1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak

42 697 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Phát Triển Kinh Tế Của Các Nông Hộ Tại Buôn Tiêu Xã ÊaTiêu Huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Đak Lak
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 485 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak

Trang 1

PHẦN I

MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam phát triển đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, nông nghiệp Việt Nam chiếm 30% giá trị xuất khẩu và 25% trong tổng GDP quốc gia, 76% dân số sống ở nông thôn, giai đoạn 1997/1998, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp tạo ra công ănviệc làm cho hơn 66% lao động cả nước Phát triển nông nghiệp và nông thôn được coi là cơ sở để phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đổi mới trong nông nghiệp đã mở đầu cho quá trình cải tổ kinh tế ở Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc giúp Việt Nam phát triển kinh tế Trước năm 1988, Việt Nam luôn ở trong tình trạng mất an ninh lương thực, phải nhập khẩu lương thựchàng năm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Nhờ những chính sách đúng đắn

về giao quyền sử dụng đất cho nông dân, phát triển kinh tế nông hộ, tự do hóa

thương mại, phát triển tín dụng nông thôn, khuyến nông, Giai đoạn 1990-99, nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, trung bình 4,5 % / năm

Sản lượng lương thực 10 năm qua tăng bình quân 1,2 triệu tấn/năm Lượng gạo xuất khẩu năm 1999 đạt 4,5 triệu tấn Trồng trọt và chăn nuôi đều phát triển theo

xu hướng đa dạng hoá sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng đất đai và lao động Một số cây công nghiệp chủ yếu đã hình thành được các vùng sản xuất hàng hoá tập trung với khối lượng lớn Khối lượng sản phẩm cà phê hiện đạt trên 400 ngàn tấn, cao su trên 200 ngàn tấn, chè 65 ngàn tấn, đường các loại 750 ngàn tấn Diện tích cây ăn quả đạt khoảng 450 ngàn ha, sản lượng ước đạt gần 4,5 triệu tấn Chăn nuôi đạt mức tăng trưởng 5-6%/năm Năm 1999, tổng sản lượng thịt đạt 1,75 triệu tấn, tăng 7,7%

so với năm 1998

Trong khi sản phẩm chăn nuôi, đường, rau quả chủ yếu được sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước như thì nhiều loại sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu với tỷ lệ rất cao như cà phê 95%, điều 100%, cao su 80-85%, hạt tiêu 90%, chè

Trang 2

50% Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ

2 thế giới, xuất khẩu cà phê vối đứng thứ 2 trên thế giới, xuất khẩu điều thứ 4 trên thế giới Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của cả nước ước đạt 3,25 tỷ USD, tăng 11%

Tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng không những đối với tăng trưởng chung của nền kinh tế mà còn đối với tạo công ăn việc làm và xoá đói giảm nghèo Đời sống đa số nông dân được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng thu

nhập đạt trên 10% thời kỳ 1995 đến nay (thông tin từ trang AgroViet).

Tỉnh Dak Lak chúng ta phát triển kinh tế vẫn tập trung chủ yếu vào việc phát triển nông nghiệp đặc biệt tập trung vào sản xuất cà phê và cao su, một ngành mang lại lợi thế rất lớn cho Dak Lak chúng ta Không chỉ có vùng diện tích đất rộng lớn màđiều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho việc canh tác Cao su Dak Lak làsản phẩm xuất khẩu đứng thứ hai sau cà phê Năm 2000 toàn tỉnh có 25.703 ha cao

su tăng 54,3% so với năm 1990 (13.957 ha)

Tỉnh Dak Lak cũng là một điểm nóng về tình hình An Ninh Chính Trị trong cả nước các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam bằng các

âm mưu diễn biến hoà bình gây chia rẻ khối đại đoàn kết dân tộc làm mất ổn định trên địa bàn Tiêu điểm là năm 2001 chúng lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn gây mất ổn định chính trị ở Tây Nguyên nói chung và Dak Lak nói riêng

Xã ÊaTiêu Huyện Krông Ana với 24 thôn buôn trong đó có 7 buôn người đồng bào dân tộc tại chổ thế nên việc phát triển kinh tế của xã nói chung và 7 buôn đồng bào nói riêng mang ý nghĩa hết sức đặc biệt, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh

tế mà nó còn mang ý nghĩa về mặt chính trị Vì thế Nhiều năm qua tỉnh Dak Lak và Huyện Krông Ana đã đầu tư rất nhiều cho xã với mục tiêu ổn định xã hội và phát triển kinh tế Tuy nhiên việc phát triển kinh tế xã hội của xã cũng gặp phải rất nhiều khó khăn

Trang 3

Về phát triển kinh tế những khó khăn lớn đó là: giá cả hàng nông sản thường mất ổn định, cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, chưa có sơ cấu kinh tế hợp lý sản xuất nông nghiệp thì trồng trọt vẫn là chủ yếu, chăn nuôi chỉ mang tiêu dùng gia đình, chưa có sự kết hợp chặt chẻ giữa doanh nghiệp và người nông dân…

Về mặt xã hội mặc dù đã mở các cuộc tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân tuy nhiên việc tuyên truyền ít đi kèm với việc chuyển giao các tiến bộ khoa học kỷ thuật để người nông dân làm ăn thế nên hiệu quả không cao Vì thế tình hình chính trị xã hôi của xã còn diễn biến rất phức tạp

Buôn ÊaTiêu là một buôn của các đồng bào ngườI dân tộc, là một trong 24 buôn thuộc xã ÊaTiêu huyện Krông Ana tỉnh Dak Lak, nên cũng mang những đặc điểm chung của xã

Sản xuất nông nghiệp luôn có nhiều rủi ro nên lợi nhuận không ổn định, vì sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (tuy nhiên sản xuất nông nghiệp lại không thể thiếu trong sự nghiệp phát triển kinh tế của quốc gia) Vì vậy mà ngành này chưa thu hút được nhiều sự đầu

tư của các nhà đầu tư

Để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn thì chất xám là hết sức quan trọng - Mà trong điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH thì vốn có vai trò quan trọng không kém Vốn là một nhân tố quantrọng bậc nhất cho sự thành công và phát triển, khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana có rất nhiều thuận lợi về điều kiện

tự nhiên để phát triển kinh tế nông nghiệp: Đất đai, khí hậu, thuỷ văn,…nhưng ở đây vẫn chưa thể khai thác hết những thế mạnh của nó Một phần vì còn tồn tại những khó khăn như phong tục tập quán, kiến thức về thị trường,…một phần vì thiếu vốn

để đầu tư cho sản xuất Trong quá trình thực tập tại xã tiếp xúc trên thực tiễn như vậy, với mong muốn đóng góp một phần sức lực vào sự phát triển của thôn buôn

Trang 4

Êatiêu, xã Êatiêu, huyện Krông Ana, tỉnh Dăk Lăk cũng như vào sự phát triển chung

của đất nước, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Tình hình phát triển kinh tế của các

nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Để tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu

xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Từ đó tìm ra những tồn tại và khó khăn nơi đây, trên cơ sở đó mong rằng có thể đưa ra các giải pháp nhằm góp phần tăng hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế nơi này

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ gia đình thuộc buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana thông qua quá trình thu thập thông tin trực tiếp từ thôn buôn

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu các vấn đề về phát triển kinh tế

được tiến hành trên địa bàn buôn ÊaTiêu thuộc xã ÊaTiêu huyện Krông Ana

1.4.2 Phạm vi về thời gian

- Thời gian tiến hành nghiên cứu: đề tài được thực hiện trong thời gian 4 tuần

từ ngày 02/10/2006 đến ngày 02/11/2006

- Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là: 5 năm ( từ năm 2001 đến năm 2005 )

- Ngoài những số liệu sơ cấp thu thập được thông qua phỏng vấn bằng phiếu điều tra còn có số liệu thứ cấp do Ủy Ban Nhân Dân Xã Êa Tiêu cung cấp

1.4.3 Phạm vi về nội dung

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào: “Tình hình phát triển kinh

tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana” Để tìm hiểu

về vấn đề này đoàn sinh viên thực tập chúng tôi đã đi điều tra thực tế, thu thập số liệu và xử lí, tổng hợp, phân tích và đánh giá …

Trang 5

cơ cấu sản xuất của ngành nông nghiệp cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế là công việc mang tính chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức và cơ hội mới Thách thức lớn nhất đó là nền nông nghiệp nước ta vẫn là nên nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, sẽ phải đối đầu với nền nông nghiệp của các nước có công nghệ sản xuất tiên tiến Để nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân sống ở vùng nông thôn đặc biệt là các hộ nông dân thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nông thôn và thành thị thì Đảng

và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để đáp ứng được những đòi hỏi trong tình hình mới

Những năm gần đây thì Nhà nước ta đã có những chính sách, chương trình hành động cụ thể để phát triển kinh tế ở vùng sâu vùng xa…Nhưng nhìn chung đời sống của nhưng người dân ở đây vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là đối với những hộ đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy trong chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn thì phát triển kinh tế hộ gia đình chiếm vị trí rất quan trọng, vì hộ kinh tế gia đình chính là những tế bào của nông thôn Phát triển kinh tế hộ chính là thay đổi

bộ mặt của nông thôn, tiến đến một nông thôn hiện đại trong thời đại mới Cho nên việc khai thác tiềm năng kinh tế hộ nông dân là nhiệm vụ cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

Trang 6

2.1.1 Một số khái niệm

2.1.1.1 Hộ

-Hộ là tất cả những người cùng chung sống trong một mái nhà, nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm

công (theo weberster,từ điển,1990).

-Hộ là những người cùng chung sống dưới một mái nhà,cùng ăn chung

và có chung ngân quỹ (theo liên hiệp quốc).

-Hộ là những người cùng có chung huyết thống có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân

và cộng đồng (raul,1989).

sscùng chung dòng máu được di truyền trong dòng họ từ đời này sang đời khác và bao gồm cả những người làm công mà tất cả họ đang cùng chung sống trong một mái nhà, họ cùng ăn chung, cùng làm chung – sáng tạo ra của cải vật chất và cùng sử dụng chung nguồn ngân quỹ đã được tích lũy từ lao động của họ để cùng bảo tồn

2.1.1.2 Hộ nông dân

Hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong mọt hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị

trường với mức hoàn hảo không cao (theo ELLIS,1988).

Như vậy Hộ nông dân là hộ có phương thức sản xuất nhỏ, họ làm kinh tế chủ yếu dựa trên các tư liệu về sản xuất mà mình có được, họ chủ yếu vẫn là sản xuất tự cung tự cấp, họ có tham gia vào thị trường nhưng ở mức độ thấp

2.1.1.3 Kinh tế hộ

Kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ căn bản dựa vào sự tích luỹ, tự đầu

tư để sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi nghèo đói và vươn lên làm ăn khá giả Từ tự cung tự cấp vươn lên sản xuất hàng hoá với thị trường

Từ khái niệm về kinh tế hộ như trên ta có thể hiểu rằng: kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ - họ chủ động tất cả trong quá trình sản xuất của mình,

Trang 7

từ việc lựa chọn phương thức sản xuất đến việc lựa chọn mức đầu tư, họ tự tìm hiểu những vấn đề mà thị trường cần – nghĩa là sẽ trả lời cho câu hỏi:

“Sản xuất cái gì”? “Sản xuất như thế nào”? Và “sản xuất cho ai”? họ hướng tới thị trường Họ tự lập về vốn đầu tư của mình nhờ vào sự tích lũy trong sảnxuất để đầu tư và phát triển sản xuất vươn lên làm ăn khá giả

2.1.1.4 Kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân sản xuất nhỏ trong nông nghiệp dựa trên cơ sở chế

độ tư hữu về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của người sản xuất trong

kinh tế riêng của mình (từ điển kinh tế của nhà xuất bản sự thật,1976).

Ở đây ta nhận thấy hai khái niệm kinh tế hộ và kinh tế hộ nông dân có mối

liên hệ với nhau là họ cùng tự quyết định trong sản xuất và cùng tự chịu trách nhiệm

về quyết định của mình, cùng dựa vào những nguồn lực mà mình có, nhưng khái niệm về Kinh tế hộ nông dân mới chỉ bàn đến sự tự chủ và sự độc lập trong sản xuất của mình chưa nói gì đến sự vươn lên giàu có và cũng chưa hướng tới thị trường

2.1.1.5 Kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn, chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu tố sảnxuất nhằm đạt được thu nhập cao nhất

Kinh tế nông hộ là dặc thù của nền kinh tế nông nghiệp, nó trải qua và tồn tại

từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì thế, kinh tế nông hộ là kinh tế cơ sở, vừa làđơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng Có khả năng sáng tạo và sản xuất ra các sản phẩm mà các sản phẩm này không thể thiếu được trong cuộc sống củachúng ta Kinh tế nông hộ là một tế bào của xã hội, nên nó cũng có sự tiêu dùng các sản phẩm của xã hội cho sinh hoạt hàng ngày

2.2 Cơ sở thực tiễn

Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ năm 1986 Kể từ

đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa

Trang 8

dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội

Cùng với công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam, trong những năm vừa qua tỉnh Dak Lak đã đạt được những thành tựu nhất định Giai đoạn 1991-1995, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân là 10,11 Giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 10,5%/năm GDP bình quân đầu người: Năm 1991 là

218 (USD/người/năm), năm 1995 là 258 (USD/người/năm), năm 2002 là 380 (USD/người /năm)

Tuy nhiên còn nhiều khó khăn thách thức cho Việt Nam nói chung và Dak Lak nói riêng nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam là một nước có 69% lực lượng lao động vẫn thuộc lĩnh vực nông nghiệp và 45% dân số sống tại nông thôn sống dưới mức nghèo Những thách thức lớn như là mức độ cạnh tranh thấp, hay phải đương đầu với trợ cấp xuất khẩu của các nước giàu, việc cắt giảm thuế quan và các trợ cấp nông nghiệp, việc Việt Nam không được tiếp cận đối với cơ chế tự vệ đặcbiệt cho các sản phẩm chăn nuôi Thách thức thứ hai là các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam sẽ phải đối mặt là trợ cấp của các nước giàu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử là hai phương pháp chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận của hai phương pháp nghiên cứu trên để phân tích và đánh giá những vấn đề của các sự vật hiện tượng xảy ra trong sự phát triển kinh tế nông hộ

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

-Thu thập thông tin số liệu thứ cấp: Là số liệu đã được xử lí và đã công

bố Số liệu sẵn có từ những báo cáo của uỷ ban , các tổ chức cơ quan đoàn thể

xã ÊaTiêu huyện krông Ana, từ internet, sách, báo, …

Trang 9

-Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: báo cáo đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, đã chọn ngẫu nhiên 40 hộ trong buôn tiêu để nghiên cứu đại diệ cho cho tình hình kinh tế hộ của buôn này Vì phương pháp nay có những ưu điểm riêng của nó và phù hợp với thời gian thực tập có hạn.

2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

- Tổng thu = Sản lượng * Giá bán

- Lợi nhuận = Tổng thu - Tổng chi

- Năng suất ruộng đất = Tổng giá trị sản xuất / Tổng diện tích

- Tiêu chí phân loại hộ

Căn cứ Quyết định số 170 / CP_T tg ngày 8/7/2005 của Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội phân loại các nhóm hộ như sau:

+ Phải thống nhất về nội dung phản ánh

+ Phải thống nhất về phương pháp tín0068 toán

+ Số liệu thu thập phải cùng thời gian tương ứng

Từ kết quả so sánh chúng ta xem xet, rút ra được kết luận về sự thay đổi, biến động của các sự vật hiên tượng, quá trình kinh tế

Trang 10

So sánh tương đối: Đây là phương pháp so sánh biểu hiện mối quan hệ so sánh giữ mức độ của đối tượng nghiên cứu.

So sánh tuyệt đối: Phương pháp này biểu hiện quy mô, lượng giá trị của một chỉ tiêu kinh tế nào đó, trong thời gian cụ thể So sánh tuyệt đối có thể được tính bằng thước đo giá trị, hiện vật So sánh số tuyệt đối của chỉ tiêu kinh tế trong những khoảng thời gian khác nhau để thấy được quy mô phát triển của chỉ tiêu kinh tế nào đó

- Phương pháp thống kê kinh tế: Là phương pháp dược sử dụng phổ biến trong quá trình nghiên cứu kinh tế Đây là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng bằng thống kê trên cơ sở thu thập, tổng hợp, phân tích, so sánh các số liệu và hiện tượng Khi phân tích thì dùng cách phân tổ hệ thống chỉ tiêu để tìm ra quy luật vận động và rút ra kết luận cần thiết

2.2.5 Công cụ xử lý số liệu

Toàn bộ số liệu được thu thập về đã được xử lí bởi phần mềm ứng dụngMicrosoft exel 7.0

Trang 11

PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

-Phía đông giáp với Buôn Kram

-Phía tây giáp với Buôn Ê Blũng

-Phía nam giáp với thôn 15

-Phía bắc giáp với Buôn Êga, Thôn 85

3.1.1.2 Địa hình thổ nhưỡng

Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana có địa hình hơi dốc, đất chủ yếu làđất đen, đất phù sa và đất đỏ, đây là một loại đất thích hợp với việc trồng cây Cà Phê

và trồng lúa nước

3.1.1.3 Thời tiết-khí hậu

Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana là khu vực thuộc vùng Tây

nguyên nên mang đặc điểm của vùng này: Có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng tư đến tháng mười, mùa khô từ tháng mười một đến tháng ba

- Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ nhỏ hơn 80001 độ c

+Nhiệt độ không khí bình quân là: 23.7 độ c+Nhiệt độ tối đa là 37.5 độ c

+Nhiệt độ tối thiểu là 11.4 độ c

- Lượng mưa: Phân bố theo mùa khá tập trung, lượng mưa bình quân hàng năm là:1600-1800 mm Mùa mưa lượng mưa chiếm 87% lượng mưa cả năm; Mùa

Trang 12

khô lượng mưa chiếm 13% lượng mưa cả năm Số ngày mưa trung bình hàng năm là

- Ánh sáng: Số giờ chiếu sáng trung bình cả năm là: 6.5 giờ/ngày Số giờ nắng

cả năm là 2670 giờ Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 3 và tháng có giờ nắng thấpnhất là tháng 9

3.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

3.1.2.1 Kinh tế

a Trồng trọt

Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana thuộc tỉnh Đăklăk - nằm trong địa bàn của khu vực Tây nguyên của nước ta nên nó mang những đặc điểm của vùng này Nơi đây có mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây công nghiệp, đặc biệt là cây Cà Phê, và Buôn đã chú trọng phát triển từ khá lâu, hầu hết các hộ đều đã trồng Cà Phê với gần hết diện tích của mình tuy nhiên về năng xuất bình quân chung thì lại chưa cao, kiến thức thâm canh của các nông hộ chưa được tốt và đồng đều, còn có nhiều hộ trồng Cà Phê nhưng chưa bao giờ có nguồn chi phí về các loại thuốc bảo vệ thực vật cả - trong khi cây Cà Phê là một loại cây có nhiều khả năng nhiễm bệnh, tuy nhiên về sản lượng Cà Phê của Buôn qua các năm gần đây có tăng, người dân đã có quan tâm hơn đến kĩ thuật trong sản xuất cây Cà Phê

Các loại cây trồng khác như lúa nước, Ngô, sắn, tiêu…lại ít được chú trọng đó

là do diện tích bị giới hạn, nhưng cũng còn một vài hộ qua mấy năm gần đây do giá

cả thị trường xuống thấp nên đã có một số hộ phá bớt đi diện tích Cà Phê để chuyển sang các cây trồng khác như Ngô

Trang 13

b Chăn nuôi

Chăn nuôi cũng là một ngành có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, Buôn ÊaTiêu có nhiều thuận lợi về khí hậu, thời tiết…rất tốt để phát triển ngành này song lại chưa được các hộ ở đây chú trọng, hầu hết các hộ không chăn nuôi, có một vài hộ có chăn nuôi nhưng không đáng kể, chăn nuôi theo kiểu tự cung tự cấp, mỗi gia đình có chăn nuôi cũng chỉ có vài con gia súc, gia cầm

c Dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

Mặc dù người dân Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana sông chủ yếu làtrồng Cà Phê nhưng bên cạch đó cũng có một số hình thức kinh doanh dịch vụ như: Xăng dầu, May mặc, Xay xát, Buôn bán…chính nhờ có các hình thức kinh doanh dịch vụ này đã giúp cho người dân nơi đây giảm bớt những khó khăn trong việc vận chuyển dầu tưới khi đến thời điểm tưới, cũng như vận chuyển nông sản đến nơi khác

3.1.2.2 Xã hội

a. Tình hình an ninh trật tự

Xuất phát từ tình hình đặc điểm của địa phương công tác an ninh được coi trọng đặc biệt là an ninh chính trị, tích cực triển khai Nghị quyết 09/NQ-CP và Quyếtđịnh 138/QD-CT của chính phủ về chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm, phối hợp trên của ban chỉ huy quân sự xã lực lượng bảo vệ của Nông trường Cà Phê Êatiêu, Nông trường cao su 19/08

Trong công tác giữ gìn an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, lực lượng công

an xã, công an thôn Buôn được kiện toàn củng cố và không ngừng củng cố tăng

Trang 14

cường lực lượng quốc phòng an ninh Xây dựng thế trận an ninh nhân dân Phát huy sức mạnh hệ thống chính trị trong việc củng cố quốc phòng và an ninh nhân dân

Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây tình hình trật tự của Buôn ÊaTiêu xã Êatiêu huyện Krông Ana rất phức tạp Nguyên nhân là do sự ảnh hưởng của thời đại

mở cửa mang tính chất đua đòi, trộm cắp Đấy là một trong những “khe hở” để kẻ địch luồn lách dụ dỗ các đối tượng này đi theo con đường phản động Trước tình hình diễn biến phức tạp này, Đảng và Nhà Nước đã thể hiện sự quan tâm giúp đỡ đó

là tăng cường về cùng chung sống với đồng bào nhằm tuyên truyền, vận động, thuyếtphục, làm rõ âm mưu của bọn phản động lôi kéo đồng bào phản cách mạng, từ đó nhân dân trong Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana đã giác ngộ nhận ra sự saitrái và hiện nay tình hình an ninh trật tự, đã đi vào trật tự vốn có của nơi này

b Văn hoá, giáo dục

Sự nghiệp giáo dục có những chuyển biến tích cực, nâng cao chất lượng dạy

và học được phủ kín trong toàn Buôn, về chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao, đa số giáo viên đã được chuẩn hoá, tỉ lệ học sinh đạt khá giỏi bình quân năm sau cao hơn năm trước, Tỉ lệ học sinh bỏ học từ đầu nhiệm kỳ đến nay giảm số lượng đáng kể

Về phổ cập giáo dục trong đầu nhiệm kỳ đến nay đã tiến hành điều tra hoàn chỉnh phổ cập trung học cơ sỏ

c Y tế

Công tác y tế nhìn chung từ đầu nhiệm kỳ đến nay, mặc dù Buôn ÊaTiêu xã Êatiêu huyện Krông Ana chưa có trạm y tế riêng nhưng trạm y tế xã đã cố nhiều cố gắng trong công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, chú trọng công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, thực hiện tốt các chương trình quốc gia về phòng chống các loại bệnh, làm tốt công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch đặc biệt dịch cúm gà

và dịch lở mồm long móng vừa qua Kịp thời nắm bắt các diễn biến của dịch bệnh để

có kế hoạch ngăn ngừa, đảm bảo công tác khám chữa bệnh, cấp phát thuốc …

Trang 15

3.2 Kết quả nghiên cứu

(Nguồn tin : Từ báo cáo của Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana).

Biểu đồ 3.1 : Tình hình sử dụng đất đai (diện tích ):

Nghĩa địa

Hồ nước Ruộng nước

Qua số liệu trên ta thây diện tích đất thổ cư là khá cao, chiếm 42.86% tổng diện tích của cả Buôn, trung bình đất thổ cư trên đầu người là: 0.42 ha/người, chiếm 0.24% Như vậy, diện tích đất không sử dụng vẫn còn nhiều, đó là một trong những vấn đề cần được giải quyết trước mắt để nguồn đất không được lãng phí

Đất nông nghiệp là 62 ha chiếm 35043% trong khi đó diện tích đất ruộng nước là 5 ha chiếm 2.86%, điều đó cho thấy người dân nơi đây sống chủ yếu là nhờ

Trang 16

cây công nghiệp đặc biệt là cây Cà Phê Như vậy người dân ở đây đã biết trồng những cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao Song những năm qua sản lượng Cà Phêcòn thấp do tình hình khí hậu khắc nghiệt, hạn hán kéo dài, nước tưới chủ yếu từ các

hồ nhưng trong những năm đó thì mực nước quá cạn, không đủ tưới, trong khi đó thì người dân lại không có vốn để đầu tư cho việc nạo vét giếng

Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là đặc biệt quan trọng, nó vừa là tư liệulao động vừa là đối tượng lao động việc sử dụng vốn trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào đất đai

Bảng 3.2 :Tình hình phân bổ đất đai của các hộ điều tra :

(Nguồn tin: Tổng hợp từ phiếu điều tra).

Qua bảng thống kê trên thì ta thấy rằng diện tích đất (bình quân/hộ) để canh tác cho các hộ nơi đây là không cao Các hộ không đủ nhiều đất để sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các hộ trung bình và các hộ nghèo, họ đều rất ít đất Ở đây việc phát triển kinh tế chủ yếu là nhờ vào cây công nghiệp là Cà Phê nhưng diện tích bìnhquân/hộ của họ đều thấp, có đỡ hơn là ở các hộ khá giàu còn được 1.2 ha/ hộ, còn các hộ trung bình là 0.9 và nghèo là 0.13, với số đất như vậy thì khó có điều kiện để

mở mang quy mô sản xuất Đất trống để làm rẫy nơi này cũng chỉ còn 0.433 ha nơi đây việc phát triển lúa nước rất thấp do diện tích rất ít, điều này là do tài nguyên về đất ruộng là nghèo nàn Như vậy để khắc phục vấn đề đất đai là các hộ phải tiến hànhthâm canh trên mảnh đất của mình sao cho năng suất cao nhất, đạt hiệu quả về kinh

Trang 17

tế trên diện tích đất của mình là cao nhất, góp phần nâng cao đời sống và đổi mới bộ mặt nông thôn.

3.2.2 Nhân khẩu và lao động

Trong sản xuất thì phương thức sản xuất là quan trọng nhất, việc lựa chọn phương thức sản xuất thế nào thì sẽ đem lại hiệu quả lao động thế đó Tuy nhiên trong mọi phương thức sản xuất thì lao động vẫn là một yếu tố không thể thiếu, việc quản lý, sử dụng lao động hợp lý là việc rất quan trọng góp phần vào năng suất cũng như thu nhập của người nông dân Đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp- lao động

có tính thời vụ, lao động sẽ dư thừa sau mùa vụ, vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào

để tận dụng nguồn lao động một cách hợp lý nhất nhằm đem lại hiệu quả lao động cao nhất và vòng tuần hoàn vốn một cách liên tục và nhanh nhất

Bảng 3.3:Nhân khẩu và lao động:

STT Nhóm hộ Số hộ nhân Số

khẩu

BQ khẩu /hộ

Lao động

Tỉ lệ(%) LĐ/số NK

LĐBQ /hộ

(Nguồn tin: Tổng hợp từ phiếu điều tra).

Từ bảng thống kê trên ta có nhận xét như sau: Có 25 hộ được phỏng vấn nhưng có tới 149 nhân khẩu, số khẩu bình quân trên hộ biến đông từ 4.75-6.27 (khẩu/hộ) Nhưng số lao động chỉ có 94 khẩu trên tổng số 149 khẩu, chiếm 63.08% trên tổng số khẩu của 25 hộ điều tra, số còn lại là 36.92% bao gồm những người già

và trẻ em chưa đến tuổi lao động, con số nhân khẩu ăn theo này là khá lớn trong ngành sản xuất nông nghiệp có nhiều rủi ro này, đặc biệt là nơi đây các ngành dịch

vụ chưa phát triển

Trang 18

Vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân vào những thời điểm nhàn rỗi là hết sức cần thiết Vào thời điểm này thì cũng là điều kiện thuận lợi cho các cán bộ khuyến nông-khuyến lâm tranh thủ thời gian tổ chức các lớp tập huấn nhằm truyền đạt các kỹ thuật trong sản xuất cho người dân Mặt khác, trong quá trình sản xuất, sự giúp đỡ họ về nguồn vốn cũng hết sức quan trọng trong việc đầu tư sản xuất và thay đổi phương thức sản xuất của họ.

Số khẩu bình quân/hộ của các nhóm hộ biến động từ 4.75-6.27 khẩu/hộ như vậy là quá lớn Từ thực tế điều tra ta thấy rằng số hộ được phỏng vấn thì hầu hết đều

là các hộ trẻ-rất ít người già, nhưng số người trẻ đang trong độ tuổi đi học lại rất nhiều-họ đã bỏ học và ở nhà làm rẫy Điều này cho thấy trình độ dân trí của người dân nơi đây nhìn chung còn thấp Vả lại theo bảng thống kê trên thì số khẩu bình quân trên mỗi hộ là khá đông (nếu chưa muốn nói là quá đông) Tổng hợp từ các phiếu điều tra ta thấy rằng những hộ có số nhân khẩu là 4 trở xuống là rất ít, mà có rất nhiều hộ có tới 9 khẩu, còn nhiều khẩu đang trong độ tuổi đi học và chưa đi học (những gia đình này còn trẻ), như vậy cần quan tâm nhiều hơn đến vấn đề dân số và

kế hoạch hoá gia đình ở buôn này

3.2.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm

Thị trường là lĩnh vực lưu thông hàng hoá, toàn bộ những hoạt động mua bán;việc cung cấp hàng hoá và nhu cầu có khả năng thanh toán đối với các loại hàng hoá hoặc một loại hàng hoá nhất định nào đó Hầu hết các hộ nông dân ở đây đều là những nông hộ nhỏ Trong sản xuất nông nghiệp các hộ nông dân còn mang tính tự cung tự cấp, chỉ riêng sản xuất Cà Phê thì các hộ sản xuất ra để bán vì đó là nguồn thu nhập chính của hộ gia đình của Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana nên thị trường nông sản phẩm nơi có rất ít - chỉ có khoảng ba đại lý nhỏ thu mua nông sản Cà Phê do tư nhân quản lý các nông sản do nông dân làm ra thường bị các

thương Buôn ép giá, thông tin về thị trường chưa tốt Mặt khác giá cảc nông sản không ổn định

Trang 19

3.2.4 Ngành trồng trọt

3.2.4.1 Năng suất bình quân của các loại cây trồng của các hộ điều tra

Bảng 3.4:Năng suất bình quân của các loại cây trồng

(Nguồn tin : Tổng hợp từ phiếu điêu tra).

Qua bảng thống kê trên ta thấy rằng năng suất đối với mọi cây trồng đều còn

có thể tăng thêm nhờ vào việc thâm canh của các nông hộ Ngay cả đối với các hộ khá giàu thì việc chăm sóc cho Cà Phê với năng suất 3.9 tấn/ ha như vậy còn vẫn là chưa tốt, các hộ trung bình lại chỉ đạt 3.2 tấn/ ha, đặc biệt là các hộ nghèo năng suất của họ thật quá thấp chỉ đạt 1.94 tấn/ha Cà Phê của vùng tây nguyên chúng ta hoàn toàn có thể đạt được năng suất 5 tấn/ ha hoặc có thể còn hơn nữa nếu tiến hành thâm canh tốt, như vậy cần đặc biệt phát huy về đầu tư thâm canh cây Cà Phê nơi đây, vì cây Cà Phê chính là nguồn thu nhập chính cho các hộ gia đình và chủ yếu nguồn đất thì đã ưu tiên cho Cà Phê Còn về lúa và bắp với năng suất như vậy còn có thể tạm chấp nhận được, tuy nhiên năng suất của cây lúa mới đạt 7.802-8.012 tấn/ha chưa đạt được năng suất tốt là 1 tấn/ ha trở lên, riêng năng suất của cây bắp vẫn còn yếu mới được 6.03-6.17 tấn/ ha trong khi quy cách về năng suất của cây bắp lai là 10-13 tấn/ ha , nhưng do diện tích quá ít nên có thể nghĩ tới việc chuyển đổi cây trồng một cách hợp lý hơn, trồng bắp, lúa cũng là góp phần vào sự đa dạng hoá các loại cây trồng nhằm tránh những rủi ro nhưng lại với diện tích quá ít như vậy thì lại trở nên sản xuất manh mún và không đạt hiệu quả kinh tế cao

3.2.4.2 Thu nhập từ trồng trọt của các nhóm hộ qua các năm điều tra

Mức thu nhập ngành trồng trọt sẽ cho ta biết được quy mô của sản xuất cũng như trình độ thâm canh cây trồng của các nhóm hộ điều tra

Trang 20

(Nguồn tin: Tổng hợp từ phiếu điều tra).

Biểu đồ 3.2: Tổng mức thu nhập ngành trồng trọt của các nhóm hộ

Bảng 3.6: Tốc độ phát triển liên hoàn về thu nhập ngành trồng trọt của các nhóm hộ

(Nguồn tin: Tổng hợp từ phiếu điều tra).

Tại Buôn ÊaTiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana thì tình hình đất làm rẫy là không còn nhiều, thu nhập của ngành trồng trọt vẫn chủ yếu là Cà Phê, thêm vào đó một phần nhỏ của lúa ,bắp, đậu

Thông qua biểu đồ thể hiện tổng mức thu nhập ngành trồng trọt của các nhóm

hộ và bảng thể hiện tốc độ phát triển liên hoàn trên thì ta nhận thấy rằng tổng thu nhập của hai nhóm khá giàu và trung bình là tương đương nhau thậm chí nhóm hộ

Trang 21

trung bình còn nhỉnh hơn nhóm hộ khá giàu, điều đó được giải thích như sau: tuy tổng thu nhập ngành trồng trọt của nhóm trung bình không thua gì nhóm hộ khá giàu

là do nhóm hộ trung bình có tổng số hộ là 15 hộ trong khi nhóm hộ khá giàu chỉ có 4

hộ, sự thể hiện trên bảng và trên biểu đồ này vẫn giải thích rằng nhóm hộ giàu thì vẫn có thu nhập cao hơn nhiều so với nhóm hộ trung bình

Một điều đáng mừng ở đây là tốc độ phát triển liên hoàn của cả hai nhóm hộ khá giàu và trung bình đều tăng qua các năm điều tra Nhóm hộ nghèo cũng tăng nhưng tóc độ tăng còn nhỏ và chưa có sự đột biến vươn lên cần có những chính sách

ưu đãi và quan tâm đúng mức cho các nhóm hộ này giảm khoảng cách giàu nghèo, nhằm đảm bảo công bằng xã hội

3.2.4.3Hiệu quả đầu tư trong ngành trồng trọt

Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng thì vấn đề hiệu quả sản xuất luôn là vấn đề được quan tâm đầu tiên, sản xuất phải có hiệu quả thì sảnxuất mới có ý nghĩa kinh tế - vấn đề này luôn được các nhà đầu tư quan tâm ngay trước khi có những quyết định đầu tư và ra những chính sách của những nhà lãnh đạo– trong sản xuất của các hộ cũng thế vậy ta hãy xem việc sản xuất của các hộ có hiệu quả hay không thông qua các bảng sau:

Bảng 3.7: Hiệu quả đầu tư trong trồng trọt

Ngày đăng: 26/04/2013, 15:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4:Năng suất bình quân của các loại cây trồng - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.4 Năng suất bình quân của các loại cây trồng (Trang 19)
Bảng 3.6: Tốc độ phát triển liên hoàn về thu nhập ngành trồng trọt của các nhóm hộ - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.6 Tốc độ phát triển liên hoàn về thu nhập ngành trồng trọt của các nhóm hộ (Trang 20)
Bảng 3.5: Mức thu nhập nghành trồng trọt - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.5 Mức thu nhập nghành trồng trọt (Trang 20)
Bảng 3.7: Hiệu quả đầu tư trong trồng trọt - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.7 Hiệu quả đầu tư trong trồng trọt (Trang 21)
Bảng 3.8: Lợi nhuận từ trồng trọt: - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.8 Lợi nhuận từ trồng trọt: (Trang 22)
Bảng 3.9: Lợi nhuận từ trồng trọt bình quân/ hộ của các nhóm hộ điều tra - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.9 Lợi nhuận từ trồng trọt bình quân/ hộ của các nhóm hộ điều tra (Trang 23)
Bảng 3.10: Tình hình chăn nuôi - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.10 Tình hình chăn nuôi (Trang 24)
Bảng 3.11: Mức thu nhập từ chăn nuôi - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.11 Mức thu nhập từ chăn nuôi (Trang 25)
Bảng 3.13: Hiệu quả đầu tư trong chăn nuôi - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.13 Hiệu quả đầu tư trong chăn nuôi (Trang 27)
Bảng 3.14 : Lợi nhuận từ chăn nuôi - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.14 Lợi nhuận từ chăn nuôi (Trang 27)
Bảng 3.15:Thu nhập khác của các nhóm hộ qua các năm điều tra - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.15 Thu nhập khác của các nhóm hộ qua các năm điều tra (Trang 29)
Bảng 3.16: Tổng thu nhập (trồng trọt-chăn nuôi-thu nhập khác) của các nhóm - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.16 Tổng thu nhập (trồng trọt-chăn nuôi-thu nhập khác) của các nhóm (Trang 30)
Bảng 3.19: Lượng tăng giảm  liên hoàn về chi phí cho đầu tư sản xuất - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.19 Lượng tăng giảm liên hoàn về chi phí cho đầu tư sản xuất (Trang 32)
Bảng 3.20: Các hình thức vay vốn - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.20 Các hình thức vay vốn (Trang 33)
Bảng 3.21: Nguồn vay của các hộ điều tra - Tình hình phát triển kinh tế của các nông hộ tại buôn Tiêu xã ÊaTiêu huyện Krông Ana Tỉnh Dak Lak
Bảng 3.21 Nguồn vay của các hộ điều tra (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w