1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

80 996 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 483,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là vấn đề cần được quan tâm vì phần lớn nước ta là vùng sản xuất nông nghiệp, mỗi năm sử dụng lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là không nhỏ, những hệ lụy tới môi trườn

Trang 1

NGUYỄN TUẤN THÀNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN ĐẤT TRỒNG CHÈ TẠI XÃ VÔ TRANH,

HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường Khoa : Quản lý tài nguyên Khóa học : 2011 - 2015

THÁI NGUYÊN – 2015

Trang 2

NGUYỄN TUẤN THÀNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN ĐẤT TRỒNG CHÈ TẠI XÃ VÔ TRANH,

HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính môi trường

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài trường

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập ở trường

Để đạt được kết quả này tôi xin đặc biệt cảm ơn thầy TS Nguyễn Đức Nhuận – giảng viên khoa Quản lý tài nguyên – Giáo viên hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập Thầy đã quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo, tháo gỡ những vướng mắc, hướng dẫn tận tình cho tôi để tôi có thể hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất Cô luôn theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người truyền động lực giúp tôi hoàn thành tốt đợt thực tập của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của lãnh đạo, cán bộ và bà con ở xã

xã Vô Tranh – huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, các cán bộ và bà con trong xã

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

8 NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Các hình thức chế biến chè theo từng giai đoạn tại xã Vô Tranh 39

Bảng 4.2 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của xã Vô Tranh giai đoạn 2011-2013 40

Bảng 4.3 các loại thuốc mà người dân sử dụng cho cây chè 40

Bảng 4.4 Nhu cầu sử dụng phân bón của khu vực 42

Bảng 4.5 số cơ sở kinh doanh , buôn bán thuốc BVTV và Phân hóa học 43

Bảng 4.6 Đánh giá ảnh hưởng của phân hóa học và thuốc BVTV tới môi trường đất xã Vô Tranh- huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên 44

Bảng 4.7 Thang đánh giá mùn trong đất đồi núi Việt Nam 45

Bảng 4.8 Đánh giá lượng mùn trong đất tại xã Vô Tranh 46

Bảng 4.9 Đánh giá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương 47

Bảng 4.10 Người dân và những vấn đề liên quan tới thuốc BVTV và phân hóa học 48

Bảng 4.11 Cách xử lý bao bì thuốc BVTV và phân hóa học sau khi sử dụng của người dân 49

Bảng 4.12 Mức độ tham gia buổi tập huấn sử dụng thuốc BVTV, BVMT và nhận thức của người dân đối với việc sử dụng thuốc BVTV 50

Bảng 4.13.Thực trạng các triệu chứng cơ năng của người dân khi sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học 51

Bảng 4.14 Tỷ lệ một số bệnh thường gặp tại xã Vô Tranh Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên 52

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Yêu cầu của đề tài 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1 Cơ sở khoa học 5

2.1.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.2 Cơ sở pháp lý 12

2.2 Tổng quan về đất trồng chè 14

2.2.1 Các loại đất trồng chè chính 14

2.3 Cơ sở thực tiễn 15

2.3.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học trên thế giới 15

2.3.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học ở Việt Nam 18

2.3.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người 23

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp kế thừa 25

3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin 26

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích 26

Trang 7

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm 27

3.4.5 Phương pháp tổng hợp, đánh giá và so sánh 27

3.4.6 Phương pháp xử lý và thống kê số liệu 27

PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vô Tranh –Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên 28

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường 28

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 32

4.1.3 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội 37

4.2 Thực trạng sản xuất chè tại xã Vô Tranh –Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên 38

4.3 Tình hình quản lý sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học cho cây chè tại khu vực điều tra 40

4.3.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho cây chè tại khu vực điều tra 40

4.3.2.Tình hình sử dụng phân hóa học cho cây chè tại khu vực điều tra 42

4.3.3 Tình hình quản lý kinh doanh Buôn bán thuốc BVTV và phân hóa học trên địa bàn xã Vô Tranh- huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên 43

4.4 Đánh giá ảnh hưởng của phân hóa học và thuốc BVTV tới môi trường đất 44

4.5 Đề xuất phương án cải tạo đất nghèo dinh dưỡng bằng phân hữu cơ 47

4.6 Thực trạng hiểu biết và cách sử dụng của người dân về thuốc BVTV và phân hóa học 48

4.7 Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân hóa học tới sức khỏe con người 51 4.8 Khuyến cáo người dân về mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật quá mức cho phép 53

4.9 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV 55

Trang 8

4.9.1 Giải pháp quản lý 56

4.9.2 Giải pháp xử lý 59

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Kiến nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

I.Tài liệu tiếng việt 63

II.Tài liệu nước ngoài 63

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện nay là 9 triệu ha trong đó có trên 4 triệu ha là đất trồng lúa, còn lại là đất trồng các loại hoa màu và cây trồng lâu năm Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người chỉ còn cách thâm canh để tăng sản lượng cây trồng Khi thâm canh cây trồng một hậu quả tất yếu không thể tránh được là gây mất cân bằng sinh thái, kéo theo là sự phá hoại của dịch hại ngày càng gia tăng Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người phải đầu

tư thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hóa học được coi là quan trọng Nhưng với khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm mưa nhiều Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Cùng với phân bón hóa học, thuốc

BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người

Phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là một trong những chất hóa học

do con người tạo ra ngoài những mặt lợi nó cũng gây ra những ảnh hưởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường đặc biệt

là môi trường đất Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong việc bón phân hóa học và sử dụng thuốc BVTV của người dân đã gây nên tác động lớn đến môi trường Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện theo phương châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học theo kiểu phòng ngừa định kì vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng

Trang 10

thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lượng thuốc BVTV được sử dụng càng tăng Đây là vấn đề cần được quan tâm vì phần lớn nước ta là vùng sản xuất nông nghiệp, mỗi năm sử dụng lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là không nhỏ, những hệ lụy tới môi

trường là không tránh khỏi

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông - lâm nghiệp, trong đó có trồng chè Chè Thái Nguyên là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu Tính đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có hơn

130 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ phân bố đều trên khắp địa bàn tỉnh Các vùng chè nổi tiếng như vùng chè Tân Cương (thành phố Thái Nguyên), vùng chè Trại Cài – Minh Lập (huyện Đồng Hỷ), vùng chè La Bằng (huyện Đại Từ), vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô (huyện Phú Lương), Chè Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội địa chiếm 70% với sản phẩm rất đa dạng gồm chè xanh, chè vàng, chè đỏ, chè đen và nhiều loại chè hòa tan, chè thảo dược khác Toàn tỉnh hiện có trên 18.000 ha chè, đứng thứ 2 trong cả nước, trong đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn Cây chè đã được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây công nghiệp chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là cây xoá đói giảm nghèo và làm giàu của nông dân Tỉnh có chủ trương phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, khai thác tiềm năng và thế mạnh của cây chè, góp phần xoá đói, giảm nghèo và làm giàu cho phần lớn nông dân trồng chè trong tỉnh Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong sản xuất chè trong vài năm gần đây

đã ảnh hưởng không tốt tới môi trường và sức khỏe người sản xuất chè

Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

Trang 11

- Đưa ra giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của sử dụng thuốc BVTV

và phân bón đến môi trường đất và sức khỏe người dân

- Nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phương

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Số liệu, tài liệu thu thập phải đầy đủ chính xác, trung thực và khách quan

- Phân tích mẫu phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật

- Kết quả điều tra đánh giá phải khoa học, chính xác

- Các giải pháp đưa ra phải khả thi phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương

- Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã

Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

- Tiến hành điều tra theo phiếu điều tra đã lập sẵn; bộ câu hỏi trong phiếu phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá

1.4 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học:

+ Khái quát được mức độ nguy hiểm của thuốc BVTV và phân bón hóa học đối với môi trường đất và sức khỏe người sản xuất tại một số vùng sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất được các giải pháp phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên

+ Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn cho công tác bảo vệ môi trường

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

Đất có cấu trúc hình thái rất đặc trưng, xem xét một phẫu diện đất có thể thấy sự phân tầng cấu trúc từ trên xuống dưới như sau:

- Tầng thảm mục và rễ cỏ được phân huỷ ở mức độ khác nhau

- Tầng mùn thường có mầu thẫm hơn, tập trung các chất hữu cơ và dinh dưỡng của đất

- Tầng rửa trôi do một phần vật chất bị rửa trôi xuống tầng dưới

- Tầng tích tụ chứa các chất hoà tan và hạt sét bị rửa trôi từ tầng trên

- Tầng đá mẹ bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá

- Tầng đá gốc chưa bị phong hoá hoặc biến đổi

* Khái niệm chất độc

Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá

hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể làm cho sinh vật ngộ độc hoặc chết[3]

*Khái niệm liều lượng

Là lượng chất độc cần thiết tính bằng gam hay mg để gây tác động nhất định lên trên cơ thể sinh vật trong nghiên cứu độc lý

Trang 14

Liều lượng sử dụng: là liều lượng cần thiết dùng để phun trên diện tích nhất định, được chia ra:

- Liều lượng hoạt chất: là lượng thuốc nguyên chất cần thiết dùng cho một đơn vị diện tích g, kg a.i với thuốc ở thể rắn, hoặc ml a.i với thuốc ở thể lỏng.( a.i là đơn vị hoạt chất)

- Liều lượng thuốc thương phẩm: là lượng thuốc thương phẩm cần thiết cho một đơn vị diện tích, được tính bằng g, kg, lít, ml thuốc thương phẩm trên một đơn vị diện tích nào đó

*Khái niệm về thuốc BVTV

Thuốc BVTV là yếu tố bảo vệ cây hay những sản phẩm bảo vệ mùa màng (chủ yếu là hóa chất) là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hay các vật mang mầm bệnh virut hay vi khuẩn Chúng cũng gồm

các chất để đấu tranh với các loài sống cạnh tranh với cây trồng

*Phân loại thuốc BVTV

Theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng có thể phân loại thuốc BVTV thành các loại sau:

- Dựa vào đối tượng phòng chống:

+ Thuốc trừ sâu (Insecticide): gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại côn trùng nào có mặt trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn chặn tác hại của côn trùng đến cây trồng cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người

+ Thuốc trừ bệnh: bao gồm các chất có nguồn gốc vô cơ, hưu cơ, sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật) có tác dụng diệt trừ hoặc ngăn ngừa các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản

+ Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay raticide): là những hợp chất vô

cơ, hữu cơ hoặc nguồn gốc sinh học được dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm

Trang 15

+ Thuốc trừ nhện ( Acricide hay Miticide): là những hợp chất chủ yếu trừ nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ

+ Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật hoang dại mọc trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay đường sắt…và gồm các thuốc trừ rong rêu trên đồng ruộng kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất vì vậy khi sử dụng thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng

+ Thuốc trừ tuyến trùng (Nematode): các chất xông hơi và nội hấp được dùng để sử lý đất trừ tuyến trùng trong đất, trong cây

- Dựa vào con đường xâm nhập đến dịch hại: tiếp xúc, xông hơi và nội hấp: + Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua biểu bì của dịch hại

+ Thuốc có tác dụng vị độc: là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường tiêu hóa của dịch hại

+ Thuốc có tác dụng xông hơi: Là loại thuốc có khả năng bốc hơi, đâu độc bầu không khí xung quanh cơ thể dịch hại và được xâm nhập vào cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp Thuốc sẽ phá hủy chức năng hô hấp hút khí O2

và thải ra khí CO2 cho cơ thể dịch hại và tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có tác dụng nội hấp: là những loại thuốc khi chúng xâm nhập

và cây rồi được vận chuyển tích lũy trong hệ thống nhựa cây, tồn tại trong đó một thời gian và làm chết cơ thể sinh vật khi chúng xâm hại đến cây

+ Thuốc thấm sâu: Là những loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu theo chiều ngang, thuốc không có khả năng di chuyển chuyển trong mạch dẫn của cây, nó chỉ có tác dụng tiêu diệt dịch hại khi chúng sống ẩn nấp hoặc làm tổ trong tế bào thực vật

- Dựa vào nguồn gốc hóa học:

Trang 16

+ Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các loại thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có nguồn gốc sinh học (Chiếm khoảng 2,5%): gồm các loài sinh vật, các loài thiên địch ký sinh, các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật có khả năng tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch Boocdo, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi…) có khả năng tiêu diệt dịch hại

+ Thuốc có nguồn gốc vô cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả

năng tiêu diệt dịch hại như các hợp chất lân hữu cơ, cacbamat…

*Khái niệm về phân hóa học :

- Phân bón hóa học là những hóa chất có chứa nguyên tố dinh dưỡng dùng để bón cho cây trồng nhằm nâng cao năng xuất của cây trồng cung cấp những nguyên tố cần thiết cho cây trồng gồm những nguyên tố đa lượng như

N, P, K cà những nguyên tố vi lượng như Ca, Cu, Zn….để đáp ứng như cầu phát triển, ra hoa kết trái và tăng năng xuất của cây trồng

.*Phân loại phân hóa học:

Phân đạm: Là những hợp chất cung cấp nitơ cho cây Phần lớn thực vật không có khả năng đồng hóa nguyên tố N dưới dạng khí là N2 mà chủ yếu dưới dạng muối nitrat Phân đạm cung cấp N hóa cho cây dưới dạng ion NO3- và ion amoni NH4+ Phân đạm có tác dụng kích thích các quá trình sinh trưởng làm tăng tỉ lệ protein thực vật Do đó, phân đạm giúp cho cây phát triển nhanh, cho nhiều hạt, củ, quả…Độ dinh dưỡng của phân đạm được đánh giá bằng hàm lượng % N trong phân

Phân lân: Là những hợp chất cung cấp P cho cây trồng dưới dạng ion photphat Phần lớn thực vật hấp thụ P dưới dạng muối đihidrophotphat Loại phân này cần cho cây trồng ở thời kì sinh trưởng, thúc đấy các quá trình sinh hóa, trao đổi chất và năng lượng của cây Độ dinh dinh dưỡng của phân lân được đánh giá bằng hàm lượng %P2O5 tương ứng với lượng photpho có

Trang 17

trong thành phần của nó Nguyên liệu để sản xuất phân lân là quặng photphorit và apatit

Phân kali: Là những hợp chất cung cấp cho cây trồng nguyên tố K dưới dạng ion K+ Phân K giúp cho cây hấp thu được nhiều đạm hơn, cần cho việc tạo ra chất đường, chất bột, chất xơ và chất dầu, tăng cường sức chống chịu cho cây Độ dinh dưỡng của phân K được đánh giá bằng hàm lượng % K2O tương ứng với lượng K

có trong thành phần của nó Hai muối KCl và K2SO4 được sử dụng nhiều nhất để làm phân K Tro thực vật cũng là một loại phân K vì có chứa K2CO3

*Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất:

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng

bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng

người ta sẽ trả lại đất qua hình thức bón phân Đây là loại hoá chất quan

trọng trong nông nghiệp, nếu sử dụng thích hợp sẽ có hiệu quả rõ rệt đối

Trang 18

với cây trồng Nhưng nó cũng là con dao 2 lưỡi, sử dụng không đúng sẽ lợi bất cập hại, một trong số đó là ô nhiễm đất Nếu bón quá nhiều phân hoá học là hợp chất nitơ, lượng hấp thu của rễ thực vật tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng

Sự tích lũy cao các chất hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho MTST đất về mặt cơ lý tính Khi bón nhiều phân hóa học làm đất hở nên chặt hơn, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính thoáng khí kém hơn đi, vi sinh vật ít đi vì hóa

chất hủy diệt vi sinh vật

- Phân hữu cơ:

Phần lớn nông dân bón phân hữu cơ chưa được ủ và xử lí đúng kĩ thuật nên gây nguy hại cho môi trường đất Nguyên nhân là do trong phân chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền môi trường xung quanh, diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất Bón phân hữu cơ quá nhiều trong điều kiện yếm khí sẽ làm quá trình khử chiếm ưu thế; sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ làm môi trường sinh thái đất chua, đồng thời chứa nhiều chất độc như H2S, CH4, CO2 Sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học sẽ gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính, đất nén chặt, độ trương co kém, không tơi xốp, tính thoáng khí kém, vi sinh vật cũng

ít đi vì hóa chất hủy diệt sinh vật

- Thuốc trừ sâu:

Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trường Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào

Trang 19

môi trường tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay để triệt hạ các loài phá hại mùa màng Bản chất của nó là những chất hóa học diệt sinh học nên đều có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất Đặc tính của thuốc trừ sâu bệnh là tính bền trong môi trường sinh thái nên nó tồn tại lâu dài trong đất, sau khi xâm nhập vào môi trường, thời kì “nằm” lại

đó, các nhà môi trường gọi là “thời gian bán phân giải”, “nữa cuộc đời này”được xác định như là cả thời gian nó trốn vào trong các dạng cấu trúc sinh hóa khác nhau hoặc các dạng hợp chất liên kết trong môi trường sinh thái đất Mà các hợp chất mới này thường có độc tính cao hơn nó.Tiêu diệt hệ động vật làm mất cân bằng sinh thái, thuốc trừ sâu bị rửa trôi xuống thủy vực làm hại các động vật thủy sinh như ếch, nhái…Như vậy vô tình chúng ta làm tăng thêm số lượng sâu hại vì đã diệt mất thiên địch của chúng ,vì vậy nó làm cho hoạt tính sinh học đất bị giảm sút

- Do việc đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa và mạng lưới giao thông:

Việc sử dụng một phần đất để xây dựng đường xá và các khu đô thị các khu công nghiệp… làm thay đổi kết cấu của đất

- Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt:

Chất thải rắn đô thị cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất nếu không được quản lý thu gom và kiểm soát đúng quy trình kỹ thuật Chất thải rắn đô thị rất phức tạp, nó bao gồm các thức ăn thừa, rác thải nhà bếp, làm vườn, đồ dùng hỏng, gỗ, thủy tinh, nhựa, các loại giấy thải, các loại rác đường phố bụi, bùn, lá cây… Ở các thành phố lớn, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom , tập trung ,phân loại và xử lý Sau khi phân loại có thể tái sử dụng hoặc xử lý rác thải đô thị để chế biến phân hữu

cơ, hoặc đốt chôn Cuối cùng vẫn là chôn lấp và ảnh hưởng tới môi trường đất Ô nhiễm môi trường đất tại các bãi chôn lấp có thể do mùi hôi thối sinh ra do phân hủy rác làm ảnh hưởng tới sinh vật trong đất, giảm lượng

Trang 20

oxi trong đất Các chất độc hại sản phẩm của quá trình lên men khuếch tán , thấm và ở lại trong đất Nước rỉ từ các hầm ủ và bãi chôn lấp có tải lượng

ô nhiễm chất hữu cơ rất cao (thông qua chỉ số BOD và COD) cũng như các kim loại nặng như Cu, Zn, Pb, Al, Fe, Cd , Hg và cả các chất như P, N, … cũng cao Nước rỉ này sẽ ngấm xuống đất gây ô nhiễm đất và nước ngầm

Ô nhiễm môi trường đất còn có thể do bùn cống rãnh của hệ thống thoát nước của thành phố là mà thành phần các chất hữu cơ, vô cơ, kim loại tạo

nên các hỗn hợp các phức chất và đơn chất khó phân hủy

- Quyết định số 89/2006/QĐ – BNN ngày 02/10/2006 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành quy định quản lý thuốc BVTV

- Quyết định số 63/2007/QĐ – BNN ngày 07/02/2007 của bộ NN & PTNT về việc sử đổi bổ sung một số điều của quy định về quản lý thuốc BVTV ban hành theo quyết định số 89/2006/QĐ – BNN ngày 02/10/2006 của

Bộ trưởng Bộ NN & PTNT

- Nghị định số 58/2002/NĐ – CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ bảo vệ thực vật, Điều lệ kiểm dịch thực vật và Điều lệ

quản lý thuốc bảo vệ thực vật

Trang 21

- Nghị định số 26/2003/NĐ – CP ngày 19/3/2003 của Chính phủ về việc ban hành quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm

dịch thực vật

- Thông tư số 38/2010/TT – BNN ngày 28/06/2010 của Bộ NN & PTNT về việc quy định thuốc BVTV và công văn số 1538/BVTV – QLT

ngày 08/09/2010 hướng dẫn thi hành thông tư số 38/2010/TT – BNN

- Thông tư số 12/2011/TT – BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài Nguyên

& Môi Trường về việc ban hành quy định về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư 36/2011/TT – BNNPTNT ngày 20/05/2011 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế

sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam

- Thông tư số 10/2012/TT – BNNPTNT ngày 20/02/2012 của Bộ NN

& PTNT về việc ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn

Trang 22

- TCVN 7376: 2004 Chất lượng đất - Giá trị chỉ thị về hàm lượng các bon hữu cơ tổng số trong đất Việt Nam

- TCVN 7377: 2004 Chất lượng đất - Giá trị chỉ thị pH trong đất Việt Nam

- TCVN 8568:2010 Chất lượng đất – Xác định dung lượng cation trao đổi (CEC)

- TCVN 6132:1996 Chất lượng đất – Xác định dư lượng lindan trong đất

- TCVN 6134:2009 Chất lượng đất – Xác định hợp chất không bay hơi

có thể chiết trong dung môi

- TCVN 6135:2009 Chất lượng đất – Xác định dư lượng fenvalerat

- TCVN 8061:2009 Chất lượng đất – Xác định hóa chất bảo vệ thực vật clo hữu cơ và polyclorin biphenyl- QCVN 15: 2008/BTNMT - Dư lượng hóa chất BVTV

- QCVN 03: 2008/BTNMT - Giới hạn kim loại nặng trong đất

2.2 Tổng quan về đất trồng chè

2.2.1 Các loại đất trồng chè chính

2.2.1.1 Những loại đất trồng chè chính trên thế giới

Trên thế giới, chè được trồng trên nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, theo Lê Tất Khương và Nguyên Ngọc Quỹ (2000) thì chè được trồng nhiều nhất trên các loại đất sau:

+ Vùng cận nhiệt đới gồm đất đỏ, đất vàng, đất potzol, đất tím và đất bồi tụ (Trung Quốc)

+ Vùng nhiệt đới: đất đỏ, vàng phát triển trên đá gownai, đá hoa cương, phù sa đất feralit, đỏ vàng/ bazan và phù xa cổ (Srilanka, Ấn độ) [4]

2.2.1.2 Những loại đất trông chè chính ở Việt Nam

Theo thống kê của Lê Tất Khương và Nguyên Ngọc Quỹ [4] cho thấy ở Việt Nam chè được trồng rộng rãi nhưng tập chung trên các loại đất sau:

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi

+ Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và biến chất

Trang 23

+ Đất đỏ vàng trên đá bazan

2.2.1.3 Những loại đất trồng chè chính ở Việt Nam

Theo thống kê của Lê Tất Khương và Nguyên Ngọc Quỹ [4] cho thấy ở Việt Nam chè được trồng rộng rãi nhưng tập chung trên các loại đất sau:

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi

+ Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và biến chất

+ Đất đỏ vàng trên đá bazan

2.2.1.4 Những loại đất trồng chè chính ở Thái Nguyên

Trong tài liệu của hội khoa học đất Việt Nam xuất bản năm 2000 [6] cho thấy ở Thái Nguyên chè được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, bao gồm:

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi – Fv

Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi: Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi

Trang 24

sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn

và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao

Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ của nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước Ngày nay, biện pháp hoá học BVTV được phát triển theo cỏc cỏc hướng chính sau:

- Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọnlọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn, ít độc và dễ dùng hơn Thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn trùng, pheromon, các chất phản di truyền, chất triệt sản) là những ví dụ điển hình Thuốc sinh học được chú ý nhiều hơn

Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây ô nhiễm môi trường

- Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện

có để tăng khả năng trang trải, tăng độ diệt trừ, giảm đến mức tối thiểu sự rửa trôi của thuốc Chú ý dựng các phương pháp sử dụng thuốc khác bên cạnh phun thuốc còn đang phổ biến Thay phun thuốc sớm, đại trà và định kỳ bằng phun thuốc khi dịch hại đạt đến ngưỡng

* Phân hóa học

* Đối với urê

Theo Hiệp hội Phân bón quốc tế (IFA), tổng công suất amoniăc toàn cầu thông báo tăng 20%, từ 180,9 triệu tấn NH3 năm 2008 lên đến 217,8 triệu tấn NH3 năm 2013 Một phần ba của mức tăng này là do các hoạt động cải tạo sửa chữa các nhà máy cũ Hai phần ba còn lại là do 55 nhà máy amoniăc mới

đi vào vận hành trong trên toàn thế giới

Các nước Đông á, Tây á, châu Mỹ La tinh và châu Phi đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng công suất amoniăc toàn cầu (7 triệu tấn/ năm) Đối với amoniăc thương mại, trong thời gian 2009 - 2013 có 6,5 triệu tấn công suất mới được đưa vào vận hành Theo IFA, khối lượng giao dịch amoniăc qua đường biển

Trang 25

sẽ tăng mạnh từ 3 triệu tấn năm 2008 lên 20,6 triệu tấn năm 2013, tất cả các dự án đều được hoàn thành đúng tiến độ Thị trường kinh doanh amoniăc qua đường biển chuyển từ tình trạng dư thừa trong thời gian 2008 – 2009, cung cầu sít sao trong thời gian 2010 - 2011 Nhưng từ thời gian 2012 - 2013 lại có tình trạng dư thừa khoảng 5 - 6% nguồn cung amoniăc qua đường biển

Trong cán cân cung cầu các sản phẩm chứa N trên toàn cầu, năm 2009

đã có mức dư thừa 6,6 triệu tấn N (5% nguồn cung toàn cầu) Mức dư thừa này tăng đến 13 triệu tấn N (8% nguồn cung toàn cầu) vào năm 2013 Trong các năm 2008 - 2009, một số ít dự án urê trên thế giới đã bị trì hoãn, nhưng không có dự án nào bị hủy bỏ Theo đánh giá của IFA, trong thời gian 2009 -

2013 khoảng 50 nhà máy urê mới đi vào vận hành trên toàn thế giới, trong đó

có 20 nhà máy ở Đông á Công suất urê toàn cầu tăng 46,8 triệu tấn trong thời gian 2008 - 2013, đạt 210,3 triệu tấn trong năm 2013

* Đối với phân lân

Công suất quặng phốtphat trên thế giới năm 2013 sẽ đạt 248 triệu tấn, tăng 30% so với năm 2008 Trong thời gian qua, một số dự án mở rộng hoặc khai thác mới đã bị trì hoãn do chi phí tăng cao và sự chậm trễ trong việc kết hợp với sản xuất cuối dòng Nhưng nhìn chung nguồn cung quặng phốtphat dự kiến sẽ tăng tại Đông á, Châu Phi, châu Mỹ La tinh, Tây á và châu Đại dương Trong tổng số quặng phốtphat được khai thác, khoảng 15 triệu tấn sẽ được xuất khẩu Công suất axit phốtphoric toàn cầu tăng từ 44,5 triệu tấn P2O5 năm 2008 lên đến 55,3 triệu tấn P2O5 năm 2013 Khoảng 88% mức tăng này là nhờ tăng công suất xử lý cuối dòng nội địa, chủ yếu ở TQ, ảrập Xê-út và Marốc

* Đối với phân kali

Điều kiện thị trường trong những năm qua và triển vọng nhu cầu mạnh

về trung hạn đã khuyến khích nhiều nhà sản xuất đầu tư vào các chương trình khai thác và mở rộng công suất phân kali Hiện có hơn 65 dự án liên quan đến

Trang 26

phân kali đang được lập kế hoạch hoặc đã triển khai tại 20 nước trên thế giới Nhưng sẽ chỉ có 5 dự án sẽ được hoàn thành và đi vào vận hành trong 5 năm tới Tổng công suất phân kali toàn cầu tăng từ 40,4 triệu tấn K2O năm 2008 lên 54,7 triệu tấn K2O vào năm 2013 Những nước đóng góp chủ yếu vào mức tăng 14,3 triệu tấn này là Canađa, Nga, TQ Ngoài ra, một số nước khác như Ixraen, Gioocđani, Achentina và Cônggô cũng có những dự án phân kali lớn.Công suất phân kali được bổ sung một cách hạn chế trong năm 2009, nhưng sau đó tốc độ xây dựng mới sẽ tăng nhanh hơn Phần lớn đó là các nhà máy sản xuất KCl dạng hạt.Nguồn cung phân kali trên thế giới sẽ tăng từ 38 triệu tấn K2O năm 2009 lên đến 47 triệu tấn K2O năm 2013, với tốc độ tăng trưởng 5,9%/ năm Nhu cầu toàn cầu về phân kali ước đạt 28,4 triệu tấn năm

2008, 28,5 triệu tấn năm 2009 và dự kiến đến năm 2013 sẽ đạt 35 triệu tấn, tăng trung bình 5,6%/ năm

2.3.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học ở Việt Nam

* Thuốc BVTV

Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam các loại thuốc BVTV đã được

sử dụng từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát sinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại thuốc BVTV chưa nhiều Ngày đó do thiếu thông tin và do chủng loại thuốc BVTV còn nghèo nàn nên người nông dân đã sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lưu lâu trong môi trường Ngày nay người ta

đã thay dần bằng các loại thuốc BVTV thế hệ mới có độc tính thấp, ít tồn lưu trong môi trường

Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi

cơ cấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn Vì vậy

số lượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên Nếu như trước năm 1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 đến 9.000

Trang 27

tấn thành phẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân khoảng 0,3 kg hoạt chất /ha thì thời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động từ 25- 38 ngàn tấn Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn Cơ cấu thuốc BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại

Nguyên nhân của sự biến động này là do từ năm 1992 nền nông nghiệp Việt Nam đã áp dụng rất có kết quả chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) Nhiều hộ nông dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ tổng hợp trong sản xuất và chỉ phun thuốc khi cần thiết theo sự chỉ đạo của cơ quan BVTV Tại các địa phương có áp dụng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM số lần phun thuốc đã giảm đi Kết quả này chứng minh rằng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM là một trong các biện pháp hữu hiện nhằm tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường do sử dụng thưốc BVTV

Do tập quán canh tác và diện tích trồng lúa lớn nên các các tỉnh vùng đồng bằng nông dân sử dụng nhiều thuốc BVTV hơn (1,15- 2,66 kg thành phẩm/ha/năm) so với các tỉnh miền núi (0,23 kg thành phẩm/ha/năm)

Tuy Bộ NN & PTNT và Cục BVTV đã có nhiều văn bản quy định và hướng dẫn cách sử dụng thuốc BVTV an toàn có hiệu quả đặc biệt là trên rau và chè nhưng việc sử dụng thuốc BVTV còn bộc lộ nhiều bất cập chưa tương xứng với yêu cầu của nền sản xuất nông nghiệp sạch Kết quả là làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn, lạm dụng thuốc BVTV đã dẫn đến hậu quả đã gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực, để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm Đó cũng là nguyên nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá trên thị trường thế giới

Trang 28

Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng vứt bao bì thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng khá phổ biến Thói quen rửa bình bơm và dụng cụ pha chế thuốc BVTV không đúng nơi quy định gây

ô nhiễm nguồn nước, gây ngộ độc cho động vật thuỷ sinh cũng cần được cảnh báo và khắc phục ngay

Kết quả kiểm tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên rau của 4600 hộ nông dân năm 2006 cho thấy có tới 59,8 % số hộ vi phạm về quy trình sử dụng thuốc Số hộ không giữ đúng thời gian cách ly: 20,7%; sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục: 10,31%; sử dụng thuốc hạn chế trên rau: 0,18%;

sử dụng thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ: 0,73%

Kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trên 373 mẫu rau năm 2006, cho thấy

có 33 mẫu (chiếm 13,46%) vượt mức dư lượng cho phép Đây là nguyên nhân của tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hoá trên thị trường thế giới và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường

Do nhu cầu sử dụng thuốc BVTV tăng, các cơ sở kinh doanh, buôn bán mặt hàng thuốc BVTV cũng ngày càng gia tăng Mặc dù BVTV là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện nhưng không phải cơ sở nào cũng có đầy đủ các điều kiện như quy định Kết quả thanh tra 14.570 lượt cửa hàng, đại lý kinh doanh thuốc BVTV năm 2006 cho thấy có 14,8% vi phạm các quy định về kinh doanh thuốc BVTV

Trình độ của người kinh doanh thuốc BVTV còn thấp so với yêu cầu trong khi theo điều tra có tới trên 90% nông dân tìm hiểu cách sử dụng thuốc BVTV trực tiếp từ người bán thuốc

Hầu hết các loại thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam đều nhập khẩu từ nước ngoài Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 13.000-15.000 tấn/năm những năm đầu thập kỷ 90 lên 33.000-38.000 tấn những năm

Trang 29

2000 Đặc biệt các năm 2005 và 2006 do bùng phát dịch rầy nâu và vàng lùn xoắn lá tại các tỉnh Nam bộ nên lượng thuốc BVTV nhập khẩu dã tăng lên 51.000 tấn (2005) và 71.000 tấn (2006) Hiện tượng nhập lậu các loại thuốc BVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng) đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi Hàng năm vẫn có một khối lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu vào nước ta Tình trạng các thuốc BVTV tồn đọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số lượng

và chủng loại Điều đáng lo ngại là hầu hết các loại thuốc BVTV tồn đọng này được lưu giữ trong các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ thuật nên nguy cơ thẩm lậu và dò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động Cùng với thuốc BVTV tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ đựng thuốc BVTV đang là nguy cơ đe dọa sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường nếu không áp dụng ngay các biện pháp giải quyết khẩn cấp

Trong số các cơ sở gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV vẫn còn một số cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến việc cải tiến công nghệ còn sử dụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm Đặc biệt là hệ thống xử

lý chất thải chưa đạt các tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường [5]

Phân hóa học

Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ quy chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các

cơ sở tư nhân và công ty TNHH sản xuất, cung ứng

Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng mỗi năm khoảng 10% Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn: 1985-1990; 1991 -1995 và 1996-

2001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục Ở các

Trang 30

giai đoạn 1985-1990; 1991- 1995 và 1996-2001 mức tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng Như vậy trong 5 năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần Ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm

Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn

bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm Riêng đối với phân khoáng kali,

do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài

Vấn đề sử dụng phân bón ở miền Bắc Việt Nam

Trước những năm 70, ở miền Bắc Việt Nam, nông nghiệp sử dụng phân hữu cơ là chủ yếu Phân bón chủ yếu là các loại phân compốt, phân rác, phân xanh các loại Từ khi bắt đầu cuộc "Cách mạng xanh" đến nay, với các

cơ cấu cây trồng mới; giống mới (đặc biệt là các giống lai); hệ thống tưới tiêu được cải thiện; khả năng cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật được tăng cường Đặc biêt sau khi một số điều trong Luật đất đai được sửa đổi (12/ l998), sản xuất nông nghiệp nước ta đã đi theo hướng thâm canh, tăng vụ để tăng năng suất, chất lượng nông sản cho phù hợp với yêu cầu của thị trường

Trong số các thiếu hụt về dinh dưỡng cho cây trồng trên các loại đất ở nước ta, lớn nhất và quan trọng nhất vẫn là sự thiếu hụt về đạm, lân và kali Đây cũng là những chất dinh dưỡng mà cây trồng hấp thụ với lượng lớn nhất

và sẽ chi phối hướng sử dụng phân bón Mặt khác, khi bón phân người ta cũng bắt đầu tính đến nhu cầu dinh dưỡng của từng loại cây trồng, thậm chí của từng giống cụ thể, trong các vụ gieo trồng trên từng loại đất riêng Vì vậy trong việc bố trí cơ cấu sản phẩm phân bón, vấn đề quan trọng là phải nắm

Trang 31

được cơ cấu cân đối dinh dưỡng cho cây trồng trong vụ đổng thời có tính đến đặc điểm của các loại cây trồng vụ trước

Thực tế cũng chứng minh, phân hữu cơ chỉ có thể là một loại phân bón

bổ sung nhằm cân đối dinh dưỡng và cải thiện tính chất cơ lý của đất chứ không thể thay thế hoàn toàn phân vô cơ (phân khoáng) Do vậy, để bảo đảm cho một nền nông nghiệp phát triển bền vững, phải tăng cường sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và phân hữu cơ, trong đó các loại phân được sử dụng không những chỉ cân đối về tỷ lệ mà còn phải cân đối với lượng hấp thụ để bù lại lượng thiếu hụt do cây trồng lấy đi từ đất

Vì vậy, nông nghiệp nước ta nói chung và miền Bắc nói riêng không thể chấp nhận được nguyên lý "tuyệt đối không dùng phân hóa học và thuốc trừ sâu hóa học", đặc biệt trong điều kiện chúng ta ngày càng sử dụng nhiều giống cây trồng có năng suất cao Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững đang đặt ra yêu cầu sử dụng phân bón hợp lý và phù hợp với điều kiện thực tế Trước hết phải tăng cường sử dụng các loại phân hữu cơ, cùng các biện pháp kỹ thuật khác như: cày vặn rạ, cày vùi phụ phẩm các loại cây trồng (đặc biệt là các cây họ đậu) hoặc trồng xen loại cây họ đậu lớn làm cây bóng mát ở vườn cà phê hay vườn cây ăn quả.v.v Trên cơ sở đó dùng một lượng phân hóa học hợp lý, bón cân đối cho mỗi cây trồng trong hệ thống cơ cấu cây trồng trên từng loại đất

2.3.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người

Thuốc hóa học BVTV là những hợp chất có chứa độc tố, được sử dụng

để bảo vệ cây trồng trước những đối tượng sâu bệnh hại Thuốc BVTV rất nguy hiểm đối với cả con người nó không những ảnh hưởng trực tiếp mak còn ảnh hưởng gián tiếp tới cuộc sống hàng ngày, khi sử dụng thuốc BVTV nó sẽ ngấm một phần xuống môi trường đất cũng như môi trường nước ngầm

Trang 32

Theo PGS.Võ Mai (Cục phó cục BVTV), sau khi phun thuốc BVTV: 70% nông dân cảm thấy rất mệt mỏi, 3% bị cay mắt, 19% bị nhức đầu, 6% bị chóng mặt, 4% buồn nôn, 8% ngạt thở, 17% bị dị ứng da và 28% bị các triệu chứng khác

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) đánh giá có hàng triệu người bị ngộ độc hàng năm do hóa chất BVTV, trong đó có 20.000 người chết Một đánh giá khác của Jeyaratham (1990), con số đó cao hơn nhiều, là 25 triệu người bị nhiễm độc Tuy nhiên, chưa ai tính được hậu quả lâu dài và âm ỉ của hóa chất BVTV

Theo điều tra 7 nước ở vùng Đông Nam Astrong chương trình “Hành động Pesticide” cho thấy đa số phụ nữ chịu hậu quả, các triệu chứng hay gặp là choáng, đau cơ, ngứa ngáy, cháy da, phồng rộp, khó thở, đau mắt, xảy thai, buồn nôn…

Theo Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, thì ngộ độc

do hóa chất BVTV ở mức cao, chiếm 26% tổng số vụ ngộ độc Thống kê của khoa chống độc của bệnh viên bạch mai cho thấy ngộ độc do hoa chất BVTV chiếm 30%, tỷ lệ tử vong là 10% Năm 1998 cả nước có 23,000 người ngộ

độc thì có tới 6,500 người là do thuốc BVTV

Trang 33

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất cây chè của Xã Vô Tranh - Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên tới môi trường đất

- Nghiên cứu việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật của người dân có ảnh hưởng tới đặc điểm, tính chất của đất hay không từ đó đưa

ra các giải pháp quy trình sử dụng hợp lý

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: khu vực xã Vô Tranh- Huyện Phú Lương- Tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian thực hiện: từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Vô Tranh - huyện Phú Lương

- Thực trạng sản xuất chè tại xã Vô Tranh- huyện Phú Lương

- Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học tại địa bàn xã Vô Tranh- huyện Phú Lương

- Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học đến môi trường đất của xã Vô Tranh- huyện Phú Lương- Tỉnh Thái Nguyên

- Đưa ra giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến môi trường đất và sức khỏe người dân.\

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa

Thu thập những số liệu, tài liệu có sẵn về điều kiện tự nhiên và tai nguên thiên nhiên, tình hình phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội và hiện trạng

Trang 34

môi trường của địa phương.Phương pháp kế thừa các thông tin có sẵn, những

số liệu được thu thập đầy đủ hơn và chính xác hơn vì với thời gian ngắn và nghiên cứu trong điều kiện không đủ vật tư, thiết bị sẽ không nghiên cứu được các thông tin cần thiết

Thu thập những tài liệu, số liệu liên quan đến đề tài từ các nguồn: mạng internet, sách, báo…

3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin

Tiến hành đi khảo sát trực tiếp tại 3 vùng thuộc xã Vô Tranh – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên bằng cách sử dụng bộ câu hỏi để hỏi trực tiếp người dân [Phụ lục 3]

- Vùng 1 đầu xã (giáp thị trấn Giang Tiên và mỏ than Phấn Mễ) gồm xóm: Tân Bình 1, Tân Bình 2, Tân Bình 3, Tân Bình 4, Cầu Bình 1, Cầu Bình 2, 1/5

- Vùng 2 trung tâm xã gồm xóm: Trung Thành 1, Trung Thành 2, Trung Thành 3, Trung Thành 4, Toàn Thắng, Liên Hồng 4, Liên Hồng 5, Liên Hồng 6, Liên Hồng 7, Liên Hồng 8

- Vùng 3 cuối xã (giáp trại giam Phú Sơn và xã Sơn Cẩm) gồm xóm: Thống Nhất 1, Thống Nhất 2, Thống Nhất 3, Thống Nhất 4, Toàn Thắng, Liên Hồng 1, Liên Hồng 2, Liên Hồng 3

3.4.3 Phương pháp lấy mẫu phân tích

+ Cách đào phẫu diện:

Chọn vị trí đại diện cho khu vực nghiên cứu

Mặt thành phẫu diện phải hướng về phía mặt trời, phải cắt ngang hướng dốc đối diện là các bậc lên xuống

Kích thước rộng 0,8m; 1,2m Khi đào đổ đất sang hai bên, đất mặt để riêng một bên Không dẫm đạp lên thành phẫu diện Mặt quan sát phải phẳng

- Lấy mẫu 10 điểm trong khu vực nghiên cứu, mỗi điểm lấy 2 mẫu tầng

từ 0-20cm và 20-40cm

Trang 35

- Vận chuyển, đưa mẫu về phòng thí nghiệm phân tích

3.4.4 Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

- Vị trí lấy mẫu [Phụ lục 1]

- Các chỉ tiêu và phương pháp thử nghiệm [Phụ lục 2]

- Địa điểm phân tích: Phòng thí nghiệm Khoa Quản lí tài nguyên Đại học Nông Lâm & Viện khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên

3.4.5 Phương pháp tổng hợp, đánh giá và so sánh

Số liệu sau khi đã được tổng hợp thành các bảng thông tin, bảng số liệu tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá căn cứ vào những tiêu chuẩn môi trường Việt Nam hiện hành, từ đó so sánh với các tiêu chuẩn môi trường cho phép hiện hành và rút ra nhận xét, đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của người dân khu vực nghiên cứu

3.4.6 Phương pháp xử lý và thống kê số liệu

Liệt kê những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

từ các tài liệu, số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa, tìm hiểu trên mạng, sách báo… các tài liệu sơ cấp khác để thống kê, tổng hợp lại và tính toán, xử lý bằng các phương pháp thủ công và trên máy vi tính bằng các phần mềm chuyên dụng như phần mềm Microsoft (Word và Excel) tạo số liệu thứ cấp phục vụ quá trình đánh giá dễ dàng, thuận lợi hơn

Trang 36

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vô Tranh –Huyện Phú Lương - Tỉnh Thái Nguyên

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường

4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý:

Xã Vô Tranh là xã miên núi nằm ở phía Đông Nam của huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm huyện (Thị trấn Đu) 10km, cách trung tâm tỉnh Thái Nguyên 30km

Phía Bắc giáp xã Phấm Mễ, xã Tức Tranh huyện Phú Lương

Phía Đông giáp xã Minh Lập huyện Đồng Hỷ(Cách nhau bởi dòng sông Cầu)

Phía Nam giáp xã Cổ Lũng, xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương

Phía Tây thị trấn Giang Tiên huyện Phú Lương

Vị trí địa lý của xã Vô Tranh có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là cây chè và mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật và tiếp nhận thông tin để phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân trong xã

- Địa hình, địa mạo:

Vô Tranh có địa hình vùng đồi thấp nằm ở phía Tây dòng sông Cầu, độ chênh cao tương đối lớn Độ cao trung bình là 231m, vùng cao là 393m, vùng thấp là 70m, độ chênh cao giữa vùng cao và vùng thấp là 323m Địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, địa hình giữa các đồi thấp là những cánh đồng bậc thang, bám dọc theo ven Sông Cầu là các soi bãi đất đai mầu mỡ phù hợp cho trồng lúa, chè công nghiệp và các cây hàng năm khác

Trang 37

- Khí hậu:

Xã Vô Tranh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm thời tiết khác nhau giữa bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ nắng nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô hanh

- Thủy văn

Mạng lưới thủy văn ở xã Vô Tranh khá phong phú có 3.4 km Sông Cầu

và 7.2km sông Giang Tiên chảy qua địa phận xã Có con suối chính là suối Khe Dạt chảy qua, mùa mưa thường có lũ lớn, xong do địa hình của xã khá cao do vậy ít bị ảnh hưởng của lũ lụt Đồng thời đây cũng chính là các nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất của xã, ngoài ra Vô Tranh còn có 33.1ha

ao hồ nuôi cá

4.1.1.2 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên đất:

Theo kết quả điều tra, đất đai của xã chia làm 4 nhóm chính:

+ Nhóm đất phù sa: Có khoảng 98.6 ha chiếm 5.4 % diện tích tự nhiên

toàn xã Phân bổ tập trung ở các cánh đồng ven Sông Cầu và sông Giang Tiên, đây là diện tích chủ yếu của đất trồng lúa, chè công nghiệp và cây hàng năm của

xã Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của lũ Sông Cầu, sông Giang Tiên và các suối chảy qua xã Khả năng khai thác, sử dụng của loại đất này thích hợp trồng lúa, chè công nghiệp, cây màu các loại

+ Nhóm đất Glây: Nhóm đất này có diện tích khoảng 121 ha chiếm 6.7% diện tích tự nhiên toàn xã, phân bố ở các vùng đồng trũng, khe dộc; Đất glây hình thành ở địa hình đọng nước và những nơi có mực nước ngầm nông, đất có màu nâu đen, xám đen, lầy thụt, bão hoà nước khả năng khai thác thích hợp trồng lúa nước và tận dụng làm hồ, đầm nuôi cá

+ Nhóm đất xám: Nhóm đất này có diện tích khoảng 1132 ha chiếm 61.6% diện tích tự nhiên toàn xã Đây là nhóm đất hình thành tại chỗ ở địa hình đồi núi,

Trang 38

chủ yếu có độ dốc lớn, theo phân loại của nhóm đất này gồm các loại đất bạc màu,

đỏ vàng trên đá mác ma a xít, phiến sét, đá cát, đất có phản ứng chua Độ no bazơ thấp, hoạt tính thấp Nhóm đất này có khả năng thích hợp trồng cây nông nghiệp, công nghiệp ở vùng đồi thấp, trồng rừng ở địa hình cao

+ Nhóm đất tầng mỏng 486ha chiếm 26.3% diện tích tự nhiên nhóm đất này phân bố ở địa hình đất đồi có độ dốc trên 20% đất có tầng đất mỏng, nhóm đất này được hình thành trên địa hình đồi cao, phát triển trên các loại đá mácma a xít hoặc đá biến chất Tầng đất mỏng lẫn nhiều đá vụn phong hoá dở dang, chủ yếu là

do quá trình rửa trôi, xói mòn nên càng ngày tầng đất càng mỏng, đất thường có phản ứng chua, độ no bazơ thấp, hàm lượng dinh dưỡng thấp Khả năng khai thác,

sử dụng hạn chế nhất là đối với sản xuất nông lâm nghiệp

- Tài nguyên nước:

+ Nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân phụ

thuộc vào nguồn nước thuộc Sông Cầu, sông Giang Tiên và các suối thông qua hệ thống kênh mương tự chảy, nhìn chung tưới tiêu chủ động ở cả bốn mùa trong năm

+ Nguồn nước ngầm khá dồi dào, song phân bố không đều, mực nước ngầm thay đổi có nơi chỉ vài mét là có mặt nước ngầm, có nơi thì hàng chục mét mới có Nhìn chung nước ngầm phục vụ sinh hoạt cho nhân dân dồi dào chủ yếu thông qua hệ thống giếng khơi ở các hộ gia đình Song do sự thay đổi môi trường sinh thái đặc biệt là rừng đã cạn kiệt, khí hậu, thời tiết biến đổi bất thường nên mực nước ngầm đã bị tụt sâu hơn so với những năm trước, một số giếng khơi của

hộ gia đình vào các tháng đầu năm đều bị cạn không đủ nước sinh hoạt

- Tài nguyên rừng:

Đất rừng xã Vô Tranh hiện có 303.81ha chiếm 16.53% tổng diện tích

tự nhiên, trong đó rừng trồng chiếm 100%; cây rừng chủ yếu là keo, bạch đàn

và các cây bản địa khác Diện tích rừng trồng ở xã Vô Tranh trong những năm

Trang 39

gần đây phát triển mạnh chủ yếu là cây keo, bạch đàn, bước đầu đã cho thu nhập Trong những năm tới cần đầu tư hơn nữa để tăng diện tích rừng trồng

và chăm sóc diện tích rừng hiện có nhằm tạo ra lượng lâm sản hàng hóa lớn, bảo vệ môi trường sinh thái

- Tài nguyên nhân văn

Theo số liệu điều tra trên địa bàn xã Vô Tranh gồm có 4 dân tộc chính là: Kinh, Tày, Nùng và Sán chí Các dân tộc vẫn giữ được bản sắc riêng của dân tộc mình Có 2 tôn giáo chính là: Đạo phật và Đạo thiên chúa giáo

- Tài nguyên khoáng sản:

Xã Vô Tranh chưa có mỏ khoáng sản nào được phát hiện

4.1.1.3 Thực trạng môi trường

Vô Tranh là xã miên núi của huyện Phú Lương, nằm ở vùng đồi thấp, tạo cho Vô Tranh có một địa hình đa dạng Cùng với việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thì việc bảo vệ môi trường sống là một vấn đề phải quan tâm tới nó đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững và lâu dài tạo môi trường xanh - sạch - đẹp, đảm bảo đời sống tinh thần, vật chất và sức khỏe cho nhân dân Nhìn chung môi trường và hệ sinh thái đã được đảm bảo

và phát triển bền vững Tuy nhiên trong quá trình khai thác và sử dụng đất chưa hợp lý nên vẫn xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu dân cư ảnh hưởng đến môi trường sống và sinh hoạt của nhân dân Vì vậy cần xử lý đưa các bãi rác thải xa khu dân cư

4.1.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, nguồn tài nguyên, môi trường

4.1.1.4.1 Thuận lợi

Xã Vô Tranh có điều kiện tự nhiên, tài nguyên phong phú và đa dạng, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện về đất đai tương đối tốt Địa bàn xã có vị trí rất thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy, có Sông Cầu, có hai tuyến đường liên xã chạy qua, là đầu mối giao thông với các xã phía Đông

Trang 40

và Đông Nam huyện Phú Lương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, gọi vốn đầu tư, tiếp thu thông tin kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật Địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, tài nguyên nước, tài nguyên đất và môi trường sinh thái phù hợp với sản xuất nông lâm nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, thâm canh tăng vụ, tăng năng xuất và chất lượng sản phẩm

- Tuy thuộc xã miền núi có địa hình, địa mạo khá thuận lợi bao gồm các dải đồi thấp, khá bằng phẳng và ít bị chia cắt rất thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp, phù hợp cho việc trồng cây ăn quả và cây lâu năm

- Trình độ dân trí khá cao, người dân cần cù, chăm chỉ, nhanh nhạy trong việc tiếp thu các kỹ thuật mới vào sản xuất

4.1.1.4.2 Khó khăn

Sự biến đổi thất thường của khí hậu, hàng năm chịu ảnh hưởng của bão

lũ, mưa nhiều gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

- Thế mạnh phát triển kinh tế của xã Vô Tranh là sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây chè

- Hướng phát triển kinh tế hiện tại là nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại

- Năm 2013 tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 4140 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt trên 602 kg/người/năm Sản lượng chè đạt 1902,5 tấn

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 9,5 triệu đồng/người/năm Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã trong những năm qua giữa các ngành diễn

ra khá nhanh Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Ngành nghề phi nông nghiệp đã có chiều hướng phát triển nhưng chưa thực

sự chiếm vị trí chủ đạo trong ngành kinh tế Trong những năm tới cần đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp, các ngành nghề phi nông

Ngày đăng: 29/12/2015, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết (2000). Sinh thái môi trường ứng dụng. NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái môi trường ứng dụng
Tác giả: Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2000
11. Fred Whitford (2002). The complete book of pesticide manegement (Tài liệu hoàn chỉnh về quản lý thuốc BVTV) (online), Wiley publishers, xem ngày 18-12-2009, từ<http://www.btny.purdue.edu/ppp/CBPMdesc.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: The complete book of pesticide manegement
Tác giả: Fred Whitford
Năm: 2002
1. Báo cáo thuyết minh quy hoạch phát triển nông thôn mới xã Vô Tranh Khác
2. Nguyễn Ngài Huân và Đào Trọng Anh (2001).Việt Nam thúc đẩy các giải pháp cho các rủi ro TBVTV, Pesticides News No. 53, September 2001, pages 6-7 Khác
4. Giáo trình bảo vệ thực vật TS. Nguyễn Đức Thạnh TS. Nguyễn Thị Mão KS. Nguyễn Thị Phương Oanh XB 2010, tr107 Khác
5. Lê Tất Khương và Nguyên Ngọc Quỹ . Giáo trình cây chè, sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2000 Khác
6. Nguồn báo điện tử office33 về Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật và vấn đề ô nhiễm môi trường Khác
7. Nguyễn Văn Minh. Xác định ngưỡng đánh giá chất lượng đất trong sản xuất chè bền vững. Tạp chí khoa học đất 20/2004 Khác
9. Chi cục Bảo vệ thực vật An Giang (2008). Quy hoạch mạng lưới cửa hàng kinh doanh TBVTV trên địa bàn tỉnh An GIang đến năm 2010.II.Tài liệu nước ngoài Khác
10. R. Frank et al (1990). Contamination of rural ponds with pesticide, 1971– Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Các hình thức chế biến chè theo từng giai đoạn tại xã Vô Tranh - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.1. Các hình thức chế biến chè theo từng giai đoạn tại xã Vô Tranh (Trang 47)
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng chè của xã Vô Tranh - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.2. Diện tích, năng suất và sản lượng chè của xã Vô Tranh (Trang 48)
Bảng 4.5. Số cơ sở kinh doanh , buôn bán thuốc BVTV và Phân hóa học - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.5. Số cơ sở kinh doanh , buôn bán thuốc BVTV và Phân hóa học (Trang 51)
Bảng 4.8. Đánh giá lượng mùn trong đất tại xã Vô Tranh - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.8. Đánh giá lượng mùn trong đất tại xã Vô Tranh (Trang 54)
Bảng 4.10. Người dân và những vấn đề liên quan tới thuốc BVTV - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.10. Người dân và những vấn đề liên quan tới thuốc BVTV (Trang 56)
Bảng 4.11. Cách xử lý bao bì thuốc BVTV và phân hóa học sau - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.11. Cách xử lý bao bì thuốc BVTV và phân hóa học sau (Trang 57)
Bảng 4.12. Mức độ tham gia buổi tập huấn sử dụng thuốc BVTV, BVMT - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.12. Mức độ tham gia buổi tập huấn sử dụng thuốc BVTV, BVMT (Trang 58)
Bảng 4.14. Tỷ lệ một số bệnh thường gặp về hô hấp tại xã Vô Tranh - Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.14. Tỷ lệ một số bệnh thường gặp về hô hấp tại xã Vô Tranh (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm