướng dẫn quy trình soạn thảo và thực hiện Hương ước - Quy ước cùng các văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ công tác xây dựng GĐVH, LVH để cơ sở thực hiện
Các ngành Văn hoá, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Nông dân, Cực chiến binh Báo Vĩnh Phúc, Đài Phát thanh - Truyền các cấp đã tuyên truyền với một khối lượng lớn tin bài về các hoạt động xây dựng GĐVH, LVH Trong đó có thể kể đến vai trò hết sức quan trọng của hệ thống truyền thanh cơ sở với 105 đài, 1380 loa truyền thanh đã tuyên truyền rất
có hiệu quả về xây dựng GĐVH, LVH tại địa phương như đài truyền thanh các
xã Bình Dương, Thổ Tang, Vũ Di (Vĩnh Tường), Đình Chu (Lập Thạch), Nguyệt
Trang 39Thạch Đà (Mê Linh) góp phần đắc lực việc chuyển tải các nội dung chỉ đạo xây dựng GĐVH, LVH của cấp uỷ, chính quyền địa phương tới nhân dân
Mặt trận Tổ quốc và các ngành đoàn thể đã triển khai các chương trình lồng ghép xây dựng GĐVH, LVH: "Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới
ở khu dân cư", "Xoá đói giảm nghèo", "Thanh niên khoẻ để lập nghiệp giữ nước", "Người lớn gương mẫu, trẻ em chăm ngoan", phong trào an ninh tổ liên gia tự quản, làm đường giao thông nông thôn, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội, mừng thọ
Ngành công an, Lao động thương binh và xã hội tăng cường công tác phòng chống tệ nạn xã hội Ngành giáo dục quan tâm nhiều hơn đến xây dựng nếp sống văn minh trong trường học, phòng chống tệ nạn ma tuý học đường Ngành Y tế tăng cường củng cố tuyến y tế cơ sở nông thôn, triển khai các chương trình y tế vì sức khoẻ cộng đồng, Dân số kế hoạch hoá gia đình Các chương trình lồng ghép đã được phối hợp tốt hơn, hạn chế sự riêng rẽ, chồng chéo, trùng lặp so với trước đây, đồng thời tạo được hiệu quả cân đối giữa tăng trưởng kinh tế, đời sống với sự tiến bộ của các mặt văn hoá xã hội, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cơ sở trong định hướng xây dựng nông thôn mới, xây dựng các cộng đồng văn hoá tại mỗi địa phương
Ngành Văn hoá thông tin - Thể thao, với trách nhiệm là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH, đã cụ thể hoá Nghị quyết 07 - HĐND tỉnh và kế hoạch 915 - UBND tỉnh, chỉ đạo xây dựng hàng năm 7 điển hình tiên tiến LVH của tỉnh (mỗi huyện thị 1 đơn vị) Chủ động tham mưu và phối hợp với các ngành thuộc Ban Văn hoá - xã hội HĐND tỉnh tăng cường kiểm tra thực tế cơ sở, phát hiện uốn nắn những tồn tại hạn chế, điểu chỉnh hướng trọng tâm chỉ đạo cho các nội dung cơ bản: Soạn thảo và thực hiện Hương ước - Quy ước; Phát triển sự nghiệp thư viện, xây dựng Đội văn nghệ xã, đăng ký bình xét đúng tiêu chuẩn GĐVH, LVH và đầu tư hàng năm hơn 100
Trang 40triệu đồng cho xây dựng thiết chế văn hoá - thể thao tại các điểm chỉ đạo của tỉnh
Nhằm giúp cho cơ sở về nghiệp vụ xây dựng GĐVH, LVH, trong các năm
1998 - 1999, ngành đã phối hợp với Cục Văn hoá thông tin cơ sở (Bộ Văn hóa Thông tin), Ban Tôn giáo chính phủ, MTTQ tỉnh liên tục tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng Trưởng ban Văn hóa xã phường, các lớp hướng dẫn soạn thảo Hương ước - Quy ước và bồi dưỡng xây dựng GĐVH, LVH cho các đối tượng: Trưởng thôn, Trưởng làng, Trưởng khu hành chính Thành viên Ban soạn thảo Quy ước làng xã là các đối tượng có uy tín cao trong cộng đồng dân cư như Già làng - Trưởng bản
Các hoạt động sự nghiệp cũng hỗ trợ tích cực cho công tác xây dựng GĐVH, LVH như: rà soát chấn chỉnh các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá,
tổ chức các hội diễn văn nghệ quần chúng, các giải thi đấu thể dục thể thao, tôn tạo di tích, Bảo tồn dân ca, lễ hội truyền thống, thành lập các câu lạc bộ văn hoá văn nghệ thể dục thể thao, câu lạc bộ dân ca, khôi phục các đội chèo truyền thống
Kết quả xây dựng GĐVH, LVH năm 2000 có 134.030/ 217.581 chiếm 61,6% gia đình đạt tiêu chuẩn GĐVH; có 391/ 1452 làng chiếm 26,9% làng đạt danh hiệu LVH [80, tr.13]
1.2.2.3 Về xây dựng hương ước, quy ước
* Chủ trương:
Ngày 17/7/1998, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ra Nghị quyết 07/1998/NQ-HĐ
đã đưa ra nhiệm vụ "Xây dựng được hương ước, quy ước làng xã" [61]
Ngày 3/8/1998, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc ra Hướng dẫn
số 248/VH hướng dẫn chi tiết hơn vấn đề này phù hợp với hoàn cảnh cụ thể gồm những vấn đề như: nguyên tắc soạn thảo; nội dung cơ bản xây dựng quy ước LVH; quy trình biên soạn quy ước LVH; tổ chức thực hiện