1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái đảo Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn, tình Quảng Ninh

143 449 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Chứng Khoa Học Về Mô Hình Phát Triển Kinh Tế - Sinh Thái Đảo Ngọc Vừng, Huyện Vân Đồn, Tỉnh Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế - sinh thái đảo Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn, tình Quảng Ninh

Trang 1

NH

“NIHMHG NH8

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KC-09 BKH&CN ĐHKHTN ĐHQG

Báo cáo tổng kết khoa học và công nghệ

Đề tài:

LUAN CHUNG KHOA HOC VE MOT MO HINH PHÁT TRIEN KINH TE ~ SINH THÁI

TREN MOT SO DAO, CUM DAO LUA CHON VUNG BIEN VEN BO VIET NAM

Ma sé KC.09.12 Chủ nhiệm để tài: GS.TS Lê Đức Tế

Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ LUẬN CHUNG KHOA HOC VỀ MÔ HÌNH

PHAT TRIEN KINH TE-SINH THAI DAO NGOC VUNG

HUYEN VAN DON, TINH QUANG NINH

Chủ trì: PGS.TS Đặng Văn Bào

HÀ NỘI, 4-2005 ẤH3-3

do! 4 (06

Trang 2

Báo cáo chuyên đề

Luận chứng khoa học về mô hình

phat trién kinh té-sinh thái

dao Ngoc Ving

Những người thực hiện

PGS.TS Đăng Văn Bào, Chủ trì chuyên đề

GS.TS Lê Đức Tố, PGS.TS Chu Văn Ngợi, Ths Trinh Lé Ha,

TS Nguyén Minh Huan, ThS Nguyén Hiéu

Trang 3

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh té-sinh thai và du lịch Cù Lao Chàm

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

ST, chủ trì chuyên đề

2 | Lê Đức Tố GS.TS Chủ nhiệm để tài, kinh tế- | Trường Đại học KHTN,

sinh thai va du lich ĐHQG Hà Nội

4 | Lê Trần Chấn TS Thực vật và động vật trên | Viện Địa Lý

9_ | Nguyễn Thanh Sơn ThS Tài nguyên nước trên đảo ĐH KHTN, ĐHQG HN

KH&CN Việt Nam

12 | Nguyễn Xuân Dục TS Hệ sinh thái vùng triều Viện Cơ học, Viện

KH&CN Việt Nam

Trang 4

Phản L ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ

MÔI TRƯỜNG ĐẢO NGỌC VÙNG - CƠ SỞ CHO PHAT TRIEN KINH

TE - SINH THAI

3.1 Khái quát về các hệ sinh thái đảo 42

Trang 5

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngoc Ving

5.1 Đặc điểm chế độ hải văn 70

Phần II ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỀN KINH TẾ - SINH THÁI ĐẢO | 83 NGOC VUNG

Chương 6 Hiện trạng phát triển kinh tế — xã hội đảo Ngọc Vừng 83

6.1 Dan cu, lao dong va su bién dong dan cu dao Ngoc Vimg 83

Chương 7 Phát triển kinh tế sinh thái đảo biển - hướng lựa chọn ưu 105

tiên cho đảo Ngọc Vừng

7.1 Những lợi thế và hạn chế trong phát triển kinh tế của Ngọc Vừng 105

7.2 Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo 112 |

7.2.2 Các tiểu vàng và khu chức năng kinh tế sinh thái 116

7.4 Định hướng phát triển mọt số hợp phần chính của mô hình kinh tế sinh| 128

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên Trái Đất đã và đang

bị khai thác quá mức khiến môi trường bị suy thoái nghiêm trọng Tại các đáo ven

bờ, trên một diện tích rất hạn hẹp, các hệ sinh thái thành phần quan hệ tương tác chặt

chẽ và rất dễ bị tổn thương, chúng cân phải được bảo vệ, phát triển và khai thác một

cách hợp lý mới đạt hiệu quả kinh tế và môi trường cao Các hệ sinh thái là đối tượng khai thác kinh tế, nhưng phát triển kinh tế đảm bảo và duy trì sự phát triển của các hệ sinh thái và làm cho cảnh quan ~ môi trường ngày càng đẹp hơn, đó chính là phát

triển kinh tế theo hướng kinh tế sinh thái

Hệ thống đảo ven bờ có vị trí chiến lược Kinh tế - Quốc phòng cực kỳ quan

trọng đối với các quốc gia ven biển, song ý nghĩa đó chỉ có giá trị đích thực khi mỗi

hòn đảo là một điểm dân cư kinh tế phát triển Nghị quyết Bộ Chính trị số 03NQ/TW

ngày 6 thánh 5 năm 1993 cùng các chỉ thị của Thủ tướng chính phủ ban hành sau đó

đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của biển Đông, trong đó hệ thống đảo ven

bờ trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc phòng

*, trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điêu kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN ” Trong số 2773 hòn đảo của Việt Nam, trừ một số đảo có quy mô lớn như đảo

Phú Quốc, đảo Cát Bà, hầu hết các đảo còn lại đều là đão nhỏ Cần phải nhận thức

đúng điều kiện tự nhiên và vị trí của các đảo trong chiến lược phát triển kinh tế — quốc phòng Các đảo nhỏ có những đặc điểm: diện tích hạn hẹp; cách biệt với đất liền, có những nguy cơ uy hiếp từ bên ngoài; tần suất tai biến thiên nhiên của nhiệt đới cao, song lại có nhiều lợi thế như: Các hệ sinh thái rất đặc thù, tính đa dạng sinh

học cao và tính hoang sơ cũng cao (hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển, hệ sinh

thái bãi triều, hệ sinh thái rừng ngập mặn, có nhiều đặc sản quý v v ); môi trường nước và không khí trong sạch; cảnh quan đẹp, sơn thuỷ hữu tình, nhiều bãi cát trắng

độ chọn lọc cao và giao lưu với bên ngoài rất thuận lợi

Trong thời gian gần đây, nhận thấy giá trị kinh tế của các đảo, đã có một số

các tổ chức, các nhà đầu tư quan tâm tới sự phát triển kinh tế đảo Một số dự án phát triển kinh tế đã được triển khai tại một số đảo ở cả khu vực vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ và

Nam Bộ Tuy nhiên, do quá coi trọng về hiệu quả kinh tế, coi trọng quyền lợi của chủ đầu tư mà chưa thực sự chú trọng tới quyền lợi của người dân bản địa, đặc biệt là coi trọng những giá trị về cảnh quan, sinh thái và môi trường của các đảo Cần phải

có ngay những nghiên cứu nhằm định hướng phát triển kinh tế xã hội theo mục tiêu

Trang 7

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

phát triển bền vững, và phát triển kinh tế sinh thái du lịch chính là giải quyết mục

tiêu này

Mặc dù đã được sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước, song cho tới nay, sự

phát triển kinh tế trên các đảo vẫn chưa thực sự có hiệu quả, đời sống của nhân dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Nhiều cụm kinh tế mới được đầu tư trên đảo không

có hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn xã hội Một trong những nguyên nhân của sự không thành công này chính là sự nhận thức chưa đây đủ về đặc thù của đảo, chưa có đầy đủ cơ sở khoa học và đặc biệt là chưa có được các mô hình thí điểm có hiệu quả

cụ thể để triển khai nhân rộng

Việc xây dựng các mô hình kinh tế sinh thái quy mô hộ gia đình và nghiên cứu triển khai rộng các mô hình này trên cơ sở các điều kiện khác nhau của các đảo chính là một trong những mục tiêu phát triển bên vững đảo, đảm bảo cho quyền lợi của người dân bản địa Khi kinh tế đã phát triển thì vấn đề an ninh quốc phòng sẽ được củng cố, lực lượng vũ trang tham gia bảo vệ chủ quyền quốc gia sẽ ổn định Công tác điều tra nghiên cứu hệ thống đảo ven bờ Việt Nam trong những năm qua đã được các cấp quan tâm, song hầu hết chỉ đừng ở trình độ điều tra cơ bản, chưa

có được những mô hình phát triển kinh tế đảo cho thích hợp, đáp ứng mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước Đề tài cấp Nhà nước thuộc mã số KC.09.12 “Luận chứng khoa học về một mô hình phát triển kinh tế — sinh thái trên một số đảo, cụm

đảo lựa chọn vùng biển ven bờ Việt Nam” đã được giao nhiệm vụ xác lập luận cứ

khoa học cho việc xây dựng mô hình kinh tế sinh thái trên 3 đảo và cụm đảo của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam là đảo Ngọc Vừng tỉnh Quảng Ninh, cụm đảo Cù Lao Chàm thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam và cụm đảo Hòn Khoai thuộc huyện

Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau

Nằm trong hệ thống đảo ven bờ tỉnh Quảng Ninh, đảo Ngọc Vừng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với công tác bảo vệ an ninh quốc phòng trên biển Tuy nhiên, thực trạng phát triển kinh tế ở đây còn ở mức thấp, dân cư chưa ồn định, cơ sở hạ tầng yếu và đời sống của đại bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn So với những đảo, cụm đảo khác của hệ thống đảo ven bờ Việt Nam, đão Ngọc Vừng có một số

thuận lợi như:

1 Nằm trong quần thể các đảo thuộc hệ thống vịnh Hạ Long - Bái Tử Long, nơi có nhiều cảnh quan đẹp với tính đa dạng địa chất, địa mạo cao, một phần đã được công nhận là di sản thiên nhiên Thế giới đang thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới thăm quan

2 Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng Hòn Gai và cảng Vân Đồn khoảng 30 km,

Trang 8

khả năng phục vụ ngày càng cao Tuyến lộ trình từ bờ ra đảo hoàn toàn đi trong vịnh với sự đa dạng của cảnh quan với độ an toàn cao

3 Mặc dù đảo Ngọc Vừng hiện ít được khách du lịch tới, song bên cạnh đảo này, đảo Quán Lạn vốn đã được biết tới như một hòn đảo đẹp và giàu tiểm năng du lịch trong phạm vi vịnh Bắc Bộ

4 Đảo Ngọc Vừng có diện tích đất bằng rộng 342 ha, lại nằm dưới chân sườn núi thoải cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên chủ yếu hạt thô xen các tập hạt mịn bị dập vỡ, phong hóa mạnh nên có điều kiện để xây dựng các hồ chứa nước - một đặc

điểm không nhiều hòn đảo có được

5 Diện tích vùng nước quanh đảo có độ sâu không lớn, tương đối kín gió, điều kiện môi trường thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản, đáp ứng khả năng cung

cấp nguồn hải sẵn có giá trị cao cho nhu cầu phát triển

Để khai thác những tiềm năng trên một cách có hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững, cần có những nghiên cứu đây đủ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng phát triển kinh tế đảo Đó cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Tham gia điều tra khảo sát và viết báo cáo xác lập luận chứng khoa học cho

xây dựng mô hình phát triển kinh tế sinh thái đảo Ngọc Vừng gồm một tập thể khoa

học có uy tín từ nhiều cơ quan khác nhau:

1 Điều kiện địa chất và địa chất môi trường do PGS.TS Chu Văn Ngợi - khoa Địa

chất, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội chủ trì

2 Đặc điểm địa mạo, địa hình đáy biển do PGS.TS Đặng Văn Bào - khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội chủ trì

3 Đặc điển thổ nhưỡng và hiện trạng sử dụng đết do TS Phạm Quang Tuấn -

khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội chủ trì

4 Điều kiện thủy văn và môi trường nước trên đảo do Th$ Nguyễn Thanh Sơn - khoa Khí tượng - Thủy văn và Hải dương học, trường Đại học Khoa học Tự

nhiên, ĐHQG Hà Nội chủ trì

5 Điều kiện khí tượng thủy văn, động lực và môi trường biển do TS Nguyễn Minh

Huấn - khoa Khí tượng - Thủy văn và Hải đương học, trường Đại học Khoa học

Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội và TS Nguyễn Mạnh Hùng - Viện Cơ học, Viện

KH&CN Việt Nam đồng chủ trì

6 Đặc điểm lớp phú thực vật và đa dạng sinh học do TS Lê Trần Chấn - Viện

Địa lý, Viện KH&CN Việt Nam chủ trì

7 Tài nguyên sinh vật biển do TS Đỗ Công Thung, Phân viện Hải Dương học Hải

Phòng chủ trì

Trang 9

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

§ Đặc điểm hệ sinh thái vùng triêu do TS Nguyễn Xuân Dục - Viện Cơ học, Viện

KH&CN Việt Nam chủ trì

9 Hiện trạng và tiêm năng nuôi trông thúy sản do Th$ Trịnh Lê Hà, khoa Khí tượng - Thủy văn và Hải dương học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG

Hà Nội chủ trì

10 Phân tích hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế - xã hội do THS Nguyễn

Hiệu - khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội chủ trì

11 Báo cáo tổng hợp về luận chứng khoa học cho xây dựng mô hình phát triển kinh

tế sinh thái đảo Ngọc Vừng do PGS TS Đặng Văn Bào chủ trì với sự tham gia

của các nhà khoa học GS.TSKH Lê Đức An, PGS TS Chu Văn Ngợi, TS Lê

Trần Chấn, ThS Nguyễn Thanh Sơn, ThS Nguyễn Hiệu và một số cộng tác viên khác dưới sự chỉ đạo của GS.TS Lê Đức Tố

Để hoàn thành báo cáo này, tập thể tác giả đã nhận được sự chỉ đạo thường xuyên và kịp thời của Ban chủ nhiệm đề tài, các phòng ban, các cấp lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, sự trao đổi và góp ý chân thành của các đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan Nhân dịp này các tác giả xin bày

tỏ sự cảm ơn chân thành của mình đối với những sự chỉ đạo, động viên và giúp đỡ quý báu đó

Trang 10

Phần thứ nhất

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG ĐẢO NGỌC

VUNG - CO SO CHO PHAT TRIEN KINH TẾ SINH THÁI

Chuong 1

VI THE VA DAC DIEM DIA CHAT, DIA MAO

1.1 VITHE DIA LY CUA DAO NGOC VUNG

Đảo Ngọc Vừng nam trong quan thé HTDVB Ha Long - Bai Tir Long thudc

tỉnh Quảng Ninh, có toạ độ 20947'30"- 20051'15”N và 107918'45"-107923'00"E, cách

đảo Cát Bà, khu dự trữ sinh quyển Quốc gia chưa đầy 25 km, cùng với đảo Sứa và đảo Thua Cống tạo nên một ranh giới tự nhiên tương đối giữa vịnh Hà Long và vịnh Bái Tử Long

Anh 1.1, va 1.2 Bao Ngoc Ving trong

quan thé dao khu vuc Bai Tit Long

Trang 11

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

Đảo Ngọc Vừng là sự bổ sung những gì còn thiếu vắng của vịnh Hạ Long, đó

là bãi biển Trường Chinh dài trên 2,5km với địa hình thoải, được cấu tạo bởi cát

thạch anh màu trắng với nước biển trong xanh Địa hình chiếm diện tích chủ yếu của

đảo là đồi núi, diện tích mặt bằng rộng 342ha chiếm 26% diện tích đất tự nhiên sẽ là

cơ hội lớn cho việc xây dựng khu du lịch sinh thái (xem Bản đồ địa hình đảo Ngọc

Vừng)

Hiện nay, có thể tiếp cận tới Ngọc Vừng từ các bến tàu thuỷ Hòn Gai, Cầm

Phả và Vân Đồn (ảnh 1.3) Hàng ngày, từ Hòn Gai và Vân Đồn đều có những chuyến tàu đến cảng Cống Yên, đảo Ngọc Vừng qua vịnh Bái Tử Long Đây là một hành

trình du lịch thú vị (ảnh 1.4) đi qua những hòn đảo đá vôi hùng vĩ được thiên nhiên

điêu khác, chạm trổ tạo nên các hình thái đặc sắc, đa dạng và cuối cùng là tới hòn đảo đá trầm tích với bãi cát biển mênh mông, xa xa trên đỉnh các dãy núi là màu xanh còn được giữ lại của thảm thực vật

ra đảo Ngọc Vừng một nhận thức mới mẻ của du khách

Đảo Ngọc Vừng cách đảo Quán Lạn hơn 10 km qua một vùng vịnh tương đối kín và nông, đó là một hòn đảo đã được nhiều người dân trong nước cũng như khách nước ngoài biết tới không phải chỉ qua bãi biển đẹp và đa dạng mà còn do tại đây có một thành tạo địa chất - địa mạo đặc trưng là cát trắng Vân Hải So với đảo Quán Lạn và các dao lân cận, bãi biển Trường Chinh của đảo Ngọc Vừng có chiều dài khá

lớn, đặc biệt phía trong bãi có một bề mặt thêm cát rộng có thể xây dựng được các cơ

sở hạ tầng cho một khu nghỉ mát có quy mô lớn Và một điểm đáng chú nữa là cách

không xa bãi biển có địa hình thêm cát cao 4-6m so với mực nước biển và địa hình

sườn núi nghiêng thoải, rất có ý nghĩa đối với chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội đải ven đảo biển

Trang 12

1.2 CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT KHU VỰC

Cấu trúc địa chất và các quá trình nội sinh hiện tại giữ vai trò chủ động trong mối tương tác giữa hai nhóm quá trình phát triển địa hình, và đó là nhân tố hết sức quan trọng cho việc hình thành cảnh quan Điều kiện địa chất quy định nền móng cứng trên đó các quá trình ngoại sinh chạm trổ nên các dạng địa hình muôn màu muôn vẻ và tạo nên sự đa dạng của cảnh quan Đặc trưng địa chất đảo Ngọc Vừng được thể hiện trên bản đồ địa chất

1.2.1 Đặc trưng thạch học

1 Ngọc Vừng là hòn đảo đá trầm tích lục nguyên điển hình

Nằm ở phần rìa ngoài phía đông- đông nam của vịnh Bái Tử Long là một hệ thống đảo cấu tạo bởi các đá trầm tích lục nguyên trong đó đảo Ngọc Vừng là một điển hình Đảo được cấu tạo bở các trầm tích hệ tầng Dưỡng Động Hệ tâng Dưỡng

Động (D,;đđ) do Nguyễn Quang Hạp, 1967; Phạm Văn Quang và nnk, 1969 xác lập

Hệ tầng chiếm phần lớn diện tích trên đảo Ngọc Vừng Thành phần gồm cát kết dạng quaczit, cát kết xen bột kết màu xám, cát kết thạch anh phân lớp dày, bột kết màu xám (ảnh 1.5 và 1.6) Chiều dày tổng cộng của hệ tầng vào khoảng 100-1300m Tuổi

của hệ tầng được xác định dựa vào hoá thạch tay cuộn và hoá thạch Atrypa sp Trên

đảo Ngọc Vừng vắng mặt các thành phần vôi sét và đá vôi

Ảnh 1.5 Đá cát kết là thành phần chính cấu tạo Ảnh 1.6 Đá bột kết chiếm tỷ lệ nhồ, song

nên đảo Cù Lao Chàm đóng vai trò quan trọng trong cảnh quan

Các đặc trưng về thành phần thạch học được thể hiện khá rõ trên địa hình hiện đại Các tập đá cát kết rắn chắc với bé dày đáng kể đã tạo nên các dãy núi có sườn

tương đối dốc ở phía đông và tây đảo, trong khi đó, phần trung tâm đảo, thuộc phạm

vị thôn Bình Minh lại phân bố địa hình gò đồi cấu tạo bởi các lớp đá bột kết xen cát kết Cũng tại đây, bề dày lớp phỏ phong hoá có bề dày lớn hơn phát triển trên các đá

có thành phần thạch học không đồng nhất

Trang 13

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

Các đá trầm tích trên đảo Ngọc Vừng tạo nên cấu trúc đơn nghiêng với hướng dốc của mặt lớp nghiêng về tây nam Tại phía đông đảo, độ đốc mặt lớp từ 30 - 40°,

về phía tây, do ảnh hưởng của hệ đứt gấy phương á kinh tuyến, các tập đá có góc dốc tăng lên đáng kể, nhiều nơi gần như dốc đứng Điều đó giải thích về tính đơn nghiêng của các dãy núi ở phía đông và núi có hai sườn đều đốc ở phía tây đảo trong

mối liên quan của địa hình và cấu trúc địa chất

2 Các thành tạo carbonat phân bố ở phía tây Ngọc Vừng góp phần tạo nên

sự da dang cua cảnh quan

Nằm không xa bãi biển Trường Chinh là các đảo nhỏ được cấu tạo bởi đá vôi

hệ tầng Cát Bà Hệ tầng Cát Bà (Cạcb) do Nguyễn Công Lượng và nnk xác lập năm

1979 Mặt cắt của hệ tầng gồm: phần dưới đá vôi màu xám đen phân lớp dày, đá vôi

có chứa silic kẹp lớp mỏng đá phiến cháy, đá vôi xám trắng, đá vôi trứng cá, phần trên đá vôi xám sẵm phân lớp dày đến dạng khối chứa các hoá thạch Chiểu dày

450m Trên cơ sở phân tích không gian, có thể nói rằng phần lớn đáy biển phía tây

đảo Cát Bà được cấu tạo từ các đá trầm tích carbonat

3 Mặc dù chiếm diện tích không lớn, song các thành tạo Đệ tứ khá đa dạng

về nguôn gốc và tuổi

Trên đảo Ngọc Vừng, hệ Dé tứ gồm các thành tạo bở rời hoặc gắn kết yếu,

phân bố trên các bể mặt thấp ven bờ biển, được phân chia theo nguyên tắc tuổi và nguồn gốc Về tuổi đã phân chia được 4 phân vị chính: Quy”, Qyy!2, Quy2?và Quy và

các phân vị thạch học theo nguồn gốc

Thống Pleistocen - Phụ thống thượng, phần trên, trầm tích biển (mQm?) ?

Trâm tích phân bố trên bể mặt thêm nằm ở độ cao khoảng 8-10 mét Mặt cắt day đủ được quan sát tại điểm NV-3 có toạ độ N=20°49°26” và E= 107°20'49,7” nằm cạnh đường từ cảng Cống Yên đi về phía Uỷ ban xã Ngọc Vừng Mặt cắt gồm 2 phần: Phần dưới là cuội mài tròn tốt kích thước trung bình là 10-15 cm, đôi khi có những hòn cuội có đường kính tới 20-30 cm, không rõ bề dày Lớp cuội này phủ trực tiếp trên bê mặt bào mòn của cát kết Phần trên là lớp cát màu xám sáng, xám vàng

(có thể đây là loại vật chất được thành tạo trong điều kiện vũng vịnh) dày 0,5 đến 2,0 mét

Thống Holocen - Phụ thống hạ-trung

Trâm tích biển: Phân bố trên thêm tích tụ cao 4 - 6m, cấu tạo bởi cát trắng,

đây là thành tạo tích tụ rất phổ biến trên đảo Ngọc Vừng Trong cát trắng, hàm lượng

thạch anh (SiO;) rất cao, nên một số nơi đã được khai thác để làm nguyên liệu thuỷ

tỉnh Trên các rãnh trũng giữa các cồn cát trắng được lấp đầy bởi vật liệu mịn hơn và

có màu xám đen do nhiễm nhiều chất hữu cơ

Trang 14

Trâm tích biển - vũng vịnh: Phân bố trên các dai đất thấp phía trong các thểm

tích tụ biến, chủ yếu thuộc phạm vi thôn Bình Minh Trầm tích gồm bột sét cát hỗn tạp, tỷ lệ tương đương, màu xám đen, phần dưới có lẫn nhiều di tích thực vật

Thống Holocen - Phụ thống thượng

Trâm tích biển: phân bố trên các thêm tích tụ cao 2 - 3m tại khu vực bãi biển

Trường Chinh Cấu tạo nên các bãi biển cổ này là cát thạch anh màu xám tráng, xám

vàng, hạt trung đến thô

Trâm tích cát biển được gió tái tạo: Tại khu vực Ngọc Vừng gặp một dạng

địa hình đê cát biển cổ được gió tái tạo Đó là một dải địa hình đê cát nổi cao 4 - 8m,

kéo đài phương á vĩ tuyến, phía trong đê cát này là vùng vũng vịnh cổ tương đối

phẳng với tích tụ sét bột xám đen, hiện là diện tích trồng lúa chính của đảo Ngọc vừng Cấu tạo nên đê cát là cát thạch anh hạt trung đến nhỏ, màu xám vàng

Trâm tích bãi biển hiện đại khá phổ biến trên các cung bờ lõm tại đảo Ngọc Vừng Trên các cung bờ lõm có kích thước lớn, trầm tích chủ yếu là cát hạt trung, lẫn nhiều vỏ sò ốc biển Tại các cung bờ lõm nhỏ, nằm xen với cát còn gặp nhiều cuội tảng đá cát kết mài tròn kém

Ngoài ra, trong các bãi triểu có rừng ngập mặn và trong các đầm nuôi hải sản

ven đảo còn có các trầm tích nguồn gốc biển - đầm lây - vũng vịnh hiện đại gồm bột,

phần chính là cát (chiếm trên 94%) còn lại là ít bột sét Độ chọn lọc của trầm tích tốt (S„ = 1,2 - 1,5), kích thước hạt từ trung đến thô, hàm lượng SiO, cao,

khả năng lưu giữ độc tố kém

© Trâm tích bùn cát: bao quanh toàn bộ phía bắc và đông bắc đảo Ngọc Vừng, kéo đài đến giữa vụng Quang Lạn Trầm tích có màu xám nâu đến xám đen Hàm lượng bùn chiếm ưu thế so với cát, trong đó tỷ lệ bột/sét luôn lớn hơn 1, còn lại là cát mịn, trầm tích có độ chọn lọc kém, khả năng lưu giữ độc tố

Trang 15

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

trung bình Hệ số cation trao đổi luôn đạt trên 1,5, điều đó cho thấy trầm tích

ở đây gần như không có liên quan gì đến trầm tích phù sa hiện đại

e Trầm tích bùn: Trong vùng nghiên cứu trầm tích bùn phân bố trên các bãi gian triều phía trong của đảo Ngọc Vừng, dưới lớp sét của các bãi triều cao có cây ngập mặn, trầm tích có màu xám vàng đến xám sáng Thành phần của trầm tích này bao gồm bột và sét, đây là trầm tích biểu thị cho sự tương tác giữa yếu tố biển và lục địa (trên đảo), hàm lượng bột có thể dao động từ 40 -

60%, tỷ lệ bột /sét xấp xỉ bằng 1, có khả năng lưu giữ độc tố trung bình

se Trầm tích sét: phân bố trong trầm tích bề mặt các bãi triều cao có thực vật ngập mặn trên đảo Ngọc Vừng Hàm lượng sét trong trầm tích chiếm tới 90 - 95% Sét có màu xám vàng tới xám đen lẫn nhiều vật chất hữu cơ

Nhìn chung các loại trầm tích phân bố trong vùng biển nghiên cứu đều là các

loại trầm tích có khả năng tàng trữ độc tố trung bình (bùn, bùn cát, cát bùn) đến kém (cát), đặc điểm này quyết định đặc trưng địa hoá của trầm tích vùng nghiên cứu

1.2.2 Điều kiện địa động lực

Vùng nghiên cứu thuộc phức nếp lồi Quảng Ninh, khối nâng Bạch Long Vĩ và cánh tây bắc bồn trũng Tây Lôi Châu Phức nếp lồi Quảng Ninh có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp Phức nếp lồi này có phương kiến trúc á vĩ tuyến (ở đoạn giữa), đầu tây chìm xuống trũng sông Hồng, đầu đông chuyển sang hướng đông bắc và kéo đài sang Trung Quốc Trong phạm vi phức nếp lồi Quảng Ninh phát triển các hệ đứt gãy hình cung phương á vĩ tuyến và các đứt gãy phương đông bắc - tây nam Hai hệ

thống này quy định đặc điểm kiến trúc khối tẳng của vùng và quy định đặc điểm

hình thái cũng như sự phân bố các đảo trong vùng

Trên đảo Ngọc Vừng phát triển hai hệ thống đứt gãy: hệ thống đứt gãy bắc -

nam và hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam Hệ thống đứt gãy bắc - nam khống chế

đường bờ tây và đông của đảo, tạo ra các bờ đốc Hệ thống đứt gãy tây bắc - đông

nam làm dập vỡ đất đá tạo thuận lợi cho quá trình phong hoá

Hệ thống đứt gãy phương á kinh tuyến đóng vai trò hết sức quan trọng đối với

quá trình hình thành và phát triển địa hình Các thành tạo trầm tích lục nguyên trên đảo Ngọc Vừng được phân cách với thành tạo carbonat hệ tầng Cát Bà cũng chính

boi hé dit gay nay

Điều kiện địa động lực là cơ sở cần thiết để đánh giá các xu thế biến động

môi trường, đặc biệt là môi trường địa chất và các tai biến có liên quan Hoạt động

kiến tạo hiện đại của đảo chị phối hoạt động xói lở và bồi tụ cũng như quy luật phân

bố trầm tích đáy biển ven đảo

Trang 16

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO

Các đặc trưng địa hình và quá trình địa mạo có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tạo nên nên tảng rắn của cảnh quan, do đó chúng cần phải được nghiên cứu đầy

đủ để làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng mô hình kinh tế sinh thái Nhằm mục

tiêu này, bản đồ địa mạo đảo Ngọc Vừng được thành lập theo nguyên tắc nguồn gốc

- lịch sử Địa hình các đảo được phân chia theo 6 nhóm nguồn gốc với 28 dạng địa hình (hình 1.3 - Bản đồ địa mạo đảo Ngọc Vừng) Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các đặc trưng địa mạo của đảo như sau:

1.3.1 Đặc điểm địa mạo chung

1 Địa hình đôi núi thấp chiếm diện tích chủ yếu đảo Ngọc Vừng

Theo nguyên tắc nguồn gốc - hình thái, các đảo ven bờ vịnh Bắc Bộ bao gồm

12 kiểu địa hình, trong đó đảo Ngọc Vừng được xếp vào kiểu địa hình Đảo với địa

hình đổi núi thấp dạng khối trên các trầm tích lục nguyên tuổi Devon xen dải trũng với tích tụ cát biển Địa hình đồi núi thấp trên đảo chiếm khoảng 74%, trong đó địa

hình có độ đốc dưới 15° chiếm 18%, từ 15° đến 25° chiếm 32% và địa hình núi thấp

với sườn dốc trên 25° chiếm 24%

Có thể nói cấu trúc - kiến tạo đóng vai trò đáng kể trong sự hình thành hình

thái dạng khối của đảo Ngọc Vừng Bờ phía tây và đông của đảo có dạng khá thẳng theo phương á kinh tuyến do được khống chế bởi các đứt gãy cùng phương Đứt gãy

á kinh tuyến còn góp phần hình thành một dải trũng khá rộng theo phương này, tạo nên một vịnh hẹp đã được lấp đầy tạo nên vùng bãi triều từ Cống Yên tới khu quân

sự của đảo Sự mở rộng của bãi biển Trường Chỉnh về phía Ngọc Dung cũng có thể

có nguyên nhân kiến tạo

2 Tính bất đối xứng của sườn núi trên đảo phản ánh cấu trúc địa chất đơn

nghiêng trên đá trầm tích lục nguyên

Các đường nét cấu tạo cổ với mặt lớp của các thành tạo trầm tích cắm về tây nam đã góp phần tạo nên độ đốc cao của sườn ở phần phía đông và sườn có chiều dài

lớn hơn ở phía tây Đây là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các dòng chảy nhỏ

tập trung về phần trung tâm của đảo Ngọc Vừng Cần có kế hoạch để giữ và sử dụng

hợp lý nguồn nước để cải tạo và phát triển kinh tế của hòn đảo đẹp đẽ này

Tính bất đối xứng của sườn cũng phản ánh các quá trình địa mạo khác nhau

Hai nhóm dạng sườn phổ biến nhất trên các đảo là sườn bóc mòn tổng hợp và sườn

đổ lở Sườn bóc mòn tổng hợp có độ dốc chung từ 20 - 309, phân bố trên các khối núi

thấp của các đảo Trắc diện sườn thường không đối xứng (ảnh 1.7 và 1.8) Các sườn

có độ dốc lớn hơn thường nằm ở phía đông do phát triển ngược hướng dốc của đá gốc Sự thành tạo các sườn này còn có vai trò của sóng và gió do chúng phân bố về

Trang 17

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

phía bờ biển mở Các sườn có độ dốc thoải nằm ở phía khuất sóng gió, chúng cũng bị

chi phối bởi phát triển theo mặt các lớp đá có thế nằm thoải Trên sườn thoải thường phân bố các bậc địa hình có độ cao khác nhau

Sườn đồ lở phân bố khá phổ biến trên đảo Ngọc Vừng Các sườn này có thể là sườn đổ lở do phát triển ngược với hướng dốc của đá gốc (đông bác đảo Ngọc Vừng) hoặc là các sườn nằm ở phía bờ biển mở Quá trình đồ lở hiện tại tạo nên các sườn có

độ dốc lớn, chân sườn có nhiêu tảng lăn đá cứng, có thể gây nguy hiểm cho tàu

thuyền qua lại gần bờ

Ảnh: 1.7 và 1.8: Tính bất đối xứng của núi Tam Na, sườn đông dốc (phải) và sườn tây thoải (trái)

3 Địa hình đôi núi trên đảo có tính phán bậc rõ ràng

Trên phạm vi các dải núi phân bố 2 bề mặt san bằng: bê mặt cao 180 - 200m tồn tại trên đỉnh khối núi phía đông nam đảo, bề mặt cao 80-100m vừa tồn tại dạng đỉnh (tây Ngọc Vừng), vừa tồn tại dạng vai núi (đông Ngọc Vừng) Trên bề mặt san

bằng 80- 00m ở phía tây thôn Bình Minh đã được sử dụng làm sân bay quân sự Các

bề mặt thềm biển mài mòn, tích tụ có độ cao 40-60m, 20-25m, 8-15m, 4-6m đã tạo nên các mặt bằng có thể sử dụng cho việc phát triển các vườn sinh thái quy mô khác

nhau

4 Địa hình karst dạng sót ở phía tây đảo Ngọc Vừng đã tạo nên sự đa dạng

cảnh quan của hòn đảo này

Mặc dù không phổ biến, nhưng trong khu vực nghiên cứu cũng có một số đảo cấu tạo bằng đá vôi tuổi Cacbon, phân bố ở phía tây Ngọc Vừng Do kết quả của quá

trình hoà tan, nhiều dạng địa hình đặc thù đã được tạo ra trên các khối đá vôi này

Nhiều dạng carư sắc nhọn đo hoà tan đá vôi được tạo thành bởi tác động của dòng chảy trên mặt Tuy mhiên, nét đặc sắc hơn là các hốc sóng vỗ, các ngấn lõm còn ghi

rõ trên các vách đá vôi do tác động mài mòn-hoà tan của nước biển Đây là một

thành tạo địa hình đặc trưng nhất cho karst ven bờ biển trên thế giới

14

Trang 18

Ba đạng địa hình đặc trưng cho địa hình karst ở đây là: 1 Các bể mặt đỉnh karst nguyên là những bể mặt san bằng bị phá huý bởi hoạt động karst trẻ hơn; 2

Các bẻ mặt sườn rửa lũa - hoà tan - đổ lở chiếm diện tích lớn nhất của các khối núi

sót karst Đó là các sườn có độ dốc lớn, nhiều khi là dốc đứng Quá trình đổ lở

thường xuyên xảy ra trên các sườn này, gây nên sự nguy hiểm cho tàu thuyền neo

đậu dưới chân núi; 3 Đáy trũng karst là dạng địa hình có diện phân bố rộng trên các

vùng karst già và chúng là đặc trưng cho karst nhiệt đới Trong phạm vị nghiên cứu,

các bề mặt đáy trũng này (thuộc phạm vi các đồng bằng karst) hầu hết bị chìm ngập

dưới mực nước biển Một dạng địa hình khá đặc trưng cho karst ở đây là các phễu

karst bị biển tràn ngập tạo nên cảnh quan “hồ giữa núi” (áng) khá đẹp

3 Địa hình dạng đồng bằng ven biển trên đảo Ngọc Vừng khá da dạng về

nguôn gốc trong đó hoạt động của biển đóng vai trò chủ đạo

Địa hình dạng đồng bằng có diện tích khoảng 342 ha, chiếm 26% diện tích

đất tự nhiên trên đảo Ngọc Vừng Mặc dù có diện tích nhỏ, song về mặt tỷ lệ, đây là

một trong các đảo có diện tích đất bằng lớn nhất trong hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Đóng vai trò thành tạo đồng bằng có sự tham gia của hoạt động dòng chảy, của dòng chảy ở vùng cửa sông, của gió, song hoạt động của biển đóng vai trò chủ đạo Kết luận này được thể hiện ở sự phân bố khá rộng rãi và chiếm diện tích chủ yếu của

địa hình đồng bằng của địa hình nguồn gốc biển

1.3.2 Đặc điểm các đạng địa hình

1, Thêm biển

Đã xác nhận sự tồn tại của các bậc thêm biển sau đây:

Thêm mài mòn cao 40 - 60m phân bố dọc các sườn đồi núi thấp, đã bị phân cắt tạo đổi

Thêm mài mòn cao 20 - 25 m có diện phân bố rộng rãi trên cdc dao Thém bị

phân cắt tạo gò và đổi thoải Trên đổi, vỏ phong hoá ferosialit phát triển mạnh

Thêm mài mòn - tích tu cao 8 - 15m phân bố thành những mảnh sót nhỏ hẹp trên đảo Thêm cấu tạo bởi tập trầm tích gồm 2 tập: tập dưới là cuội sỏi đa thành phân; tập trên là cát màu vàng Bẻ mặt của bậc địa hình này khá bằng phẳng, nhưng hiện nay chúng đã bi cất xế bởi việc san lấp tạo mặt bằng xây dựng hoặc khai thác

vật liệu do con người

Thêm tích tự cao 4 - ốm cấu tạo bởi cát trắng Đay là thành tạo tích tụ rất phổ

biến trên đảo Ngọc Vừng, chúng là thành tạo do tác động của sóng biển rất đặc trưng Về mặt hình thái, bề mặt có cấu tạo dạng gợn sóng Những gờ cao được cấu

tạo bởi cát trắng ở có độ cao 5-6 mét hoặc cao hơn và chiếm diện tích không lớn Các

rãnh trũng kéo dài song song với các gờ cao, được lấp đầy bởi vật liệu mịn hơn và có

Trang 19

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

màu xám đen do nhiễm nhiêu chất hữu cơ Hiện nay, các dải trũng này là đất canh tác tốt của tất cả các đảo đã được khảo sát

Thêm tích tụ cao 2 - 3m gặp ở phía đông nam của đảo Ngọc Vừng Bề mặt

tích tụ tương đối phẳng, được ngăn cách với bãi biển hiện đại bởi đê cát cao 4 - 6m Thêm tích tụ cát biển được gió tái tạo: Đó là các đụn cát mầu xám sáng đến

xám vàng có độ cao 6-8m hoặc cao hơn, kéo dài phương á vĩ tuyến, rộng từ 400 —500 mét, phân bố thành một dải dài từ khu vực quân sự tới UBND xã Ngọc Vừng Trên

bề mặt của đụn cát hiện nay phần lớn đã được che phủ bởi rừng phi lao do dân trồng, đôi nơi vẫn là lớp cây bụi Phía trong đê cát này là vùng vũng vịnh cổ tương đối phẳng với tích tụ sét bột xám đen, hiện là diện tích trồng lúa chính của đảo Ngọc

Điều đáng quan tâm nhất của đảo Ngọc Vừng là bãi biển tích tụ Trường

Chinh Bãi biển có chiều dài trên 2500m, độ đốc bãi khá thoải, cấu tạo bởi cát thạch anh hạt trung đến nhỏ, khá thuận lợi cho xây dựng một bãi tắm lớn (ảnh 1.10) Phía

đông của bãi biển này có một dải trũng, là cửa thoát nước của các khe suối ở sườn

tây khối núi chính Cửa suối đổ ra một cung bờ lõm với các bãi biển mài mòn, được tách biệt với bãi Trường Chinh bởi một mỏm nhô đá gốc, có thể nghiên cứu để xây dựng cầu cảng (ảnh 1.11) Khác với bãi Trường Chinh, các bãi biển phía bắc của đảo

có độ đốc không lớn, nhưng các bãi cát thường hẹp, phần ngập nước thường là các nền mài mòn lộ trơ đá gốc

Thuộc quá trình biển hiện đại gồm các dạng địa hình khá đặc trưng là bãi biển tích tụ, bãi biển tích tụ-mài mòn, nền mài mòn hiện đại và các vách mài mòn

Bãi biển tích tụ hiện đại không phổ biến nhiêu ở các đảo khu vực nghiên cứu

Trang 20

thành tạo đầm lầy và các bàu nước hiện nay (trước đây là thành tạo lagun), hoặc ở

nhiều khu vực khác cho thấy hoạt động mài mòn mới dừng lại cách đây chưa lâu Ngoài ra dấu vết mài mòn trước đây còn quan sát được ở những độ cao khác nhau,

các thành fạo mài mòn hiện đại gồm có vách mài mon (klif) va bai mai mon (bench)

Vách mài mòn (KH?) rất phát triển và quan sát rất rõ ràng ở rìa phía đông và phía bắc của đảo Tuỳ thuộc vào thế nằm của các lớp đá mà đặc điểm hình thái của

các vách mài mòn cũng khác nhau

Bãi biển mài mòn - tích tụ và nên mài mòn hiện đại (bench) là thành tạo địa hình khá phổ biến trên đảo Do đặc điểm cấu trúc và tính chất thạch học của các đá

có tuổi khác nhau, nên đặc trưng hình thái của các bãi mài mòn cũng rất khác nhau

Đảo Ngọc Vừng cấu tạo chủ yếu bởi các đá cát kết có cấu tạo phân lớp dày hoặc khối, đôi khi có cả cát kết dạng quäcz¡it nên độ bền vững rất cao, vì vậy các bãi mài mon không rộng và không điển hình Bãi biển mài mòn ở các khu vực này chỉ là những dải đá lộ ra khi nước triều rút với chiều rộng không vượt quá 100 mét

4 Các thành tạo biển-đâm lây

Thực chất đây là các lagun cổ dần dân bị trầm tích lấp đây Các thành tạo tích

tụ biển-đầm lầy trên đảo có độ cao chỉ khoảng 0,5-1,0 mết so với mực nước biển Lớp trầm tích trên mặt thường có màu xám đen do lẫn nhiều mùn bã thực vật và lầy

thụt Quá trình tích tụ ở đây chưa hoàn thành vì nguồn vật liệu không nhiều và còn

thường xuyên có sự liên hệ với biển Các lagun cổ vẫn tồn tại dưới dạng hồ-đầm

nước lợ Tại đây, trong giai đoạn hiện nay, ảnh hưởng của biển còn thể hiện khá rõ ràng Điều đó được chứng minh bằng sự có mặt của một vài loại cây ưa mặn Hiện tại đầm lầy tại Ngọc Vừng đã được cải tạo thành đầm nuôi tôm

Qua phần vừa trình bày trên, có thể nhận thấy rằng, phần diện tích đảo nổi của

Ngọc Vừng bao gồm các thành tạo địa hình có nguồn gốc rất khác nhau, phản ánh tiến trình lịch sử phát triển của nó trong thời kỳ Đệ Tứ Các thành tạo đó có sự chuyển tiếp cho nhau và bao gồm đồi núi xâm thực- bóc mòn và tích tụ lục địa phát triển trên sườn và đỉnh các đảo —> thềm tích tụ cát vàng cao 8-15 mét hiện đã và đang bị biến đổi do các tác nhân lục địa (bao gồm cả con người) —> thêm tích tụ cát

trắng xen các dải trũng dạng lagun cổ -> bãi triều và lagun hiện đại —> đụn cát biển

bị vun cao đo tác động của gió sau này -> bãi biển tích tụ hiện đại do tác động chủ yếu bởi sóng và dòng chảy do nó sinh ra

Các dạng địa hình tích tụ nguồn gốc biển trên các đảo là dấu tích rõ rệt và

phản ánh sự thay đổi liên tục của mực nước biển từ cuối Pleistoxen đến nay Theo độ

cao phân bố và đặc điểm của các vật liệu trầm tích có thể xác nhận được 3 bậc thêm

như vậy: 1) Thêm biển cấu tạo bởi cát vàng có độ cao tuyệt đối trong khoảng từ 8-15

Trang 21

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

mét có tuổi Pleistoxen muộn, phần trên (Q2) và 2) thêm biển cấu tạo bởi cát trắng

có độ cao 4 - 6 mét tuổi Holoxen giữa (Q¡y?) và 3) thêm biển cấu tạo bởi cát xám

sắng có độ cao 2 - 3 mét có tuổi Holoxen muộn (Q;v') Trong đó, thêm 2 - 3m và 4 -

6m còn được bảo tôn khá tốt Các đặc điểm này rất tương đồng với khu vực ven biển Trung Bộ và Côn Đảo

Do đảo cấu tạo bởi các loại đá có độ bền vững cao, nên địa hình sườn đốc với

độ dốc trên 20°, thậm chí là vách đứng là loại chiếm diện tích lớn nhất, có thể đạt tới trên 4/5 tổng diện tích đất tự nhiên Phần diện tích các thành tạo địa hình tương đốt

bằng phẳng hoặc có độ đốc nhỏ có diện tích lớn hơn các đảo khác, song vẫn chiếm tỷ

lệ nhỏ, lại chủ yếu cấu tạo bằng cát nên không thuận lợi cho nông nghiệp

Quá trình địa mạo chiếm ưu thế hiện nay là xâm thực rửa trôi trên sườn do tác

động của dòng chảy trên mặt và mài mòn-xói lở bờ biển do tác động của sóng và dòng chảy ven bờ Các quá trình tích tụ không đáng kể Điều đó cho thấy, quï đất trên các đảo đang ngày càng bị giảm cả về chất lượng cũng như về số lượng Vì vậy, ngay từ bây giờ cần đánh giá được xu thế này cho những năm tới trong bối cảnh thay đốt toàn cầu (Global Change), trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch phát triển bên vững cho khu vực

Đảo Ngọc Vừng có nhiều tiểm năng về du lịch, song không được đa dạng về tài nguyên du lịch như những đảo khác Cần có kế hoạch nghiên cứu, quy hoạch để khai thác hợp lý và hiệu quả nguồn tiêm năng này

Để khai thác, sử dụng hợp lý và có hiệu qủa nguồn tài nguyên trên đảo, ngoài việc nâng cao điều kiện cơ sở hạ tầng trên đảo, cần phải chú ý tới vấn đề giao thông, làm giảm sự khó khăn trong việc tiếp cận các đối tượng tham quan, du lịch của quý khách Các kết quả nghiên cứu địa mạo cho phép đặt ra một số dự kiến về khảo sát

điều kiện của các bề mặt san bằng để thiết kế sân bay nhỏ, khơi thông một số lạch

triều ở đảo Ngọc Vừng để tàu có thể tới gần hơn bãi tắm Trường Chinh, đặc biệt là cần khảo sát chi tiết các bờ mài mòn - tích tụ nhằm phát hiện và khoanh vùng các bãi

đá ngầm, đảm bảo sự an toàn cho tàu thuyền và thậm chí có thể mở ra một số cảng

nước sâu có thể có trong khu vực

1.4 Vỏ phong hoá và lớp phủ thổ nhưỡng

1.4.1 Vỏ phong hoá

Khác với những đảo phát triển trên đá granit ở phần phía nam lãnh thổ, vỏ

phương hoá trên đá trầm tích lục nguyên tại đảo Ngọc Vừng có sự tiến triển không

cao Thêm vào đó, quá trình bào mòn bề mặt mạnh mẽ do lớp phủ thực vật bị tàn phá nặng nề đã tạo nên một hình ảnh về một đảo có môi trường bị xuống cấp đến mức

Trang 22

báo động Trên sườn các đồi núi nhiều nơi lộ trợ đá gốc Đặc điểm vỏ phong hoá liên quan chặt chẽ với thành phần của đá gốc tạo vỏ

Vỏ phong hoá ƒerosialit chỉ còn được quan sát trên các bề bặt gò đồi thoải và

trên các đỉnh núi với các bể mặt san bằng sót có diện tích nhỏ hẹp phát triển trên các

tập đá trầm tích hạt nhỏ như bột kết, đá phiến sét Mặt cắt vỏ ferosialit được quan sát

điển hình trên các taluy đường cắt qua các dải đô thấp tại thôn Bình Minh (ảnh 1.12)

Vỏ phong hoá có tính phân đới rõ ràng, từ trên xuống gồm:

e_ Đới thổ nhưỡng gồm bột sét màu xám vàng phớt nâu đen lẫn nhiều dễ cây

va min thuc vat, day 0,8 - Im

¢ Di litoma gồm bột sét màu xám vàng, vàng nâu loang 16, phan dưới còn lẫn ít mảnh vụn của đá bột kết phong hoá dang đở, dày 3 - 4m

© Đới saprolit gồm đá bột kết bị phong hoá dang đở có màu xám vàng nhạt,

nhiều nơi bị dập vỡ mạnh tạo nên đới dam vụn đá bột kết Đới này có kết

cấu yếu, dễ bị sập đổ

Các thành tạo vỏ phong hoá có lớp sét bột dày, song vẫn lẫn ít cát này có khả năng giữ nước, tạo độ ẩm Tảng phong hoá đở dang trong mặt cắt này còn có khả năng chứa nước ngầm Vật liệu phong hoá này đã được khai thác để xây dựng đập

Vỏ phong hoá silixit chiếm diện tích đáng kể trên các sườn đồi núi phát triển

trên đá cát kết Ngoài lớp thổ nhưỡng, saprolit mỏng phân bố ở trên mặt gồm cát lẫn

ít bột sét màu xám vàng, các vết lộ đều gặp đá cát kết phong hoá yếu, còn giữ

nguyên cấu trúc của đá gốc và tương đối rắn chắc (ảnh 1.13 )

Ảnh 1.12 và 1.13: Vỏ phong hóa trên đá bột kết (trái) và trên đá cát kết (phải)

20

Trang 23

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh té-sinh thái đảo Ngọc Vừng

1.4.2 Đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng

Quá trình tương tác giữa các nên tảng vật chất rắn (nham thạch, địa hình) với

đặc điểm sinh khí hậu địa phương đã hình thành nên những nét đặc thù riêng cho lớp

phủ thổ nhưỡng từ các quá trình hình thành đất đặc trưng như: quá trình feralit, quá

trình khoáng hoá, quá trình mùn hoá, quá trình mặn hoá và quá trình giây Kết quả nghiên cứu đặc điểm các nhân tố hình thành, cùng với các quá trình hình thành đất, kết hợp với việc khảo sát, mô tả 66 phẫu diện đất (phẫu diện chính, phẫu điện phụ và thăm đò), trong đó có 54 mẫu phân tích đặc tính lý - hóa học làm cơ sở cho việc phân loại và thành lập bản đồ thổ nhưỡng đảo Ngọc Vừng tỷ lệ 1:10.000 Trong phạm

vị đảo có 6 loại đất sau: (hình 1.4- Bản đồ thổ nhưỡng) 1 Cát ven biển (Cb); 2 Đất

cát biển (C); 3 Đất mặn sú vẹt (Mm); 4 Đất mặn lây (Mj); 5 Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq); 6 Đất đốc tụ trên sản phẩm cát (Ð) Cơ cấu các loại đất được thể hiện trên

Cát biển (Cb): Có diện tích 78,02 ha, chiếm 6,65% tổng diện tích phan dat nổi

của đảo, cát biển được phân bố trên các dạng địa hình bãi cát thoải ven đảo, thường

xuyên chịu ảnh hưởng của thủy triều, phân bố tập trung chủ yếu ở phía Nam của đảo

thuộc địa phận thôn Ngọc Hải và Bình Ngọc Tính chất nổi bật của loại đất này là thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát thạch anh và Fenspat, tỷ lệ cát chiếm tới trên

95% trong toàn phẫu diện, limon và sét rất thấp đưới 5%, theo phân loại của FAO thì

cát biển thuộc nhóm Arenosols Ngoài chức năng chính là bảo vệ vùng bờ ven đảo,

những bãi cát tương đối bằng phẳng và thuận tiện có thể sử dụng làm bãi tắm phục

vụ phát triển du lịch

Đất cát biển (C): Loại đất này có điện tích 100,67 ha tương đương với 7,61%

tổng diện tích tự nhiên của đảo và tập trung ở địa phận thôn Ngọc Hải và Bình Ngọc

Phân bố trên địa hình thểm biển cổ khá bằng phẳng có độ cao tuyệt đối từ 5 - 6 m,

21

Trang 24

không chịu ảnh hưởng của sóng và thuỷ triều Ở đây phát triển chủ yếu cây bụi cao

ưa khô như: sim, cỏ tranh, chó đẻ và một số nơi đã được sử dụng trồng phi lao chấn

gió biển

> Đặc tính lý, hóa học

Kết quả phân tích đặc tính lý hóa học của một số phẫu điện trên đất cát cho thấy loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ từ trên mặt xuống tầng dưới phẫu diện, tỷ

lệ cát ở tầng mặt cao dao động từ 80,5 - 95,7%, tỷ lệ sét và limon rất thấp Hàm

lượng chất hữu cơ ở tầng đất mặt rất thấp (OM từ 0,15 - 0,66%), rất nghèo hữu cơ và

giảm nhanh theo chiều sâu Dung tích hấp phụ ở tầng mặt cũng như toàn phẫu

diện rất thấp, hàm lượng các chất tổng số và dễ tiêu đều ở mức nghèo đến rất

nghèo Độ dẫn điện rất thấp (EC = 0,01 - 0,05 mS/cm) Theo hệ thống phân loại của FAO thì đất cát biển nằm trong đơn vị đất với tên gọi tương đương là Haplic

Arenosols

> Tính thích nghỉ và hướng sử dụng

Đất cát, tuy nghèo đinh dưỡng nhưng có thể thích nghi cho một số loại cây

trồng:

+ Khu đất cát ven biển có thể được sử dụng trồng phi lao hoặc trồng dừa tạo

cảnh quan và chắn gió biển bảo vệ các khu dân cư và hệ sinh thái nông nghiệp cũng

như tạo vẻ đẹp cảnh quan phục vụ phát triểm du lịch

+ Những khu vực chủ động được nước tưới - có thể cải tạo đất để trồng các loại

cây ngắn ngày như: rau, khoai, lạc, đậu, dua hấu, phục vụ đời sống cư dân trên đảo

Để đưa quỹ đất cát vào sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao cần phải thực hiện

một cách triệt để và đồng bộ những biện pháp cụ thể sau:

- Bón phân hữu cơ và phân bón tổng hợp NPK với một tỷ lệ cao hơn với các loại

đất khác Để tăng hiệu lực của phân bón và thúc đẩy cho quá trình cải tạo đất, việc bón phân hữu cơ cần phải vùi sâu nhằm hạn chế quá trình khoáng hoá, tích luỹ mùn cho đất kết hợp với bón phân khoáng NPK làm nhiều đợt hạn chế quá trình rửa trôi nhằm tăng dần

độ phì cho đất

- Dùng bùn ao hoặc nguồn rong tảo ở các đầm phá bón cho đất cát nhằm cải

thiện một số tính chất lý học cho đất, tăng tỷ lệ keo sét

- Cần chủ động nguồn nước tưới

Về lâu dài, với 100,67 ha đất cát giành nhiều cho bảo vệ bờ đảo, tạo cơ sở cho

việc nghỉ mát và du lịch đão, phát triển một số cây thích nghỉ: đậu, đỗ, đưa hấu Duy

trì những cây đặc thù như dừa hoặc phát triển làm vườn và thâm canh cao, nhưng cần

có biện pháp chống xói mòn để hạn chế quá trình rửa trôi các chất dinh dưỡng

Trang 25

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh té-sinh thai dao Ngoc Ving

Đất mặn sú vẹt (Mm): Đất mặn sú vẹt có diện tích 49,97 ha chiếm 3,77% tổng điện tích của đảo Loại đất này được hình thành ở các cửa vụng, lạch và các cửa suối ngập nước lúc triều dâng, phân bố ở khu vực gần Đầm Tau va thon Ngoc Hai Thanh phần vật chất chủ yếu của đất là cát và bùn cát do trầm tích biển và một phần các sản

phẩm deluvi từ phần đất nổi của đảo rửa trôi mang xuống

Kết quả phân tích đặc điểm đất ở một số phẫu diện đất mặn sú vẹt cho thấy loại đất này có phản ứng gần trung tính, pH:c; ở tầng đất mặt dao động từ 6,35 - 6,9

Hàm lượng chất hữu cơ ở tầng đất mặt đạt mức trung bình (OM tir 2,01 - 2,5%) và có

khả năng hấp phụ vào loại trung bình (CEC từ 9,5 - 12,8 me/100g đất), một số

nguyên tố đỉnh dưỡng đều ở mức nghèo Theo hệ thống phân loại của FAO thi đất

mặn sú vẹt thuộc đơn vị đất với tên gọi tương đương là Salic Fluvisols Đất được che

phủ bởi thảm thực vật rừng ngập mặn với các loài chủ yếu như: sú, vẹt có sức sống trung bình Để bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý và mang lại hiệu quả kinh

tế cho đảo cân khoanh nuôi bảo vệ diện tích rừng ngập mặn nhằm duy trì chức năng phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học cho hệ sinh thái rừng ngập mặn

Đất mặn lầy (Mỹ): Loại đất này có một diện tích không đáng kể khoảng 10,94

ha (chiếm 0,83% tổng diện tích của đảo) Đất được hình thành trong các vụng đảo thuộc thôn Bình Ngọc ít ảnh hưởng của thủy triều, với thành phần vật chất chủ yếu là

cát, bùn cát và trên đó phát triển các loại thực vật như mắm, cóc Môi trường đất yếm khí, lượng hữu cơ tích lũy tương đối cao nhưng chủ yếu tồn tại dưới dạng hữu cơ thô Trong phẫu diện đất xuất hiện giây ở mức trung bình, đất có màu xanh đen, có

mùi tanh Theo hệ thống phân loại của FAO thì đất mặn lầy có tên gợi tương đương

là Gleyi Salic Fluvisols Đất này có thể cải tạo để đưa vào sử dụng trong sản xuất

nông nghiệp

Đất vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích lục nguyên (F4)

Diện tích của đất Fq khoảng 974,31 ha chiếm 73,62% tổng diện tích tự nhiên của đảo Loại đất này phân bố trên dạng địa hình đồi, độ cao trung bình từ 100 - 150

m và có độ đốc địa hình phần lớn trên 20 (chiếm 58,17%) Lượng mưa trung bình

năm vào khoảng 1733,3 mm cùng với mùa mưa kéo dài 6 tháng đã tạo điều kiện hình

thành khá đễ dòng chảy mặt có ảnh hưởng tới sự di chuyển vật chất theo sườn dốc Mặt khác, tác động tiêu cực của con người thể hiện qua việc khai thác quá khả

năng phục hỏi của thảm thực vật rừng đã thúc đẩy quá trình xói mòn bề mặt, làm xấu

đi một cách đáng kể những tính chất lý - hóa học của đất Trên những khu vực đồi

trọc, trắng cỏ cây bụi thưa và rừng trồng bạch đàn đã khai thác có tầng đất mỏng

dưới 50 cm và chiếm tới 51,54% diện tích loại đất, nhiều nơi chỉ còn dưới 30 cm Khu vực còn thảm rừng tái sinh, rừng trồng chưa khai thác và trắng cây bụi dày tầng

Trang 26

đất còn khá dày, tập trung chủ yếu từ 50 - 100 cm (chiếm 46,78% diện tích loại đất), một số nơi còn đạt trên 100 cm (chiếm 1,62% diện tích loại đất)

> Đặc tính lý hóa học:

Kết quả phân tích đặc tính lý hóa học cho thấy đất hình thành trên sản phẩm

phong hóa của đá cát có thành phần cấp hạt cát cao từ 7l - 85% Do phân bố trên địa

hình dốc, tỷ lệ cấp hạt limon và sét rất thấp (trên dưới 20%) đặc biệt là những khu

vực có thảm thực vật bị tàn phá, quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh mẽ, tỷ lệ của hai cấp hạt này thấp, dưới 20% Thuộc loại đất cát, cát pha, trừ một số khoanh vi đất có thâm rừng tái sinh phát triển, đất có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ Tỷ lệ cấp hạt sét ở tầng đất mặt phụ thuộc nhiều vào thành phần loài và độ che phủ của thảm thực vật: đối với các khu vực có thảm thực vật rừng tự nhiên tái sinh, độ che phủ đạt 60 - 70% có hàm lượng cấp hạt sét ở tầng mặt thường đạt trên 10% Những khu vực có thảm thực vật rừng tự nhiên bị bóc bỏ và được thay vào đó bởi thảm cỏ cây bụi hoặc thảm rừng trồng bạch đàn có quá trình rửa trôi bề mặt xảy ra mạnh mẽ

có hàm lượng sét ở tầng đất mặt rất thấp, dưới 10% (phẫu diện: NV04-3 đến NV04- 7) Điều này cho thấy vai trò của thảm thực vật đối với việc bảo vệ đất, giảm thiểu quá trình rửa trôi theo dòng mặt

Dung trọng, tỷ trọng, độ xốp của đất có liên quan một cách rõ rệt đối với nguồn gốc phát sinh học của đất, đặc biết là đối với đá gốc Kết quả xác định ở bảng

4 cho thấy: Dung trọng của đất vàng nhạt trên đá cát kết ở tầng đất mặt có mức độ dao động ít, từ 1,15 đến 1,20 g/cm”, độ xốp đạt mức trung bình dao động từ 53 -

54,7% và tỷ trọng đạt cao từ 2,53 - 2,57 Riêng những khu vực đất vàng nhạt được sử

dụng trồng bạch đàn đã làm xấu đi một cách kể lý tính của đất Kết quả xác định cho thấy: dung trọng của đất ở mức khá cao đạt 1,39 g/cmỶ, độ xốp thấp, đạt 47% và tỷ

trọng thể rắn đạt ở mức cao là 2,62 Với những đặc tính lý học của đất vàng nhạt trên

đá cát cùng với hiện trạng khai thác và sử dụng đã có ảnh hưởng lớn đến khả năng giữ nước, giữ ẩm và dinh dưỡng của đất Kết quả xác định độ ẩm cho thấy, đất khô

và rất thiếu ẩm (độ ẩm đất dưới 10%) Về đặc tính hóa học đất, loại đất này có phản ứng chua đến rất chua (pc, đao động từ 3,3 - 5,4), hàm lượng hữu cơ dao động

mạnh từ mức rất nghèo đến trung bình khá và phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của

lớp phủ thực vật và giảm nhanh theo chiều sâu của phẫu diện đất Hàm lượng OM tầng đất mặt trên những khoanh vi có thảm thực vật là rừng trồng đang khai thác

hoặc tầng cỏ cây bụi thưa ở mức rất nghèo đến nghèo (dao động từ 0,89 - 1,9%) Đặc

biệt, đất đưới thảm rừng trồng bạch đàn, có tổng lượng hữu cơ rất nghèo (< 1%) Tại những khoanh vi đất có thảm thực vật rừng tái sinh hoặc trắng cỏ cây bụi đày, hoặc tại bể mặt đỉnh san bằng có độ dốc thoải mới bị chặt phá rừng thì hàm lượng OM ở

Trang 27

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

tầng mặt còn đạt mức trung bình đến khá dao động từ 2,18 - 3,41% Điều này càng thể hiện rõ vai trò của thẩm thực vật đối với việc cung cấp hữu cơ và duy trì độ phì,

đặc biệt là những loại đất có thành phân cơ giới nhẹ như đất vàng nhạt phát triển trên

đá cát Do đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cấp hạt cát vật lý cao, nghèo chất hữu

cơ nên dung tích hấp phụ CEC tâng đất mặt rất thấp, tất cả các mầu phân tích đều cho kết quả CEC < 10 me/100g đất, gây ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hấp phụ dinh đưỡng của đất Hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK tổng số và dễ tiêu ở tầng đất mặt đạt từ trung bình đến nghèo nhưng giảm nhanh theo chiều sâu của phẫu diện đất Độ dẫn điện EC của đất rất thấp, không có dấu hiệu đất bị nhiễm mặn

Theo hệ thống phân loại của FAO thì đất vàng nhạt trên đá cát có tên gọi tương đương là Ferralic Acrisols

> Tính thích nghỉ và hướng sử dụng:

~- Những khoanh vi có độ đốc > 15° sử dụng cho việc khoanh nuôi phục hồi

thảm thực vật rừng tự nhiên hoặc trồng rừng phủ xanh đất trống đổi núi trọc để bảo

vệ môi trường sinh thái và tạo vẻ đẹp cảnh quan cho đảo

- Những khoanh vi có độ đốc < 15° phân bố trên các sườn thoải gần khu dan

cư, với hiện trạng đất trống trằng cỏ cây bụi cần được đưa vào sử dụng phát triển một

số loại cây ăn quả có tính thích nghỉ cao như: xoài, vải,

Nên chọn các loại cây như keo lá tràm, thông đuôi ngựa để phủ xanh

đất trống đổi núi trọc Đây là những loại cây vừa có khả năng thích nghi trong điều kiện khắc nghiệt (tầng đất mỏng, khô kiệt), còn có tác dụng trong việc phục hồi tài nguyên đất Với cây bạch đàn có nhiều hạn chế trong phục hồi tài nguyên đất như: làm mất nước và khô kiệt tầng phủ đất, không nên mở rộng diện tích thảm rừng này

Đất đốc tụ (D): Với diện tích 91,81 ha chiếm 7,53% diện tích tự nhiên của

đảo Phân bố ở những thung lũng ven đổi, diện tích tập trung chủ yếu ở thôn Bình Minh và Bình Ngọc Loại đất này thành tạo trên địa hình có độ đốc nhỏ từ 0 - 39, chiếm 63,2 ha tương đương với 60,34% diện tích loại đất Đất phân bố ở địa hình thấp, có độ dày tầng đất canh tác > 20cm hiện đang được sử dụng với cây trồng chủ

dao là lúa Trong phẫu diện đất có xuất hiện tầng glây yếu Diện tích còn lại là 36,41

ha (39,66% diện tích loại đất) phân bố ở trên địa hình vàn có độ dày tầng canh tác từ

10 - 20 cm hiện đang được trồng lúa một vụ và rau màu

Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ cấp hạt cát vật lý ở tầng đất canh tác trồng lúa

hai vu dao động từ 70,2 - 82,3% thuộc loại đất cát pha; trên các chân ruộng trồng

một vụ lúa và màu do ảnh hưởng của quá trình rửa trôi sét nên tỷ lệ cấp hạt cất ở tầng canh tác cao dao động từ 79,2 - 90% xếp vào loại đất cát Phân ứng của môi trường

đất ở mức chua đến ít chua (pHxc,: 4,7 - 6,1) Đất rất nghèo hữu cơ, hàm lượng OM

Trang 28

đa phần đều < 1%, dung tích hấp phu (CEC) rất thấp dao động từ 2,4 - 6,1 me/100g đất Hàm lượng các chất dinh dưỡng đều ở mức nghèo, độ dẫn điện của đất

và hàm lượng CT, SO,? đều rất thấp, điều này phản ánh môi trường đất hoàn toàn không bị nhiễm mặn

> Tính thích nghỉ và hướng sử dụng:

Loại đất này thích nghỉ cho việc phát triển một số loại cây trồng ngắn ngày

như: lúa, lạc, đậu, khoai, vừng và rau,

- Những chân ruộng trũng, chủ động được nước giành riêng cho trồng lúa hai

- Những chân vàn ưu tiên trồng một vụ lúa (vào mùa mưa) và trồng rau, màu

- Những vạt đất đốc tụ ven chân đồi sử dụng trồng cây ăn quả như na, đu đủ,

vải,

Từ những điều đã trình bày, có thể có một số nhận xét chung như sau:

Đo giới hạn bởi phần đất nổi, diện tích đất của đảo bị hạn chế với tổng diện

tích tự nhiên là 1353,75 ha có 6 loại đất, trong đó đất vàng nhạt trên đá trầm tích lục nguyên chiếm diện tích lớn nhất Qua đánh giá đặc tính lý - hóa học của các loại đất cho thấy đất trên đảo phần lớn đều có thành phần cơ giới nhẹ thuộc đất cát, cát pha nghèo chất hữu cơ, khả năng giữ nước và giữ phân kém, đất có phản ứng chua đến rất

chua, các chất dinh dưỡng NPK tổng số và dễ tiêu đều nghèo Nhìn chung, độ phì

của các loại đất đều ở mức thấp, tương đương với đất xám bạc màu của Việt Nam

Để bảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất trên đảo, vấn để khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất cần lựu ý:

- Trên những khu vực địa hình đổi núi thấp với loại đất vàng nhạt phát triển trên đá cát trong khai thác và sử dụng quỹ đất cần khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên Đồng thời tăng cường việc trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc với những loài cây có khả năng thích nghỉ trong các điều kiện khấc nghiệt (tầng đất mỏng, khô hạn,

gió lớn ) như keo lá chàm, keo tai tượng, keo lai, thông nhằm làm tăng độ che phủ

và giảm thiểu các quá trình rửa trôi mất đất

- Đối với những khu vực địa hình tương đối bằng phẳng việc sử dụng quỹ đất

trong sản xuất nông nghiệp cần chủ động nguồn phân hữu cơ để bổ xung và nâng cao

hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng cho đất Việc sử dụng phân hữu cơ cần lưu ý nên vùi sâu trong đất nhằm hạn chế quá trình khoáng hoá chất hữu cơ, giúp cho việc điều tiết chất dinh cho cây và nâng cao độ phì đất Đối với những khu vực đất chua cần bón vôi bột khử chua cho đất Do đất có đặc điểm thành phần cơ giới nhẹ, khả năng hấp phụ kém, khi sử dụng phân khoáng (N - P - K) cần bón rải rác thành nhiều

đợt nhằm tăng hiệu lực của phân khoáng và nâng cao độ phì cho đất

Trang 29

Để tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

Trang 30

Bang 1.1: 7hống kê diện Tích các loại đốt theo độ dốc vờ tảng dày

hiệu (ha) % Phân cấp (ha) OT ae Độ dày (cm) (ha) OT eel

Trang 31

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

Chương 2 ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

2.1 ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU

2.1.1 Khái quát chung

Đảo Ngọc Vừng nằm trong vùng khí hậu Đông bắc với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh mang tính chất khí hậu hải dương Chế độ nhiệt trên

các đảo Ngọc Vừng - Cô Tô thuộc loại hơi cao Nhiệt độ trung bình năm khu vực

ven biển và các đảo dat 22°C - 23°C, vượt qua giới hạn nhiệt độ trung bình năm vùng

nhiệt đới (210C) Tính trung bình trong năm số ngày có nhiệt độ không khí tir 20°C

trở lên đạt 240-250 ngày Nhiệt độ có biến thiên mạnh trong năm (tới 13-13,52 C),

nhưng lại điều hòa trong ngày (3,9 - 4,5? C) Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm

là 22 - 230C, tương ứng với tổng lượng nhiệt 8000 - 8400° C Chế độ nhiệt phân hóa

thành 2 mùa: mùa nóng từ tháng V đến tháng X, tháng VH là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình tháng đạt 28 - 29° C Mùa lạnh kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm sau với

nhiệt độ trung bình 15 - 20° C Tháng I là tháng lạnh nhất trong năm, với nhiệt độ trung bình tháng là 15 - 15,5°C Chế độ mặt trời vùng nội chí tuyến là cơ sở tạo ra nguồn

bức xạ phong phú cho toàn khu vực ven biển và hải đảo tỉnh Quảng Ninh Lượng

mây tổng quan quanh năm lớn, lượng bức xạ và tán xạ chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng bức xạ làm cho tổng bức xạ mặt trời hàng năm đạt 100 — 110 Kcal/cm?, là một

giá trị khá cao so với các vùng nhiệt đới khác

2.1.2 Một số đặc trưng khí hậu

1 Chế độ nắng và nhiệt

Cũng như các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ, nắng ở đảo Ngọc Vừng khá đồi đào

Tổng số giờ nắng trung bình nhiều năm đạt từ 1700-1800 giờ / năm Phần lớn thời

gian trong năm, từ tháng IV đến tháng XII có số giờ nắng trên 100 giờ / tháng Tháng VII là tháng có nhiều nắng nhất, tới 230 giờ / tháng, tức là trung bình có 7,4 giờ nắng/ ngày Tuy nhiên vào cuối mùa đông lại ít nắng; tháng XI là tháng ít nắng nhất trong năm, chỉ đạt 41 giờ / tháng

Chế độ nhiệt trên toàn đảo thuộc loại hơi cao Nhiệt độ trung bình năm khu

vực ven biển và các đảo đạt 22°C — 23C, vượt qua giới hạn nhiệt độ trung bình năm

vùng nhiệt đới (21°C) Tính trung bình trong năm số ngày có nhiệt độ không khí từ

20C trở lên đạt 240-250 ngày

Nhiệt độ có biến thiên mạnh trong năm (tới 13-13,5° C), nhưng lại điều hòa

trong ngày (3,9 - 4,5° C) Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 22 - 23°C, tương

Trang 32

ứng với tổng lượng nhiệt 8000 - 8400°C Chế độ nhiệt phân hóa rõ rệt thành 2 mùa: mùa

nóng từ tháng V đến tháng X, với tháng VII là tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình

tháng đạt 28 - 292 C Mùa lạnh kéo dài từ tháng XI đến tháng IV năm sau với nhiệt độ

trung bình 15 - 20 C Tháng I là tháng lạnh nhất trong năm, với nhiệt độ trung bình

tháng là 15 - 15,52 C Mùa đông lạnh dị thường cũng là nét đặc biệt so với các vùng

có khí hậu nhiệt đới

Chế độ mặt trời vùng nội chí tuyến là cơ sở tạo ra nguồn bức xạ phong phú cho toàn khu vực ven biển và hải đảo tỉnh Quảng Ninh Lượng mây tổng quan quanh

năm lớn, lượng bức xạ và tán xạ chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng bức xạ làm cho

tổng bức xạ mặt trời hàng năm đạt 100 — 110 Kcal/cm?, là một giá trị khá cao so với

các vùng nhiệt đới khác Ỷ ,

2 Chế độ mua, dm

Biến trình mưa cực đại xảy ra vào các tháng cuối hè (VII, VII và IX), có hiên quan đến ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Lượng mưa cao nhất xảy ra vào thang VIII

Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1700 đến 1900 mm / năm Mùa mưa

kéo dài 6 tháng, từ tháng V đến tháng X, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa năm

Những tháng ít mưa nhất là tháng XII và tháng I Tháng I là tháng có lượng mưa ít

nhất trong năm, chỉ đạt khẳng 20-24 mm/tháng Độ ẩm quanh năm khá cao Độ ẩm

tương đối của không khí thông thường đạt 83 - 84%, thấp nhất là vào thời kì nửa đầu mùa đông, khoảng 76 - 78% Lượng bốc hơi tiềm nămg dao động từ 1100 đến 1250

mm / năm

3 Chế độ gió

Chế độ gió mùa là nguyên nhân của sự phân hoá mùa khí hậu đối với hầu hết các yếu tố khí hậu vùng ven biển và hải đảo tỉnh Quảng Ninh Hướng gió thịnh hành mùa đông là đông bắc, mùa hè là gió đông nam và vào các mùa chuyển tiếp gió có

hướng đông và đông nam

Tốc độ gió trung bình 3 - 5 m / s Các tháng II, IV, V và VỊI có tốc độ gió

trung bình thấp hơn cả, khoảng 3- 4 m/s, vào các thời kì còn lại trong năm - khoảng 4-5 m/s va dat trị số lớn nhất là 5 m /s vào tháng XI Tốc độ gió tối đa trong thời

gian không có bão có thể đạt tới 24 - 30 m/s Nhìn chung trên đảo Ngọc Vừng, tần suất lặng gió thấp

2.1.3 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

1 Bão: Khu vực vịnh Bắc Bộ nói chung là một trong những nơi nhiều bão nhất nước ta Trong các cơn bão đổ bộ vào khu vực này có đến 38% là cơn bão

mạnh Thống kê tại trạm Hòn Gai cho thấy cứ 5 năm lại có một cơn bão mạnh đổ bộ

Trang 33

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh té-sinh thái đảo Ngọc Vừng

vào khu vực với sức gió trên cấp 12 Bão có thể xuất hiện vào thời kì từ tháng VI đến

tháng XI, nhiều nhất là từ tháng VỊ đến tháng VI Ảnh hưởng của bão đối với vùng này rất lớn, vì bão thường gây ra gió mạnh 40- 50 m/s và mưa lớn, khoảng 300 - 400

mm / ngày

2 Dông: Vào mùa hè từ tháng V đến tháng X ở đây hay gặp dông Tháng VII

- VII là các tháng hay có đông hơn cả, có thể tới 15-20 ngày Dông thường hay gây

mưa to, gió mạnh và gió xoáy làm ảnh hưởng xấu tới các hoạt động trên biển

3 Sương mà: Hiện tượng sương mù trên biển và vùng ven bờ khá phổ biến vào

các tháng cuối mùa đông, thường trùng với thời kỳ mưa phùn, gió mùa đông bắc Các số liệu thống kê cho thấy nếu như mưa phùn thường xảy ra nhiều hơn tại các vùng ven bờ thì sương mù ngược lại thường xuất hiện nhiều hơn tại các vùng đảo phía ngoài xa Sương mù là loại hình thời tiết đặc biệt đối với vùng nghiên cứu, số ngày có sương mù trong năm khá lớn: Cửa Ông trung bình có 25 ngày; Hòn Gai - 20 ngày; Cô Tô - 32 ngày Đảo thường là nơi có nhiều sương mù nhất, ở đây sương mù thường xây ra trong thời gian từ 1 tháng đến 4 tháng, tháng có nhiều nhất là tháng 3, trung bình là 12 ngày, năm nhiều có thể đến 15 - 18 ngày Sương mù ở vùng đảo có thể xuất hiện và tồn tại vào bất cứ giờ nào trong ngày, nhưng thường ban ngày nhiều

hơn ban đêm, nhiều nhất vào buổi sáng Sương mù thường làm giảm tầm nhìn xa,

đôi-khi tâm nhìn xa chỉ còn đưới 50m gây nguy hiểm cho hoạt động của tàu thuyền

trên biển

4 Mưa phùn: Một trong các đặc điểm về thời tiết của khu vực Quảng Ninh là

hiện tượng mưa phùn, thường xảy ra vào các tháng mùa đông (tháng II và II) Hiện

tượng mưa phùn thường kéo theo sương mù trên biển gây trở ngại lớn cho các hoạt

động du lịch và đi lại trên biển Trung bình mỗi năm chỉ có 10 - 12 ngày mưa phùn

3 Thời tiết khô hạn: Khô hạn thường xảy ra vào các tháng mùa đông, gây thiếu nước cho sinh hoạt và canh tác

Trên trạm khí tượng không quan trắc được thời tiết sương muối, mưa đá và gió khô nóng Tính cực đoan của khí hậu không thể hiện rõ Nhìn chung, khí hậu ở tiểu

vùng khí hậu Cô Tô trong đó có đảo Ngọc Vừng là ôn hoà, thuận lợi cho các hoạt động nói chung trên đảo

2.1.4 Kết quả khảo sát khí tượng tại trạm ở vùng biến Ngọc Ving

Để đánh giá một cách cụ thể các yếu tố khí tượng tại vùng biển xung quanh Ngọc Vừng, Đề tài đã tiến hành các quan trắc khí tượng: gió, nhiệt độ không khí, độ

ẩm, nhiệt độ nước 8 Obs một ngày từ 13h ngày 10/7 đến 10h ngày 15/7/2003 tại trạm liên tục NV32 Tại một số Obs có sóng lớn đã quan trắc độ cao và hướng sóng Các kết quả được xử lý cho thấy các đặc trưng khí tượng biển ở đây như sau:

Trang 34

+ Trường gió: Trong suốt thời gian tiến hành khảo sát trường gió đặc trưng cho hình thế gió gió mùa tây nam với hướng gió thịnh hành là hướng nam, nam tây

nam Tốc độ gió khá ổn định trong khoảng từ 5m/s dén 10m/s ứng với gió cấp 4-5

cho thấy trong thời gian tiến hành khảo sát gió mùa tây nam phát triển khá ổn định

trên toàn khu vực vịnh Bác Bộ Để đánh giá mức độ biến đổi của trường gió khu vực

ven biển Quảng Ninh trong thời gian khảo sát, đã thu thập các số liệu gió tại các trạm khí tượng hải văn khu vực (gồm các trạm Cửa Ông, Bãi Cháy, Cô Tô, Hòn Dấu

— xem phụ lục) trong thời gian từ 10/7 đến 15/7/2003 Hình 2.1 đưa ra biến trình tốc

độ gió tại các trạm khí tượng hải văn khu vực: Bãi Cháy, Cửa Ông, Cô Tô, Hòn Dấu

và trạm liên tục NV32 Kết quả cho thấy hình thế gió tây nam với các hướng thịnh

hành là các hướng nam, đông nam, tây nam (phụ thuộc vào vị trí các trạm quan trắc)

chiếm ưu thế trên toàn vùng biển nghiên cứu Tuy nhiên do ảnh hưởng che chắn của

các đảo nên tốc độ gió tại các trạm ven bờ (Cửa Ông, Hòn Gai) yếu hơn nhiều so với

tốc độ gió tại trạm vùng đảo khơi là Cô Tô Trường gió khu vực đảo Ngọc Vừng đặc trưng cho gió vùng khơi, gần với tốc độ gió đo tại đảo Cô Tô

liên tục NV32 |

—>—NV 32 m Bãi Cháy ^ Cửa Ông x Cô Tô x Hon Dau

| Hình 2.1 Biến đổi tốc độ gió tại các trạm KTTV khu vực và tại trạm

+ Nhiệt ẩm: Hình 2.2 vẽ biến thiên nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước và

hình 3.3 vẽ biến thiên độ ẩm theo các Obs đo đạc trong ngày (mỗi ngày 8 Obs cách

nhau 3 giờ) Kết quả cho thấy nói chung nhiệt độ nước ổn định hơn nhiệt độ không khí, biến trình ngày của nhiệt độ nước chỉ dao động trong khoảng 0.5 °C và nhiệt độ

nước luôn giữ trong khoảng 30 [50.5 °C (trừ các Obs từ 13h đến 19h ngày 14/7 nhiệt

độ nước tăng lên đến 31 °C và cao hơn) Vào các Obs ban ngày nhiệt độ không khí

Trang 35

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

2.2 ĐIỀU KIỆN THỦY VAN VÀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

2.2.1 Khái quát chung về thủy văn đảo

1 Các lưu vực và sông suối (hình 2.4 Sơ đồ thủy văn đảo Ngọc Vừng)

Thuỷ văn đảo Ngọc Vừng có chế độ giống như chế độ vùng ven biển Quảng Ninh Với đặc điểm các sông suối ngắn và dốc, trên đảo chủ yếu chỉ tồn tại dòng chảy vào mùa mưa Mùa lũ kéo dài trong 5 tháng, bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng [X, chiếm khoảng 75 - 80% tổng lượng nước cả năm Mùa cạn kéo dài trong 7

tháng, chiếm từ 20 - 25 % tổng lượng dòng chảy năm

Mạng lưới dòng chảy trên đảo Ngọc Vừng rất nghèo nàn và hầu hết là các đòng chảy tạm thời Do kích thước đảo nhỏ, diện tích thu thủy hạn chế, thêm vào đó, thẩm rừng cũng như lớp thổ nhưỡng đã từng bị phá hủy, bào mòn sâu sắc, do đó không có gía trị giữ, tích trữ và điều tiết dòng chảy trên mặt

Các lưu vực trên đảo đều rất nhỏ, điện tích lưu vực chỉ từ 0,03 đến 0,14 km? Khả năng tích thuỷ và sinh thuỷ kém dẫn tới nguồn nước mặt trên đảo thuộc loại khan hiếm Các vị trí tụ thuỷ tương đối đều đã được sử dụng để xây đựng hồ chứa

Ảnh 2.1 Hiện trạng nước suối vào cuối Anh 2.2 Noi tích nước tại khe Phương

mùa mưa (tháng X/2004) Thiều

Toàn đảo không có con sông nào lớn, chỉ bao gồm một số khe suối nhỏ Đặc điểm chung của các suối này với chiều dài không lớn chảy từ các đỉnh đổi núi cao độ

từ 60 đến trên 200 m, theo các sườn lưu vực dốc, hẹp; tốc độ tập trung nước nhanh,

không có nước thường xuyên quanh năm mà chỉ có nước vào mùa mưa, tức là dòng

chảy chỉ có khoảng 4 - 5 tháng trong năm (ảnh 2.1) Trong tổng số có 57 khe suối, hiện mới chỉ xác định được 4 khe có nguồn nước chảy quanh năm là các suối Đồn Biên Phòng, khe Phương Thiêu, khe ông Chính và khe Quân đội (tên do chúng tôi gọi theo chủ sử dụng nước chính) và một số suối nhỏ ở khu vực núi Vạn Xuân

Trang 36

- Khe suối Đồn Biên Phòng cung cấp nước sinh hoạt đủ cho lực lượng ở đồn

và khoảng 10 hộ dân sống quanh khu vực Suối bắt nguồn từ độ cao 58,6 m với diện

tích lưu vực là 0,05kmˆ chảy theo hướng đông bắc Đây là con suối lớn thứ hai trên

đảo, có nước chảy quanh năm Hệ thống lấy nước trên suối bằng ống dẫn tự chảy về đồn biên phòng

- Khe Phương Thiêu bắt nguồn từ độ cao 106,2m với diện tích lưu vực là 0,14

km2, chảy theo hướng đông bắc Đây là con suối lớn nhất trên đảo, có nước thường

xuyên quanh năm, hiện do hộ anh Nguyễn Văn Thiéu quan ly Anh Thiéu đã xây

dựng một bể tích nước khoảng 28 mổ, bể lọc nước và một công trình thuỷ điện nhỏ

Ngoài việc sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt, nước tưới cây hoa màu, lương thực và

vườn cây ăn quả của gia đình, nước khe còn được cung cấp cho các hộ gia đình có nhu cầu ngoài bến cảng và khu vực trung tâm thôn Ngọc Nam (ảnh 2.2)

- Khe Ông Chính có lượng nước ít hơn, gồm hai nhánh bắt nguồn từ cao độ

91,5 m, diện tích lưu vực là 0,06 km?, hiện nay do hai hộ (ông Chính và ông Hoàn)

khai thác sử dụng Nơi này cách các điểm dân cư khác khá xa nên nước chỉ phục vụ hai hộ này là chính

- Khe Quân đội có nước quanh năm, là nguồn nước ngọt chính cung cấp cho đâm nuôi tôm Khe bắt nguồn từ cao độ 100,8m, diện tích lưu vực là 0,09 km2, có hai nhánh, lượng nước khá đồi dào

Các khe suối tại khu vực thôn Bình Minh có lượng nước phong phú hơn cả

Tại đây đã xây dựng hồ chứa nước Bình Minh và hồ chứa Cống Lầu

Ảnh 2.3 Hồ chứa nước Cống Lẩu Ảnh 2.4 Hồ chứa nước Bình Minh

2 Các hô chứa và các thuỷ vực

Trên đảo có 2 hồ chứa nước ngọt: hồ Cống Lầu, hồ Bình Minh và 3 thuỷ vực khác là đâm ngập mặn, đâm nuôi tôm và đầm Ngọc Hải

Trang 37

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thai dao Ngoc Ving

Đập Cống Lầu được xây dựng từ năm 2001, ở vị trí 2048982" vĩ Bắc và

107921'846" kinh Đông Đập có chiều dài khoảng 300m, mái đập được lát bằng bê

tông, cao độ bề mặt đập là 10m Phía hạ lưu đập là cánh đồng lúa và hoa màu của

thôn Bình Ngọc, trên lưu vực đập là thám phủ thực vật xanh tốt Đây là đập lớn nhất trên đảo, là điểm tụ thuỷ của bốn khe suối (ảnh 2.3)

Đạp Bình Minh (ảnh 2.4) nằm ở vị trí địa lý 20949'316" vĩ Bắc và 107921'415"

kinh Đông Đập được đắp bằng đất, mái cỏ, chiều dai 80m, cé cao trình là 7m, trên

lưu vực đập là rừng cây xanh tốt, là điểm tụ thuỷ của hai khe suối

3 Địa chất thuỷ văn

Việc kiểm tra nước ngầm được tiến hành qua các giếng khoan và giếng đào ở

thôn Ngọc Nam, khu kinh tế mới Nam Định và Thanh Hoá, khu du lịch ở bãi biển

Trường Chinh Qua cả hai đợt khảo sát mùa khô và mùa mưa cho thấy sự dao động

mực nước ngầm là không lớn, từ 1,5 - 2m cách mặt đất Nguồn nước ngầm khai thác

từ các loại giếng đào và giếng khoan là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho

cư dân trên đảo Tại một số giếng đã tiến hành lấy mẫu phân tích (bảng 2.3)

Các giếng đào có độ sâu từ 5 - 8 m, được gia cố thành theo nhiều cách khác nhau như kè đá, lát gạch, đổ bê tông và dạng nền tự nhiên Theo điều tra ban đầu thì

một số giếng nước hơi có mùi, lợ và chỉ sử dụng để tắm rửa, tưới cây Có khi hai

giếng rất gần nhau lại có chất lượng nước khác nhau

Theo kết quả khảo sát địa chất thủy văn, khu vực nghiên cứu có 4 tầng chứa

nước là:

- Tầng chứa nước lỗ hồng trong trầm tích Holocen không phân chia nguồn

gốc deluvi, proluvi-deluvi (đQ¡y, pdQ¿v), thuộc loại tầng nghèo nước,

- Tầng chứa nước lỗ hồng trong trầm tích Holocen nguồn gốc biển-gió (mvQ,„) thuộc loại tầng giầu nước trung bình Nước trong tầng thuộc kiểu clorua-

bicacbonat canxi-manhê với tổng lượng khoáng hóa thấp, 0,2 g/1

- Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trung nguồn gốc biển (mQ„y?), thuộc loại tầng giầu nước trung bình Nước trong tầng thuộc kiểu

bicacbonat, clorua canxi-natri với tổng lượng khoáng hóa từ 0,2 - 0,4 g/1

- Tâng chứa nước khe nứt trong trầm tích Devon hạ - trung, hệ tầng Dưỡng

Động (D,; đđ) có mức độ chứa nước nghèo Nước ở đây thuộc kiểu bicacbonat

canxi-natri với tổng lượng khoáng hóa từ 0,3 g/I

Mực nước ngầm có độ cao lớn nhất là 4,5m và thấp nhất là 2m, độ pH=6-6,3 2.2.2 Đánh giá tài nguyên nước đảo Ngọc Vừng

1 Tài nguyên nước đảo Ngọc Vừng khá nghèo nàn, song điêu kiện thuận lợi

cho việc xây dựng các hồ chứa sẽ đảm bảo đảm một phần cho như câu dùng nước

Trang 38

Các kết quả nghiên cứu cho thấy tài nguyên nước của đảo thuộc loại khan

hiếm Lấy các số liệu đo đạc tại trạm Cô Tô làm điển hình tương tự để tính toán cho

đảo Ngọc Vừng cho thấy với lượng mưa bình quân năm (1945-1995) là 1441 mm, lượng bốc hơi bình quân năm (1945-1995) là 878mm thì lớp đòng chảy năm khoảng

563 mm, thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước Bồn thu nước mặt và nước mặt của các lưu vực không trùng nhau, gây khó khăn cho việc đánh giá nguồn nước từng

khu vực

Nước sinh hoạt của cư dân trên đảo chỉ đủ trong những ngày có mưa Trong tổng số 57 khe suối trên đảo chỉ có 4 khe suối là có nước thường xuyên, số hộ được

hưởng lợi từ nguồn nước mặt hiếm hoi này cũng rất ít Thôn Ngọc Nam là thôn điển

hình trong việc sử dụng nước khe Thôn có 18 khe nước, song chỉ khe nước trên đất của gia đình anh Nguyễn Văn Thiều ở cuối thôn và khe nước chảy về đồn biên phòng

24 là tốt, hiện cung cấp nước cho nhiều hộ dân Các khe nước khác nước chảy rất nhỏ, thường là không có nước vào mùa khô, chỉ đáp ứng cho một đến hai hộ

Nước ngầm hiện là nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của cư dân trên đảo Dân cư trên đảo sử dụng nước ngầm ngoài các mục đích sinh hoạt còn cả mục đích tưới cây

ăn quả và cây hoa màu

Hiện tại, tại các thôn Bình Minh, Bình Ngọc và Ngọc Hải, đại bộ phận dân cư

lấy nước sinh hoạt từ nguồn nước giếng đào, giếng khoan và một phần sử dựng nước mưa Toàn xã có tổng số 220 giếng song chỉ có 120 giếng là có khả năng sử dụng cho sinh hoạt Theo tài liệu khảo sát cả hai mùa mưa và khô thì mực nước ngầm tại các giếng dao động không lớn Độ sâu mặt nước cách mặt đất trên tất cả các giếng quan sát thấy khoảng 1,5 - 2 m Nước ngầm không đủ đáp ứng nhu cầu về nước vào mùa khô nên xảy ra hiện tượng thiếu nước, trung bình một hộ thiếu nước | - 2 thang/

năm

Ven chân đổi các gia đình đều đào giếng, nước có chất lượng khá tốt, nhưng

đến mùa khô cũng có rất ít nước

Việc tìm kiếm nguồn nước và thiết kế khu chứa nước cho người dân ở đây là một vấn để quan trọng phải giải quyết nhằm nâng cao đời sống của người dân nói riêng và cho sự phát triển kinh tế đảo nói chung, nhất là xã đang có chủ trương phát

triển dịch vụ du lịch

Vấn đề nguồn nước ở đây liên quan đến cấu tạo địa chất của vùng và việc khai thác sử dụng bề mặt lưu vực Trước hết xem xét khả năng lưu giữ và chứa nước của dải địa hình từ Đồn biên phòng 24 chạy theo hướng nam đến đỉnh cao 100,8m Tại dải địa hình này, sườn tây đốc và hẹp nên khả năng lưu giữ nước kém, sườn đông thoải và rộng hơn nên khả năng lưu giữ nước tốt hơn Tuy vậy, khả năng giữ nước tại các nơi là không đồng đều, cụ thể là phía bắc Đồn biên phòng 24 nước ngầm phong

Trang 39

Đề tài KC-09-12: Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh tế-sinh thái đảo Ngọc Vừng

phú hơn tại chính thôn Ngọc Nam Vào thời kỳ khô hạn các thuyền đánh cá và dân

cư đều phải đến lấy nước ăn tại nguồn nước ở phía bắc Đồn biên phòng Sở đĩ có sự

khác biệt đó là do phía bác Đồn biên phòng 24 hệ thống đứt gãy đông bắc - tây nam

rất phát triển, mật độ khe nứt cao, trên điện tích 2m? đo được 36 khe nứt có phương

360° và 42 khe nứt có phương 110° (Điểm khảo sát NV7) Trong khi đó tại điểm khảo sát NV9 (phía tây thôn Ngọc Nam), trên diện tích 2m” chỉ có 3 khe nứt Tại bắc Đồn biên phòng đá bị dập vỡ và phong hoá mạnh còn ở phía tây thôn Ngọc Nam đá

bị đập vỡ yếu, vỏ phong hoá mỏng

Bảng 2.1 Một số đặc trưng của những suối có nước chảy thường xuyên

TT Tên suối Kinh vĩ độ F(km?) | Chiều dài(m) H(m) Hiện trạng

1 |Đồn Biên Phòng 20949'956 N - 0.05 180 58.5 | Thường xuyên

Đồng thời với cấu trúc dịa chất, khả năng chứa và cung cấp nước cho các khe

suối và nước ngầm còn phụ thuộc đáng kể vào độ dốc và chiều dài sườn Các sườn

trong phạm vi lưu vực của hồ Cống Lầu có độ đốc thoải và chiều dài lớn do phát triển theo hướng dốc tương đối thoải của đá trầm tích, do vậy khả năng chứa và cung cấp nước khá tốt Tuy nhiên, diện tích của bồn thu nước này cũng hết sức nhỏ bé, khó đáp ứng được nhu cầu sử dựng nước nếu không có các giải pháp quản lý hiệu quả Các sườn đổi núi tại các khu vực khác hầu hết đèu ngắn và dốc, thêm vào đó lớp

phủ thực vật thường bị khai thác hoặc tàn phá đáng kể nên không có khả năng cho nguồn nước đáng kể

Những đặc điểm trên cho thấy giải pháp giữ nước thông thường và hữu hiệu nhất là phải tiến hành xây dựng hồ chứa Địa hình nghiêng thoải hoặc tương đối bằng phẳng, độ cao tuyệt đối không lớn và cấu tạo bởi vật liệu có khả năng cách nước ở phần chân sườn núi tại thôn Bình Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng các

hồ chứa nước Trên đảo hiện đã có hai hồ chứa nước ngọt là hồ Bình Minh và hồ

Cống Lầu

Hồ chứa Cống Lầu được khởi công xây dựng từ năm 2001 tại vị trí 200.48'

982 N va 107°.21' 846 E, 1a điểm tụ thuỷ của 4 khe suối, có thảm thực vật trên lưu vực xanh tốt, là nơi có khả năng sinh thuỷ tốt nhất đảo Ngọc Vừng Mái đập có cao

Trang 40

trình 10m, cao trình tràn là 7m, cao trình cống 2,5m Đập được làm bằng thân đất nện có lát mái bê tông, độ dốc mái là 300, Chiều dài đập khoảng 300m, bề rộng mặt đập lŨm Các đặc trưng chính của hồ chứa Cống Lẩu cho ở bảng 2.2 Công trình hiện nay đang dần được hoàn thiện, xây dựng mương dẫn nước về các cánh đồng trước UBND xã thuộc các thôn Bình Minh và Bình Ngọc, đây là hai thôn được hưởng

lợi từ công trình này Tuy nhiên, ngoài mục đích lấy nước sử dụng cho nông nghiệp

cần tính toán để sử dụng một phần nước hồ cho sử đụng nước sinh hoạt (cần bổ sung

thêm công trình lọc nước) và phục vụ cho đầm nuôi tôm góp phần giải toả sự bức

bách về nước trong mùa kiệt

Bảng 2.2 Một số đặc trưng của hồ chứa Cống Lẩu

Hồ chứa Binh Minh tai toa dd 20°.49' 316 N va 107°.21' 415 E cé dién tich

ngập khoảng 2 ha, chiều dài đập khoảng 80 m, đắp đất thủ công, mái cỏ tự nhiên, có thảm thực vật trên lưu vực tốt, dung tích nhỏ đủ nước cung cấp cho cánh đồng ở thôn Bình Minh, cống tự chảy không có kênh dẫn cố định

Khi hồ chứa nước Cấu Lẩu đi vào hoạt động, chắn chắn tình trạng thiếu nước nghiêm trọng của thôn Ngọc Hải sẽ được cải thiện Hồ Cống Lầu sẽ cung cấp nước cho nhân dân thôn Bình Ngọc và còn có thể đáp ứng một phần cho sự phát triển

trung tâm du lịch dự kiến sẽ được xây dựng trên dải cát ven bãi Trường Chinh

2 Chất lượng nước mặt trên đảo khá tốt, song chất lượng nước ngâm chưa đồng dêu

Nhằm đánh giá chất lượng nước mặt và nước ngầm trên đảo vào đợt tháng IV đoàn khảo sát đã lấy 10 mẫu nước bao gồm 6 mẫu nước mặt và 4 mẫu nước ngầm (trong đó có một mẫu giếng khoan) Nơi lấy mẫu là các nguồn nước mặt được sử dụng trong sinh hoạt và nguồn nước ngầm tại các điểm cư dân và khu kinh tế mới

Mẫu được lấy dung tích là 0,5lít và hãm bằng HCI Các mẫu nước mặt có ký hiệu

NVM, ký hiệu các mẫu nước ngầm là NVN được đánh số thứ tự theo sơ đồ lấy mẫu

Sơ đồ lấy mẫu được thể hiện trên bản đồ

Các mẫu nước ngọt lấy từ đảo Ngọc Vừng đã được gửi phân tích tại Phòng phân tích hoá học mẫu địa chất, Trung tâm phân tích thí nghiệm địa chất thuộc Cục

Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Phân tích 10 mẫu nước theo phương pháp

Ngày đăng: 26/04/2013, 15:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w