Do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ sớm nên công cuộc cải cách hành chính đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Đất nước đã cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế kéo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẢI YẾN
CHÊT L¦îNG C¸N Bé, C¤NG CHøC CÊP HUYÖN
§¸P øNG Y£U CÇU C¶I C¸CH HµNH CHÝNH QUA THùC TIÔN HUYÖN §¤NG S¥N, TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hải Yến
Trang 3CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN VÀ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 11 1.1 Lý luận về cải cách hành chính 11
1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính 11 1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 16
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công chức và chất
lượng cán bộ, công chức cấp huyện 20
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức 20 1.2.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp huyện 22 1.2.3 Khái luận về cán bộ, công chức và những yêu cầu, tiêu chuẩn,
điều kiện về chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện 25 1.2.4 Cách thức, phương pháp, tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ,
công chức cấp huyện 28 1.2.5 Ý nghĩa, vai trò của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
cấp huyện trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay 28
Kết luận Chương 1 31
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TIẾN HUYỆN ĐÔNG
SƠN, TỈNH THANH HÓA TRƯỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH 33
2.1 Khái luận chung về huyện Đông Sơn và những đặc thù trong tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và cải cách hành chính huyện Đông Sơn 33
2.1.1 Khái luận chung về huyện Đông Sơn 33
2.2.2 Những đặc thù cơ bản trong tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và cải cách hành chính tại huyện Đông Sơn 35
2.2 Thực trạng về số lượng và các yêu cầu, tiêu chí đối với cán bộ, công chức huyện Đông Sơn hiện nay 38
2.2.1 Thực trạng về số lượng cán bộ, công chức huyện Đông Sơn hiện nay 38
2.2.2 Các yêu cầu, tiêu chí cơ bản đối với cán bộ, công chức huyện Đông Sơn hiện nay 40
2.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức huyện Đông Sơn 43
2.3.1 Thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ 43
2.3.2 Thực trạng về phẩm chất chính trị 48
2.3.3 Thực trạng về đạo đức và tác phong nghề nghiệp 52
2.4 Những nguyên nhân cơ bản 57
2.4.1 Nguyên nhân khách quan 57
2.4.2 Những nguyên nhân chủ quan 61
Kết luận chương 2 65 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG NHỮNG KIẾN NGHỊ,
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP HUYỆN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH
Trang 53.1 Quan điểm, định hướng chung của Đảng, Nhà nước và chính
quyền địa phương trong việc nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính 67
3.1.1 Quan điểm, định hướng của Đảng, Nhà nước 67
3.1.2 Quan điểm, định hướng của Tỉnh Thanh Hóa và Huyện Đông Sơn 73
3.2 Những kiến nghị, giải pháp chung 78
3.3 Những kiến nghị, giải pháp cụ thể, đặc thù 88
Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân UBND Ủy ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình xây dựng và phát triển của nhà nước Việt Nam, vấn đề cải cách hành chính được coi là một trong những khâu then chốt để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và mục tiêu kinh
tế - xã hội của từng địa phương nói riêng Công cuộc cải cách hành chính được Đảng và Nhà nước thực hiện từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX nhằm thay đổi cơ chế hành chính hiện hành làm cho nó phù hợp với yêu cầu phát triển mới của đất nước Cần phải lưu ý rằng cải cách hành chính ở nước ta không nhằm thay đổi nền tảng của nền hành chính nhà nước mà thay đổi cơ chế vận hành của nền hành chính cho phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước Công cuộc cải cách hành chính ngay từ thời kỳ đầu đã được thực hiện một cách toàn diện trên các nội dung cụ thể: Cải cách về thể chế; cải cách bộ máy hành chính; cải cách công chức và công vụ; cải cách tài chính công
Do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ sớm nên công cuộc cải cách hành chính đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Đất nước đã cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế kéo dài trong nhiều năm; nền kinh tế đã chuyển cơ chế vận hành từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường; đời sống của người dân đã được cải thiện đáng kể; bộ máy nhà nước
đã được tổ chức và hoạt động ngày càng hiệu quả với việc tinh giảm nhiều cơ quan, đơn vị trung gian gây chồng chéo ở cả Trung ương và địa phương; cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương được hợp lý hóa; thủ tục hành chính ngày càng được đơn giản phục vụ tốt hơn yêu cầu của tổ chức, cá nhân; nhiều thể chế đã bước đầu được đổi mới phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước,
Trang 8của từng địa phương, đơn vị; đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng… Những thành tựu kể trên đã tạo được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém: Về kinh tế: Trong những năm qua, kinh tế tuy đã có bước phát triển nhưng chưa mang tính ổn định, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn ở mức cao; lạm phát vẫn còn tồn tại; cơ chế quản lý kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới nên hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Về cơ chế quản lý nhà nước: Công tác quản
lý nhà nước còn mang nhiều dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp; bộ máy hành chính tuy đã được cải thiện một bước đáng kể nhưng còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả; phân công, phân cấp giữa các
cơ quan nhà nước chưa rõ ràng nên hiệu quả quản lý chưa cao; cơ chế tài chính không thích hợp; nạn tham nhũng, lãng phí ngày càng trở nên trầm trọng; hệ thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất; thủ tục hành chính còn nhiều khâu, nhiều bước trung gian không cần thiết gây rườm rà; đội ngũ cán bộ, công chức nói chung đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương còn kém về năng lực chuyên môn; tinh thần trách nhiệm, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới…
Trong số những tồn tại, hạn chế kể trên thì vấn đề chất lượng cán bộ, công chức được xem là một trong những tồn tại được quan tâm hàng đầu Bởi
vì, trong mọi cơ chế, chính sách con người luôn được coi là trung tâm Hay nói cách khác, muốn thay đổi cơ chế, chính sách thì nâng cao trình độ, đổi mới tư duy, phương pháp thực hiện của nguồn nhân lực phải được thực hiện đầu tiên Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, quan điểm về quản lý nhà nước cũng có những thay đổi cho phù
Trang 9hợp với tình hình mới thì vấn đề chất lượng cán bộ, công chức lại càng trở nên cấp thiết Cùng với sự thay đổi về cơ chế quản lý thì vai trò của nhà nước cũng chuyển dần từ vị thế “ông chủ” sang người “phục vụ” - phục vụ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; lấy lợi ích tổ chức, cá nhân là tôn chỉ cao nhất cho mọi hoạt động Chính sự thay đổi đó yêu cầu Đảng, Nhà nước cần có những chính sách mới trong quản lý đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, cấp xã - là những người trực tiếp phục vụ nhân dân
Thực trạng cán bộ, công chức cấp huyện luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Bởi họ là những người vừa trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của người dân vừa là người truyền tải các thông tin về chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đến chính quyền cơ sở nên mọi hành vi của họ dù đúng, dù sai đều ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của quản lý nhà nước Đặc biệt là nhà nước ta, với bản chất là nhà nước của dân, do dân, vì dân thì tinh thần, thái độ, chất lượng phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức là cán cân đánh giá tính chất dân chủ của một nhà nước Nếu cán bộ, công chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình thì sẽ tạo được niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng
và quản lý của Nhà nước; ngược lại, nếu cán bộ, công chức không thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ tạo nên sự coi thường, sự mất niềm tin của người dân đối với hệ thống chính trị, đối với nhà nước
Chính vì bản thân nhận thức được tầm quan trọng to lớn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện, vì những lý do kể trên và do điều kiện công tác của bản thân là tại một cơ quan hành chính cấp huyện nên tôi đã lựa chọn đề
tài: “Chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính qua thực tiễn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” để có thể đưa
Trang 10ra những phản ánh, kiến nghị trung thực về thực trạng cũng như những giải pháp thực sự cần thiết để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện trong giai đoạn hiện nay thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
đã và đang thuộc đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như: chính trị học, luật học, xây dựng Đảng Sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề cải cách hành chính được xem là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Trong thực tiễn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới để xây dựng đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết Có thể nói đây
là vấn đề quan trọng, thu hút được sự nghiên cứu của nhiều tác giả
Trong phạm vi đề tài đã được nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả biết có thể liệt kê sơ bộ như sau:
- Phạm Văn Quang và Nguyễn Viết Thông (2000): Góp phần tìm hiểu
sự phát triển tư duy của đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu, Nxb TP Hồ Chí Minh, T.p Hồ Chí Minh
- Phùng Văn Tửu (1999): Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Lê Minh Quân (2003): Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Trần Hậu Thành (2005): Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Nxb lý luận chính
Trang 11- Đức Vượng (2002): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Văn Mạnh (2010): Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Cù Xuân Trường (2013): Vấn đề cốt lõi của cải cách hành chính là
nâng cao trách nhiệm công vụ
- PGS - TS Nguyễn Phú Trọng, PGS - TS Trần Xuân Sâm (2001):
Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước, Nxb Thống Kê, Hà Nội
- Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu Huyền: Hệ thống công vụ và
xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004
- Phó Vụ trưởng - Cơ quan đại diện Bộ Nội vụ tại thành phố Hồ Chí
Minh Nguyễn Huy Kiệm: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ
sở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
- TS Ngô Thành Can: Chất lượng thực thi công vụ - Vấn đề then chốt
chính Quốc gia Hồ Chí Minh
- Thân Thái Hà: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công
chức cấp cơ sở
- TS Dương Trung - TS Dương Trung Ý: Nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức xã, phường, thị trấn, Học viện Xây dựng Đảng - Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Cải cách hành chính là vấn đề đã và đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và thường xuyên có những đổi mới nhằm góp phần vào việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, các Chương trình, Kế hoạch, Đề án do Đảng và Nhà nước ban hành chỉ
Trang 12mang tính chất điều chỉnh chung, ở mỗi địa phương cụ thể do điều kiện kinh
tế - xã hội khác nhau; đặc điểm tình hình khác nhau nên công tác tổ chức, bố trí cán bộ, công chức nói chung và công tác tổ chức, bố trí cán bộ làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng cũng có những điểm khác biệt mang tính đặc thù và do đó cũng có những điểm khác nhau trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để một mặt đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia nói chung, một mặt đáp ứng đặc điểm, tình hình của từng địa phương cụ thể
Những công trình khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền, nghiên cứu về cải cách nền hành chính quốc gia của nước ta qua các giai đoạn lịch sử cụ thể Có nhiều luận văn, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề chất lượng cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức trong các
cơ quan hành chính trong một tỉnh, thành phố cụ thể, một ngành cụ thể Cũng
có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp cơ sở Nhưng để đi sâu nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính cấp huyện trên địa bàn một huyện cụ thể thì hiện tại chưa có đề tài nào Mặc dù vậy, các công trình khoa học trên đây là những tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cải cách hành chính nói chung và đối với việc nâng cao chất lượng cán bộ công chức nói riêng
- Đánh giá thực trạng, rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó xác định các giải pháp đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thanh
Trang 13Hóa, Huyện ủy Đông Sơn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong
cơ quan hành chính nhà nước huyện Đông Sơn nói riêng
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ hơn về lý luận cải cách hành chính bao gồm: các khái niệm về cải cách hành chính; mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay;
- Làm rõ hơn lý luận cơ bản về cán bộ, công chức, bao gồm: Khái niệm cán bộ, công chức; đặc điểm cán bộ, công chức cấp huyện và những yêu cầu
cơ bản về chất lượng của cán bộ, công chức cấp huyện;
- Đi sâu nhiên cứu vai trò và tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện trong cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;
- Nêu và phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức huyện Đông Sơn và những yêu cầu, tiêu chí đối với cán bộ, công chức cấp huyện;
- Đề ra quan điểm và các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính Trong đó nêu ra những quan điểm, định hướng chung; quan điểm, định hướng của tỉnh Thanh Hóa, huyện Đông Sơn và đưa ra các kiến nghị, giải pháp chung cũng như các kiến nghị, giải pháp mang tính đặc thù của bản thân
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Lý luận chung về cải cách hành chính;
- Những vấn đề lý luận về cán bộ, công chức;
Trang 14- Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng cán bộ, công chức và chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện;
- Thực trạng cán bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (bao gồm thực trạng về số lượng và thực trạng về chất lượng) trong đó nhấn mạnh thực trạng về chất lượng cán bộ, công chức và những nguyên nhân của thực trạng về chất lượng;
- Phân tích những quan điểm, định hướng chung của Đảng, Nhà nước
và chính quyền địa phương cũng như những kiến nghị, giải pháp của bản thân trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cẩu cải cách hành chính;
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc cải cách hành chính, trong đó nhấn mạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay;
- Về cơ sở thực tế của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn một cơ quan hành chính cụ thể - UBND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhằm nêu lên thực trạng và qua đó đưa ra các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước cũng như đề xuất, kiến nghị của bản thân nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia nói riêng
Trang 15Mác Mục tiêu, nhiệm vụ và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: hệ thống, phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: So sánh, khảo sát thực tế, thống kê, logic, lấy ý kiến chuyên gia
6 Điểm mới khoa học của luận văn
- Khái quát hoá được quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc lãnh đạo cải cách nền hành chính quốc gia;
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm cải cách hành chính, mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính; khái niệm cán bộ, công chức và một
số đặc điểm của cán bộ, công chức cấp huyện;
- Đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện cả về số lượng và chất lượng;
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay thông qua việc nghiên cứu thực trạng cán bộ, công chức huyện Đông Sơn
7 Ý nghĩa của luận văn
- Kết quả luận văn góp phần đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện thông qua thực tiễn huyện Đông Sơn - tỉnh Thanh Hóa từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ mới gắn liền với nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách trong các cơ quan Đảng, cơ quan
Nhà nước
Trang 168 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cán bộ, công chức về chất lượng cán bộ,
công chức cấp huyện và cải cách hành chính
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện qua
thực tiễn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Quan điểm và những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1 Lý luận về cải cách hành chính
1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính
Muốn biết khái niệm cải cách hành chính, trước tiên chúng ta phải đi nghiên cứu và tìm hiểu khái niệm thế nào là hành chính nhà nước để hiểu rõ hơn bản chất của nền hành chính và làm tiền đề cho việc nghiên cứu khái niệm, bản chất của cải cách hành chính
Khái niệm hành chính nhà nước có nội hàm rộng, tuy nhiên, trong phạm vi Luận văn này, khái niệm hành chính nhà nước được nghiên cứu ở hai phương diện: cơ cấu và nội dung với tư cách là cơ quan thực thi quyền hành pháp, là cơ quan quản lý của nhà nước
Về cơ cấu: Hành chính nhà nước được cấu thành bởi một số chủ thể bao gồm: Ở Trung ương là Chính phủ với tư cách một bộ máy bao gồm người đứng đầu (Thủ tướng), các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; ở địa phương gồm có UBND tỉnh, thành phố thuộc Trung ương; UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND các cấp)
Về nội dung: Hoạt động hành chính rất rộng, nó thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mọi mặt Một mặt, nó phục vụ mọi quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; mặt khác nó cung ứng các dịch vụ công cộng cho toàn xã hội
Nói tóm lại: Hành chính nhà nước là toàn bộ hoạt động thực thi pháp luật của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức thống nhất
từ Trung ương đến địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước cơ
Trang 18quan lập pháp Nó thực chất là cơ quan chỉ huy, điều khiển mọi hoạt động của xã hội theo ý chí, mục tiêu của nhà nước bằng chức năng, hình thức và phương pháp hành chính
Hồ Chí Minh là người sáng lập ra nền chính trị cách mạng Việt Nam, là người khai sinh nền cộng hòa dân chủ Việt Nam và đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng nền hành chính hiện đại Việt Nam Nói đến bản chất nền hành chính nhà nước chính là nói lên bản chất của chế độ, tức là nói đến mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính Nói về mối quan hệ giữa dân chủ và
chuyên chính, Hồ Chí Minh từng viết: “Tính chất của một nhà nước là:
Trong Nhà nước ấy, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị Nhà nước ấy bảo vệ lợi ích của giai cấp nào…” [24, tr.2]
Tính chất của nó là dân chủ chuyên chính… trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của chúng ta, tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, tức là của giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước để thực hành dân chủ chuyên chính [24, tr.2]
Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền hành chính nhà nước
mà chính Người cũng là người đầu tiên đặt nền móng cho công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước Theo quan niệm của Người, các nhân tố cấu thành nên một nền hành chính nhà nước bao gồm:
Xây dựng thể chế tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, công chức, lề lối làm việc, kỹ thuật hành chính và cơ chế vận hành, rèn luyện đạo đức, sửa đổi cách làm việc chống quan liêu lãng phí, tham ô, đảm bảo xây dựng một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân [24, tr.1]
Và khi nói về cải cách nền hành chính nhà nước Người đã nhấn mạnh
Trang 19đến việc không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đội ngũ này không chỉ có tài mà còn phải có cả đức để có thể hết lòng, hết sức phục vụ Đảng, Nhà nước và phục vụ nhân dân
Để thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới, ngay từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ
XX, Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra chính sách cải cách nền hành chính nhà nước, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (Ngày 18 tháng 12 năm 1986) đã khẳng định:
Những khâu quan trọng nhất cần nắm chắc là: xây dựng và ban hành kịp thời các chính sách cụ thể, nhất là các chính sách kinh tế; kiện toàn tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới; bố trí cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; thiết lập trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế, xã hội; phát động phong trào quần chúng hoạt động cách mạng mạnh mẽ, liên tục [1, tr.15]
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, trải qua gần 30 năm thực hiện công cuộc cải cách hành chính, mỗi Đại hội đều đưa ra các chính sách cải cách hành chính phù hợp nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước của từng giai đoạn lịch sử cụ thể và không ngừng hoàn thiện tổ chức,
hoạt động của bộ máy nhà nước
Cũng như khái niệm về nền hành chính nhà nước, cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về cải cách hành chính xuất phát từ các cách tiếp cận, quan niệm khác nhau về cải cách nền hành chính quốc gia, tuy nhiên tựu chung lại, cải cách hành chính không chỉ đơn thuần là sự cải biến mà là cuộc cách mạng
có chủ thuyết chính trị và có kế hoạch, do Đảng cầm quyền khởi xướng và lãnh đạo Mục tiêu của cải cách hành chính là:
Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững
Trang 20mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất
và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước [30, tr.4]
Cái đích của cải cách hành chính là xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân, đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của người lao động Nền hành chính gần dân là nền hành chính không có mục đích tự thân, mà chỉ có mục đích phục vụ dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương của xã hội, của chế độ Thông qua đó, nền hành chính có tác động tích cực đối với đời sống kinh tế, đời sống xã hội
Như đã nói ở trên, cải cách hành chính ở bất kỳ một quốc gia nào cũng không nhằm mục đích làm thay đổi chế độ, thay đổi bản chất của nhà nước; mục đích của cải cách hành chính là nhằm làm cho bộ máy nhà nước hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, duy trì và củng cố chế độ chính trị đã tạo ra nó Ở nước
ta, công cuộc cải cách hành chính được tiến hành từ sớm cũng không ngoài mục đích duy trì bản chất của một nhà nước dân chủ - nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì nhà nước do nhân dân làm chủ nên công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia phải được tiến hành theo hướng gần dân, vì dân, mọi chính sách trong cải cách hành chính phải hướng tới phục vụ nhân dân, lấy lợi ích của nhân dân làm kim chỉ nam cho mọi cơ chế, chính sách Khi các cơ chế, chính sách ban hành phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân ắt sẽ làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và như vậy cũng đồng nghĩa với việc chế độ chính trị sẽ được duy trì Do vậy, cải cách hành chính không chỉ mang tính xã hội mà xét ở góc độ nào đó nó cũng mang tính giai cấp Tính giai cấp thể hiện: cải cách hành chính nhằm duy trì ngày càng vững chắc vị thế của giai cấp thống trị, của chế độ nhà nước mà nền
Trang 21Có nhiều tác phẩm khác nhau đề cập khái niệm khác nhau về cải cách
hành chính Theo Đại học Kinh tế Quốc dân: “Cải cách hành chính nhằm
khắc phục những yếu kém trong chỉ đạo, điều hành của bộ máy hành chính đối với những nội dung và vấn đề nêu trên làm cho nền hành chính thích ứng với mục tiêu mà công cuộc đổi mới đề ra” [22, tr.2]
Từ những phân tích trên, cải cách hành chính có thể được hiểu một cách khái quát, chung nhất là:
Cải cách hành chính là hoạt động của Nhà nước căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hóa, khoa học hóa, hiệu suất hóa thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chế độ công tác, phương thức quản lý để nâng cao năng suất và hiệu lực hành chính của toàn bộ nền hành chính nhà nước
Bất kỳ một nhà nước dù lạc hậu hay tiến bộ muốn tồn tại lâu dài đều phải có các chính sách để cải cách nền hành chính nhà nước Bởi vì, trong mỗi giai đoạn tồn tại khác nhau của Nhà nước thì sẽ xuất hiện những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, những cơ chế, chính sách khi mới đưa ra có thể rất tiến bộ, phù hợp thậm chí mang tính định hướng lâu dài nhưng qua quá trình phát triển với sự thay đổi của điều kiện trong nước và quốc tế sẽ làm cho các chính sách đó không còn phù hợp nữa Để duy trì được chế độ xã hội buộc các nhà quản lý nhà nước phải tiến hành công cuộc cải cách nhà nước,
mà trọng tâm là cải cách nền hành chính nhà nước Ở nước ta cũng vậy, để duy trì chế độ xã hội XHCN thì một trong những đòi hỏi là phải cải cách nền hành chính nhà nước cho phù hợp với tình hình mới (Bao gồm cả tình hình trong nước, tình hình khu vực và tình hình thế giới) Việt Nam cải cách hành chính xuất phát từ:
Các chính sách, pháp luật do nhà nước đưa ra dù có tiến bộ đến đâu nhưng nếu không có chủ thể nào đứng ra thực hiện thì các quy định đó cũng
Trang 22không thể phát huy được hiệu quả Các cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan chấp hành của nhà nước và nền hành chính là nơi trực tiếp
tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Các chính sách, pháp luật của nhà nước và nền hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Các chính sách, pháp luật đúng là điều kiện tiên quyết để có một nền hành chính mạnh, ngược lại, nền hành chính là nơi để đưa các chính sách, pháp luật vào đời sống phát huy hiệu quả trong thực tế Nếu không có nền hành chính thì dù các chính sách có tiến bộ đến đâu cũng chỉ có thể nằm trên giấy mà không thể được thực hiện Hơn nữa trong quá trình tổ chức thực hiện, nền hành chính cũng góp phần tích cực vào việc sửa đổi, bổ sung và góp phần hoàn thiện hơn chủ trương, đường lối, chính sách của Đàng cũng như pháp luật của nước nhà
Trong bộ máy nhà nước ta, các cơ quan hành chính nhà nước là lực lượng đông đảo nhất với hệ thống tổ chức đồng bộ theo ngành và cấp từ trung ương đến chính quyền cơ sở Bên cạnh đó, các cơ quan hành chính nhà nước
là những chủ thể trực tiếp tổ chức, quản lý và xử lý công việc hàng ngày của nhà nước và giải quyết các công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của dân; là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá nhà nước phần lớn và trực tiếp thông qua hoạt động của bộ máy hành chính
Cải cách hành chính nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong chỉ đạo, điều hành của bộ máy hành chính đối với những nội dung và vấn đề nêu trên làm cho nền hành chính thích ứng với mục tiêu mà công cuộc đổi mới đề ra
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính
Để đảm bảo cải cách hành chính được tiến hành thống nhất, đồng bộ và
Trang 23có định hướng, từ năm 2001 đến nay, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành hai Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước Cụ thể là: Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 -
2010 và Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
- 2020 Giai đoạn 2011 - 2020, các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước do Chính phủ đưa ra gồm:
Mục tiêu:
Nghị quyết 30c/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 08 tháng 11 năm
2011 về việc ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 đã đưa ra năm mục tiêu:
1 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước
2 Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính
3 Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước
4 Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước
Trang 245 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân
và sự phát triển của đất nước
Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công
và sáu nhóm nhiệm vụ: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính
1.1.2.2 Sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Cải cách nền hành chính nhà nước chính là cải cách một mắt khâu quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung Bởi lẽ
cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước nhằm áp dụng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào thực tế đời sống Cải cách nền hành chính quốc gia nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước chính là nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với toàn xã hội
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề Bản thân bộ máy nhà nước (mà trong đó trực tiếp là bộ máy hành chính nhà nước) còn tồn tại nhiều đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp không còn phù hợp với điều kiện đất nước trong tình hình đổi
Trang 25mới Cụ thể: Mặc dù đã thừa nhận trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau và các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật nhưng trên thực tế nhà nước vẫn có những phân biệt đối xử nhất định đối với thành phần kinh tế nhà nước mặc dù hoạt động của các công ty đó không mấy hiệu quả
Bộ máy nhà nước mặc dù đã được cải cách một bước nhưng còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả; cơ chế quản lý mặc dù đã được cải thiện một bước đáng kể nhưng nhiều cơ quan, đơn vị còn tồn tại cơ chế xin - cho, gây trở ngại cho tổ chức, các nhân khi có yêu cầu; một bộ phận cán bộ, công chức đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức thuộc thế hệ trước còn tồn tại tư duy cũ trong quản lý và giải quyết công việc nên hiệu quả đạt được không cao Chính vì vậy, để hạn chế những tồn tại kể trên và kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam cần phải có những chính sách đổi mới về mọi mặt trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong đó quan tâm hàng đầu là đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy cơ quan chấp hành - cơ quan hành chính nhà nước vì hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương đều ít nhiều liên quan đến việc giải quyết quyền lợi của tổ chức, cá nhân
Thực tiễn tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước ta cho thấy, bên cạnh những ưu điểm, thành tựu đã đạt được trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc vẫn còn những yếu kém cần phải khắc phục kịp thời như bệnh quan liêu, mệnh lệnh, vi phạm dân chủ, quản lý thiếu tập trung thống nhất, thiếu trật tự kỷ cương, bộ máy cồng kềnh, làm việc kém năng suất Những yếu kém khuyết điểm đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước
Tình hình chính trị, kinh tế và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ trên thế giới thay đổi với tốc độ cao, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới về tổ chức
Trang 26và hoạt động của hành chính nhà nước để có thể đáp ứng kịp với diễn biến của tình hình và tốc độ phát triển của thời đại
Chuyển sang nền hành chính hiện đại là từng bước tách dần các chức năng hành chính khỏi các chức năng kinh doanh, xác định cụ thể các chức năng hành chính với chức năng dịch vụ công, phân định rành mạch cơ quan hành chính với tổ chức sự nghiệp Đây là những nhiệm vụ rất nặng nề để bộ máy hành chính hoàn thành sứ mệnh của cơ quan thực thi quyền hành pháp Còn các chức năng sản xuất và lưu thông hàng hóa, chức năng dịch vụ công
sẽ chuyển giao cho các cá nhân và tổ chức được nhà nước ủy quyền theo hướng xã hội hóa
Trong nền hành chính phát triển, quan hệ giữa nhà nước với công dân thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng Các quyền và nghĩa vụ mỗi bên được xác định rõ ràng, không tuyệt đối hoá, không quá đề cao vai trò của Nhà nước trước công dân, không xem cơ quan nhà nước như một chủ thể ra lệnh, ban phát quyền lợi cho công dân; công chức nhà nước không được quyền sách nhiễu, gây phiền hà cho dân, mà phải coi công dân là khách hàng, cơ quan hành chính là người phục vụ và phải thực hiện cam kết phục vụ một cách công khai
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công chức và chất lƣợng cán bộ, công chức cấp huyện
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là những thuật ngữ được nhà nước ta sử dụng từ rất sớm và ngày càng hoàn thiện hơn
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức Việt Nam định nghĩa:
Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển
để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở
Trang 27trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định [20, tr.2] Theo Sắc lệnh số 76 thì công chức chỉ bao gồm những người được chính quyền nhân dân “Tuyển” giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, trong hay ngoài nước Như vậy, công chức theo Sắc lệnh 76/SL là rất hẹp và thuật ngữ cán bộ chưa được Hồ Chủ tịch nhắc đến
Theo Luật số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định về Cán bộ, công chức:
1 Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
2 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 283 Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [27, tr.1-2] Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã phân biệt rạch ròi giữa thuật ngữ cán bộ và công chức và cán bộ, công chức cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá trên cơ sở đó có thể phát triển hoàn thiện hơn khái niệm này
1.2.2 Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp huyện
Cán bộ, công chức cấp huyện bên cạnh các đặc điểm chung của cán bộ, công chức nói chung còn mang những nét đặc thù bắt nguồn từ chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ này theo quy định của pháp luật
* Các đặc điểm chung:
- Cán bộ, công chức là người trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước, là chủ thể trực tiếp áp dụng các quy định của pháp luật vào trong thực tiễn để giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh Họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định theo nguyên tắc: Cán bộ, công chức được làm những gì pháp luật cho phép Cán bộ, công chức được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ
- Cán bộ, công chức là những người thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước do vậy họ phải là những người có trình độ, am hiểu pháp luật,
áp dụng pháp luật một cách chính xác và sáng tạo Trong quá trình áp dụng pháp luật, họ chính là người sáng tạo ra pháp luật, tham mưu đưa ra các quy
Trang 29định pháp luật mới phù hợp góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
- Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân Trong Nhà nước Việt Nam, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhà nước ra đời với sứ mệnh duy nhất là phục vụ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân Do vậy, cán bộ, công chức phải đặt sứ mệnh phục vụ nhân dân lên hàng đầu vì họ là những người được nhân dân tin tưởng giao phó, họ là những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà ngân sách nhà nước hình thành
từ các nguồn do nhân dân đóng góp, vì vậy xét về mặt đạo lý và pháp lý họ phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phải là công bộc của nhân dân
- Cán bộ, công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao với các hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định nhằm quản lý, điều hành xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật, trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội làm cho xã hội ổn định và phát triển Những hoạt động đó diễn ra hàng ngày đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đời sống của người dân Do vậy, đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng lao động mang tính chuyên nghiệp, thực hiện công vụ thường xuyên, liên tục,
có trình độ chuyên môn hóa cao để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi mình quản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả
- Đội ngũ công chức nhà nước mang tính ổn định, luôn mang tính kế thừa và không ngừng được nâng cao về chất lượng
* Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp huyện
Cán bộ, công chức cấp huyện bên cạnh việc mang các đặc điểm của cán
bộ, công chức Việt Nam nói chung còn có những điểm đặc thù:
- Cán bộ, công chức cấp huyện là những người trực tiếp tiếp xúc với
Trang 30công dân trong quá trình giải quyết công việc; là những người trực tiếp triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương Cán bộ, công chức cấp huyện là cầu nối, là chất keo kết dính giữa Đảng, Nhà nước
và Nhân dân
- Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cán bộ, công chức cấp huyện phải là những người thực thiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước cấp trên; phải có khả năng lĩnh hội tốt các chủ trương, đường lối, chính sách đó để áp dụng vào giải quyết công việc đồng thời phải là những tuyên truyền viên tích cực hướng dẫn cho cấp cơ sở để đảm bảo pháp luật được thực hiện thống nhất
- Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì tính ổn định của nhà nước Ở địa bàn huyện nào cán bộ, công chức vững mạnh thì tình hình chính trị - xã hội
ổn định, kinh tế - văn hóa phát triển bởi vì khi đó chính quyền cấp huyện đã tạo được niềm tin đối với nhân dân Ngược lại, ở địa bàn nào cán bộ, công chức không được quan tâm, không đáp ứng đầy đủ phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp, tham ô, lãng phí, tham nhũng, hống hách, cửa quyền khi giải quyết công việc thì tình hình kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội sẽ không ổn định
- Cán bộ, công chức cấp huyện khác với cán bộ, công chức cấp tỉnh và cấp xã: Cán bộ, công chức cấp huyện vừa là những người đóng vai trò tiếp nhận
và tuyên truyền các chủ trương, chính sách của cấp Trung ương và cấp tỉnh đến cấp xã, vừa là người trực tiếp giải quyết yêu cầu của tổ chức, cá nhân nên đòi hỏi đội ngũ này phải có kiến thức toàn diện hơn, sâu rộng hơn, sáng tạo hơn để thực hiện cùng lúc nhiều chức năng, nhiệm vụ theo phân công, phân cấp
Trang 311.2.3 Khái luận về cán bộ, công chức và những yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện về chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện
1.2.3.1 Khái luận về cán bộ, công chức cấp huyện
Điều 1 Luật số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 quy định
khái niệm về cán bộ, công chức nói chung, theo đó tiêu chuẩn của cán bộ, công chức phải là công dân Việt Nam và họ được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ, công chức cấp huyện bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn
kể trên, do xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình nên cũng
có những điểm đặc thù riêng có Cụ thể:
- Cán bộ cấp huyện là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo khái niệm này, cán bộ cấp huyện bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND; Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân; Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh; Chủ tịch Liên đoàn Lao động; Chánh án, Phó Chánh án Toàn
án nhân dân; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân; Chấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện Nhiệm kỳ của các chức danh cán bộ kể trên theo quy định chung là 05 năm và có thể được tái bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ khi vẫn nhận được sự tín nhiệm của nhân dân
- Công chức cấp huyện: Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
Trang 32nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị
sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Theo quy định này thì đội ngũ công chức cấp huyện rất đa dạng, phong phú, số lượng nhiều hoạt động trong tất cả các lĩnh vực khác nhau tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện; trong các cơ quan thuộc đơn vị vũ trang, đơn vị công lập đóng trên địa bàn huyện như: quân đội, công an, bệnh viện, trường học…
1.2.3.2 Những yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện về chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện
Cán bộ, công chức cấp huyện có vị trí, vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, do vậy nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện là vấn đề quan trọng được quan tâm hàng đầu trong giai đoạn hiện nay Để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời đại mới, cán bộ, công chức cấp huyện phải đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện:
- Cán bộ, công chức cấp huyện phải đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Luật Cán bộ, công chức như: Là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên; có văn bằng, chứng chỉ phù hợp với từng loại công việc (căn cứ vào từng loại công việc cụ thể có những quy định nhất định về loại ngành đào tạo)
- Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực chung của cán bộ, công chức Việt Nam, nhưng đối với cán bộ, công chức cấp huyện yêu cầu về chuẩn mực đạo đức là một trong những yêu cầu cao nhất vì họ là những người hàng ngày trong hoạt động tác nghiệp của mình đều trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 33liên quan đến việc giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân nên một trong những yêu cầu của đội ngũ này là phải có đạo đức nghề nghiệp cao
để một mặt tạo nên niềm tin của nhân dân đối với nhà nước, mặt khác để khắc phục hiện tượng tiêu cực trong quá trình giải quyết công việc
- Cán bộ, công chức phải là những người có trình độ nghiệp vụ cao Đối với cán bộ, công chức cấp huyện thì yêu cầu này là vô cùng cần thiết vì cán bộ, công chức cấp huyện không chỉ là người trực tiếp giải quyết nhiều công việc có liên quan trực tiếp đến tổ chức, cá nhân mà họ còn là những người truyền đạt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến các cơ quan nhà nước cấp cơ sở và đến toàn nhân dân Hay nói cách khác, họ phải là những tuyên truyền viên pháp luật tích cực với khả năng lĩnh hội tốt đề thực hiện tốt chức năng tuyên truyền của mình
- Cán bộ, công chức phải là những người có khả năng ứng dụng thành thạo các phương tiện, máy móc hiện đại, không ngừng học hỏi nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin để đáp ứng kịp thời xu thế chung của thời đại Đây là yêu cầu không chỉ đối với cán bộ, công chức cấp huyện mà đối với cán bộ, công chức nói chung nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi công nghệ thông tin đang bùng nổ và được áp dụng ngày càng rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước Đối với cán bộ, công chức cấp huyện điều này cũng quan trọng không kém vì hầu hết các hoạt động quản lý hồ sơ, giải quyết công việc đều được thực hiện và lưu trữ thông qua hệ thống phần mềm riêng nên khả năng ứng dụng công nghệ thông tin là vô cùng quan trọng
- Cán bộ, công chức cấp huyện phải là những người có đầu óc sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật Như chúng ta đã biết, hệ thống pháp luật của nước ta đang trong quá trình hoàn thiện nên có nhiều tình huống phát sinh trên thực tế chưa được pháp luật dự liệu hết Để giải quyết kịp thời các tình huống có thể xảy ra, đòi hỏi cán bộ, công chức phải sáng tạo tìm các quy định tương tự để kịp thời xử lý tình huống phát sinh
Trang 341.2.4 Cách thức, phương pháp, tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện
Để đánh giá chất lượng cán bộ, công chức của các ngành, các cấp bên
cạnh các cách thức, phương pháp, tiêu chí đánh giá chung thì do đặc thù khác nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nên cũng có những
điểm đặc thù trong cách đánh giá Đối với cán bộ, công chức cấp huyện có thể đánh giá chất lượng thông qua các cách thức, phương pháp, tiêu chí sau:
- Kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ là một trong những tiêu chí hàng đầu đánh giá chất lượng của từng cán bộ, công chức Để đánh giá chính xác kết quả hoàn thành nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức chúng ta có thể thông qua các cách thức sau: Thông qua báo cáo đánh giá cán bộ, công chức hàng năm của nội bộ phòng, ban; thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan nhà nước cấp trên và thông qua các cuộc kiểm tra chéo giữa các cụm thi đua cùng cấp
- Thông qua mức độ hài lòng của khách hàng đối với kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ Để đánh giá bằng tiêu chí này, cách thức hiệu quả nhất
là phát phiếu điều tra lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân đối với từng phòng, ban
có liên quan trong việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến tổ chức, cá nhân Cách này dùng để đánh giá đối với tập thể phòng, ban
1.2.5 Ý nghĩa, vai trò của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện có ý nghĩa, vai trò vô cùng to lớn xuất phát từ đặc trưng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ quan nhà nước cấp huyện
Nâng cao chất lượng cán bộ,công chức cấp huyện sẽ tạo điều kiện thuận lợi góp phần giữ vững ổn định nền chính trị của quốc gia Bởi cấp huyện là cấp gần dân, có thể trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, phản
Trang 35ánh của nhân dân Cơ quan nhà nước cấp huyện mà trực tiếp là đội ngũ cán
bộ, công chức trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nếu họ
là những người có trình độ họ sẽ nắm bắt nhanh những phản hồi từ phía nhân dân, giúp ích cho việc tham mưu các chính sách hợp lòng dân, tạo được niềm tin của nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước từ đó góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay
Không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức sẽ giúp đội ngũ này nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật để áp dụng đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo vào giải quyết các vụ việc cụ thể phát sinh Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã càng trở nên cần thiết Bởi nước
ta đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước một cách toàn diện, triệt để nhằm đáp ứng kịp thời tình hình chung ở trong nước và quốc tế trong quá trình hội nhập Các thủ tục hành chính tập trung nhiều ở cấp xã và cấp huyện, do vậy việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở cả hai cấp này đều có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc giải quyết kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, tạo được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của các Cấp ủy Đảng, Chính quyền mà việc áp dụng chính xác, kịp thời các quy định của bộ thủ tục hành chính của
cơ quan nhà nước cấp huyện, cấp xã sẽ góp phần làm cho việc đơn giản hóa thủ tục hành chính của nhà nước được đảm bảo thực hiện một cách cơ bản Ngoài ra, việc áp dụng các thủ tục hành chính vào giải quyết công việc cũng
sẽ góp phần vào việc phát hiện ra các sai sót, vướng mắc trong các quy định pháp luật, từ đó đưa ra các chính sách hợp lý, nó sẽ quay trở lại góp phần làm hoàn thiện hơn các quy định về thủ tục trong quá trình giải quyết công việc góp phần xây dựng bộ thủ tục hành chính hoàn thiện, hợp lý đáp ứng kịp thời
xu thế phát triển của đất nước
Trang 36Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện với việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sẽ giúp đội ngũ cán bộ, công chức hiểu đúng và áp dụng đúng các chủ trương, chính sách, pháp luật của cơ quan Đảng và cơ quan nhà nước cấp trên vào thực tiễn Bên cạnh đó, việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sẽ giúp hình thành kỹ năng tư vấn pháp luật cho các tổ chức, cá nhân liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách khi
họ có thắc mắc, góp phần giảm thiểu tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo giải quyết phần nào công việc phức tạp cho quan nhà nước cấp trên
Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ - thông tin, việc áp dụng công nghệ - thông tin trong giải quyết công việc hàng ngày của nhà nước đã và đang trở thành nhu cầu tất yếu khách quan Đối với cơ quan nhà nước cấp huyện hiện nay đang sử dụng rất nhiều phần mềm trong xử lý công việc, lưu trữ hồ sơ như: phần mềm kế toán, phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch, phần mềm đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể… Việc ứng dụng các thành tựu của công nghệ - thông tin vào thực tiễn giải quyết công việc hàng ngày của các cơ quan nhà nước chính là một bước quan trọng trong cải cách hành chính Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện với việc ứng dụng kịp thời các thành tựu công nghệ - thông tin sẽ góp phần đáng kể vào việc thực hiện công cuộc đơn giản hóa nền hành chính quốc gia
Nhìn chung, xuất phát từ đặc điểm về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp huyện là cấp trung gian, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nên cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan này đòi hỏi phải có trình độ phù hợp Việc không ngừng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước cấp huyện mà đối với tổ chức, hoạt động của toàn bộ hệ thống
cơ quan Đảng, Nhà nước nói chung, góp phần lớn vào công cuộc cải cách nền
Trang 37Kết luận Chương 1
Con người là trung tâm của mọi cơ chế, chính sách Hay nói cách khác, các cơ chế, chính sách được ban hành trong bất kỳ thời điểm nào, dù tiến bộ hay lỗi thời thì con người là chủ thể thực hiện và cũng là chủ thể thụ hưởng trực tiếp Do vậy, trong cải cách hành chính nhà nước, tổ chức, cá nhân là đối tượng thụ hưởng còn cán bộ, công chức là chủ thể thực hiện, vì vậy cần phải có những đòi hỏi nhất định về số lượng đặc biệt là chất lượng cán bộ, công chức để đảm bảo cho các chủ thể thực hiện hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình mang lại hiệu quả cao nhất cho các đối tượng thụ hưởng Đối với cơ quan hành chính cấp huyện - là trung gian, là cầu nối giữa
cơ quan nhà nước cấp trên với chính quyền cấp cơ sở thì việc thực hiện công cuộc cải cách hành chính càng có vai trò quan trọng hơn nữa Cơ quan hành chính cấp huyện vừa là chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động của UBND cấp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), vừa là đơn vị trực tiếp giải quyết các công việc liên quan đến tổ chức và công dân nên một trong những yêu cầu của cải cách hành chính đặt ra là: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện phải là những người có trình độ, được đào tạo bài bản,
có khả năng thích ứng nhanh với mọi thay đổi của đất nước, của thời đại Bởi vì, một mặt họ là những người thường xuyên tiếp xúc với công dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, bởi vậy đòi hỏi họ phải có khả năng phân tích, tổng hợp để phản ánh chính xác, kịp thời một mặt, phải có kiến thức sâu rộng để áp dụng chính xác, sáng tạo các quy định của pháp luật vào thực tế đời sống
Chính vì vị trí, vai trò quan trọng của cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện trong cải cách nền hành chính nhà nước nên một trong những đòi hỏi đối với cán bộ, công chức cấp huyện là phải không ngừng trau dồi kiến thức thực tiễn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để góp phần vào sự thành công của
Trang 38công cuộc cải cách hành chính cấp huyện nói riêng và cải cách nền hành chính quốc gia nói chung Cán bộ, công chức huyện Đông Sơn cũng không nằm ngoài sứ mệnh trên, do vậy, việc tìm hiểu các đặc điểm, thực trạng chất lượng công chức huyện Đông Sơn chính là một trong những khâu quan trọng đánh giá chất lượng cán bộ,công chức cấp huyện nói chung
Trang 39Chương 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TIẾN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
TRƯỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 2.1 Khái luận chung về huyện Đông Sơn và những đặc thù trong tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và cải cách hành chính huyện Đông Sơn
2.1.1 Khái luận chung về huyện Đông Sơn
Đông Sơn là một huyện nhỏ có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội: phía Đông giáp Thành phố Thanh Hóa; phía Tây giáp huyện Thiệu Hóa; phía Nam giáp huyện Nông Cống Trung tâm huyện lỵ cách trung tâm thành phố 03km về phía Tây; huyện có đường Quốc lộ 45 và Quốc lộ
47 đi qua Chính vì vậy, cùng với những lợi thế để phát triển kinh tế, huyện còn
là địa bàn có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng - an ninh của cả nước
Đông Sơn có 16 đơn vị hành chính với 15 đơn vị xã, và 01 thị trấn, bao gồm: thị trấn Rừng Thông, xã Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Khê, Đông Minh, Đông Anh, Đông Xuân, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Hòa, Đông Thịnh, Đông Yên, Đông Văn, Đông Quang, Đông Nam, Đông Phú Huyện có diện tích tự nhiên: 82,4 km2, dân số: 76.444 người; dân số trong độ tuổi lao động là: 42.426 người, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,7%/năm với
tỷ trọng 70% dân số lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Hiện nay,
cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng sảng xuất công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp GDP bình quân đầu người năm 2013 đạt 29 triệu đồng, tương đương 1.318 USD
Công tác giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe người dân được Đảng
và Nhà nước quan tâm đặc biệt thể hiện qua việc xây dựng hệ thống trường học đạt chuẩn; đầu tư, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giáo dục, đào
Trang 40tạo và chăm sóc sức khỏe người dân Về giáo dục đào tạo: Chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt Đội ngũ giáo viên được đào tạo theo hướng chuẩn hóa Đến nay, tỷ lệ phòng học kiên cố ở bậc mầm non, tiểu học và trung học
cơ sở đạt 87% Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi được học mầm non đạt 99% Huyện đã đạt phổ cập mẫu giáo 5 tuổi và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở lên học Trung học phổ thông, bổ túc Trung học phổ thông có học nghề đạt trên 92% Về công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và kế hoạch hóa gia đình: Nhiều cơ sở y tế cấp xã được trang
bị máy móc hiện đại phục vụ công tác khám, chữa bệnh; đội ngũ cán bộ y tế cấp xã không ngừng được tăng cường về số lượng và chất lượng, đã hình thành mạng lưới y tế cộng đồng tại các đơn vị xã, thị trấn và y tế học đường tại các trường mầm non, tiểu học trên địa bàn toàn huyện
Toàn huyện có 104 doanh nghiệp trong đó chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất, kinh doanh nhiều lĩnh vực khác nhau, chủ yếu là: chế tác
đá quý, may mặc tại xã Đông Hoàng; đúc đồng, chế biến nông sản tại xã Đông Tiến; dịch vụ nhà hàng, ăn uống tại thị trấn Rừng Thông
Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Cấp ủy, chính quyền nên cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước nói chung ngày càng được trang bị hiện đại hơn Các Chương trình phối hợp, Đề án, Chương trình do cấp trên chỉ đạo đều được thực hiện kịp thời, có hiệu quả thông qua Đài truyền thanh, truyền hình huyện và hệ thống loa truyền thanh đặt tại các xã, thị trấn và các thôn, khối phố 100% các xã, thị trấn và khối phố đã hoàn chỉnh việc lắp đặt và cho vào hoạt động hệ thống loa truyền thanh với mục đích kịp thời tuyên truyền các văn bản pháp luật mới vào đời sống của người dân