Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng 1982 khẳng định lại những chủ trương về phát huy quyền làm chủ tập thể của Đại hội IV và nhấn mạnh: Trong công tác vận động quần chúng của Đ
Trang 1TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2007
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2012
Trang 2TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2007
Chuyên ngành
Mã số
: :
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
60 22 56
Hà Nội – 2012
Trang 33
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ………
Lời cam đoan ………
Mục lục ………
Danh mục các chữ viết tắt ………
MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ ở cơ sở và quy chế dân chủ ở cơ sở……… 11
1.1 Về dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ ở cơ sở……… 11
1.1.1 Dân chủ xã hội chủ nghĩa……… 11
1.1.2 Dân chủ ở cơ sở……… … .18
1.1.3 Quy chế dân chủ ở cơ sở……… 19
1.2 Tình hình nông thôn tỉnh Thái Bình trước khi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở……… 25
1.2.1 Khái quát đặc điểm tỉnh Thái Bình……… 25
1.2.2 Thực trạng phát triển nông dân, nông nghiệp, nông thôn của tỉnh…… 26
Chương 2: Chủ trương và quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2007……… 35
2.1 Đảng bộ tỉnh Thái Bình triển khai thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở……… 35
2.2 Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007……… 40
2.2.1.Trong lĩnh vực chính trị……… 40
2.2.2 Trong lĩnh vực kinh tế……… 58
2.2.3 Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội……… 64
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm……… 71
Trang 44
3.1 Nhận xét chung……… 71
3.1.1 Những thành công……… 71
3.1.2 Những tồn tại cần khắc phục……… 75
3.2 Những kinh nghiệm ……… 77
Kết luận……… 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 84
Trang 5Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân Vườn, ao, chuồng
Trang 66
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là một phạm trù lịch sử xuất hiện cách đây hàng ngàn năm Trong ngôn ngữ Hy Lạp cổ đã xuất hiện khái niệm: Democratia, là từ ghép của Demos (nhân dân) và Cratos (quyền lực) Như vậy, dân chủ là quyền lực thuộc
về dân
Cuộc đấu tranh của nhân dân lao động trải qua hàng ngàn năm nhằm giành dân chủ, giành quyền lực, trước hết là quyền lực nhà nước C.Mác, từ năm
1875, đã nói, dân chủ theo tiếng Đức là chính quyền của nhân dân Về sau,
Lênin, trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, năm 1917, cho rằng: Dân chủ là
một hình thái của nhà nước, nghĩa là có nhà nước dân chủ, cũng có nhà nước không dân chủ Kế thừa những tư tưởng của nhân loại và của dân tộc, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã quan niệm dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, dân làm chủ nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Người khẳng định:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…” [74, tr.698]
Dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ
xã hội chủ nghĩa, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, để phát triển xã hội Nền dân chủ mà chúng ta đang hướng tới là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ của đại đa số nhân dân lao động, trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công và được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội…được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm
Nhằm cụ thể hóa những tư tưởng, quan điểm về phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, ngày 18 - 2 -
1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30/CT - TW về thực hiện
Trang 77
quy chế dân chủ ở cơ sở Đây là một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, được
ban hành đúng lúc đã đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân và sớm đi vào cuộc sống Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ - CP ngày 11 - 5 - 1998 về thực hiện quy chế dân chủ ở xã (phường, thị trấn) Tiếp đến, ngày 28 - 3 - 2002, Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10/CT - TW, về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Ngày 7 - 7 - 2003, Chính phủ tiếp tục ra Nghị định số 79/2003/NĐ - CP ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở xã (phường, thị trấn) thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ - CP trước đó Đến năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết nâng Quy chế dân chủ ở cơ sở thành Pháp lệnh dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, nhất là ở nông thôn làng xã Đặc biệt, trong Cương lĩnh của Đảng tại Đại hội XI (năm 2011), đã đưa nội dung dân chủ lên trước nội dung công bằng, văn minh nhằm nhấn mạnh bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là xã hội dân chủ, dân chủ thực sự chứ không phải dân chủ hình thức Khi xây dựng, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, trước hết phải quan tâm đến dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân Điều đó cho thấy, Đảng đã xác định vấn đề dân chủ có một vị trí quan trọng đặc biệt trong xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trước khi có Quy chế dân chủ ở cơ sở, tỉnh Thái Bình đã xảy ra nhiều
“điểm nóng”, hệ thống chính trị cơ sở nhiều nơi hầu như bị tê liệt, bị vô hiệu hóa dẫn đến tình trạng mất ổn định Qua “điểm nóng” ở tỉnh Thái Bình cho thấy, việc để xảy ra mất ổn định ở nông thôn không phải chỉ có nguyên nhân kinh tế
mà còn do hiện tượng mất dân chủ kéo dài, làm người dân mất lòng tin, gây bất bình trong nhân dân, dẫn đến khiếu kiện đông người kéo dài nhiều ngày, thậm chí có những nơi đã xảy ra xô sát giữa người dân với cán bộ…
Quán triệt các văn bản của Bộ Chính trị và Chính phủ về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều Chỉ thị, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện quy chế này trên địa bàn
Trang 88
toàn tỉnh Thực hiện nội dung các văn bản trên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các tổ chức đoàn thể và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, trong khoảng 10 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở, tỉnh Thái Bình đã thu được những kết quả tích cực Quy chế dân chủ từng bước đi vào cuộc sống góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình vẫn còn những thiếu sót, hạn chế Để Quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc, rộng khắp, trở thành nề nếp, thường xuyên, lâu dài, hiệu quả, là động lực mạnh của sự nghiệp đổi mới, góp phần tích cực vào xây dựng thành công mô hình nông thôn mới ở Thái Bình, cần phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng - nhất
là đảng bộ cơ sở - trong việc tổ chức triển khai thực hiện Quy chế dân chủ Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng về sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ cơ
sở, tác giả chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề dân chủ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa xã hội trên thế giới Ở Việt Nam, mặc dù quy chế dân chủ ở cơ sở mới được ban hành thực hiện từ năm 1998, nhưng đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
và bài viết đề cập đến vấn đề này Dựa trên cách tiếp cận có thể chia ra thành hai nhóm nhỏ như sau:
- Nhóm thứ nhất, tiếp cận theo hướng đi từ góc độ nghiên cứu về vị trí,
vai trò và tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở để tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện vấn đề này ở cơ sở, tiêu biểu là các bài viết:
+ Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở do TS Lương Gia Ban
(Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
+ Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của PGS.TS Dương Xuân Ngọc, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
Trang 99
+ Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Cúc (Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002…
- Nhóm thứ hai, tiếp cận theo hướng đi từ tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện
vấn đề dân chủ ở cơ sở để khẳng định tính cần thiết phải cụ thể hóa về mặt chế tài pháp lý của Nhà nước nhằm bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có tính khả thi, với các bài viết:
+ Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đỗ Quang Tuấn
(Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
+ Phát huy dân chủ ở xã, phường do PGS.TS Vũ Văn Hiển (Chủ biên) + Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã đối với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở - Thực trạng và giải pháp do Đinh Văn Tư - Phó Trưởng ban Dân vận
Trung ương làm chủ nhiệm, năm 2001…
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần bổ sung lý luận về vấn đề dân chủ ở cơ
sở, làm cho Quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng hoàn thiện và áp dụng có hiệu quả trong đời sống, nhằm xây dựng một nền dân chủ thực sự của dân, do dân, vì dân Những công trình nghiên cứu kể trên cũng đã góp phần làm rõ nội dung,
bản chất, tính chất và cơ chế thực hiện dân chủ Đặc biệt, đề tài khoa học về “Sự
lãnh đạo của Đảng bộ xã đối với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở - Thực trạng và giải pháp” của Đinh Văn Tư - Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương
làm chủ nhiệm, đã đi sâu vào tìm hiểu bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; vị trí, vai trò của vấn đề dân chủ trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Tác phẩm cũng đã nêu những vấn đề lý luận chung về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và thực trạng của việc thực hiện Quy chế dân chủ
ở nông thôn nước ta Tuy nhiên, tác phẩm chưa đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể ở địa phương từ khi Quy chế dân chủ ở cơ sở được ban hành thực hiện như thế nào? Từ thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của địa phương đã mang
Trang 10sở (chủ yếu ở đơn vị xã, phường, thị trấn) từ khi Trung ương ban hành và triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007, cùng với những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn đó Những công trình nghiên cứu ở trên là
cơ sở để tôi kế thừa và phát triển luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích một số vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ ở cơ sở để làm rõ sự cần thiết phải thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay
- Phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007
- Đánh giá những kết quả bước đầu (thành công và hạn chế) trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007
- Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình
4 Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Trang 1111
- Những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (chủ yếu ở đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã))
- Kết quả thực hiện (bao gồm những thành công và hạn chế)
4.2 Phạm vi - giới hạn nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng những quan điểm của Đảng về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh (đơn vị hành chính cấp xã) trong các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tác giả lấy thời gian từ năm 1998 đến năm 2007 vì: năm 1998, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình ra Nghị quyết số 06-NQ/TU về những chủ trương, giải pháp ổn định tình hình trong tỉnh nhằm thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; năm 2007, là mốc thời gian 10 năm tỉnh Thái Bình triển khai các giải pháp thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời năm 2007, là năm Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội khóa XI ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Chính phủ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ; các văn kiện, các chủ trương, chính sách của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo việc thực thi Quy chế dân chủ ở cơ sở Bên cạnh đó, tác giả có kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã được công bố về vấn đề dân chủ ở cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú trọng sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, phân tích và tổng hợp kết hợp với phương pháp so sánh và điều tra xã hội học để nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu
Trang 1212
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn từ thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những cơ sở khoa học nhằm góp phần thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết:
- Chương 1: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ ở cơ sở
và Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Chương 2: Chủ trương và quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2007
- Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 1313
Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1 Về dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ ở cơ sở
1.1.1 Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là một phạm trù lịch sử xuất hiện sớm trong xã hội loài người Ngay từ thời cổ đại, thuật ngữ dân chủ (demo cratic) trong ngôn ngữ của người
Hy Lạp, là một từ ghép bao gồm hai từ Demos (nhân dân) và Cratos (quyền lực) Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là chính quyền của nhân dân Dân chủ gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, là nhu cầu thiết yếu của từng cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng người trong xã hội Dân chủ gắn liền với tiến
bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử loài người qua các thời đại và chế độ xã hội khác nhau Dân chủ là một trong những hình thái tổ chức chính trị nhà nước của xã hội thể hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân nắm mọi quyền lực Như vậy, dân chủ được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp, chỉ bản chất của dân chủ, dân chủ là quyền lực thuộc về dân; theo nghĩa rộng, dân chủ là chế độ chính trị, chế độ nhà nước Cùng với sự phát triển của xã hội, dân chủ trở thành những giá trị văn hóa, thành những nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc tập trung dân chủ
Với tư cách là quyền lực, dân chủ là sản phẩm của lịch sử Qúa trình hình thành và phát triển dân chủ luôn gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nhằm hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng giữa người với người Trong xã hội nguyên thủy, các cá nhân có quyền như nhau, quan hệ thân ái, bình đẳng, tự do Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dẫn tới nhà nước ra đời để bảo vệ quyền lợi cho một số ít người trong xã hội Sự phân hóa giàu nghèo và tình trạng bất công, bất bình đẳng xuất hiện Cuộc đấu tranh để khắc phục tình trạng đó nhằm xác lập một xã hội dân chủ bắt đầu diễn ra Vấn
đề dân chủ ra đời từ đó
Trang 1414
Dân chủ được xác định là giá trị của xã hội, dân chủ thuộc về thành quả
mà loài người sáng tạo ra và giành được qua các cuộc đấu tranh để cải biến tự nhiên và xã hội Dân chủ là kết quả của một quá trình lịch sử mà con người đạt được thông qua lao động, đấu tranh và sáng tạo để biểu hiện vai trò, sức mạnh của mình, khẳng định vị thế của mình trong đời sống xã hội Đó cũng là thước
đo để đánh giá tiến bộ xã hội Dân chủ gắn với tự do, bình đẳng và công bằng trong các mối quan hệ xã hội, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, giữa các dân tộc Sự phát triển của dân chủ mang tính xã hội gắn liền với quá trình nâng cao dân sinh, dân trí, dân luật, bảo đảm cho con người tiến dần tới tự
do
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định” [98, tr.653]
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng dân chủ là một phạm trù lịch sử có quá trình hình thành và phát triển lâu dài Với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân thực sự được giải phóng, thực sự làm chủ xã hội Chỉ có trong chế độ dân chủ vô sản, quyền làm chủ của nhân dân mới được phát huy mạnh mẽ Lênin khẳng định: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhiều mặt của chế độ dân chủ nguyên thủy tất nhiên sẽ sống lại, vì lần đầu tiên trong lịch sử những xã hội văn minh, quần chúng nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử và tuyển cử, mà cả vào việc quản lý hàng ngày nữa” [67, tr.143] Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích cho toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân
Trang 1515
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ dân chủ vô sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào cũng dân chủ gấp triệu lần, nhà nước xã hội chủ nghĩa so với bất cứ nước cộng hòa dân chủ tư sản nhất cũng dân chủ hơn gấp triệu lần vì dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc
Thứ nhất, về kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất
Thứ hai, trong chủ nghĩa xã hội mọi người đều được tham gia vào các công việc của nhà nước
Thứ ba, lãnh đạo nhà nước và xã hội là đảng cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc đấu tranh cho dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, đối tượng cần phải chuyên chính của dân chủ xã hội chủ nghĩa là thiểu số các lực lượng thù địch chống lại lợi ích của nhân dân lao động và cả dân tộc Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ trong khi chú trọng thực hành và phát huy dân chủ của nhân dân cần kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu, hành động đi ngược giá trị dân chủ chân chính Theo các nhà kinh điển, dân chủ xã hội chủ nghĩa không loại trừ đấu tranh giai cấp, chuyên chính nhất thiết có nghĩa là thủ tiêu dân chủ đối với giai cấp bị chuyên chính Lênin khẳng định: “Dưới chế độ
xã hội chủ nghĩa nhiều mặt của chế độ dân chủ nguyên thủy tất nhiên sống lại vì lần đầu tiên trong lịch sử xã hội văn minh quần chúng nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử mà cả việc quản lý hàng ngày nữa Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, mọi người sẽ lần lượt quản lý và sẽ mau quen với tình hình là không cần ai quản lý cả” [64, tr.143]
Những quan điểm trên đây của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ được chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng kế thừa vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện ở Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Ngay từ năm 1927, trong tác
Trang 1616
phẩm “Đường Cách mệnh” Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã chỉ rõ: Chúng
ta đã hy sinh làm cách mệnh thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người, thì mới khỏi hy sinh nhiều lần, thì dân chúng mới được hạnh phúc Năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng trình bày tại Hội nghị thành lập Đảng,
Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, trong đó dân chúng được tự do tổ chức; Nam nữ bình quyền…Đã cho thấy, ngay từ đầu trong việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một xã hội do nhân dân làm chủ
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Tiêu chí đầu tiên để phân biệt nhà nước Việt Nam được thành lập từ Cách mạng Tháng Tám với nhà nước thuộc địa nửa phong kiến trước đó
là dân chủ Điều I trong Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Hồ Chí Minh là Trưởng ban soạn thảo và được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 09-11-1946 viết: Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Toàn bộ lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 gồm 235 từ, trong đó cụm từ dân chủ được nói tới 4 lần: Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã lập nên nền dân chủ cộng hòa Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay là kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Một trong những nguyên tắc để xây dựng hiến pháp là bảo đảm các quyền tự do dân chủ, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi
Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền bính thuộc về nhân dân, do nhân dân nắm giữ Đây là nhà nước kiểu mới, do khác về bản chất với nhà nước phong kiến, tư sản nên việc tổ chức, nắm giữ và sử dụng quyền lực là thuộc về đại đa số nhân dân và do đại đa số nhân quyết định Bộ máy nhà nước từ Quốc hội đến Chính phủ do nhân dân bầu ra, được nhân dân ủy thác, thay mặt nhân dân để quản lý và điều hành đất nước theo ý chí và lợi ích của đại đa số nhân dân Điều đó cho thấy, ngay từ bước đầu thành lập nước, Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng tính dân
Trang 1717
chủ của nhà nước kiểu mới Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định chế
độ ta là chế độ dân chủ, nước ta là một nước dân chủ Hồ Chí Minh cho rằng: Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ; Chế độ ta là chế độ dân chủ - tức là nhân dân làm chủ; Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Với Hồ Chí Minh, trong một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ, người dân được đặt ở vị trí cao nhất, dân là chủ, dân làm chủ, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước dân chủ là phục vụ nhân dân, việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng phải ra sức làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng phải ra sức tránh Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật
Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm
Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [73, 57]
tr.56-Người căn dặn: “Phải làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ” [73, tr.101]
Dân là gốc của nước Hồ Chí Minh luôn tâm niệm: Phải làm cho dân có
ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành Trong một số trường hợp Hồ Chí Minh chỉ rõ, dân là chủ thì chính phủ là công bộc, là đầy tớ của nhân dân Theo Hồ Chí Minh, từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng để đè đầu cưỡi cổ nhân dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân là chủ thì chính phủ là đầy tớ…Nếu chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi chính phủ đi” [70, tr.270] Hồ Chí Minh nói tiếp, khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình thì dân phải giúp đỡ chính phủ Nếu chính phủ sai thì dân phải phê bình, phê bình không có nghĩa là chửi bới vì nấu cơm cũng phải
Trang 1818
mất 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa, lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong Hồ Chí Minh nhận thức được rằng, trong một nhà nước dân chủ, mọi quyền hành lực lượng đều ở nơi dân, nhưng dân phải sử dụng quyền lực đó một cách đúng đắn với tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân cao nhất
Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội Với Hồ Chí Minh, dân chủ là một thiết chế chính trị, là sản phẩm của tiến bộ xã hội, trong đó dân chủ xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về chất Suốt đời mình, Hồ Chí Minh phấn đấu cho một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh Mục tiêu này được Người khái quát lần cuối cùng trong Di chúc: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”
Hồ Chí Minh chỉ rõ, dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của sự phát triển Thực hiện dân chủ sẽ phát huy mọi tiềm năng của nhân dân phục vụ sự nghiệp cách mạng Theo Hồ Chí Minh, dân chủ, sáng kiến, hăng hái
ba điều đó rất quan hệ với nhau Giữa việc thực hành dân chủ, sự tham gia của quần chúng và thành công của cách mạng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ thu hút đông đảo quần chúng tham gia và quần chúng tham gia càng đông thì thành công càng đầy đủ Quán triệt quan điểm mácxít về vai trò động lực của dân chủ, từ thực tế xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh rút ra kết luận mang tính khái quát: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [72, tr.249]
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tư duy lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, việc thực hành và phát huy dân chủ không thể tách rời chấp hành nghiêm chỉnh kỷ cương luật pháp, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nhà nước bảo đảm quyền tự
do, dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do, dân chủ
Trang 1919
để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân Theo Hồ Chí Minh, trong chế độ dân chủ nhân dân, lợi ích của Nhà nước, của tập thể cùng lợi ích của cá nhân căn bản là nhất trí Vì vậy, trong khi được hưởng những quyền lợi do Nhà nước và tập thể mang lại cho mình thì mọi người công dân phải tự giác làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước, đối với tập thể Hồ Chí Minh khẳng định, nhân dân
có quyền làm chủ nhưng phải có nghĩa vụ của người làm chủ, việc nước là việc chung… Bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo…đều phải gánh vác một phần Như vậy, theo quan niệm của Người, dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm
Tiếp thu những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Đảng và Nhà nước luôn khẳng định: dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng nước ta Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, Đảng ta ngay từ ngày thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xác định mục tiêu cao cả và duy nhất của mình là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Đảng là người lãnh đạo, người đầy tớ thực sự trung thành của nhân dân Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm phục vụ đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Các cơ quan Nhà nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng cũng chỉ có một mục tiêu duy nhất là phục vụ nhân dân Lịch sử dân tộc ta trên 80 năm qua do Đảng lãnh đạo, những mục tiêu do Đảng
và Nhà nước đề ra không ngừng được thực hiện đã trở thành ngọn cờ tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, trở thành động lực to lớn cho cuộc đấu tranh của toàn dân giành và giữ nền độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng đã không ngừng thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đã xác định: “Chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân
Trang 2020
Việt Nam phải là chính quyền nhà nước tiêu biểu cho lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và dân chủ…” [50, tr.17-18] Điều 4 Hiến pháp 1959 khẳng định: Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân… Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định: “Điều kiện quyết định trước tiên là thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” [33, tr.49] “Quyền làm chủ tập thể của nhân dân bằng nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng phải được xác định bằng Hiến pháp và pháp luật Sức mạnh và nội dung cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa chính là quyền làm chủ tập thể của nhân dân Cần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa làm cho mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước đi vào khuôn phép và quy chế nghiêm chỉnh, thật sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể và bảo đảm quyền lợi cho công dân” [33, tr.146-147]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) khẳng định lại những chủ trương về phát huy quyền làm chủ tập thể của Đại hội IV và nhấn mạnh: Trong công tác vận động quần chúng của Đảng phải tôn trọng và phát huy hơn nữa quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động bằng chủ trương thực hiện khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được ghi trong chỉ thị
53 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) ngày 28/11/1984 Chỉ thị nêu rõ “phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần chúng”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng mở đầu công cuộc đổi mới đất nước với tinh thần, thái độ nghiêm túc “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” [34, tr.12] đã chỉ rõ: Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa
Trang 21là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng” [34, tr.29] Đại hội VII của Đảng (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã xác định: “Nhà nước có liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của công dân” [36, tr.309-310] Tiếp đó, trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tám (khóa VII) tháng 1 năm 1995 nhấn mạnh: Hoàn thiện những quy định
về bầu cử, ứng cử, hiệp thương giới thiệu người ứng cử Tăng thêm đại biểu là người ngoài đảng vào các cơ quan dân cử; Bảo đảm quyền của nhân dân giám sát hoạt động của Nhà nước; Cải tiến chế độ tiếp xúc, báo cáo của đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân với cử tri; Phát huy vai trò nhân dân tham gia quản lý nhà nước, vừa nâng cao chế độ dân chủ đại diện vừa mở rộng và phát huy chế
độ dân chủ trực tiếp, nhất là ở cơ sở Nghị quyết Hội nghị Trương ương tám (khóa VII) là bước đột phá trong việc đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm, trụ cột là nhà nước Nhiệm vụ trọng tâm cải cách một bước nền hành chính nhà
Trang 2222
nước, chính là đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân trong các giao dịch dân
sự, phát triển kinh tế, tổ chức đời sống - xã hội trong công cuộc đổi mới
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (1996) xác định: “Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân” [37, tr.19] Như vậy, đến Đại hội Đảng lần thứ VIII, cụm từ Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”được chính thức đưa vào văn kiện Đại hội Đại hội VIII tiếp tục xác định “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế
và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở” [37, tr.44]
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông qua Nghị quyết về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” Nghị quyết
đề ra nhiệm vụ đầu tiên là: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước” Với tinh thần:
“Nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng và có hiệu quả”
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Điều 11, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) khẳng định “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 23đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện chế độ dân chủ cho những người đại diện nhân dân trong những cơ quan đại diện là đủ Cần xây dựng ngay chế
độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống của nhà nước Dân chủ cho quần chúng nhân dân thực hành dân chủ rộng rãi chính là sức mạnh của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” [65, tr 249]
Cơ sở là nơi hàng ngày diễn ra mọi hoạt động đời sống của nhân dân, là nơi trực tiếp giải quyết các nhu cầu và lợi ích của nhân dân lao động Cơ sở là nền tảng của xã hội, là địa bàn mà mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được đưa vào cuộc sống của nhân dân, được tổ chức thực hiện một cách trực tiếp Cơ sở cũng là nơi thẩm định, đánh giá tính chuẩn xác, hiệu lực, hiệu quả của những chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật Cơ sở là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân,
là nơi mọi quyền lực của nhân dân dễ bị xâm phạm, nơi mà nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về dân chủ, cũng là nơi có điều kiện thực hiện quyền dân chủ một cách trực tiếp rộng rãi nhất
Ở nước ta hiện nay, cơ sở được xác định ở các loại hình: loại hình địa bàn hành chính gồm có xã, phường, thị trấn Dưới đó là thôn, làng, ấp, tổ dân phố, trong đó chủ yếu là thôn, làng, xã vì: nông thôn, làng, xã Việt Nam là nơi sinh
Trang 2424
sống của giai cấp nông - lực lượng xã hội đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư -
xã hội ở nước ta; loại hình cơ quan gồm: các cơ quan nghiên cứu tham mưu, các đơn vị hành chính sự nghiệp; loại hình doanh nghiệp gồm những đơn vị sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là thực hiện những nội dung về dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi đối với từng người dân, nhằm phát huy cao độ quyền làm chủ của nhân dân lao động trong phát triển sản xuất, tổ chức đời sống, quản
lý xã hội, giữ gìn an ninh trật tự cộng đồng Cơ sở là nơi diễn ra các trạng thái dân chủ về chính trị, tư tưởng, kinh tế, tổ chức, văn hóa xã hội…một cách trực tiếp, sinh động và rất nhạy cảm đối với con người
Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở và trình độ nhận thức đúng đắn với khả năng tổ chức thực hiện của mỗi người Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Dân chủ trực tiếp là mọi người dân đều được tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, các công việc của đất nước, tất cả công dân được tham gia một cách bình đẳng không phân biệt giới tính, địa
vị xã hội, tôn giáo… và được tham gia trực tiếp vào các quyết định liên quan đến chính trị, kinh tế, xã hội, đời sống dân sinh, được tham gia đóng góp ý kiến hay biểu quyết theo đa số Dân chủ trực tiếp còn được thể hiện qua việc bầu cử những người đại diện cho mình như bầu hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của những người đại diện,
cơ quan đại diện của chính quyền, hội đồng nhân dân, Quốc hội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện kết hợp, bổ sung lẫn nhau nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
Dân chủ ở cơ sở là nói tới sự làm chủ của nhân dân ở thôn, làng, xã, phường trong việc ban hành và thực hiện các quyết định quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội trước hết trong phạm vi thôn, xã Đối với cấp chính quyền cơ sở,
Trang 2525
việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có nghĩa là cán bộ ở đây phải nhận thức và hành động như những công bộc của dân, lắng nghe tôn trọng ý kiến của dân, tạo điều kiện để tâm tư, tiếng nói của người dân được thể hiện trong những quyết định của chính quyền
Dân chủ ở cơ sở là quá trình hiện thực hóa cơ chế hoạt động của hệ thống
tổ chức quyền lực ở cơ sở cho nhân dân được bảo đảm một cách trực tiếp và rộng rãi nhất những quyền được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra ở chính nơi mà người dân đang sinh sống hàng ngày Thực hiện tốt dân chủ ở cơ
sở sẽ phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của người dân, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân vào phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường khối đoàn kết toàn dân góp phần xây dựng các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Phát huy dân chủ và thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ góp phần củng
cố, kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, không chỉ là giải pháp để hạn chế sự tha hóa quyền lực, chống lại nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy chính quyền nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước mà còn khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh tiềm tàng của quần chúng nhân dân vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.1.3 Quy chế dân chủ ở cơ sở
a Bối cảnh ra đời
Một trong những thành quả vĩ đại của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là nước dân chủ Nhà nước Việt Nam là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ” Trong suốt chặng đường dài của cuộc
Trang 2626
cách mạng dân tộc, dân chủ, Đảng ta, Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Trải qua hơn 60 năm xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành quả quan trọng: đất nước đã được độc lập tự do, thống nhất và ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Những năm đổi mới vừa qua, thực hiện Nghị quyết của Đại hội VI, Đại hội VII, Đại hội VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba khóa VIII, quyền làm chủ của nhân dân lại được Đảng và Nhà nước ta phát huy thêm một bước; thể hiện rõ trong nhiều chính sách đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, đã giải phóng tiềm năng to lớn về vật chất và trí tuệ của nhân dân, nhờ đó mà sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền
hà cho nhân dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn chặn, đẩy lùi được Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành pháp luật, cho nên chậm đi vào cuộc sống Tình trạng mất dân chủ, không để dân bàn bạc và quyết định những công việc cụ thể liên quan trực tiếp đến đời sống của dân, bắt dân phải đóng nộp nhiều khoản vượt quá khả năng, lại không minh bạch về tài chính, thậm chí xà xẻo vào những khoản tiền do dân đóng góp như ở một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và vài nơi khác; tình trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị đùn đẩy không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời, không đúng; tình trạng quan liêu, quản lý lỏng lẻo để thất thoát lớn trong một số ngân hàng hoặc gây lãng phí lớn trong xây dựng, v.v chẳng những làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền mà còn làm triệt tiêu nguồn động lực của nhân dân và xâm phạm vào bản chất tốt đẹp của chế độ Các cấp ủy đảng và cơ quan chính quyền cần nhận thức sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương ba
Trang 2727
mà cốt lõi là phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải được thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng,
an ninh, từ việc xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ chức bộ máy, phong cách làm việc, bao quát hoạt động của mọi cấp, mọi ngành, từ trung ương đến địa phương và cơ sở Vấn đề dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
để phát huy động lực, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh phải được đặt ra cho
cả hệ thống chính trị, phải tác động hai chiều dưới lên, trên xuống, cả trong Đảng và trong nhân dân
Nhằm cụ thể hóa những tư tưởng, quan điểm về phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta, đồng thời căn cứ tình hình thực tiễn đã và đang diễn ra hàng ngày tác động trực tiếp tới đời sống nhân dân, tới mối quan hệ Đảng, dân…Ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã công
bố Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm “phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và tham nhũng” Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương của Đảng và của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”; “Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn mạnh một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác”; nhân dân được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách của chính quyền, được quyết định dân chủ đối với những công việc quan trọng, thiết thực, liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân trên địa bàn (như chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi…); mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ
Trang 2828
pháp luật những công việc mang tính chất xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền (như xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, xây dựng tổ hòa giải…) Việc phát huy dân chủ phải gắn với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả Các cấp chính quyền có chế độ và hình thức báo cáo công khai trước dân công việc của chính quyền về việc sử dụng quỹ công, tài sản công, về thu, chi tài chính, các khoản đóng góp của dân, đồng thời phải nghiêm túc tự phê bình và tổ chức để nhân dân ở cơ sở góp ý kiến, đánh giá, phê bình và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp của nhân dân
Chỉ thị số 30-CT/TW xác định, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phải đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, mệnh lệnh, đồng thời chống tình trạng vô chính phủ, lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
Ngày 26/2/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) thông qua Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 về “Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở” Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn Ngày 28/3/2002, Ban bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10/CT-TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Ngày 7/7/2003, Chính phủ ra Nghị định số 79/2003/NĐ-CP thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP Để việc triển khai Nghị định số 79 của Chính phủ nhanh chóng đi vào cuộc sống, Bộ Nội vụ có thông tư
số 12/2004/TT về hướng dẫn thực hiện Nghị định này
Thực tiễn cho thấy, muốn phát huy được quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở, Đảng phải lãnh đạo, phải có quan điểm chính sách lớn để định hướng, đồng thời phải xây dựng được thiết chế dân chủ ở cơ sở một cách cụ thể, phù hợp với từng đối tượng dân cư Đó là những quy định có giá trị pháp lý do Nhà nước ban hành mang tính bắt buộc mọi người, mọi tổ chức nghiêm chỉnh thực hiện Hệ thống chính quyền ở nước ta gồm 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận), xã (phường, thị trấn) đều vận hành theo
Trang 2929
nguyên tắc tập trung dân chủ Trong quá trình thực hiện dân chủ ở tất cả các cấp đều quan trọng, nhưng dân chủ ở cơ sở là khâu trực tiếp quyết định kết quả cuối cùng là ở cấp cơ sở, là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, là khâu quan trọng nhất trong đời sống xã hội Vì vậy, ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở là việc làm cần thiết, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài nhằm tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, trong đời sống hàng ngày thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ chính trị góp phần hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta
b Nội dung cơ bản và điều kiện thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn ban hành tại Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11-5-1998 gồm Lời nói đầu và 7 chương với tổng số 25 điều
Quy chế dân chủ ở cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Những việc cần thông báo để dân biết: Điều 4 Quy chế quy định có 14 việc chính quyền xã có trách nhiệm thông báo công khai để dân biết, đó là:
- Chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Các quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tục hành chính giải quyết các công việc liên quan đến dân
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
- Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân
xã và của cấp trên liên quan đến địa phương
- Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm
- Dự toán và quyết toán thu chi các quỹ, dự án, các khoản huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi của xã, thôn, làng, bản và kết quả thực hiện
- Sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội đồng nhân dân xã
Trang 30- Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo
- Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến xã
- Những việc khác mà chính quyền thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu cần được thông báo
Những việc dân bàn và quyết định trực tiếp: Điều 6 Quy chế quy định có
6 việc bắt buộc phải đưa ra để dân bàn và quyết định trực tiếp, đó là:
- Đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng
- Lập thu, chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật
- Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn
an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục mê tín, dị đoan, các tệ nạn xã hội
- Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, làng, ấp, bản phù hợp với pháp luật của Nhà nước
- Thành lập Ban giám sát công trình xây dựng do dân đóng góp
- Tổ chức bảo vệ sản xuất kinh doanh
Những việc dân giám sát, kiểm tra: Điều 11 Quy chế quy định có 10 việc nhân dân xã giám sát, kiểm tra, đó là:
- Hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã
- Kết quả thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của
Uỷ ban nhân dân xã
- Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân xã, của cán bộ Uỷ ban nhân dân xã và cán bộ, công chức nhà nước hoạt động trong xã
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân
Trang 3131
- Dự toán và quyết toán ngân sách xã
- Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do dân đóng góp xây dựng
và các chương trình dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư trực tiếp cho xã
xã hội, cứu tế xã hội
Những văn bản trên đây thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở Người dân được bàn đến những vấn đề cụ thể và thiết thực, gắn liền với đời sống, làm ăn hàng ngày, với lợi ích, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người, mỗi hộ gia đình Đó là những vấn đề như đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, điện, đường, trường, trạm, việc thu chi ngân sách, việc đóng góp của nhân dân, việc vay vốn để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề tiêu cực, khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện chính sách xã hội, việc góp ý, phê bình cán bộ đảng viên, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân…Nói chung đó là những vấn đề người dân ở cơ sở được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, được quyết, được giám sát, kiểm tra, được làm, được hưởng
Thực tiễn cho thấy, khi đi vào cuộc sống, Quy chế dân chủ đã tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tác động trực tiếp, tích cực tới cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, củng cố chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp Niềm tin của nhân dân vào Đảng, chính quyền tăng lên, trí tuệ và sáng kiến của quần chúng ở cơ sở được khơi dậy và phát huy
Trang 3232
Dân chủ ít hay nhiều phụ thuộc vào sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước ở mức độ nào, ít hay nhiều Để nhân dân tham gia vào công việc của nhà nước (nghĩa là để dân chủ được thực thi trên thực tế) cần có hai điều kiện: Một là, nhà nước đó phải là một nhà nước “mở” đối với sự tham gia của nhân dân, người dân có quyền được tham gia vào các công việc của nhà nước Hai là, nhân dân phải đủ năng lực để tham gia, nghĩa là phải có các điều kiện về kinh tế, văn hóa, văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật…để thực hiện vai trò làm chủ của mình
Nâng cao dân trí, trình độ văn hóa, ý thức dân chủ và thói quen sinh hoạt dân chủ của nhân dân; đào tạo và giáo dục đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thừa hành thực hiện dân chủ của nhân dân; xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện…là những nhiệm vụ cơ bản trong công cuộc xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Xây dựng một chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền đòi hỏi có sự kết hợp chặt chẽ giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở Vai trò của các hình thức dân chủ ở từng cấp rất khác nhau Ở cấp Trung ương (toàn quốc), người dân không có điều kiện để thường xuyên tham gia vào công việc của nhà nước, do đó hình thức dân chủ đại diện là khả thi và rất quan trọng Trong khi đó, ở cơ sở, người dân lại có thể trực tiếp thực hiện các hình thức tự quản cộng đồng, trực tiếp quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của bản thân Thông qua cả hình thức dân chủ trực tiếp (đóng góp ý kiến thông qua các đoàn thể quần chúng và các tổ chức chính trị - xã hội và nghề nghiệp ở cơ sở), trong đó dân chủ trực tiếp
là chủ yếu Người dân ở cơ sở có thể tham gia, đóng góp vào hoạt động quản lý nhà nước để hoạt động quản lý nhà nước thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng
và phục vụ lợi ích của nhân dân
Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đòi hỏi phải tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Dân chủ phải
đi đôi với pháp chế Quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hóa thành
Trang 33Trong điều kiện nước ta hiện nay, mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ, dân chủ được thể chế hóa thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật, khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để gây rối
1.2 Tình hình nông thôn tỉnh Thái Bình trước khi thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.2.1 Khái quát đặc điểm tỉnh Thái Bình
Là vùng đất trẻ, đất đai Thái bình được hình thành do sự bồi tụ của hai sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình Thái Bình có địa hình bằng phẳng không có đồi núi, đất đai phì nhiêu màu mỡ Tính đến năm 2006, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.534,4km2, có 54 km đường biển, 3 cửa sông lớn Thái Bình là tỉnh có diện tích đất tự nhiên vào loại trung bình so với cả nước nhưng là tỉnh có số dân và mật độ dân số vào loại cao của cả nước (dân số 1.810.930 người, mật độ 1.165 người/km2) Dân cư Thái Bình chủ yếu sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp lấy nghề trồng lúa nước làm chính Ngoài kinh tế nông nghiệp, các ngành công nghiệp và dịch vụ của Thái Bình chưa có điều kiện phát
Trang 34kỷ XIX của Nguyễn Mậu Kiến (Kiến Xương), Nguyễn Khuê (Vũ Thư), Tạ Hiện (Thái Thụy)…
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân cả nước đấu tranh giành chính quyền, Thái Bình luôn luôn có những phong trào cách mạng tiêu biểu, thực sự là cái nôi, là điểm xuất phát hình thành lên các phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân trong cả nước như cuộc biểu tình của nông dân Tiên Hưng - Duyên Hà (1- 5 - 1930), nông dân Tiền Hải (14 - 10 - 1930)…Cách mạng Tháng Tám 1945, Thái Bình là một trong những tỉnh giành được chính
quyền sớm của cả nước (ngày 18 - 8 - 1945) Trải qua hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), Đảng bộ và nhân dân Thái Bình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dân Thái Bình hăng say lao động sản xuất nhằm xây dựng quê hương 5 tấn ngày càng giàu đẹp
1.2.2 Thực trạng phát triển nông dân, nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
Thái Bình là tỉnh nông nghiệp nên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có liên quan mật thiết đến sự phát triển bền vững của tỉnh Nghị quyết Đại hội Đại biểu tỉnh Thái Bình lần thứ XIV (1991) xác định: “Tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tập trung sức chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa,
Trang 3535
lấy nhu cầu thị trường, hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn và căn cứ để bố trí cây trồng, vật nuôi, nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị diện tích Phấn đấu thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu: đảm bảo ổn định các nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh; hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước; đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp địa phương, tăng nhanh khối lượng hàng hóa nông sản, thực phẩm xuất khẩu, trên cơ sở đó giải quyết đồng bộ vấn đề nông dân và nông thôn” [44, tr.17]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, các cấp, các ngành đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, chặt chẽ các biện pháp kỹ thuật; nông dân được giao đất lâu dài nên yên tâm sản xuất Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý… Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp hàng năm của tỉnh đều có những bước phát triển Năm 1995, năng suất lúa bình quân đạt 120,9 tạ/ha, tăng 16,82% so với năm 1994, đây là năm năng suất lúa cao nhất và tương đối đồng đều giữa các địa phương Tất cả các huyện, thị đều đạt năng suất trên 110 tạ/ha Sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 1.094.000 tấn, tăng 12,9%, trong đó thóc chiếm 1.022.000 tấn, tăng 16,9% Bình quân lương thực đầu người 606 kg/năm, tăng 11,8% Bên cạnh đó, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản tiếp tục giữ vững Đàn bò toàn tỉnh có 40.000 con; đàn trâu 21.100 con; đàn lợn có 521.000 con Giá trị thu nhập từ chăn nuôi tăng 5% so với năm 1994 Nuôi trồng thủy sản giữ vững diện tích, chuyển dần sang ứng dụng kỹ thuật thâm canh, bán thâm canh Giá trị thu nhập từ thủy sản tăng 3% so với năm trước và chiếm tỷ trọng 4,5% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tăng 2% so với năm trước [61, tr.253-254]
Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chương trình lao động và việc làm được các cấp, các ngành, các đoàn thể nhân dân tổ chức thực hiện có hiệu quả Bước đầu tạo ra nhận thức mới về việc làm, chủ động tự tạo và tìm việc làm của người lao động được nâng lên Sự phát triển của các thanh phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo; tranh thủ các nguồn vốn giải quyết việc làm của
Trang 3636
Trung ương và của nước ngoài, đã góp phần quan trọng vào việc phân công lại lao động và tạo việc làm cho hàng chục vạn người Việc dậy nghề, truyền nghề phát triển đa dạng, nâng cao một bước trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động Công tác chuyển dân đi xây dựng vùng kinh tế mới tiếp tục được coi trọng, có nhiều cố gắng trong đổi mới cơ chế, chính sách, tìm địa bàn và tạo điều kiện thuận lợi cho các gia đình đi kinh tế mới Trong 5 năm (1991 - 1995) tỉnh
đã chuyển được 5.177 hộ, 21.394 khẩu đi vùng kinh tế mới [61, tr.275] Các chính sách xã hội tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân quan tâm đã và đang trở thành phong trào xã hội rộng lớn Tổ chức thực hiện tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công Công tác đền ơn đáp nghĩa được
xã hội hóa và trở thành phong trào sâu rộng với nhiều nội dung và hình thức mới Phong trào tặng sổ tích kiệm, xây nhà tình nghĩa, phụng dưỡng, chăm sóc
Bà mẹ Việt Nam anh hùng; tu bổ, nâng cấp nghĩa trang, xây tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ, được các ngành, các cấp, các đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội
và toàn dân nhiệt liệt hưởng ứng Các đối tượng chính sách xã hội được quan tâm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, đời sống ổn định, có mặt được cải thiện Các hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo trợ người tàn tật, trẻ mồ côi, người già cô đơn được mở rộng, góp phần giảm bớt khó khăn cho nhiều gia đình
Với tinh thần Nhà nước và nhân dân cùng làm, chính quyền các xã kết hợp vốn đầu tư của ngân sách và vốn huy động trong nhân dân, đã tập trung chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển đều khắp ở các địa phương trong tỉnh Tính đến cuối năm 1995, toàn tỉnh đã cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới 3.906
km đường giao thông nông thôn, đưa tổng số đường làm bằng vật liệu cứng lên 4.509 km, chiếm 82% tổng số đường giao thông nông thôn, là tỉnh dẫn đầu cả nước về làm giao thông nông thôn, bảo đảm việc đi lại, giao lưu hàng hóa thuận lợi ở khắp các địa bàn trong tỉnh Chương trình điện khí hóa nông thôn được các cấp, các ngành và nhân dân tích cực thực hiện Đến cuối năm 1995, tỉnh đã có 100% số xã có điện phục vụ sản xuất; 97,6% số hộ gia đình có điện sinh hoạt, so
Trang 3737
với các tỉnh trong cả nước, Thái Bình là tỉnh dẫn đầu về quy mô phát triển lưới điện nông thôn Công tác thủy lợi được tập trung để tu bổ đê điều, cải tạo nâng cấp công trình thủy lợi, xây dựng mới một số trạm bơm điện Do đó, diện tích canh tác sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động Chương trình thông tin
và nước sạch nông thôn của tỉnh tuy triển khai sau nhưng có nhiều tiến bộ Số máy điện thoại tăng nhanh, năm 1995, bình quân 4 máy/1.000 dân; đã có 161/285 xã, phường có máy điện thoại; trên 50% số hộ dùng nước sạch Các tụ điểm kinh tế, chợ nông thôn phát triển nhanh Toàn tỉnh có 120 tụ điểm, mở ra nhiều cơ sở sản xuất, dịch vụ, góp phần tạo ra sản phẩm giải quyết việc làm, nâng cao đời sống và từng bước thực hiện đô thị hóa nông thôn [61, tr.270-172]
Với sự cố gắng nỗ lực vượt bậc của Đảng bộ và nhân dân, đời sống của các tầng lớp cư dân trong tỉnh được cải thiện trên nhiều mặt, mức sống vật chất
và tinh thần được nâng lên rõ rệt GDP bình quân đầu người năm 1995 tăng 67%
so với năm 1990 Theo điều tra năm 1994 của Cục thống kê tỉnh, ở nông thôn 85% số hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố, 20% số hộ có tivi, 5% có xe máy; số
hộ giàu 4%, số hộ khá và trung bình 87,9%, chỉ còn 7,1% số hộ dưới trung bình
và nghèo Các địa phương đang tích cực triển khai cuộc vận động “xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu chính đáng”, nhiều nơi không còn hộ đói, giảm hộ nghèo và mức nghèo, số hộ khá và giàu tăng lên
Mặc dù đạt được những thành tự như trên, nhưng sản xuất nông nghiệp và vấn đề nông dân, nông thôn của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập cần phải tiếp tục giải quyết như:
- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ yếu vẫn ở quy mô nhỏ, phân tán; chưa hình thành được những vùng kinh tế theo sản phẩm Lợn và gạo
là 2 sản phẩm chính của nông nghiệp, mỗi năm có khoảng 30 vạn tấn lương thực, trên 1 vạn tấn thịt lợn hàng hóa, nhưng chất lượng thấp, giá thành cao, xuất khẩu khó khăn và kém hiệu quả; việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm chưa thật thông thoáng, nông dân thiếu phấn khởi
Trang 38- Qúa trình phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp còn chậm, lao động thiếu việc làm, chất lượng và trình độ lao động thấp
- Trong xây dựng cơ bản, công tác quy hoạch còn chậm dẫn đến tình trạng chắp vá, thiếu đồng bộ Thực hiện không nghiêm quy chế đấu thấu một số công trình, cùng với việc quản lý không chặt chẽ, tình trạng ăn chia tiền thưởng tùy tiện làm cho công trình không được thi công đúng tiến độ, chất lượng kém gây
dư luận bức xúc trong nhân dân
- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nhìn chung còn thấp Mức chênh lệch giàu, nghèo có xu hướng gia tăng
Trước khi có Quy chế dân chủ ở cơ sở ban hành, việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở nhiều địa phương trong tỉnh còn nhiều hạn chế - nhất là trong những năm 1994, 1995, 1996 Những công việc có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân không được chính quyền xã thông báo công khai minh bạch như: kinh phí làm đường thôn, xã; xây dựng hội trường; chia ruộng đất công… Người dân chỉ biết những khoản đóng góp phải nộp và thực hiện Cán
bộ ở nhiều địa phương làm việc với dân quan liêu cửa quyền, nặng tính hành chính vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm chính sách pháp luật và quyền làm chủ của nhân dân Khi có đơn khiếu tố, khiếu nại của nhân dân, cấp chính quyền ở nhiều địa phương đùn đẩy, né tránh không giải quyết, thậm chí có địa phương cán bộ còn thách thức dân Tình hình đó đã làm cho người dân khiếu
tố ngày càng nhiều và phức tạp lan ra diện rộng, có nhiều nơi rất nghiêm trọng
Trong vòng 10 năm (1987 - 1997) ở Thái Bình đã xảy ra trên 300 vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu tố, khiếu nại tranh chấp đất đai; tố cáo cán bộ xã cấp, bán đất sai thẩm quyền; tham nhũng tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính
Trang 39bộ Cơ quan bảo vệ pháp luật đã khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam và khởi tố trước pháp luật một số người
Năm 1993, xảy ra vụ tranh chấp đất đai giữa hai thôn Bồng Tiên - Thái Lai của xã Vũ Tiến (huyện Vũ Thư); tranh chấp đất đai ở Vũ Tây (huyện Kiến Xương)… Tỉnh ủy đã phải huy động một lực lượng lớn cán bộ của nhiều ngành tập trung giải quyết và phải đưa ra khởi tố vụ án, truy tố một số người trước pháp luật Sự việc trên chứng tỏ vấn đề đất đai, quản lý kinh tế ở cơ sở còn nhiều phức tạp cần được nghiên cứu, xem xét một cách nghiêm túc
Tháng 4 năm 1994, nhân dân xóm Dân Chủ xã Quỳnh Xá (Quỳnh Phụ) tố cáo cán bộ xóm, xã tham nhũng tiêu cực, đề nghị thanh tra kinh tế Việc thanh tra được tiến hành và kết quả cho thấy việc tiêu cực tham nhũng của cán bộ xóm, xã là có thật Trong lúc đang tiến hành để giải quyết sai phạm của đội ngũ cán bộ thì ở nhiều xã trong huyện Quỳnh Phụ như: An Ninh, Quỳnh Hồng, Quỳnh Hoa và một số xã của các huyện Thái Thụy, Đông Hưng, Kiến Xương, Tiền Hải, Hưng Hà, Vũ Thư…cũng xảy ra khiếu kiện đòi thanh tra kinh tế xã, hợp tác xã, tố cáo cán bộ xóm, xã tiêu cực tham nhũng Tình hình khiếu tố của nhân dân lan ra diện rộng và tính chất, mức độ ngày một gay gắt, một số phần tử xấu, đối tượng hình sự, người có sai phạm trước đây bị chính quyền xử lý hành chính…đã kích động, lôi kéo nông dân đi khiếu kiện đông người Tại trụ sở của chính quyền các cấp, nhiều người đã có hành động gây rối quá khích, gây ảnh hưởng tới sự hoạt động bình thường của các cơ quan của Đảng và Nhà nước ở địa phương
Trang 4040
Vừa kích động, vừa khống chế ràng buộc theo kiểu lệ làng (ai không đi khiếu kiện thì nhà có người chết đừng gọi làng đến khiêng! Có cháy nhà đừng gọi dân đến dập…), đồng thời những người này tung ra số liệu giả là cán bộ xóm, xã tham ô với số lượng tiền và thóc rất lớn và nếu khiếu kiện “tích cực” sẽ được trả lại nhiều khoản đóng góp “vô lý” trước đây, sẽ được miễn giảm thuế nông nghiệp nhiều vụ liền… Vì vậy, nhiều người đã “tích cực” đi khiếu kiện, đóng góp tiền làm lệ phí cho người đi khiếu kiện, làm cho tình hình khiếu kiện càng diễn biến phức tạp thêm Tính từ tháng 11 - 1997 đến tháng 6 - 1998, cả 8/8 huyện, thị với 242/ 285 xã, phường, thị trấn của tỉnh có đơn thư khiếu nại tố cáo; 43.000 lượt người đi khiếu kiện ở các cấp [61, tr.333]
Từ việc khiếu kiện yêu cầu chính quyền thôn, xã giải quyết, đến huyện, tỉnh và Trung ương; từ vài người đi khiếu kiện đến hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn người; từ đề đạt nguyện vọng yêu cầu giải quyết đến dùng áp lực đông người buộc chính quyền làm theo ý mình; từ yêu cầu thanh tra Nhà nước giải quyết đến thành lập thanh tra nhân dân tự giải quyết… Một số nơi đã xảy ra những hành động vi phạm pháp luật nghiêm trọng như: vây giữ, truy bắt, lăng
mạ cán bộ, tự niêm phong tài liệu, ngăn cản chính quyền cơ sở thi hành nhiệm vụ; thậm chí có nơi còn tổ chức đập phá, hủy hoại tài sản của Nhà nước, tài sản của công dân, đánh người, bắt giam giữ trái phép cán bộ, công an đang thi hành nhiệm vụ, gây mất ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội (xã An Ninh, Quỳnh Hoa huyện Quỳnh Phụ; xã Mỹ Lộc, Thái Tân, Thái Thịnh huyện Thái Thụy; xã Vũ Đông huyện Kiến Xương) [61, tr.334-336]
Để điểm nóng Thái Bình xảy ra và kéo dài trầm trọng thêm là có nhiều nguyên nhân Xét về nguyên nhân chủ quan, trước hết là do một bộ phận không nhỏ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở tham nhũng, tiêu cực, làm giàu bất chính; lề lối tác phong làm việc quan liêu, độc đoán chuyên quyền, mất dân chủ nghiêm trọng; không chấp hành nghiêm chỉnh một số quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cấp đất, bán đất trái thẩm quyền một cách