Hiện nay, các giáo viên đang áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận và
Trang 1Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tích cực hóa họat động học tập của học sinh Đó là quá trình làm cho người học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động học tập của chính họ Phương pháp dạy học tích cực có mầm móng từ xa xưa Ngày nay, do những yêu cầu đổi mới giáo dục, đáp ứng sự phát triển kinh tề - xã hội của đất nước trong giai đọan công nghiệp hóa, hiện đại hóa, PPDH tích cực cần được quan tâm thực hiện và trở thành phổ biến trong nhà trường của chúng ta Để phát huy tính tích cực của học sinh cần tạo điều kiện để học sinh được suy nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, được phát biểu quan niện của mình, được đưa ra những nhận xét về vấn đề đang bàn luận,… được tham gia vào quá trình học tập để chiếm lĩnh tri thức.
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới từ cuối 2006, theo đó giáo dục nước ta trước mắt cũng như lâu dài phải có chiến lược phù hợp để tận dụng được mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực nhằm đạt được các mục tiêu góp
Trang 2phần cùng cả nước vững vàng hội nhập với thế giới, phát triển giáo dục tiến kịp với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.
Trong thời đại ngày nay, do sự bùng nổ của tri thức khoa học và công nghệ, sự gia tăng tốc độ, khối lượng tri thức, học sinh ngày càng tiếp cận với nhiều nguồn tri thức khác nhau, kiến thức đa dạng hơn, phong phú hơn và được cập nhật liên tục Nếu ta không nắm được xu thế đó thì sẽ bị tụt hậu
Từ trước đến nay, đa số học sinh cho rằng Hóa học là môn học rất khó và khô khan Nhiều học sinh đã phải rất vất vả để ghi nhớ kiến thức nhưng kết quả mang lại chưa cao Thực tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Nguyên nhân đó chính là do các em chưa tìm ra phương pháp học tập phù hợp, chưa có phương pháp ghi nhớ kiến thức một hiệu quả Từ đó dễ gây tâm lý chán nản, buông xuôi dẫn đến lổ hỏng kiến thức ngày càng rộng hơn và đến một lúc nào đó không thể lắp được
Hiện nay, các giáo viên đang áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực
để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận và tìm tòi kiến thức Từ đó, vận dụng kiến thức vào thực tế và biến đổi thành kỹ năng cho riêng bản thân mình Việc áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp học nhóm, công nghệ thông tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phù hợp
và đạt hiệu quả mà ở một số trường đang dần thực hiện trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay
Với những vấn đề đặt ra ở trên đã khẳng định hơn nữa vai trò của giáo dục Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp kiến thức mà còn phải giúp học
Trang 3sinh nhận thức được con đường chiếm lĩnh tri thức, giúp học sinh biết cách lựa chọn, hệ thống hóa và ghi nhớ kiến thức hiệu quả; đồng thời biết biết liên kết nhiều nguồn kiến thức lại với nhau và vận dụng một cách hiệu quả vào trong học tập cũng như thực tiễn Vì thế tôi thực hiện đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa học THCS” nhằm giúp học sinh học tập một cách tích cực hơn, phát huy tính sáng tạo, tư duy của bộ não góp phần vào việc lưu giữ kiến thức trên bộ não và sử dụng nó một cách có hiệu quả, thông minh và sáng tạo.
II Mục đích và phương pháp nghiên cứu:
1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học” được thực hiện nhằm
mục đích giúp học ghi nhớ, hệ thống hóa các kiến thức Hóa học một cách hiệu quả Từ đó làm cho học sinh thay đổi cách nhìn về bộ môn Hóa học: không còn khô cứng và khó nữa
2 Phương pháp nghiên cứu:
a/ Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- GV nghiên cứu tài liệu có liên quan đến việc giúp học sinh biết
cách dùng bản đồ tư duy để hệ thống hóa, ghi nhớ một cách đầy đủ kiến thức đã học
b/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
- GV tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp về phương pháp hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài toán tính theo phương trình hoá học
- Qua kinh nghiệm giảng dạy môn Hóa học của bản thân nhiều năm liền và hiệu quả đạt được qua các năm
c/ Phương pháp thu thập thông tin:
GV thu thập thông tin phản hồi từ phía học sinh cũng như thông qua kết quả học tập môn Hóa học từng tháng để điều chỉnh phương pháp sử dụng cho phù hợp
Trang 4d/ Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Giúp học sinh biết căn cứ vào nội dung bài học vẽ được bản đồ tư duy hệ thông hóa kiến thức trong một bài, một chương hoặc từng phần kiến thức
mà giáo viên yêu cầu theo cách hiểu và khả năng sáng tạo riêng của mình
III Giới hạn của đề tài:
Đề tài “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa học THCS” được thực hiện trong phạm vi trường THCS Bình Hàng Tây và áp dụng cho học sinh lớp 8,
9 đối với bộ môn Hóa học
IV Kế hoạch thực hiện:
- GV hướng dẫn học sinh cách vẽ bản đồ tư duy để hệ thống hóa kiến thức HS tự vẽ theo cách riêng của mình nhưng phải đảm bảo đầy đủ nội dung kiến thức Hướng dẫn HS biết sử dụng bản đồ tư duy để ghi nhớ kiến thức một cách hiệu quả
- GV yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy theo từng nội dung kiến thức của bài, chương hoặc từng phần kiến thức trong các tiết học bài mới, tiết luyện tập hoặc có thể hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà để giúp nâng cao hiệu quả của việc học kiến thức ở nhà
- GV kiểm tra và đánh giá sản phẩm của học sinh thông qua việc kiểm tra bài cũ và sau khi dạy bài mới
- Có thể chia thành nhóm học sinh để kiểm tra và đối chiếu bản đồ của nhau, tìm ra chổ hay của bạn để học tập đồng thời khắc phục những hạn chế của bản thân mình
- GV uốn nắn, sữa chữa những sai sót của học sinh
B PHẦN NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I Cơ sở lý luận:
1 Khái quát về bản đồ tư duy:
Trang 5Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề … chữ viết Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản đồ địa lý mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Đặc biệt ở đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắc khe như bản đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,
Ưu điểm của BĐTD là: Dễ nhìn, dễ viết; kích thích hứng thú học tập và
khả năng sáng tạo của HS; phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não; rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic
Trang 6
2 Vai trò của bản đồ tư duy:
− BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS
sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
− BĐTD - giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên
cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của
bộ não giúp học sinh học tập một cách tích cực, là biện pháp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học một cách hiệu quả Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của
HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và BĐTD do các em tự thiết kế nên các
em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình
Trang 73 Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy:
− Ghi lại nguyên cả đọan văn dài dòng: Khi thiết kế BĐTD cẩn chọn lọc những ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học Thiết kế BĐTD của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản cần chốt lại của bài học đó
− Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết hoặc quá sơ sài không có thông tin
− Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu… Chỉ nên vẽ những hình ảnh có liên quan đến chủ đề kiến thức Tránh khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình ảnh không cần thiết
II Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường
thẳng, con số Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa sử dụng kỹ năng bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý
các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và cách ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả vấn đề
Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Do đó cần có một phương pháp giúp học sinh khắc phục những hạn chế trên, và học tập hiệu quả Đó là hướng dẫn HS học tập bằng BĐTD, hướng dẫn
HS ghi chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả
Trang 8III Thực trạng và những mâu thuẫn:
Hóa học là một bô môn rất gần gũi với cuộc sống, học hóa học chính là học những gì xung quanh ta Do đó người GV phải làm cho học sinh thông hiểu được vấn đề này Để làm được điều này không phải là nói suông mà chúng ta phải đưa kiến thức Hóa học vào cuộc sống, từ kiến thức Hóa học đã học các em
có thể liên hệ để giải thích các hiện tượng đang diễn ra xung quanh, thấy được vai trò của Hóa học đối với đời sống và sản xuất Đây là một công việc không
hề đơn giản chút nào nhất là đối với những học sinh mới được làm quen với môn Hóa học Nó đòi hỏi học sinh phải chịu khó, biết liên hệ nhiều kiến thức…Đây là công việc mà không phải bất lỳ học sinh nào cũng làm được Do đó giáo viên phải hướng dẫn học sinh phương pháp học tập để ghi nhớ kiến thức một cách đầy đủ và hệ thống, biết cách liên hệ, gắn kết các kiến thức đã học
Hiện nay, một bộ phân không nhỏ HS không biết ghi chép kiến thức Các
em chỉ trong chờ GV đọc hoặc viết lên bảng rồi từ đó mới viết vào tập Các em không biết ghi nhận kiến thức theo cách hiểu của mình mà chỉ ghi chép một cách thụ động Điều này thì lại mâu thuẫn với việc đổi mới phương pháp dạy
Trang 9học hiện nay Kết quả là chất lượng học tập chưa cao, học sinh không tích cực trong học tập cũng như không tích cực trong ghi nhớ kiến thức.
Phần đông HS có hòan cảnh kinh tế khó khăn Cha mẹ phải lo làm kinh tế nên ít quan tâm đến việc học tập ở nhà của con Vì thế có nhiều học sinh chỉ học
ở lớp còn về nhà thì không chạm đến tập sách Các em xem nhẹ việc học bài và làm bài tập ở nhà Do đó việc ghi nhớ những kiến thức đã học còn hạn chế và đặc biệt là có nhiều trường hợp học sau quên trước
Việc kiểm tra, đánh giá HS của GV còn hạn chế Thông thường GV chỉ yêu cầu HS tái hiện lại kiến thức đã học, còn phần hiểu thì GV ít quan tâm Do
đó dẫn đến tình trạng học vẹt, lười tư duy
IV Các biện pháp giải quyết vấn đề:
Trong dạy học, BĐTD được sử dụng để kiểm tra bài cũ, trong việc dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau bài học, dùng cho GV ra bài tập về nhà, dùng trong bài thực hành và để tổng hợp kiến thức một chương hoặc nhiều bài học
1/ Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ:
Vì thời gian kiểm tra bài cũ không nhiều, chỉ khoảng 5 – 7 phút nên yêu cầu của GV thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích,
so sánh… để trả lời câu hỏi GV thường yêu cầu HS tái hiện lại một phần nội dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi GV sẽ chấm điểm tùy vào mức độ thuộc bài của HS Cách làm này vô tình để nhiều HS rơi vào tình trạng “học vẹt ”, đọc thuộc lòng mà không hiểu bài Do đó cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của HS, yêu cầu đặt ra là không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác HS, đồng thời nâng cao chất lượng học tập Sử dụng BĐTD trong dạy học Hóa học đã thực hiện được điều đó Các bản đồ thường được GV sử dụng dưới dạng thiếu thông tin,
Trang 10yêu cầu HS điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm.
Ví dụ: Yêu cầu HS điền tiếp các thông tin vào sơ đồ tư duy sau:
2/ Sử dụng BĐTD trong việc giảng bài mới:
Sử dụng BĐTD cho cách trình bày mới GV thay vì gạch đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện được một phần hoặc tòan bộ nội dung bài học một cách rất trực quan
Ví dụ: Khi dạy bài “ Tính chất hóa học của Oxit”, GV có thể trình bày theo dạng sơ đồ sau:
Trang 113/ Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức bài học:
Phù hợp với mục đích củng cố kiến thức cho HS sau bài học thì dạng bài tập thích hợp là điền thông tin còn thiếu vào BĐTD Các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung tòan bài để một lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học
Ví dụ: Sau khi học xong bài: “ Oxi” , GV cho vẽ BĐTD để củng
cố kiến thức
4/ Sử dụng BĐTD trong bài thực hành:
Trong giờ thực hành, HS cần phải làm một số thí nghiệm theo nhóm, do
đó các em cần phải nắm vững các bước tiến hành để có thể thực hiện thành
Trang 12công các thí nghiệm Các bước tiến hành phải đơn giản, ngắn gọn cho HS dễ hiểu và có thể thực hiện theo được
Trước giờ thực hành, GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung thực hành, sau đó vào lớp các nhóm HS vẽ ra BĐTD thể hiện các bước tiến hành cho từng thí nghiệm và báo cáo trước lớp Cả lớp chỉnh sửa, bổ sung cho hòan chỉnh sau
đó các nhóm mới tiến hành thí nghiệm
Ví dụ : BĐTD thí nghiệm 3 – Nhận biết 3 dd HCl, H2SO4, Na2SO4 trong bài thực hành “ Tính chất hóa học của oxit và axit”
5/ Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà:
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu nên bài tập về nhà mà GV giao cho HS ( hoặc nhóm HS) trước hết phải gắn bó với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép ( trình độ HS, thời gian, kinh tế…) Yêu cầu đối với bài về nhà cũng không cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu tư lớn hơn ( cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của HS