Chính vì vậy nên trong những dạng toán của môn Đại số lớp 9 thì dạng toán “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn” đối với các em là dạng toán tương đối khó.. - Qua nhiề
Trang 1PHÒNG GIÁO GD&ĐT KRÔNG ANA
Môn đào tạo: Toán
Krông Ana, tháng 12 năm 2014
Trang 2I Phần MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài
- Trong xu hướng phát triển chung, xã hội luôn đặt ra những yêu cầu mới cho
sự nghiệp đào tạo con người Chính vì vậy, việc dạy và học cũng không ngừng đổimới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Trước tình hình đó, mỗi giáoviên chúng ta cũng phải luôn tìm tòi, sáng tạo, tìm ra phương pháp dạy mới phùhợp với từng đối tượng học sinh để phát huy cao nhất tính chủ động, sáng tạo, tíchcực của người học, nâng cao năng lực phân tích, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn
đề, rèn luyện và hoàn thành các kỹ năng vận dụng thành thạo các kiến thức mộtcách chủ động, sáng tạo vào trong thực tế cuộc sống
- Đối với lứa tuổi học sinh THCS nói chung và đối tượng nghiên cứu là họcsinh lớp 9 nói riêng Mặc dù tuổi các em không phải còn nhỏ nhưng khả năng phântích, suy luận còn rất nhiều hạn chế nhất là đối với đối tượng học sinh học yếu vàlười học Chính vì vậy nên trong những dạng toán của môn Đại số lớp 9 thì dạng
toán “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn” đối với các em là
dạng toán tương đối khó
- Qua nhiều năm được phân công dạy bộ môn Toán 9 ở trường THCS LêVăn Tám, trường THCS Băng Adrênh, trường THCS Buôn Trấp và qua nhiều lầnkiểm tra, dự giờ đồng nghiệp trong và ngoài trường cũng như qua trao đổi với một
số thầy cô dạy Toán trong huyện, bản thân tôi nhận thấy khả năng tiếp thu và vậndụng kiến thức của học sinh ở phần “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậchai một ẩn” là còn rất nhiều hạn chế Nguyên nhân là do các bài toán dạng này cho
đề bài bằng lời văn, các dữ kiện của bài toán và các phép toán hầu hết đều cho dướidạng ẩn nếu học sinh không biết tìm hiểu, phân tích bài toán một cách rõ ràng,chính xác thì việc xác định được cách giải là rất khó
- Trong chương trình toán 9 thì “Giải bài toán bằng cách lập phương trìnhbậc hai một ẩn” chiếm một vị trí rất quan trọng Đây cũng là một dạng toán vậndụng kiến thức vào thực tế cuộc sống mà nếu các em nắm được thì sẽ tạo hứng thúhọc tập và yêu thích bộ môn hơn, ngoài ra đây cũng là dạng toán hay sử dụng trongcác đề thi vào lớp 10 Khi giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai nói
chung và dạng toán “Tìm hai số” nói riêng thì việc phân tích đề bài là rất quan
trọng, nhưng trong thực tế khi làm bài tập của học sinh hoặc khi chữa bài tập củagiáo viên thì hầu như đều chưa chú trọng đến bước phân tích đề bài, từ đó học sinhkhông biết cách biểu diễn các đại lượng chưa biết quan ẩn và qua đại lượng đã biết
để lập được phương trình bậc hai một ẩn, dẫn đến học sinh thấy khó và thấy chánhọc dạng toán này Bước khó nhất của học sinh khi giải dạng toán là không biếtcách phân tích, lập luận để lập được phương trình bậc hai một ẩn
- Để giúp học sinh có thể nắm vững cách phân tích và giải dạng toán “Giải
bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn – dạng Tìm hai số” và cũng để
rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân nên tôi muốn được trao đổi
Trang 3một vài kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học sinh phân tích và giải dạng toán nàycùng quý thầy cô Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này.
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
- Đề tài này nhằm khắc phục những khó khăn nêu trên và giúp giáo viên, họcsinh có thể phân tích và thực hiện “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc
hai một ẩn – dạng Tìm hai số” một cách nhanh và có hiệu quả.
- Đề tài tổng hợp một cách hệ thống các vấn đề có liên quan đến SKKN,phân tích, đánh giá những ưu điểm, tồn tại của việc dạy và học “Giải bài toán bằng
cách lập phương trình bậc hai một ẩn - dạng Tìm hai số” của học sinh lớp 9 trường
THCS Lê Văn Tám, trường THCS Băng Adrênh, trường THCS Buôn Trấp và một
số trường bạn trong huyện qua nhiều năm và đưa ra giải pháp khắc phục
I.3 Đối tượng nghiên cứu
- Dạng toán Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn – dạng
Tìm hai số
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Học sinh trường THCS Lê Văn Tám trong các năm học liên tiếp, từ nămhọc 2006 - 2007 đến năm học 2010 - 2011
- Học sinh trường THCS Băng Adrênh trong các năm học 2011 – 2012; nămhọc 2012 - 2013
- Học sinh trường THCS Buôn Trấp trong năm học 2013 - 2014
- Một số giáo viên Toán của các trường THCS trong huyện Krông Ana
I.5 Phương pháp nghiên cứu
* Trong đề tài tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu tài liệu: “ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học mônToán trong trường THCS”, một số đề thi vào lớp 10
- Qua các lần tập huấn chuyên môn
- Phương pháp điều tra: hỏi đáp trực tiếp đối với học sinh, đối với giáo viêntrong cùng bộ môn trong trường và trong huyện
- Phương pháp trải nghiệm thực tế qua các tiết luyện tập, thực hành và quacác bài kiểm tra
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
Trang 4II Phần NỘI DUNG II.1 Cơ sở lý luận
Nghị quyết Trung ương 2 - Khóa VIII của Đảng khẳng định: “Phải đổi mới
phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền đạt kiến thức một chiều, rèn luyện nếp
tư duy của người học” Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay chính là hướng tới
việc dạy tốt và học tốt theo cách lấy người học làm trung tâm của quá trình dạyhọc, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn cho học sinh tiếp cận với tri thức mới.Muốn vậy, giáo viên cần phải hiểu và vận dụng tốt các phương pháp dạy học tíchcực trong mỗi tiết dạy
Cũng như các môn học khác, Toán học là một trong những môn học quantrọng không thể thiếu trong các trường THCS Toán học là môn học xuất phát từthực tiễn cuộc sống và quay trở lại phục vụ thực tiễn, trong đó dạng toán “Giải bàitoán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn” là dạng toán thể hiện rõ nhất điều
đó, nhưng đây lại là dạng toán rất khó với học sinh nếu các em không biết cáchphân tích bài toán một cách hợp lý
Với yêu cầu trên, là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Toán trongtrường THCS bản thân tôi không ngừng nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra cách đơn giảnnhất hướng dẫn giúp các em tiếp cận với dạng toán một cách nhanh và dễ hiểu, từ
đó góp phần chuẩn bị cho học sinh tiếp cận ngày càng gần với tri thức khoa học,làm chủ tri thức, tiếp cận được mũi nhọn khoa học công nghệ nhằm phát huy nănglực trong xã hội mới
bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn - dạng Tìm hai số” nói riêng đã liên tiếp
tăng lên rõ rệt Đa số các em đã có chiều hướng tích cực, ham làm bài tập, các emtrước đây lười học và lười làm bài tập thì giờ đây đã có sự chuẩn bị tốt hơn, tiết họccũng thấy sôi nổi, hào hứng hơn, học sinh nào cũng muốn được phát biểu để phântích và lập phương trình chứ không còn đơn điệu một mình thầy cô giảng và giải
Trang 5như trước kia nữa Học sinh bàn luận với nhau về cách phân tích và giải các bài tậpkhác cùng dạng toán trong sách bài tập, sách tham khảo không chỉ trong tiết học màcòn cả ở cả ngoài giờ học, không khí học tập sôi nổi hơn tạo tâm lí tốt cho các thầycác cô khi bước vào tiết dạy Chất lượng môn học được nâng nên rõ rệt.
c Mặt mạnh - mặt yếu
- Đề tài có thể giúp đa số học sinh lớp 9 tìm hiểu, phân tích và giải được dạng
toán “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn - dạng Tìm hai số”.
Giúp giáo viên có thêm tư liệu tham khảo để hướng dẫn học sinh phân tích vànắm chắc được cách giải dạng “Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc haimột ẩn” để ôn thi vào lớp 10 THPT, …
- Chưa phát huy nhiều đối với đối tượng học sinh Giỏi
d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
- Căn cứ vào tình hình thực tế của việc dạy và học “Giải bài toán bằng cách
lập phương trình bậc hai một ẩn - dạng Tìm hai số” của học sinh và của giáo viên
trong nhiều năm tôi nhận thấy việc tìm ra cách phân tích đề bài một cách hợp lý
và dễ hiểu là bước hết sức quan trọng và cần thiết Chỉ cần các em có ý thức học
tập và tìm tòi cộng với việc phân tích đề bài một cách hợp lý là các em có thể lậpđược phương trình một cách nhanh và chính xác, từ đó làm cho các em yêu thíchmôn Toán hơn, hướng các em đến những khả năng phân tích, tổng hợp, sáng tạo,linh hoạt trong giải toán cũng như trong thực tế cuộc sống Học sinh thấy đượcToán học gắn với thực tế cuộc sống và quay lại phục vụ cuộc sống, dẫn đến các emthấy sự cần thiết của việc học môn Toán
- Bên cạnh đó nếu giáo viên áp dụng CNTT phục vụ cho tiết dạy khiến tiếtdạy sinh động hơn sẽ kích thích trí tò mò và tăng hứng thú học tập cho học sinh
Cụ thể :
+/ Phần phân tích đề bài: Giáo viên có thể đưa ra các hình ảnh minh họa
theo nội dung bài toán sẽ giúp các em thấy được tính thực tế
+/ Phần điền bảng và lập luận để lập phương trình: Giáo viên có thể sử dụng
các câu hỏi tương tác bằng âm thanh (tiếng nói), bằng văn bản, …
+/ Đặc biệt, nếu giáo viên biết sử dụng tương đối tốt CNTT có thể sử dụngcác phần mềm như Adobe Presenter, Lecture Maker, Violet 1.7 và các phần mềm
hỗ trợ khác theo chuẩn SCORM để tạo ra các bài giảng điện tử đưa lên mạng learning để học sinh có thể tự học,
E-e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Từ các vấn đề mà thực trạng đã nêu và phân tích đánh giá ở trên, ta nhậnthấy việc xác định được dạng toán, suy luận và tìm ra phương pháp giải của bàitoán đó là bước hết sức quan trọng và cần thiết Nếu học sinh không làm tốt bướcnày thì việc định hướng giải bài toán đó sẽ gặp nhiều khó khăn Chính vì lí do đó,
Trang 6bản thân tôi đã không ngừng tìm hiểu và nghiên cứu để tìm ra cách khắc phụcnhững yếu điểm mà thực trạng đã nêu ra Từ đó giúp giáo viên và học sinh có thêm
tư liệu để dạy học, ôn thi vào lớp 10 và giúp các em học sinh yêu thích môn Toánhơn, hướng các em đến những khả năng phân tích, tổng hợp, sáng tạo, linh hoạttrong giải toán cũng như trong thực tế cuộc sống
II.3 Giải pháp, biện pháp
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Phân tích đề bài bằng bảng sẽ giúp học sinh hiểu được nội dung thực tế củabài toán, học sinh biết được trong bài toán có 3 đại lượng là những đại lượng nào
và quan hệ giữa các đại lượng đó như thế nào, bằng cách điền vào bảng phân tích
sẽ giúp học sinh lập được phương trình bậc hai một ẩn nhanh và chính xác
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
* Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn từ trước đến giờnói chung gồm các bước sau:
- Như vậy bước phân tích đề bài không thấy có trong các bước giải của dạng
“Giải bài toán bằng cách lập phương trình bậc hai một ẩn”, nhưng theo tôi đó lại là
bước quan trọng nhất để định hướng cho học sinh cách lập phương trình Nếu nhưhọc sinh không làm tốt được bước này thì sẽ rất khó khăn khi lập phương trình
- Hầu như các bài toán của dạng toán giải bài toán bằng cách lập phương
trình bậc hai một ẩn đều có thể quy về dạng Tìm hai số, vì vậy việc giúp học sinh
nhận ra dạng toán là không khó khăn và bao giờ đề bài cũng cho hai trong ba đạilượng đó, yêu cầu tìm đại lượng còn lại
* Có rất nhiều cách phân tích đề bài nhưng ở đây tôi dùng cách phân tích
bằng cách lập bảng, với các bước cụ thể như sau:
1 Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, xác định dạng toán.
2 Tìm hiểu xem bài toán có 3 đại lượng tham gia là những đại lượng nào và mối quan hệ giữa các đại lượng đó như thế nào?
*/ Bước 1: Lập phương trình, bao gồm:
- Chọn các ẩn số và đặt điều kiện thích hợp cho các ẩn số
- Biểu diễn các đại lượng chưa biết qua các ẩn số và các đại lượng đã biết
- Từ đó lập phương trình bậc hai một ẩn biểu diễn sự tương quan giữa các đại lượng
*/ Bước 2: Giải phương trình:
Giải phương trình vừa lập được
*/ Bước 3: Trả lời:
Kiểm tra xem trong các nghiệm của phương trình, nghiệm nào thỏa mãn điều kiện của ẩn, nghiệm nào không rồi trả lời
Trang 73 Dựa vào đề bài kết hợp với mối quan hệ giữa các đại lượng để điền vào bảng phân tích sau:
Đại lượng 1 Đại lượng 2 Đại lượng 3
Đối tượng 1
(Lần 1) Đối tượng 2
(Lần 2)
5 Dựa vào quan hệ giữa các đại lượng trong bài để lập phương trình bậc hai một ẩn.
Các Ví dụ:
*/Bài toán 1: ( Bài 46 trang 59 SGK Toán 9 – Tập 2)
và giảm chiều dài 4m thì diện tích mảnh đất sẽ không thay đổi Tính kích thước củamảnh đất.”
*/ Gv hướng dẫn học sinh phân tích đề bài bằng cách lập bảng như sau:
(Gv dùng hệ thống câu hỏi để phân tích, học sinh trả lời, gv điền vào bảngphân tích)
*/ Phân tích:
- Bài toán này thuộc dạng toán nào ?
h/s: Bài toán thuộc dạng toán tìm hai số
- Có mấy đại lượng tham gia trong bài toán ?
h/s: Có 3 đại lượng tham gia trong bài toán: chiều dài, chiều rộng và diệntích của hình chữ nhật
- Các đại lượng đó có quan hệ như thế nào?
h/s: Chiều dài x Chiều rộng = Diện tích hình chữ nhật
- Các đại lượng đó được chia như thế nào ?
- Bài toán yêu cầu tính gì ?
- Vậy ta gọi ẩn như thế nào ?
h/s: Gọi chiều rộng của mảnh đất hình chữ nhật đó là x (m) - gv điền bảng.
- Điều kiện của x ?
- Khi đó chiều dài của mảnh đất được biểu biễn như thế nào ?
h/s: Chiều dài của mảnh đất là: 240
- Sau khi thay đổi thì chiều rộng mới của hình chữ nhật tính như thế nào?
- Chiều dài mới của hình chữ nhật tính như thế nào?
Trang 8h/s: Chiều dài mới là: 240
- Khi đó diện tích của mảnh đất hình chữ nhật đó như thế nào?
h/s: Diện tích không thay đổi vẫn bằng 240 m 2 -gv điền bảng
*> Gv nhấn mạnh lại cách phân tích đề bài bằng cách lập bảng.
-Yêu cầu h/s dựa vào bảng và phần phân tích lập luận để lập pt
(h/s có thể lập luận như sau)
*/ Giải:
Gọi chiều rộng của mảnh đất hình chữ nhật đó là x (m), đk: x > 0
Thì chiều dài của mảnh đất hình chữ nhật đó là: 240
x (m)Nếu tăng chiều rộng thêm 3m thì chiều rộng mới của mảnh đất hình chữ nhật
- Yêu cầu h/s giải pt vừa tìm được
h/s giải tìm nghiệm: x1 = 12 (TM); x2 = - 15 (loại)
- Kiểm tra lại nghiệm xem có thỏa mãn điều kiện của đề bài không ?
Trang 9h/s: Nghiệm 1 thỏa mãn yêu cầu của đề bài.
- Vậy chiều dài của mảnh đất hình chữ nhật bằng bao nhiêu ?
h/s: Chiều dài của mảnh đất hình chữ nhật là: 240:12 = 20 (m)
- Trả lời bài toán ?
h/s: Vậy kích thước của mảnh đất hình chữ nhật đó là 12m và 20m
Gv nhấn mạnh:
Khi quy đồng khử mẫu phải quy đồng cả 2 vế của phương trình Sau khi giải xong có thể dùng MTBT bấm để kiểm tra kết quả.
*/Bài toán 2: ( Bài 52 trang 61 SBT Toán 9 – Tập 2)
“Trong một phòng họp có 360 ghế được xếp thành các dãy và có số ghế trongmỗi dãy đều bằng nhau Có một lần phòng họp phải xếp thêm một dãy ghế và mỗidãy tăng 1 ghế (số ghế trong mỗi dãy vẫn bằng nhau) để đủ chỗ cho 400 đại biểu.Hỏi bình thường trong phòng có bao nhiêu dãy ghế ?”
*/ Gv hướng dẫn học sinh phân tích đề bài bằng cách lập bảng như sau:
(Gv dùng hệ thống câu hỏi phân tích đề bài, học sinh trả lời, gv điền vào bảng
phân tích)
*/ Phân tích:
- Bài toán này thuộc dạng toán nào ?
h/s: Bài toán thuộc dạng toán tìm hai số
- Có mấy đại lượng tham gia trong bài toán ?
h/s: Có 3 đại lượng tham gia là: số dãy ghế; số ghế/ 1 dãy và tổng số số ghế
- Các đại lượng thay đổi như thế nào ?
h/s: Chia làm 2 lần: Ban đầu; sau khi thay đổi -gv điền bảng
- Bài toán yêu cầu tính gì ?
h/s: Hỏi bình thường (ban đầu) trong phòng có bao nhiêu dãy ghế
- Vậy ta gọi ẩn như thế nào ?
h/s: Gọi số dãy ghế ban đầu trong phòng họp là x (dãy) -gv điền bảng
- Điều kiện của x ?
- Vậy tổng số ghế trong phòng được tính như thế nào ?
h/s: Tổng số ghế trong phòng = Số dãy x Số ghế/ 1 dãy.
- Từ đó tính số ghế trên 1 dãy như thế nào?
h/s: Số ghế/ 1 dãy = Tổng số ghế trong phòng : Số dãy x.
- Sau đó, số dãy ghế được thay đổi như thế nào ?
- Số ghế trên một dãy thay đổi như thế nào ?
h/s: Số ghế/ 1dãy tăng thêm 1 ghế, có : 360 1
Trang 10*> Gv nhấn mạnh lại cách phân tích đề bài bằng cách lập bảng.
- Yêu cầu h/s dựa vào bảng và phần phân tích lập luận để lập pt
(h/s có thể lập luận như sau)
*/ Giải:
Gọi số dãy ghế ban đầu trong phòng họp là x (dãy), đk: x > 0, x Î N
Khi đó số ghế/ 1 dãy là 360
x (ghế) Nếu số dãy ghế tăng thêm 1 dãy, thì số dãy ghế mới là: x + 1 (dãy)
và số ghế/ 1 dãy tăng thêm 1 ghế, ta có: 360 1
- Nhắc lại các bước giải của dạng phương trình này?
hs: Nhân phá ngoặc; Quy đồng, khử mẫu; Giải phương trình
- Yêu cầu h/s giải pt vừa tìm được
h/s giải pt tìm nghiệm: x1 = 15(TM) ; x2 = 24 (TM)
- Kiểm tra lại nghiệm xem có thỏa mãn điều kiện của đề bài không ?
h/s : Nghiệm thỏa mãn yêu cầu của đề bài
- Bài toán yêu cầu tìm gì ?
h/s: Hỏi bình thường trong phòng có bao nhiêu dãy ghế ?
- Trả lời bài toán ?
h/s: Vậy ban đầu số dãy ghế trong phòng họp là 15 dãy hoặc 24 dãy
Giáo viên nhấn mạnh: Trường hợp có cả hai nghiệm thỏa mãn thì có thể xảy
ra 2 trường hợp, khi đó ta trả lời cả hai trường hợp đó.
*/ Bài toán 3 – Bài toán của Ơ le: ( Bài 66/ 62 SBT Toán 9 - Tập 2).
Trang 11“Hai nông dân đem 100 quả trứng ra chợ bán Số trứng của hai người khôngbằng nhau, nhưng hai người bán được một số tiền bằng nhau Một người nói vớingười kia: Nếu số trứng của tôi bằng số trứng của anh thì tôi sẽ bán được 15 đồng.Người kia nói: Nếu số trứng của tôi bằng số trứng của anh thì tôi chỉ bán được 62
3
đồng thôi Hỏi mỗi người có bao nhiêu trứng ?”
*/ Gv hướng dẫn học sinh phân tích đề bài bằng cách lập bảng như sau:
(Gv dùng hệ thống câu hỏi phân tích đề bài, học sinh trả lời, gv điền bảngphân tích)
*/ Phân tích:
- Bài toán này thuộc dạng toán nào ?
h/s: Bài toán thuộc dạng toán tìm hai số
- Có mấy đại lượng tham gia trong bài toán ?
h/s: Có 3 đại lượng tham gia là: số trứng; số tiền/ 1 quả trứng và tổng số tiềnbán được
- Các đại lượng có quan hệ như thế nào?
h/s: Số trứng x Số tiền/ 1 quả trứng = Tổng số tiền bán được.
- Các đại lượng thay đổi như thế nào ?
h/s: Chia làm 2: Người thứ nhất và người thứ hai
- Bài toán yêu cầu tính gì ?
h/s: Hỏi mỗi người có bao nhiêu trứng?
- Vậy ta gọi ẩn như thế nào?
- Điều kiện của x ?
- Vậy số trứng của người thứ 2 bằng bao nhiêu ?
- Khi đó số tiền/ 1 quả trứng của người thứ nhất là bao nhiêu ?
h/s: số tiền/1quả trứng của người thứ nhất là 15
100 x- (đồng) -gv điền bảng
- Khi đó số tiền/ 1 quả trứng của người thứ hai là bao nhiêu ?
h/s: số tiền/1quả trứng của người thứ hai là 20
3x (đồng) -gv điền bảng
- Tổng số tiền bán trứng của người thứ nhất là bao nhiêu?
h/s: số tiền bán trứng của người thứ nhất là: 15
100
x x
- (đồng) -gv điền bảng
- Tổng số tiền bán trứng của người thứ hai là bao nhiêu?
h/s: số tiền bán trứng của người thứ hai là: 20(100 )
3
x x
(đồng) -gv điền bảng
- Đề bài còn cho điều gì nữa?
h/s: Số tiền hai người bán được bằng nhau
- Khi đó ta có phương trình nào?
Trang 12h/s: 15
100
x x
- = 20(100 )
3
x x
-*> Gv nhấn mạnh lại cách phân tích đề bài bằng cách lập bảng.
-Yêu cầu h/s dựa vào bảng và phần phân tích lập luận để lập pt
(h/s có thể lập luận như sau)
*/ Giải:
Gọi số trứng của người thứ nhất là x (quả), đk: 0 < x < 100, x Î N
thì số trứng của người thứ hai là: 100 – x (quả)
- (đồng)Tổng số tiền bán trứng của người thứ hai là: 20(100 )
3
x x
(đồng)
Vì số tiền hai người bán được bằng nhau nên ta có phương trình:
15 100
x x
- = 20(100 )
3
x x
- = 20(100 )
3
x x
h/s giải tìm nghiệm: x1 = -200 (loại); x2 = 40 (TM)
- Kiểm tra lại nghiệm xem có thỏa mãn điều kiện của đề bài không ?
h/s : Kiểm tra và lấy nghiệm thảo mãn
x x
3x
20(100 ) 3
x x
Trang 13
Trả lời bài toán ?
h/s: Vậy người thứ nhất có: 40 quả trứng
người thứ hai có 60 quả trứng
*/ Bài toán 4: ( Câu 3 – Đề thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT tỉnh Đắk Lắk
-năm học 2009 - 2010).
“Một tam giác vuông có hai cạnh góc vuông hơn kém nhau 8m Nếu tăng mộtcạnh góc vuông của tam giác lên hai lần và giảm cạnh góc vuông còn lại xuống ba
góc vuông của tam giác vuông ban đầu.”
*/ Gv hướng dẫn học sinh phân tích đề bài bằng cách lập bảng như sau:
(Gv dùng hệ thống câu hỏi để phân tích, học sinh trả lời, gv điền vào bảngphân tích)
*/ Phân tích:
- Bài toán này thuộc dạng toán nào ?
h/s: Bài toán thuộc dạng toán tìm hai số
- Có mấy đại lượng tham gia trong bài toán ?
h/s: Có 3 đại lượng tham gia trong bài toán: cạnh góc vuông nhỏ, cạnh gócvuông lớn và diện tích của tam giác vuông
- Các đại lượng đó có quan hệ như thế nào?
2 Diện tích tam giác vuông
- Các đại lượng đó được chia như thế nào ?
- Bài toán yêu cầu tính gì ?
- Vậy ta gọi ẩn như thế nào ?
h/s: Gọi độ dài cạnh góc vuông nhỏ của tam giác vuông đó là x (m) - gv
điền bảng.
- Điều kiện của x ?
- Khi đó độ dài cạnh góc vuông lớn được biểu biễn như thế nào ?
- Sau khi thay đổi thì độ dài 2 cạnh góc vuông của tam giác vuông đó tínhnhư thế nào?
- Độ dài cạnh góc vuông lớn của tam giác vuông tính như thế nào?
3
x+
- Khi đó diện tích của tam giác vuông đó như thế nào?
h/s: Diện tích tam giác vuông mới bằng 51m 2 -gv điền bảng
Độ dài cạnh góc Độ dài cạnh góc Diện tích tam giác