Đây là cơ sở cần thiết để nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc và toàn diện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 6
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp mới của đề tài 9
7 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG CỦA TỈNH TUYÊN QUANG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001 10
1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và hệ thống di tích lịch sử cách mạng tỉnh Tuyên Quang 10
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên 10
1.1.2 Về kinh tế - xã hội 12
1.1.3 Hệ thống các di tích lịch sử cách mạng chủ yếu ở Tuyên Quang 14
1.2 Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang trước năm 1996 18
1.3 Sự lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của Đảng bộ Tuyên Quang từ năm 1996 đến năm 2001 21
1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 21
1.3.2 Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang 27
Trang 4Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2010 33
2.1 Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI từ năm 2001 đến năm 2005 33
2.1.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh 33
2.1.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện 37
2.2 Từ năm 2006 đến năm 2010 56
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh 56
2.2.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 62
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 80
3.1 Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở tỉnh từ năm 1996 đến năm 2010 80
3.1.1 Những ưu điểm cơ bản 80
3.1.2 Một số hạn chế 88
3.2 Một số kinh nghiệm 91
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 109
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
SNN-PTNT Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng an ninh Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tuyên Quang được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm trung tâm của cách mạng cả nước Tại Tân Trào - Thủ đô Khu giải phóng
đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với vận mệnh dân tộc Suốt chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân các dân tộc Tuyên Quang luôn luôn làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng: Xây dựng, bảo vệ An toàn khu (ATK); bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận cùng nhiều Bộ, Ban, Ngành Trung ương; bảo vệ các cơ quan đầu não cách mạng của nước Lào…
Đảng bộ và nhân đân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đóng góp phần quan trọng, to lớn vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, lập nhiều chiến công vang dội, đập tan cuộc tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp Bình
Ca, Km 7, Cầu Cả, Khe Lau… là những địa danh lịch sử làm rạng rỡ tinh thần chiến đấu quả cảm, mưu trí, sáng tạo của quân, dân Tuyên Quang trong chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông năm 1947)
Tại Tuyên Quang nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ được triệu tập Đặc biệt Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (họp tại Vinh Quang - Kim Bình, Chiêm Hóa từ ngày 11 đến ngày 19/2/1951), là Đại hội đầu tiên của Đảng được tổ chức trong nước Đại hội đã bổ sung, hoàn chỉnh đường lối kháng chiến, kiến quốc, đề ra nhiêm vụ xây dựng Đảng Lao động Việt Nam vững mạnh, quyết định những chủ trương, biện pháp đưa cuộc kháng chiến trường kỳ, oanh liệt của dân tộc ta đến thắng lợi
Trang 7Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang tiếp tục xây dựng hậu phương vững mạnh, làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước
Truyền thống yêu nước, đoàn kết, cách mạng, tinh thần đấu tranh anh dũng của lớp lớp cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã
để lại những bài học quý giá, những tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau học tập, noi theo
Các di tích này có vị trí, tầm vóc lịch sử không chỉ đối với Tuyên Quang mà còn đối với cả nước, gắn với những sự kiện quan trọng của lịch sử dân tộc, chứa đựng các giá trị về truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng các giá trị về nghệ thuật chỉ đạo quân sự tài tình của Đảng, Bác Hồ Đó là những di sản văn hóa vô giá mà Đảng bộ, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vinh dự thay mặt cho nhân dân cả nước giữ gìn và phát huy giá trị cho mọi thế hệ hôm nay và mai sau Phục hồi, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá đi liền với việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích, đồng thời khai thác lợi thế tiềm năng này của tỉnh để phát triển mạnh ngành kinh tế du lịch đang là một yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với tỉnh Tuyên Quang hiện nay Việc tôn tạo các khu di tích (KDT) không chỉ nhằm bảo tồn, phát huy giá trị mà còn đưa các KDT lịch sử cách mạng này thành điểm du lịch thu hút khách trong và ngoài nước, trở thành cái nôi giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ
Với lý do trên, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2010” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các di tích lịch sử cách mạng có giá trị quan trọng Bảo tồn, phát huy giá trị những di tích ấy không chỉ có ý nghĩa về giáo dục truyền thống, tri ân các thế hệ cách mạng mà còn phục vụ tích cực nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của Tuyên Quang Vì vậy, vấn đề này đã được đề cập trong nhiều công trình với các góc độ khác nhau:
* Sách:
Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2006) và để hiểu rõ hơn về thời gian Bác Hồ hoạt động cách mạng tại Tân Trào - Thủ đô của cách mạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia và Bảo tàng Tân Trào - ATK cùng phối hợp xuất bản lần thứ năm cuốn
sách “Bác Hồ ở Tân Trào” [44] Thông qua nội dung cuốn sách, chúng ta
càng hiểu rõ hơn về ý chí, nghị lực phi thường và phong thái giản dị của Bác trong những ngày đầy khó khăn gian khổ của cách mạng; những quyết sách đầy sáng tạo mà Bác đề ra trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945; qua
đó nhắm giáo dục truyền thống cách mạng và nêu cao tấm gương vĩ đại của Bác Hồ cho các thế hệ của quê hương Tân Trào và cả nước học tập
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang (2009), Tuyên Quang trong
Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (Tuyển chọn hồi ký) [8] là cuốn sách thể hiện tính chân thực của lịch sử, đồng
thời phản ánh một cách sinh động và toàn diện quá trình chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng và nhân dân Tuyên Quang trong Cách mạng Tháng Tám
và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cũng như những thành quả to lớn mà nhân dân Tuyên Quang đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền Tuyên Quang trong thành công chung của cách mạng Việt Nam
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh(1890 - 2010), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (SVHTTDL) Tuyên Quang đã xuất bản cuốn
Trang 9sách “Di tích lịch sử - lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên
Quang” [62], cung cấp cho người đọc những cứ liệu, những luận cứ thật sự
cô đọng về những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, xã hội - nhân tố quan trọng tạo nên yếu tố cơ bản “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để Tuyên Quang trở thành địa phương được Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vững tin chọn làm căn cứ địa cách mạng, là trung tâm vùng An toàn khu Việt Bắc của Trung ương thông qua giới thiệu 32 di tích lịch sử - lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang
Kỷ niệm 60 năm diễn ra Đại hội II của Đảng, tháng 2 năm 2011, Ban Tuyên giáo Trung ương và Tỉnh ủy Tuyên Quang tổ chức Hội thảo khoa học
“Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến” Các tham luận
trong Hội thảo đã được xuất bản thành cuốn Đại hội II của Đảng tại Tuyên
Quang - Thủ đô kháng chiến [9] Cuốn sách đã góp phần ôn lại truyền thống
lịch sử vẻ vang của Đảng; làm sáng tỏ thêm những giá trị, ý nghĩa lịch sử to lớn của Đại hội và phát huy những giá trị đó trong quá trình đẩy mạnh thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
* Báo và Tạp chí:
Trên Báo Nhân dân số ra ngày 5/5/2007, tác giả Nguyễn Việt Thanh có
bài viết “Tuyên Quang phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du
lịch” Bài viết đã nêu lên việc bảo tồn, phục hồi, tôn tạo và phát huy giá trị di
sản văn hóa, trước tiên là các di tích lịch sử - văn hóa, một lợi thế, tiềm năng của tỉnh, nhằm giáo dục truyền thống và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là phát triển mạnh ngành kinh tế du lịch đang là hướng đi đúng của Tuyên Quang
Bài viết “Tuyên Quang bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách
mạng” của đồng chí Nguyễn Việt Thanh - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và
Trang 10Du lịch Tuyên Quang đăng trên Báo Nhân dân số ra ngày 17/8/2010 đã tổng kết những giá trị lịch sử to lớn của các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến trên đất Tuyên Quang Đồng thời tác giả cũng đã nêu lên thực trạng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang Qua đó đưa ra những nhiệm vụ trọng tâm cần phải thực hiện trong những năm tiếp theo
Các công trình nghiên cứu trên đã nói lên tầm quan trọng, vị trí hết sức
to lớn của các di tích lịch sử cách mạng, cũng như vai trò của việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích đó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay Đây là cơ sở cần thiết để nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc và toàn diện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn tỉnh nhằm rút ra những thành công, tồn tại, cũng như những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng
- Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của tỉnh Tuyên Quang từ năm 1996 đến năm 2010
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng
- Phân tích những thành công và hạn chế trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng, qua đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đảng bộ Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng và quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu được xác định trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Về thời gian: từ năm 1996 đến năm 2010
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, luận văn vận dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, cùng các phương pháp cụ thể: phương pháp điều tra, phân tích số liệu thống kê, phương pháp tổng kết thực tiễn…
6 Đóng góp mới của đề tài
- Đánh giá khái quát quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm
2010 Từ đó rút ra những kinh nghiệm thực tiễn
- Góp phần nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
7 Bố cục của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của tỉnh Tuyên Quang từ năm 1996 đến năm 2001
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 12Chương 1 CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG CỦA TỈNH TUYÊN QUANG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2001
1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và hệ thống di tích lịch
sử cách mạng tỉnh Tuyên Quang
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, vị trí địa lý từ 21°29’ đến 22°42’ độ vĩ bắc và 104°50’ đến 105°36’ độ kinh đông; phía Bắc giáp Hà Giang, phía Nam giáp Phú Thọ và Vĩnh Phúc, phía Đông giáp Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, phía Tây giáp Yên Bái Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 582.002 ha trong đó 20% là đất nông nghiệp, 73,2% là đất lâm nghiệp (424.374 ha) còn lại là 6,8% là các loại đất khác Toàn bộ thổ nhưỡng Tuyên Quang dễ bị xói mòn, phần lớn đất đai không thấm nước, có đất xét và cấu thành granít, có nơi có đá vôi, đá xít [1, tr 13]
Tính đến năm 2010, Tuyên Quang có 5 huyện, 1 thị xã với 137 xã, 3 phường và 5 thị trấn, trong đó có 51 xã và 72 thôn bản nằm trong vùng đặc biệt khó khăn Là tỉnh nằm sâu trong nội địa, cách xa các trung tâm kinh tế - thương mại lớn của cả nước, Tuyên Quang chưa có đường sắt và sân bay vì vậy việc thông thương sang các tỉnh khác và ra nước ngoài nhờ vào hệ thống đường Quốc lộ 2, Quốc lộ 37 và giao thông đường thủy trên sông Lô
Địa hình Tuyên Quang khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dãy núi cao
và sông suối, đặc biệt ở phía Bắc tỉnh Phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần, ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông Có thể chia Tuyên Quang thành 3 vùng địa hình sau:
Trang 13Vùng núi phía Bắc bao gồm: các huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên và phía Bắc huyện Yên Sơn, có độ cao phổ biến từ 200 - 600m (so với mực nước biển) và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 25°
Vùng đồi núi giữa gồm: phía Nam huyện Yên Sơn, thị xã Tuyên Quang
và phía Bắc huyện Sơn Dương, độ cao trung bình dưới 500m và thấp dần từ Bắc xuống Nam, độ dốc thấp dần dưới 25°
Vùng đồi núi phía Nam là vùng thuộc phía Nam huyện Sơn Dương, mang đặc điểm địa hình trung du
Tuyên Quang mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh - khô hanh; mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Đặc điểm khí hậu này thích ứng cho sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng nhiệt đới Nhiệt độ trung bình trong năm từ 22 - 24°C, lượng mưa trung bình từ 1.500 mm - 1.800 mm; độ ẩm trung bình là 85%
Hệ thống sông suối của Tuyên Quang khá dày đặc, phân phối tương đối đều giữa các vùng, trong đó sông Lô có khả năng vận tải tốt, đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ
Do điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều làm lớp vỏ phong hoá của đất Tuyên Quang tương đối dày, cộng với thảm thực vật còn khá có tác dụng bảo vệ mặt đất nên sự thoái hoá của đất ở mức độ nhẹ Đất Tuyên Quang có các nhóm chính: đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất; đất vàng nhạt trên đá cát; đất
đỏ vàng trên đá macma; đất vàng đỏ trên đá biến chất; đất phù sa ven suối; đất dốc tụ - thung lũng; ngoài ra còn có một số loại đất khác chiếm diện tích nhỏ: đất nâu vàng, đất mun màu vàng, đất nâu đỏ, đất phù sa không được bồi đắp… Tóm lại, tài nguyên đất của Tuyên Quang hết sức phong phú về chủng loại, chất lượng tương đối tốt, thích ứng với các loại cây trồng
Tổng diện tích rừng Tuyên Quang có khoảng 357.354 ha, trong đó rừng
tự nhiên là 287.606 ha và rừng trồng là 69.757 ha Độ che phủ của rừng đạt
Trang 1463% Rừng Tuyên Quang có nhiều loại gỗ tốt như: đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát, pơmu… và bạt ngàn tre, nứa, song, mây… cùng các cây dược liệu như: sa nhân, ba kích, thục, sâm… các đặc sản như: nấm hương, mộc nhĩ, mật ong… cùng nhiều loài muông thú: hổ, báo, gấu, trăn, tắc kè, đặc biệt là voọc mũi hếch - một loại thú có tên trong danh mục bảo vệ động vật hiếm trên thế giới
Lòng đất Tuyên Quang chứa nhiều khoáng sản: vàng, thiếc, kẽm, barít, pisít, ăngtimoan, mănggan, cao lanh…, thiên nhiên có sẵn các loại cát, sỏi, đá vôi, đất chịu lửa… Đó là nguồn tài nguyên khoáng sản vô giá, cho phép địa phương phát triển, làm giàu bằng ngành công nghiệp khai thác mỏ và sản xuất vật liệu xây dựng
Nhìn một cách tổng thể vị thế và điều kiện tự nhiên của Tuyên Quang mặc dù đã để lại nhiều khó khăn trong quá trình đi lên của tỉnh, nhưng cũng chính nó lại tạo ra những ưu thế riêng cho phát triển kinh tế, xã hội
1.1.2 Về kinh tế - xã hội
Tuyên Quang phát triển chủ yếu là nền kinh tế theo cơ cấu nông, lâm nghiệp - công nghiệp chế biến - dịch vụ, đặc biệt là phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê, ngựa ), trồng cây công nghiệp và cây dược liệu (chè, cà phê, mía, lạc, đỗ, quế, sa nhân, sả ) cùng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao (cam, nhãn, vải, hồng, na )
Ngoài chăn nuôi, trồng trọt là nghề chính, Tuyên Quang còn có nhiều nghề thủ công khác như: khai thác, chế biến nông, lâm sản, đồ dùng sinh hoạt
và dược liệu, thêu dệt
Trong giai đoạn 1996 - 2000 nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) hàng năm đạt 8,78% Bình quân lương thực đạt 383 kg/người/năm Tỷ lệ hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn mới của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội là 12,5% GDP tăng bình quân 5 năm (2005 - 2010) đạt 13,53% Cơ cấu kinh tế
Trang 15chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần
tỷ trọng nông lâm nghiệp trong GDP
Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá Chăn nuôi có bước phát triển, hàng năm đàn bò tăng 17,8%, đàn lợn tăng 6%, đàn gia cầm tăng 9,9%; đàn bò sữa HF thuần chủng có trên 4.000 con; đàn bò thịt cao sản Brahman 1.250 con
Sản lượng lương thực hàng năm đều tăng, năm 2009, tổng sản lượng lương thực đạt 32,9 vạn tấn, đạt 102,6% kế hoạch năm, tăng 1,3% so với năm 2008
Công tác trồng rừng được chú trọng, thực hiện cơ chế liên doanh trồng rừng nguyên liệu để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng Trồng mới 27.954 ha rừng, độ che phủ của rừng đạt 63% Tỉnh đã đầu tư, nâng cấp, quản lý và sử dụng có hiệu quả các công trình thủy lợi
Hệ thống giao thông vận tải đường bộ phát triển mạnh Đến năm 2005, 100% xã phường, thị trấn, 96,3% thôn bản có đường ô tô đến trung tâm Mạng lưới bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển, 100% trung tâm huyện, thị phủ sóng điện thoại di động; 100% xã, phường, thị trấn có điện thoại, mật
độ 4,8 máy/100 người dân Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 8,4 triệu USD, tăng bình quân 10,1%/ năm Một số mặt hàng xuất khẩu tăng nhanh như bột barit, gỗ chế biến
Tuyên Quang có 22 dân tộc anh em Người Kinh chiếm 50,18%, cư trú khắp địa bàn tỉnh, tập trung đông nhất ở thị xã Tuyên Quang, huyện Yên Sơn, huyện Sơn Dương Những nơi vùng sâu vùng xa thường tập trung đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, bị ảnh hưởng nhiều phong tục tập quán
cũ không phù hợp với hiện nay Vì vậy, chính quyền địa phương đã có biện
Trang 16pháp phù hợp để phát triển kinh tế nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc ít người, giữ gìn bản sắc vốn có
Cũng chính có sự góp mặt của các dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh đã tạo cho đời sống văn hóa của đồng bào tỉnh Tuyên Quang sự đa dạng và phong phú với những điệu hát Then, Gọi, Sli, Sình ca các hội Lồng Tông, những đường nét tinh xảo, duyên dáng của hoa văn trên những tấm thổ cẩm, vải, hàng mây tre đan và đồ trang sức đã thể hiện sinh động, đặc sắc đời sống tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi vùng
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, Tuyên Quang vẫn là một tỉnh nghèo, không ít khó khăn: kinh tế phát triển chậm, trình độ sản xuất còn thấp kém và mang nặng tính tự cung tự cấp Thế mạnh về cây công nghiệp, chăn nuôi chưa được khai thác tốt Công nghiệp chưa phát triển, chỉ chiếm 14% giá trị tổng sản phẩm xã hội; thu nhập bình quân đầu người còn thấp xa so với mức bình quân của cả nước Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh mới đảm bảo được 25 - 30% nhu cầu chi thường xuyên Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn Sự lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường còn lúng túng Trình độ cán bộ, đảng viên chưa được nâng lên kịp thời với yêu cầu của tình hình nhiệm vụ đặt ra; còn một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng
1.1.3 Hệ thống các di tích lịch sử cách mạng chủ yếu ở Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh có hệ thống các di tích lịch sử cách mạng với mật
độ dày đặc nhất ở 3 huyện Sơn Dương, Chiêm Hóa, Yên Sơn Trong đó những di tích thuộc huyện Sơn Dương và Yên Sơn nằm trong hệ thống di tích lịch sử cách mạng hiện được quản lý bởi Ban quản lý Khu du lịch lịch sử, văn hóa và sinh thái Tân Trào Những di tích ở huyện Chiêm Hóa nằm dưới sự
Trang 17quản lý của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang Ngày 21/12/1975, KDT Tân Trào đã vinh dự được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử và trở thành một trong những di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của Quốc gia
Tỉnh Tuyên Quang có 512 di tích lịch sử, văn hóa, trong đó có 443 di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến, ghi dấu những địa điểm Bác Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, Ban, Ngành Trung ương ở
và làm việc Trong số 512 di tích lịch sử, văn hóa đã có 118 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, 108 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, các di tích còn lại
đã và đang được lập hồ sơ khoa học, cắm biển ghi dấu sự kiện, khoanh vùng bảo vệ
KDT Tân Trào có tổng diện tích 2.500 ha, nằm trên địa bàn hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn; với tổng thể 177 di tích, trong đó có 40 di tích được
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử Quốc gia, 30 di tích được cấp Bằng Di tích lịch sử cấp tỉnh…
KDT Tân Trào là nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, là một quần thể gồm nhiều di tích quan trọng như:
Lán Nà Lừa là nơi Bác Hồ ở và làm việc từ cuối tháng 5 đến cuối tháng
8 năm 1945 để chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa Lán được dựng bằng tre theo kiểu nhà sàn Ngày 4/6/1945, tại nơi đây, Bác Hồ đã triệu tập Hội nghị cán bộ để chuẩn bị thành lập “Khu giải phóng, Quân giải phóng”, tiến tới Quốc dân Đại Hội, Tổng khởi nghĩa Hiện tại lán vẫn được bảo tồn và là điểm
du lịch hấp dẫn du khách thăm quan
Cây Đa Tân Trào: dưới bóng cây Đa của làng Tân Lập, chiều ngày 16/8/1945, quân Giải phóng Việt Nam làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 Đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc Bản Quân Lệnh số 1 và ngay sau đó quân Giải phóng đã lên đường qua Thái Nguyên tiến về Hà Nội
Trang 18Đình Tân Trào, ngày 16/8/1945, các Đại biểu trên khắp mọi miền Tổ quốc đã về họp Quốc dân Đại hội Tại đây, các Đại biểu đã tán thành chủ trương tiến hành Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Lệnh khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh, quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng, Quốc
ca là bài “Tiến quân ca” và cử ra Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam tức Chính phủ Lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Sáng ngày 17/8/1945, thay mặt Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Bác Hồ đã đọc lời thề thiêng liêng quyết tâm giành độc lập dân tộc
Đình Hồng Thái (đình Kim Trận) là nơi dừng chân đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi người từ Pắc Bó, Cao Bằng đến với căn cứ địa Cách mạng Tân Trào ngày 21/5/1945 Tại nơi đây, Người đã tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo của Phân khu Nguyễn Huệ
Hang Bòng là nơi ở và làm việc của Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (thời kỳ 1949 - 1952) Chính tại đây Bác Hồ đã chỉ đạo chiến dịch Biên giới 1950 và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II vào tháng
2 năm 1951
Ngôi nhà của ông Nguyễn Tiến Sự - Chủ nhiệm Việt Minh làng Kim Long (nay là làng Tân Lập) là nơi đã từng gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Bác Hồ khi Người từ Pắc Bó, Cao Bằng về Tân Trào Ngôi nhà không chỉ là một di tích lịch sử cách mạng mà còn có giá trị kiến trúc nhà sàn truyền thống tiêu biểu của dân tộc Tày ở Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
KDT Nhà ở và Hầm an toàn của đồng chí Tôn Đức Thắng ở thôn Chi Liền (nay là thôn Đồng Ma), xã Trung Yên, huyện Sơn Dương Đây là nơi đồng chí Tôn Đức Thắng - Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt sinh hoạt và làm việc từ cuối năm 1952 đến năm 1954
Trang 19KDT Kim Quan (Yên Sơn) là trụ sở của Trung ương Đảng, Chính phủ
Ở đây, có hội trường, nhà đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, nhà đồng chí Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương và các bộ phận của Văn phòng Trung ương như: điện đài, văn thư, thư viện, bộ đội bảo vệ Kim Quan còn là nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ tiếp khách quốc tế
Nha Công an Trung ương thuộc xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương Từ tháng 4 năm 1947 đến tháng 9 năm 1950, nơi đây là trụ sở của Nha Công an Trung ương và các đơn vị làm nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ, diễn ra nhiều sự kiện có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Ngoài ra, KDT Tân Trào còn có những di tích có giá trị lịch sử khác như: Bản Khuổi Kịch, đình Thanh La, Vực Thia, làng Tân Lập, lán Cảnh Vệ - Điện Đài, lán Đồng Minh, sân bay Lũng Cò, đèo Chắn, Đồng Man - Lũng Tẩu, Khấu Lẩu - Vực Hồ, hang Thia, là cơ quan của các Bộ, Ban, Ngành Trung ương…
KDT Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (từ ngày 11 đến 19/2/1951) nằm trên đồi Nà Loáng, thôn Phú An (nay là thôn Bó Củng) xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang)
KDT lịch sử Làng Ngòi - Đá Bàn: Nơi đây, từ cuối năm 1950 đến cuối năm 1951 Hoàng Thân Suphanuvông - Thủ tướng chính phủ Lào, Chủ tịch Mặt trận Lào tự do (Neo Lào Ítxala) và các đồng chí cán bộ cách mạng Lào
đã ở và làm việc
Các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến ấy gắn với những sự kiện quan trọng của lịch sử dân tộc, chứa đựng các giá trị về truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng các giá trị về nghệ thuật chỉ đạo quân sự tài tình của Đảng, Bác Hồ Các di tích cũng đã trở thành những di sản
Trang 20văn hóa vô cùng quý giá không chỉ đối với đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên
Quang mà còn đối với nhân dân cả nước
1.2 Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang trước năm 1996
Từ khi tái lập tỉnh (năm 1991) đến năm 1996, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Tuyên Quang, hoạt động văn hóa thông tin được triển khai đồng loạt và đều khắp trên các lĩnh vực: văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, phát hành sách, văn hóa phẩm, thư viện, điện ảnh, bảo tồn - bảo tàng bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp tích cực vào việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và chăm lo đời sống tinh thần của nhân dân khắp nơi trong tỉnh
Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang nhận thức được tầm quan trọng của các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến trên địa bàn tỉnh và đã có những chủ trương, chính sách bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của các di tích ấy phục vụ cho phát triển mọi mặt đời sống người dân Một số di tích được trùng
tu, tôn tạo, chống xuống cấp hiệu quả Hoạt động bảo tồn - bảo tàng cũng đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ với nhiều hiện vật đủ các chủng loại, trong
đó có những hiện vật quý hiếm Đây cũng chính là những điểm thu hút đông đảo khách tham quan đến từ mọi miền của đất nước và cả khách quốc tế, đặc biệt là các di tích: KDT lịch sử cách mạng Tân Trào, ATK (Kim Quan), Kim Bình, Làng Ngòi - Đá Bàn…
Tuy nhiên, việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy một số công trình thuộc KDT lịch sử cách mạng Tân Trào, Kim Quan, Kim Bình… còn nhiều khó khăn Do yêu cầu và điều kiện của cuộc kháng chiến, các di tích lịch sử cách mạng đều được làm bằng vật liệu tự nhiên của địa phương như: gỗ, tre, nứa, lá… lại ẩn mình trong rừng núi, quanh năm ẩm ướt, mối mọt nhiều nên độ
Trang 21bền không cao, sự xuống cấp của các di tích rất nhanh Kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, đất nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Các di tích đã trải qua một thời gian dài bị lãng quên Dưới tác động của tự nhiên và con người, phần lớn các di tích bị hư hại, chỉ còn lại địa điểm Hiện vật liên quan đến di tích đã mất hoặc thất lạc, tài liệu ghi chép sự kiện gắn với di tích còn nhưng không nhiều Các nhân chứng lịch
sử tuổi đã cao, thời gian xảy ra sự kiện đã lâu nên lời kể cũng không đảm bảo tính chính xác Những yếu tố này đã làm cho công tác sưu tầm tư liệu, chứng
cứ lịch sử, phục dựng di tích gặp nhiều khó khăn
Các tư liệu, hiện vật có liên quan đến các di tích hiện chưa được sưu tầm, điều tra đầy đủ Nhiều tư liệu hiện vật hiện đang lưu trữ tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh… Trong đó phải kể đến một phần các tư liệu quý hiện do cá nhân lưu giữ Việc tiếp tục khảo cứu bổ sung các tư liệu lịch sử cũng như các tư liệu, hiện vật liên quan đến các di tích lịch
sử cách mạng tỉnh Tuyên Quang là rất quan trọng, từ đó xây dựng một phần mềm thích hợp phục vụ công tác quản lý di tích, nghiên cứu cũng như giới thiệu, thông tin cho khách tham quan một cách khoa học, đầy đủ nhất về các
di tích lịch sử cách mạng tỉnh Tuyên Quang
Những di tích nằm ở xa khu vực trung tâm việc quản lý, bảo vệ di tích còn yếu, trong khi đó cơ sở vật chất ở đây thiếu thốn, khó có điều kiện để hoàn thành tốt việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích Nhiều di tích gần như hoang vắng, cây cỏ phủ kín cả lối vào di tích, thiếu sự chăm sóc, quản lý thường xuyên, việc xâm hại đến di tích là không tránh khỏi Nhân lực mỏng, địa bàn quản lý rộng, di tích dàn trải, giao thông không thuận tiện là những khó khăn rất lớn
Việc khai thác, phát huy giá trị di tích tại các khu vực chưa đồng đều Hiện tượng khách tham quan tập trung phần lớn vào khu vực trung tâm của
Trang 22KDT Tân Trào - Sơn Dương, còn di tích ở khu vực Kim Bình - Chiêm Hóa và các khu vực khác ít hơn nhiều Nguyên nhân chủ yếu do những di tích này ở
xa khu vực trung tâm, giao thông chưa thuận tiện, thiếu sức hút đối với khách
du lịch Bên cạnh đó, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa các KDT để tạo thành các tuyến tham quan liên hoàn trong các tour du lịch
Toàn bộ cảnh quan môi trường của các KDT lịch sử cách mạng hầu hết được bảo tồn khá trọn vẹn Các KDT chính đều đã được cắm mốc, khoanh vùng bảo vệ, các khu dân cư nằm sát di tích đã được di dời khỏi vành đai bảo
vệ Tuy nhiên trong thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX, do chưa ý thức được hết công tác bảo tồn di tích nên một số KDT quan trọng đã bị xâm hại như: đường giao thông phục vụ lâm nghiệp mở xuyên qua nền di tích Hội trường Đại hội II (Chiêm Hóa), khu đập ngăn nước tại hồ Nà Lừa Bên cạnh đó do điều kiện lũ lụt, cảnh quan một số di tích quan trọng đã bị biến đổi nguy hiểm, đặc biệt là các di tích nằm ven sông Phó Đáy
Việc bảo vệ môi trường của các KDT cũng là một vấn đề cần quan tâm Môi trường của những di tích ở khu vực trung tâm được bảo vệ khá tốt, ngược lại những di tích ở xa vẫn còn hiện tượng xả rác bừa bãi, thiếu hệ thống thu gom rác thải và các thùng rác công cộng, các công trình vệ sinh công cộng còn thiếu thốn nhiều hoặc có nhưng không sử dụng được
Từ thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đề ra chủ trương, chính sách, kế hoạch đổi mới, phát triển trên mọi phương diện nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước, từng bước đưa kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang phát triển mà vẫn giữ được những nét truyền thống của quê hương cách mạng, xứng đáng là địa chỉ đỏ trong giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay và
mai sau
Trang 231.3 Sự lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng của Đảng bộ Tuyên Quang từ năm 1996 đến năm 2001
1.3.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn xác định vai trò, vị trí và giá trị của các di sản văn hóa trong đời sống xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã khẳng định:
“Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước Trong điều kiện kinh tế thị trường và
mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm gìn giữ và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp
và lòng tự hào dân tộc.” [27, tr 111]
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 7 năm 1998), lần đầu tiên Đảng ra nghị quyết riêng về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) đã thể hiện sự phát triển cả nhận thức và tư duy lý luận về văn hóa, lãnh đạo văn hoá của Đảng Đó cũng chính là kết tinh của sự
kế thừa và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, về xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa, về phương pháp lãnh đạo văn hóa, quản lý văn hóa; là sản phẩm từ tổng kết lý luận và thực tiễn trong quá trình hơn 70 năm lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo văn hóa của Đảng
Nghị quyết đã xác định: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể.” [28, tr 63]
Trang 24Chiến khu Việt Bắc là một quần thể di tích cực kỳ quan trọng gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta, trong đó ATK Tuyên Quang là căn cứ địa tuyệt mật của Chiến khu Việt Bắc (cả thời kỳ tiền khởi nghĩa và kháng chiến chống thực dân Pháp), nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng, cùng các cơ quan đầu não của Chính phủ kháng chiến đã đóng quân và chỉ đạo cuộc cách mạng của dân tộc
ta giai đoạn 1941 - 1954 Ngày 25/10/1999, Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Đề án Quy hoạch tổng thể đầu tư phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy khu di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến “Chiến khu Việt Bắc” - Quyết định số 984/1999/QĐ-TTg Phạm vi triển khai đề án trên địa bàn 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Hà Giang Với mục tiêu: Phục hồi, bảo tồn, tôn tạo để gìn giữ lâu dài các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến đã được xếp hạng tại “Chiến khu Việt Bắc”; Phát huy giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần trong việc giáo dục truyền thống đấu tranh giữ nước và giữ gìn bản sắc cao quý của dân tộc; gắn việc phục hồi, bảo tồn, tôn tạo di tích với xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân, cảnh quan môi trường và các hoạt động văn hoá du lịch
Nhận thức quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng, Đảng bộ Tuyên Quang luôn quan tâm bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa của địa phương Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang lần thứ XII được tổ chức từ ngày 2 đến ngày 4/5/1996 tại thị xã Tuyên Quang Đánh giá một cách khách quan những thuận lợi, khó khăn của một tỉnh miền núi, Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000 là: Phát huy mạnh mẽ mọi tiềm năng thế mạnh và các nguồn lực của tỉnh; tập trung phát triển mạnh kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - công nghiệp - dịch vụ - du lịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực hiện công bằng xã hội, chăm lo tốt hơn
Trang 25các vấn đề văn hóa - xã hội; không ngừng giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ
Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XII cũng xác định mục tiêu
cụ thể phát triển sự nghiệp văn hoá:
“Tập trung mục tiêu nâng cao một bước mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân ở khắp các vùng trong tỉnh bằng các biện pháp tiếp tục đưa các hoạt động văn hoá, thông tin về cơ sở nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Phát triển mạnh phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng đi đôi với việc củng cố, xây dựng các tổ, đội thông tin lưu động…
…Tăng cường công tác sưu tầm, khai thác, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá tiên tiến của các dân tộc trong tỉnh Tiếp tục quy hoạch, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng Tân Trào, ATK (Kim Quan), Kim Bình và các
di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức hướng về cội nguồn, lòng tự hào về truyền thống cách mạng cho nhân dân các dân tộc.” [21, tr 60-61]
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, ngày 12/9/1998, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII đã thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TU Nghị quyết đánh giá thực trạng văn hoá trên địa bàn tỉnh những năm đổi mới, khẳng định những thành tựu đạt được và chỉ rõ những yếu kém, tồn tại,
đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh xây dựng và phát triển văn hoá:
1 Xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình;
Trang 262 Xây dựng môi trường văn hoá: ban hành và thực hiện quy định về xây dựng gia đình văn hoá và thôn bản, tổ nhân dân văn hoá;
3 Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ;
4 Phát triển và quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng;
5 Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số;
6 Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật;
7 Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá
Ngày 26/7/1999, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Số 11-NQ/TW quyết định
tổ chức trọng thể các hoạt động kỷ niệm nhân dịp các ngày lễ lớn trong năm
2000 Các hoạt động kỷ niệm nhằm:
- Tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam
từ ngày có Đảng lãnh đạo, đặc biệt là trong 15 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới
- Giáo dục sâu sắc lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, khẳng định lý tưởng, mục tiêu, con đường của cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo; phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần cách mạng tiến công, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí tự lực tự cuờng dân tộc trong giai đoạn mới, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị do Đại hội VIII của Đảng đề ra
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 20/9/1999, Tỉnh ủy Tuyên Quang ra Thông báo số 401-TB/TU thông báo kết luận của Thường trực Tỉnh
ủy trong buổi làm việc với Thường trực Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, lãnh đạo Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy, lãnh đạo Sở Văn hóa - Thông tin (SVH-TT) (năm 2007 đổi thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (SNN-PTNT), Hội kiến trúc sư tỉnh về phục hồi, tôn tạo một số di tích lịch sử văn hóa kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000: giao cho Ban cán sự Đảng UBND tỉnh chủ trì cùng
Trang 27với Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan chức năng và các cơ quan chuyên môn khẩn trương thực hiện các công việc như:
Phục hồi, tôn tạo di tích Hầm của Bác Hồ và Hầm của Bác Tôn Đức Thắng: nghiên cứu, sưu tầm, chuẩn bị đầy đủ các cứ liệu để lập phương án thiết kế, tôn tạo trên nguyên tắc phục hồi lại như cũ di tích gốc Tổ chức hội thảo để lựa chọn phương án tôn tạo bảo đảm giữ gìn được không gian lịch sử của các di tích nói trên; tổ chức lao động nạo vét, khơi thông toàn bộ thân Hầm làm việc của Bác Tôn Đức Thắng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp tại xã Trung Yên, huyện Sơn Dương
Làm hàng rào cây xanh ở Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Đình Thanh
La, Cây đa Tân Trào và trồng cây xanh, quy hoạch khu dân cư trong khu vực
di tích: nghiên cứu, lựa chọn cây xanh làm hàng rào, thay cho các hàng rào sắt, hàng rào xi măng cốt thép đã xây dựng cũ trước đây Trồng cây xanh từ ngã ba thị trấn Sơn Dương đến Đình Tân Trào; khẩn trương hoàn thành việc quy hoạch chi tiết khu dân cư từ ngã ba Cầu Trắng đến thôn Tân Lập, không phá vỡ cảnh quan của di tích và môi sinh trong vùng
Xây dựng phương án phòng hỏa tổng thể cho khu vực rừng văn hóa lịch sử Tân Trào và từng điểm di tích Đồng thời phải thường xuyên tổ chức cho tập duyệt phương án phòng chống cháy, nổ đã được xây dựng Vận động, hướng dẫn nhân dân trong khu vực sống, làm việc văn minh, sạch đẹp, trật tự
kỷ cương
Về làm mới, tu bổ một số bia di tích: chưa làm đồng loạt các bia, biển Khi có chủ trương làm bia phải đặc biệt lưu ý: Bia di tích phải tập hợp được đầy đủ nội dung lịch sử Văn bia phải hàm súc, trong sáng Về hình thức của các bia phải đảm bảo tính mỹ thuật Vị trí đặt các bia phải phù hợp với không gian của di tích Biển chỉ dẫn đến các di tích phải căn cứ vào yêu cầu cần thiết
Trang 28của từng di tích cụ thể để đặt biển Nội dung bia, biển chỉ dẫn và hình thức bia, biển phải được duyệt trước khi thực hiện
Làm bản đồ, sa bàn và chỉnh lý nội dung trưng bày Nhà bảo tàng Tân Trào: nghiên cứu xây dựng bản đồ ở KDT Tân Trào và xây dựng sa bàn ở KDT Kim Bình Bản đồ và sa bàn phải thể hiện đầy đủ, chuẩn xác các điểm di tích, giúp cho khách tham quan hình dung được tổng thể KDT Chỉnh sửa lại
sa bàn ở Nhà bảo tàng Tân Trào đạt yêu cầu như sa bàn mới ở Kim Bình; lập
kế hoạch cụ thể về nội dung chỉnh lý, sắp xếp lại nhà trưng bày, thể hiện được tính chân thực lịch sử Về hình thức trưng bày phải bảo đảm tính thẩm mỹ
Phục hồi khả năng sinh trưởng Cây đa Tân Trào và chăm sóc cây xanh khu vực di tích: xây dựng phương án bảo vệ, chăm sóc, phục hồi khả năng sinh trưởng của Cây đa Tân Trào và chăm sóc cây xanh trong khu vực di tích
Về KDT lịch sử Kim Bình: khẩn trương lập kế hoạch sưu tầm đầy đủ nội dung các sự kiện và các hiện vật, hình ảnh về Đại hội II của Đảng và các hội nghị tiếp theo tại Kim Bình để làm căn cứ cho việc xây dựng sa bàn tổng thể các di tích thuộc KDT Kim Bình Có kế hoạch xây dựng nhà lưu niệm tại khu vực di tích
Về KDT lịch sử Đá Bàn: thu thập đầy đủ nội dung, tư liệu, chứng cứ về KDT lịch sử Đá Bàn để tỉnh có căn cứ làm việc với Đại sứ quán nước bạn Lào về việc tôn tạo di tích Đá Bàn, bảo đảm tính chân thực lịch sử, làm giàu thêm truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào
Thành lập tổ công tác thu thập, sưu tầm tài liệu, chứng cứ lịch sử cách mạng: Thành lập tổ công tác đặc biệt gồm các cán bộ có chuyên môn giỏi, giàu kinh nghiệm, tâm huyết thuộc các lĩnh vực lịch sử, bảo tồn, bảo tàng, kiến trúc để tổ chức việc sưu tầm tài liệu, hiện vật, phát hiện nhân chứng lịch
sử về lịch sử cách mạng của tỉnh Trang bị phương tiện làm việc chuyên dùng
Trang 29phục vụ cho công tác sưu tầm và phương tiện đi lại để tổ công tác hoàn thành nhiệm vụ
Tuy tình hình kinh tế - xã hội của Tuyên Quang còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã đề ra Sự nghiệp văn hóa Tuyên Quang nói chung và công tác bảo tồn, phát huy giá trị các KDT lịch sử nói riêng đã đạt được kết quả tuy còn khiêm tốn những cũng đã đánh dấu bước trưởng thành, phát triển của tỉnh sau khi tái lập
1.3.2 Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng
ở Tuyên Quang
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, ngày 27/11/1998, SVH-TT cùng với Bảo tàng tỉnh và Công ty Khảo sát Thiết kế tỉnh Tuyên Quang đã kiểm tra tình trạng xuống cấp một số điểm di tích tại khu vực xã Kim Quan, Tân Trào, kết quả kiểm tra cho thấy tại nhiều di tích có những biểu hiện của sự xuống cấp, cụ thể như:
Di tích Hầm an toàn của Bác Hồ: Thân hầm bị sạt lở nặng Năm 1996, chiều sâu thân hầm còn 8,3m đến năm 1998 còn 4,0m do nước mưa từ sườn núi chảy xuống gây sạt lở
Di tích Hầm an toàn của Văn phòng Trung ương Đảng: Trán hầm chưa
có biểu hiện sạt lở song tả luy lối vào hai bên đều có biểu hiện sạt lở, nghiêm trọng hơn ở tả luy phía tay trái Nguyên nhân nước mưa từ sườn núi chảy xuống, tả luy dốc và cao; trên tả luy có 5 cây to: sát mép tả luy có 3 cây đất bị
lở trơ rễ và gốc, 2 cây to đường kính từ 0,65m đến 0,8m cao khoảng 15 đến 20m, gốc cách mép tả luy từ 3 đến 4m, rễ đã ăn xiên xuống vách tả luy làm nứt một mảng lớn tả luy, nếu không xử lý kịp thời các cây này gây sạt lở vách
tả luy và trán hầm sẽ làm biến dạng cảnh quan của di tích Phần cuối thân hầm đã bị sạt lở
Trang 30Hầm an toàn của Văn phòng Chính phủ: Trán và thân hầm chưa có biểu hiện sạt lở nhưng phần cuối thân hầm có nước ngấm từ trên sườn núi xuống gây ẩm cuối hầm
Di tích Đình Hồng Thái: Hàng rào phía giáp đường thấp do đường đã nâng cao, nước từ khu dân cư và chợ Tân Trào chảy xuống khi mưa to và tràn vào khuôn viên của di tích Hàng rào nan bê tông cốt thép phía cổng vào và sau gốc cây gạo (giáp ruộng) tổng số có 27 đoạn bị gãy và hỏng 13 đoạn, phên chống bão của Đình đã bị hỏng
Di tích Đình Tân Trào: Sau khi làm đường Quảng trường, hàng rào nan
bê tông cốt thép thấp hơn đường Một số khách tham quan không đi theo cổng
mà trèo bước qua hàng rào làm ảnh hưởng cảnh quan của di tích
Di tích Cây đa Tân Trào: Hàng rào sắt bảo vệ cây đa thấp = 0,58m, thép hàng rào nhỏ, các tai nhọn phía trên đã bị phá gãy Tổng số có 4 bức rào dài 3,1m, 1 bức đã bị gãy hỏng nặng; cánh cổng chính bị gãy một số ô hoa và bản lề Do hàng rào thấp, cổng hỏng vì vậy hiệu quả ngăn trâu bò vào phá hoại là rất kém
Từ tình hình thực tế tại các điểm di tích, SVH-TT đã lập báo cáo đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương xử lý chống xuống cấp và bảo vệ di tích với những phương án cụ thể
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XII), để công tác quản lý khu di tích lịch sử Tân Trào - ATK được tốt hơn, ngày 15/1/1999 UBND tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định số 65/QĐ-UB thành lập Bảo tàng Tân Trào - ATK, đơn vị có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trên địa bàn 10 xã ATK thuộc hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Ngay sau khi thành lập, đơn vị đã cử cán bộ tham gia tổ công tác đặc biệt tiến hành sưu
Trang 31tầm chứng cứ lịch sử trong tỉnh Tuyên Quang, thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh Một đợt khảo sát xác định hiện trạng các di tích được tiến hành
kỹ lưỡng và lập kế hoạch tôn tạo
Triển khai Thông báo số 401-TB/TU ngày 20/9/1999 cuả Tỉnh ủy về khôi phục, tôn tạo một số di tích lịch sử văn hóa phục vụ kỷ niệm các ngày lễ lớn năm 2000, UBND tỉnh đã thành lập Tổ công tác thu thập, sưu tầm tài liệu, chứng cứ lịch sử cách mạng gồm 13 cán bộ, chuyên viên Tổ công tác chia làm ba nhóm đi khai thác, thu thập tư liệu tại địa phương, Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và An Giang Đã gặp 29 nhân chứng, làm việc với 7 cơ quan Tài liệu khai thác gồm: ảnh, băng hình, sách, một số văn bản do Quốc hội, Chính phủ ban hành trong thời kỳ ở Tuyên Quang
Tỉnh đoàn Thanh niên cùng SVH-TT, Bảo tàng Tân Trào huy động cán
bộ Tỉnh đoàn, đoàn viên của xã Trung Yên nạo vét, khơi thông Hầm an toàn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại thôn Chi Liền, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương SVH-TT cũng đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh nạo vét căn Hầm của Bác Hồ tại xã Kim Quan, huyện Yên Sơn
UBND tỉnh đã chỉ đạo SVH-TT tổ chức Hội nghị nhân chứng lịch sử Tuyên Quang, hoàn chỉnh phương án mô hình 2 di tích Hầm an toàn và lán làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Quan và Hầm an toàn và lán làm việc của Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại xã Trung Yên, lấy xác nhận của nhân chứng, cơ quan nơi nhân chứng công tác để hoàn chỉnh hồ sơ trình UBND tỉnh và Thường trực Tỉnh ủy phê duyệt phương án tôn tạo
SVH-TT phối hợp với Công ty Khảo sát Thiết kế tỉnh lập thiết kế khôi phục, tôn tạo trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức triển khai thi công khôi phục, tôn tạo 2 di tích
Đến tháng 8 năm 2000, di tích Hầm an toàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thi công xong phần thân hầm, đắp đất khôi phục đỉnh hầm, sườn núi hai
Trang 32bên hầm; di tích Hầm an toàn và lán làm việc của Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã thi công xong toàn bộ di tích hầm, di tích lán, đắp đất khôi phục lại sườn đồi nơi di tích, trồng cỏ và cây trên đỉnh hầm
SNN-PTNT và Bảo tàng Tân Trào đã cùng khảo sát và lựa chọn cây găng hoa tím làm hàng rào cho các di tích Hạt Kiểm lâm Tân Trào phụ trách trồng, chăm sóc cây từ cầu sắt Sơn Dương vào Tân Trào Bảo tàng Tân Trào
đã trồng cây ăn quả, cây xanh trong khu vực Cây đa Tân Trào, Đình Tân Trào, Lán Hang Bòng, khu vực Quảng trường, khu vực Nhà trưng bày
Bảo tàng Tân Trào, UBND xã Tân Trào, Hạt Kiểm lâm Tân Trào đã lập phương án phòng cháy chữa cháy và thành lập Ban phòng cháy chữa cháy KDT Tân Trào, trọng điểm là các di tích ở xã Tân Trào và xã Minh Thanh Triển khai mua sắm dụng cụ, trang thiết bị phòng cháy chữa cháy như bình bọt, câu liêm, dao, ủng, găng tay, mũ, đèn pin, thang tre… Xây 04 bể nước phòng cháy chữa cháy tại Lán Nà Lừa, Đình Tân Trào, Đình Thanh La, Đình Hồng Thái Tập huấn phương án phòng cháy chữa cháy cho cán bộ và nhân dân địa phương
SVH-TT đã soạn nội dung văn bia, xác định vị trí đặt bia, biển chỉ đường của các di tích quan trọng Bảo tàng Tân Trào lập bản đồ khu vực Tân Trào và chỉnh sửa sa bàn KDT Tân Trào, chỉnh lý nội dung trưng bày Nhà Bảo tàng Tân Trào
SNN-PTNT đã khảo sát tình hình sinh trưởng, phát triển của Cây đa Tân Trào, đã xây dựng phương án phục hồi khả năng sinh trưởng của Cây đa Tân Trào, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu xử lý chữa và phòng chống sâu bệnh cho cây Tháng 8 năm 2000, ngành văn hóa thông tin triển khai thực hiện xong bước 1 của phương án gồm: cắt bỏ cành khô, xử lý chống sâu bệnh, chống mối, xới đất, bón phân, trồng cỏ, tưới nước và làm hàng rào bảo vệ
Trang 33Tại KDT Kim Bình, KDT lịch sử Đá Bàn, SVH-TT triển khai thu thập
bổ sung tài liệu
Năm 2000, các đơn vị đã phối hợp với Văn phòng SVH-TT tôn tạo di tích Đình Tân Trào, khu hầm ATK Kim Quan, cụm di tích Chủ tịch Tôn Đức Thắng Ngày 14/8/1999, Bộ Công an đã khởi công xây dựng, khôi phục, tôn tạo KDT lịch sử Nha Công an Việt Nam tại thôn Đồng Đon, xã Minh Thanh (Sơn Dương) rộng gần 12 ha KDT được khánh thành vào dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Công an nhân dân Việt Nam (19/ 8/1945 - 19/8/2000) Di tích Nha Công an Việt Nam được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch xếp hạng cấp Quốc gia và được công nhận là điểm du lịch sinh thái Với quần thể di tích trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp gắn với Khu du lịch sinh thái đang không ngừng được mở rộng, hứa hẹn KDT lịch sử Nha Công an Việt Nam luôn là điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước
Trong 5 năm qua, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ đã vận dụng chủ trương, nghị quyết của Trung ương vào thực tiễn địa phương, động viên toàn Đảng bộ và nhân dân vượt qua khó khăn thử thách, phấn đấu hoàn thành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII Thực hiện một bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn Kinh tế tăng trưởng đều qua các năm Các mặt đời sống xã hội được chăm lo toàn diện An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, sức mạnh quốc phòng được tăng cường Tiến hành quy hoạch, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng (Tân Trào, ATK Kim Quan, Kim Bình…) và các di tích lịch sử văn hóa Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức hướng về cội nguồn, tự hào về truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc
Trang 34*
* *
Thực tiễn công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng đã khẳng định những quan điểm, chủ trương đúng đắn của Tỉnh ủy Thông qua đó, các di tích đã thể hiện được vai trò của mình trong việc giáo dục truyền thống cách mạng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là du lịch
Tỉnh ủy Tuyên Quang đã chỉ đạo công tác bảo tồn, trùng tu di tích đạt được những thành tựu quan trọng góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc khẳng định giá trị của các di tích lịch sử nói chung, cho công tác quản lý tu bổ
di tích nói riêng Đảng bộ tỉnh đã có các giải pháp cụ thể để bảo tồn và bước đầu phát huy giá trị của các di tích: Bảo quản cấp thiết hầu hết các di tích bằng các biện pháp chống dột, chống sập, chống mối mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa nhờ vậy mà trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, các di tích vẫn được bảo tồn Hệ thống di tích lịch sử cách mạng Tuyên Quang đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và chuyển sang giai đoạn ổn định, để phát huy giá trị
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng ở Tuyên Quang còn một số khó khăn bất cập: công tác quản lý còn nhiều hạn chế; một số di tích bị xâm phạm, lấn chiếm; thiếu sự gắn kết giữa bảo tồn và phát huy dẫn đến các di tích xuống cấp; chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác di sản chưa được quan tâm đúng mức
Những thành tựu và khó khăn trên là cơ sở để Đảng bộ và chính quyền tỉnh Tuyên Quang rút ra kinh nghiệm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cho giai đoạn tiếp theo
Trang 35Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY
để phát triển kinh tế - xã hội của Đảng là quan điểm khoa học, hiện đại và mang tính thực tiễn cao, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay Chúng ta phải đặc biệt chú trọng nâng cao tầm nhìn, tầm văn hoá trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau Hiểu biết sâu sắc thời đại
và dân tộc là điểm xuất phát quan trọng để chúng ta đề ra được chủ trương và hành động đúng
Ngày 29/6/2001, kỳ họp thứ chín Quốc hội khoá X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Di sản văn hóa Luật Di sản văn hóa được ban hành nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia
Trang 36bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Đây rõ ràng là một bước tiến, thể hiện sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân về tài sản văn hóa quốc gia
Nhằm khai thác có hiệu quả những giá trị lịch sử trong giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống cách mạng đối với thế hệ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, ngày 28/8/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị 15-
CT/TW “Về tăng cường và nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam” Đánh giá những thành tựu đạt được cũng như
những khuyết điểm, yếu kém còn tồn tại trong công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, Ban Bí thư đặt ra nhiệm vụ cho những năm tiếp theo là bổ sung, hoàn chỉnh những công trình lịch sử đã có, tiếp tục nghiên cứu, biên soạn lịch
sử toàn Đảng và lịch sử đảng bộ, lịch sử địa phương đến hết năm 2000
Để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lịch sử, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Bí thư cũng đã quy định những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương
và toàn thể đảng viên
Tháng 7 năm 2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VIII Nghị quyết kết luận: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế làm trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của
xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” [30,
tr 242] Kết luận quan trọng này là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng
ta về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương năm khoá VIII từ năm 1998
Với tinh thần Dân chủ, Trí tuệ, Kỷ cương, Đoàn kết, Sáng tạo, Đại hội
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIII từ ngày 14 đến ngày 17/12/2000,
Trang 37diễn ra vào thời điểm lịch sử trọng đại: kết thúc thế kỷ XX, chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI Đại hội xác định phương hướng nhiệm vụ 5 năm 2001 - 2005:
“hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải nhận rõ tình hình, nắm bắt thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn trở ngại, đổi mới cách nghĩ, cách làm, năng động, sáng tạo, tìm cách “đi tắt đón đầu”, khai thác mọi tiềm năng, mở rộng hợp tác, liên kết, liên doanh, phát huy nội lực và những lợi thế, tranh thủ vốn, công nghệ mới, kinh nghiệm quản lý trong và ngoài nước, mở rộng thị trường, phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo nên sự phát triển nhanh ngay những năm đầu thể kỷ XXI” [22, tr 51-52]
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang xác định phát triển sự nghiệp văn hóa của tỉnh với những mục tiêu cụ thể:
“Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá XII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Thực hiện
có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”,
“Phong trào người tốt, việc tốt” Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Nâng cao tính văn hoá trong các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân
Chuyển mạnh các hoạt động văn hoá - thông tin về cơ sở, tiếp tục đầu
tư xây dựng thiết chế văn hoá để nâng mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở Bảo tồn, phát huy vốn văn hoá, văn nghệ dân gian truyền thống của các dân tộc Sử dụng có hiệu quả các nhà văn hoá trung tâm cụm
xã, các tủ sách xã, phường, thị trấn, cơ quan, trường học…
Từng cơ sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, xí nghiệp, trường học, các đơn vị cần sưu tầm gìn giữ tài liệu, hiện vật truyền thống của đơn vị Nghiên cứu, biên tập để sớm xuất bản lịch sử, địa chí tỉnh Tuyên Quang
Trang 38Làm tốt hơn nữa việc bảo vệ, quản lý, tôn tạo, chống xuống cấp các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam, thắng cảnh, khai thác có hiệu quả phục vụ cho giáo dục truyền thống, tham quan du lịch
Xây dựng Nhà bảo tàng tổng hợp, Thư viện khoa học tổng hợp, Nhà văn hoá trung tâm tỉnh, Nhà văn hoá trung tâm huyện, thị xã; tăng cường chất lượng hoạt động các nhà văn hoá - thể thao trung tâm cụm xã.” [22, tr 70]
Thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về di sản văn hóa, ngày
26/9/2001, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ra Nghị quyết số 27/NQ-TU về việc
lập dự án tôn tạo, quy hoạch các KDT lịch sử cách mạng, với mục tiêu:
Khảo sát, nghiên cứu toàn diện về các KDT, đánh giá đầy đủ về thực trạng của các KDT lịch sử cách mạng;
Kết hợp các biện pháp cải tạo hạ tầng kỹ thuật, cải tạo môi trường cảnh quan nhằm ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất các nguy cơ và rủi ro có thể xảy ra, tạo điều kiện thuận lợi để bảo tồn lâu dài và phát huy hiệu quả giá trị của khu di tích;
Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị hệ thống các di tích lịch sử kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra quần thể các điểm tham quan du lịch góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng, kháng chiến,
“uống nước nhớ nguồn” và nâng cao lòng tự hào dân tộc
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Tuyên Quang đã có Công văn số 1132-CV/TU chỉ đạo, hướng dẫn và đề ra những mục tiêu cụ thể đối với các cấp uỷ, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể triển khai nhiệm vụ nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể và lãnh đạo các ban, ngành từ tỉnh đến
cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò của công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng đối với nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhân dân, kịp thời lãnh đạo triển khai thực hiện có hiệu quả đảm bảo tính đảng, tính khoa học
Trang 39Kết quả đạt được trong công tác sưu tầm, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ nhận thức, lý luận, rèn luyện phẩm chất đạo đức và giáo dục truyền thống cách mạng, khơi dậy tình cảm yêu nước, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh
và xây dựng Đảng
2.1.2 Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện
Ngay những tháng đầu năm 2001, Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng tập trung quán triệt, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống, phát huy, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương, tận dụng mọi nguồn lực, thu hút nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế để phát triển kinh tế - xã hội
Công tác bảo tồn, tôn tạo, phục dựng và phát huy giá trị các KDT lịch
sử cách mạng và kháng chiến
Thực hiện ý kiến của UBND tỉnh về việc lập đề án phục hồi, tôn tạo KDT Chủ tịch Phủ - Thủ tướng Phủ, căn cứ nội dung đề án quy hoạch tổng thể phục hồi, bảo tồn, tôn tạo và phát huy KDT lịch sử cách mạng và kháng chiến “Chiến khu Việt Bắc” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 984/QĐ-TTg ngày 25/10/1999, SVH-TT lập đề án đầu tư phục hồi, tôn tạo KDT Chủ tịch Phủ - Thủ tướng Phủ tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, nơi ở và làm việc của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Ban Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch Phủ - Thủ tướng Phủ trong những năm 1947 - 1954 và trình lên UBND tỉnh xem xét phê duyệt ngày 24/9/2001
Trang 40Đề án xác định 6 di tích cần phục hồi, tái tạo di tích gốc, đó là: Di tích nhà sàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nghỉ lại trong các kỳ họp Hội đồng Chính phủ và khi tiếp khách); Di tích phòng Bí thư (phòng thư ký) của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nơi ở và làm việc của bộ phận giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh do đồng chí Vũ Đình Huỳnh phụ trách); Di tích phòng 7 (Nơi làm việc của đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao và phòng Bí thư giúp việc cho Phó Thủ trướng); Di tích Hội trường họp Hội đồng Chính phủ (Tại đây đã diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Quốc hội, các cuộc họp Đảng Đoàn, các phiên họp thường kỳ của Hội đồng Chính phủ quyết đáp những vấn
đề quan trọng của cách mạng Việt Nam); Di tích nhà khách (Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ tiếp các đoàn khách Quốc tế: Đại diện Đảng Cộng sản Pháp, Lào, Trung Quốc, đại biểu Nam bộ ra thăm miền Bắc); Di tích nhà ở, làm việc của cán bộ (Là nơi ở, làm việc của cán bộ nhân viên Văn phòng Chủ tịch Phủ) Ngoài ra còn một số di tích cần dựng bia ghi nội dung các di tích phục hồi và các điểm di tích còn lại trong khu, đồng thời xây dựng bia tổng thể giới thiệu toàn KDT
Bên cạnh đó còn một số dự án liên quan như: Làm đường từ UBND xã Tân Trào đi thôn Lập Binh, đến các điểm di tích trong khu được thuận lợi nhưng phải giữ được cảnh quan, làm cầu qua suối Thia; Nghiên cứu khảo sát xây dựng cầu bắc qua sông Phó Đáy để nối liền 2 KDT: Chủ tịch Phủ - Thủ tướng Phủ, Thác Dẫng, Lập Binh xã Bình Yên với quần thể di tích phân hiệu trường Nguyễn Ái Quốc, lán I, lán II của Bác Hồ và nơi Bác ngồi câu cá ở Khấu Lấu (Vực Hồ); Trồng rừng để khôi phục cảnh quan cho KDT lịch sử; Lập quy hoạch ổn định dân cư thôn Lập Binh, xã Bình Yên gắn với việc bảo
vệ, bảo tồn di tích lịch sử với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng công trình