1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên

87 848 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tránh được các biến chứng do phẫu thuật, đồng thời giảm bớt chi phí trong điều trị hẹp bao quy đầu cho các trẻ trai ở vùng kinh tế còn khó khăn của huyện Phú Lương, chúng tôi tiến hàn

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất

kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Trọng Tuyên

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành bằng sự nỗ lực của tôi cùng với sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp hoàn thành luận văn thạc sĩ, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được trân trọng cảm ơn tới:

Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Ngoại trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Hợp Thành và trường Tiểu học Tức Tranh huyện Phú Lương - Thái

Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn TS Vũ Thị Hồng Anh, Phó giám đốc Bệnh viện trường Đại học Y - Dược, Phó trưởng bộ môn Ngoại trường Đại học Y

- Dược Thái Nguyên, người thầy đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn BS CKII Nguyễn Văn Sửu, Chủ nhiệm bộ môn Ngoại trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, người đã nhiệt tình giúp

đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trong hội đồng chấm luận văn, những người đã đánh giá công trình nghiên cứu của tôi một cách công minh Các ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô sẽ là bài học cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học sau này

Xin được bày tỏ lòng biết ơn của tôi đến những người thân trong gia đình

và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2015

Tác giả luận văn

Đào Trọng Tuyên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Phôi thai học, giải phẫu và sinh lý bao quy đầu 3

1.1.1 Phôi thai học và tiến triển tự nhiên của bao quy đầu 3

1.1.2 Giải phẫu bao quy đầu 5

1.1.3 Một số đặc điểm mô học của bao quy đầu 6

1.1.4 Sinh lý bao quy đầu 9

1.2 Hẹp bao quy đầu 10

1.3 Biến chứng của hẹp bao quy đầu 12

1.4 Điều trị hẹp bao quy đầu 15

1.4.1 Điều trị phẫu thuật cắt bao quy đầu 16

1.4.2 Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu 17

1.5 Tình hình nghiên cứu điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu bằng steroid trên thế giới và Việt Nam 20

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 29

2.5 Biến số nghiên cứu và cách đánh giá 29

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 32

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 33

2.8 Hạn chế của đề tài 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thực trạng hẹp bao quy đầu ở đối tượng nghiên cứu. 34

3.2 Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% 44

Chương 4 BÀN LUẬN 48

4.1 Thực trạng hẹp bao quy đầu ở học sinh từ 6 - 10 tuổi tại 2 xã Hợp Thành và Tức Tranh của huyện Phú Lương - Thái Nguyên 48

4.2 Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% 54

KẾT LUẬN 64

KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hẹp bao quy đầu sinh lý 11

Hình 1.2 Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu 11

Hình 1.3 Thắt nghẹt bao quy đầu 14

Hình 1.4 Hình ảnh Ung thư dương vật 15

Hình 1.5 Hình vẽ trên bia mộ Ankhmahor ở Saqquara, Ai Cập (2345-2182 trước Công Nguyên) đại diện cho buổi lễ cắt bao quy dầu người lớn 16

Hình 2.1 Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử 10 thông số 27

Hình 2.2 Phân loại bao quy đầu 30

Hình 3.1 Hình ảnh bao quy đầu trước và sau khi can thiệp 45

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ hình thái bao quy đầu 34

Bảng 3.2 Phân loại hình thái bao quy đầu theo tuổi 35

Bảng 3.3 Tỷ lệ hẹp bao quy đầu theo tuổi 36

Bảng 3.4 Tình trạng niêm mạc bao quy đầu theo tuổi 37

Bảng 3.5 Liên quan giữa viêm niêm mạc bao quy đầu với hình thái bao quy đầu 38

Bảng 3.6 Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu theo tuổi 39

Bảng 3.7 Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu và hình thái bao quy đầu 40

Bảng 3.8 Kết quả leucocyte, nitrit nước tiểu và tình trạng niêm mạc bao quy đầu 41

Bảng 3.9 Phân bố tiền sử có sưng, đau vùng quy đầu theo tuổi 42

Bảng 3.10 Phân bố tiền sử có đái buốt, đái rắt theo tuổi 43

Bảng 3.11 Tỷ lệ hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị 44

Bảng 3.12 Hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị 45

Bảng 3.13 Liên quan giữa kết quả điều trị và hình thái bao quy đầu 46

Bảng 3.14 Liên quan giữa kết quả điều trị và tình trạng niêm mạc bao quy đầu 46

Bảng 3.15 Liên quan giữa kết quả điều trị và sự tuân thủ điều trị 47

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hẹp bao quy đầu là tình trạng thường gặp ở trẻ trai, xảy ra khi lỗ mở của bao quy đầu bị hẹp, không thể lộn bao quy đầu để hở quy đầu ra được Hẹp bao quy đầu có thể là hẹp sinh lý hoặc bệnh lý Hẹp sinh lý (hẹp tiên phát) là hẹp do dính, bao quy đầu dính với quy đầu để bảo vệ quy đầu và lỗ sáo lúc trẻ mới sinh ra Còn hẹp bệnh lý (hẹp thứ phát, mắc phải) là hẹp thật sự, khi có

sự hiện diện của sẹo xơ Sẹo xơ được hình thành thường là do viêm nhiễm tái

đi tái lại ở bao quy đầu, cũng có thể do những lần nong bao quy đầu trước đó

mà thủ thuật nong quá thô bạo [18], [36] Hẹp bao quy đầu nếu không được

xử trí có thể dẫn đến các biến chứng như viêm bao quy đầu và quy đầu, nhiễm khuẩn tiết niệu, ảnh hưởng tới sự phát triển của dương vật, thậm chí có thể dẫn đến ung thư dương vật… [4]

Có nhiều phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu Cắt bao quy đầu không phải là phẫu thuật lớn, tuy nhiên, phương pháp này vẫn làm mất sinh lý bình

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thường của bao quy đầu [18], [34] Mặt khác, chỉ định phẫu thuật vẫn còn nhiều tranh cãi [4] Tình trạng hẹp bao quy đầu sinh lý hay bệnh lý nhiều khi chưa được chẩn đoán chính xác dẫn đến nhiều chỉ định điều trị chưa hợp lý Một số nghiên cứu cuối thập niên 80 cho thấy, có đến 2/3 phẫu thuật cắt bao quy đầu là không cần thiết [52] [55] Nong bao quy đầu đơn thuần hay bôi kem chống viêm steroid tại chỗ trong hẹp bao quy đầu chỉ áp dụng có hiệu quả ở những trường hợp hẹp bao quy đầu sinh lý [13], [25], [39], [40], [41] Nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi kem chống viêm steroid là phương pháp điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu đạt hiệu quả cao [42], [43], [44], [48], [49] Phương pháp này giúp tránh được các biến chứng của gây mê và phẫu thuật như chảy máu, phù nề, nhiễm trùng, tổn thương quy đầu hoặc niệu đạo, hẹp lỗ sáo, dò niệu đạo, sẹo xấu , đồng thời chi phí điều trị cũng thấp hơn [51], [54], [59], [61], [65]

Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên Đây là huyện

có nhiều xã thuộc vùng sâu, vùng xa, đường xá đi lại còn khó khăn nên dịch

vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân đặc biệt là chăm sóc sức khỏe lứa tuổi học đường còn chưa được quan tâm, chú trọng Để tránh được các biến chứng

do phẫu thuật, đồng thời giảm bớt chi phí trong điều trị hẹp bao quy đầu cho các trẻ trai ở vùng kinh tế còn khó khăn của huyện Phú Lương, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6 - 10 tuổi tại 2 xã của huyện Phú Lương - Thái Nguyên” nhằm mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng hẹp bao quy đầu của học sinh nam từ 6 - 10 tuổi tại

2 xã Hợp Thành và Tức Tranh của huyện Phú Lương - Thái Nguyên

2 Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% cho học sinh nam từ 6 - 10 tuổi tại 2 xã Hợp Thành và Tức Tranh của huyện Phú Lương - Thái Nguyên

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Phôi thai học, giải phẫu và sinh lý bao quy đầu

1.1.1 Phôi thai học và tiến triển tự nhiên của bao quy đầu

Quy đầu và bao quy đầu phát triển từ một khối tổ chức chung ở đoạn cuối của củ sinh dục (tiền thân của dương vật) trong tuần lễ thứ 3 của thời kỳ phôi thai Bao quy đầu xuất hiện trong bào thai vào khoảng tuần thứ 8, như một vòng ngoại bì dày lên Khi bào thai được 75 ngày tuổi, phần cuối của dương vật không được bao phủ bởi bao quy đầu, nhưng được bao phủ bởi một lớp ngoại bì dày liên tục với thành trước cơ thể Đầu xa của dương vật ở độ tuổi này sau này phát triển thành quy đầu nhưng không có bao quy đầu bao bọc Khi bào thai dài 55mm, quy đầu được phân định với thân dương vật ở mặt lưng và mặt bên bởi một vòng thắt Ở vị trí này, biểu mô dày lên thành một nếp gấp da hình bán nguyệt, khuyết vào trung mô dương vật ở phần đáy của quy đầu Dần dần nếp da này di chuyển về phía đỉnh, phần lưng phát triển nhanh hơn phần bụng bao trùm lên toàn bộ phần đáy của quy đầu Lúc 12 tuần, niệu đạo vẫn mở vào mặt dưới của thân dương vật và phần cuối của niệu đạo vẫn chưa hình thành Nếu ngừng ở giai đoạn này sẽ gây nên lỗ tiểu lệch thấp và bao quy đầu chỉ trùm lên một phần quy đầu Khi niệu đạo của quy đầu khép lại, bao quy đầu phần bụng được phát triển từ hai bên đã hòa vào với nhau để tạo thành hãm quy đầu Bao quy đầu vẫn tiếp tục di chuyển đến khi bào thai dài 170 mm (khoảng 16 tuần tuổi) thì sự tạo thành bao quy đầu đã hoàn tất, bờ bao quy đầu gắn liền với quy đầu ở vị trí lỗ sáo, bao quy đầu đã phát triển về phía trước đến đỉnh của quy đầu [16]

Vào tháng thứ 5, biểu mô lát tầng của quy đầu và biểu mô của bao quy đầu đang phát triển hòa vào nhau, không có khoảng tách biệt giữa chúng Do

đó “dính bao quy đầu” là đặc trưng của sự phát triển bình thường, không phải

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

là quá trình bệnh lý Sự tách bao quy đầu về cơ bản là quá trình sừng hóa và bong vảy của biểu mô giữa mặt trong bao quy đầu và quy đầu Quá trình này bắt đầu từ phía trước và sau quy đầu vào cùng một thời gian và hướng về phía giữa Khoảng tháng thứ 6 của thai nhi, sự hình thành tâm điểm trung tâm sừng hóa được nhìn thấy đầu tiên trong vùng phình phía sau cuối của bao quy đầu (vị trí rãnh quy đầu ở người lớn) Lúc đầu, khi tế bào biểu mô sừng hóa, bong vảy, các tế bào sừng hình thành nên các vòng xoắn tế bào niêm mạc đồng tâm, nhưng sau đó từ trung tâm chúng bắt đầu thoái triển (trung tâm khối tế bào sừng bắt màu đậm eosin - một bằng chứng của sự thoái triển) Sự thoái triển này sẽ tạo nên các khe giữa quy đầu và bao quy đầu Kích thước của khe này tăng dần tạo nên khoang bao quy đầu, làm cho quy đầu tách dần khỏi bao quy đầu Các đám tế bào bong vảy và sừng hóa hình thành nên chất trắng (smegma) nằm dưới bao quy đầu, ở những nơi mà bao quy đầu chưa tách khỏi quy đầu [16], [19], [27]

Khi mới sinh, sự phân tách giữa bao quy đầu và quy đầu không hoàn toàn xảy ra ở hầu hết trẻ, mà đôi khi sự phân tách này được thực hiện trong suốt thời kỳ sơ sinh hay thời kỳ trẻ nhỏ Vì vậy, 54% trẻ sinh ra lộ được đỉnh của quy đầu nhưng chỉ 4% bao quy đầu có thể lộn được hoàn toàn Bao quy đầu vẫn chưa lộn ra được đến 80% các trường hợp lúc 6 tháng tuổi, 50% lúc

12 tháng tuổi, 20% lúc 2 tuổi và 10% trước 3 tuổi Bao quy đầu và quy đầu sẽ tiếp tục tách dính và bao quy đầu cũng dãn dần ra đến 16 tuổi thì chỉ còn lại 1% bao quy đầu không lộn ra được [19] Dinh dưỡng hoặc kích cỡ dương vật của trẻ sơ sinh có một vai trò nhất định trong sự tiến triển của quá trình tách dính giữa bao quy đầu và quy đầu Những dương vật lớn khi sinh có sự phân tách nhiều hơn so với những dương vật nhỏ hơn Không có sự khác biệt rõ ràng về đặc điểm và tỷ lệ phân tách bao quy đầu và quy đầu giữa chủng tộc da trắng và da đen [19]

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.1.2 Giải phẫu bao quy đầu

Dương vật là cơ quan sinh dục ngoà

bao gồm ba phần chính là: gốc, thân và quy đầu dương vật Quy đầu của dương vật được bao bọc bởi một nếp mô nhỏ và mỏng, mặt ngoài là da, mặt trong là niêm mạc, gọi là bao quy đầu (prepucium)

Bao quy đầu có chức năng bảo vệ và duy trì độ ẩm của lớp niêm mạc quy đầu Bình thường, quy đầu được bao bọc hoàn toàn hoặc một phần bởi bao quy đầu Việc vệ sinh hằng ngày bên trong lớp da bao

các chất cặn bã (mảng trắng hay smegma), đồng thời tránh các biến chứng viêm nhiễm bao quy đầu và quy đầu, nhiễm khuẩn tiết niệu… [3]

Mặt dưới bao quy đầu có một nếp da nhỏ (nếp hãm), rất co giãn, có tác dụng cố định da bao quy đầu với mặt dưới quy đầu Khi dương vật cương cứng thì nếp hãm này căng ra Chức năng của nếp hãm này là giúp giữ da bao quy đầu khỏi bị tuột quá xa vị trí của nó và do đó bảo đảm quy đầu được che phủ trở lại sau khi cương cúng

* Hệ thống mạch máu và thần kinh

Động mạch

Có hai nguồn: Nông là các nhánh nhỏ nằm trong tổ chức dưới da, có nguồn gốc từ động mạch thẹn ngoài và động mạch đáy chậu nông; sâu là các nhánh động mạch thẹn trong cấp máu cho tạng cương bao gồm động mạch dương vật sâu và động mạch mu dương vật[3]

Tĩnh mạch

Máu thoát ra từ bao quy đầu và các hang mạch máu đổ vào các tĩnh mạch nhỏ rồi từ đó vào tĩnh mạch lớn hơn (tĩnh mạch lưngdương vật) nằm sâu trong các thể hang Từ đó máu máu đổ về tĩnh mạch mu dương vật sâu[3]

Thần kinh

Thần kinh chi phối cho dương vật bao gồm thần kinh mu dương vật,

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tách từ thần kinh thẹn và thần kinh vật lưng thuộc hệ thần kinh tự chủ [3] Sự phân bố thần kinh dương vật khá phức tạp, điều đó giải thích lý do tại sao phong bế thần kinh lưng dương vật giúp giảm đau không hoàn toàn khi cắt bao quy đầu ở trẻ Tương tự như vậy, gây tê vòng dương vật không thể ngăn chặn các dây thần kinh tạng hướng tâm từ thần kinh thể hang cũng như các nhánh cảm giác bản thể bìu sau của dây thần kinh đáy chậu Một hỗn hợp kem gây tê cục bộ không làm giảm đau hoàn toàn khi cắt bao quy đầu vì sự phân

bố thần kinh phức tạp và cấu trúc nhiều lớp của dương vật

1.1.3 Một số đặc điểm mô học của bao quy đầu

Bao quy đầu là một mô chuyên biệt, gồm da và niêm mạc nối liền nhau, tương tự như mí mắt, môi bé, hậu môn và đôi môi Cấu trúc bao quy đầu gồm

5 lớp là lớp biểu mô niêm mạc, lớp mô liên kết, lớp cơ Dartos, lớp bì, lớp da nhẵn bên ngoài [16]

* Lớp biểu mô niêm mạc

Biểu mô niêm mạc bao quy đầu giống như biểu mô sừng bao phủ quy đầu Biểu mô niêm mạc bao quy đầu và biểu mô quy đầu hợp nhất với nhau từ khi mới sinh và có các dây thần kinh Hai lớp biểu mô không tách biệt nhau cho đến khi có các yếu tố kích thích và tăng trưởng thích hợp [16]

* Lớp mô liên kết

Lớp mô liên kết rất giàu mạch máu, gây biến chứng chảy máu khi cắt bao quy đầu Bao quy đầu có collagen lỏng lẻo hơn so với lớp mô liên kết dày đặc collagen của quy đầu Lớp mô liên kết không có nang lông, tuyến mồ hôi

và tuyến bã nhờn Tuy nhiên, Tyson lại mô tả trong mô liên kết có những tuyến bã nhờn và chúng tiết ra bựa trắng (smegma) Trong mô tả vĩ mô của Cowper năm 1964 khẳng định không có các tuyến này và thực chất các tuyến của Tyson là những sẩn trắng ở vành quy đầu, đó là những cấu trúc biểu mô sợi, không phải cấu trúc tuyến [16]

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

* Lớp cơ trơn Dartos

Lớp cơ trơn Dartos chuyên biệt cho cơ quan sinh dục ngoài của nam và phần lớn cơ Dartos của dương vật nằm bên trong bao quy đầu Từ bao quy đầu, lớp cơ Dartos mỏng dần tỏa xuống bao quanh thân dương vật và liên tục với cơ Dartos bìu Cơ Dartos dương vật thay đổi theo nhiệt độ và cho phép thay đổi theo thể tích của dương vật khi cương cứng Ở trẻ sơ sinh, các sợi cơ gắn kết với nhau và sắp xếp theo mô hình khảm làm cho phần xa bao quy đầu nhăn nheo và gần giống như van một chiều Khi so sánh lớp cơ bao quy đầu ở nam giới trước và sau tuổi dậy thì người ta thấy tỷ lệ những sợi cơ và những sợi đàn hồi trước tuổi dậy thì ít hơn Điều này giải thích tại sao phần xa bao quy đầu thì nhăn nheo ở trẻ sơ sinh và có vẻ ít nhăn hơn ở người lớn Sự gia tăng các sợi đàn hồi có thể là cần thiết để bao quy đầu lộn ra một cách bình thường [16]

* Lớp bì

Lớp bì bao quy đầu bao gồm các mô liên kết, mạch máu, thân dây thần kinh, tiểu thể Meissner trong nhú bì và tuyến bã nhờn nằm rải rác Lớp bì bao quy đầu dường như có nhiều sợi đàn hồi hơn lớp liên kết bao quy đầu Sự khác biệt giữa các sợi đàn hồi trong lớp liên kết và lớp bì cũng có thể giúp hình thành cấu hình “mõm” xung quanh quy đầu Các mô đàn hồi của lớp bì bao quy đầu, cùng với cơ Dartos dày lên tạo nên hãm quy đầu, cố định bao quy đầu và giúp trả lại vị trí giải phẫu bình thường của bao quy đầu sau khi căng lên trong suốt thời gian cương của dương vật hoặc sau khi lộn bao quy

đầu [16]

* Lớp da

Biểu mô bên ngoài của bao quy đầu bao gồm các tế bào biểu mô lát tầng sừng hóa Những tế bào sắc tố hiện diện ở các lớp đáy Các tế bào Langerhans

và tế bào Merkel cũng có mặt Các tế bào Langerhans là hàng rào đầu tiên của

hệ thống miễn dịch của cơ thể và cần thiết cho chức năng miễn dịch thông

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thường Tế bào Merkel được biệt hóa thành các tế bào thần kinh nội tiết, giúp cảm giác xúc giác và làm sậm màu các cytokeratin Các tế bào Merkel cấu tạo gồm lớp màng đặc biệt, bên trong là nhân tế bào có chứa nhiều hạt nhân Chức năng và sự tập trung các tế bào Merkel trong cơ quan sinh dục ngoài đến nay vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi [16]

* Túi bao quy đầu

Túi bao quy đầu được làm ẩm bằng dịch tiết từ tuyến tiền liệt, túi tinh và tuyến niệu đạo của lớp Littre Nước tiểu không phải là thành phần làm ẩm ướt bao quy đầu Đám rối giàu mạch máu của niêm mạc bao quy đầu có thể tiết ra chất dịch tương tự dịch tiết của niêm mạc âm đạo, âm hộ, nhưng người ta không biết liệu nó có góp phần vào độ ẩm của bao quy đầu khi kích thích hay không Túi bao quy đầu là nơi cư trú của nhiều loại vi khuẩn như: Mycobacterium, vi khuẩn kỵ khí gram âm (đặc biệt có Bacteroides melaninogennicus), Entrerococci, Enterobacteria và Staphylococci Trong nghiên cứu của Neubert và Lentze, vi khuẩn kháng axit được nhìn thấy khi nhuộm Ziehl – Nielsen, nhưng không thể nuôi cấy trong môi trường Lowenstein-Jensen Do đó, các sinh vật kháng axit tìm thấy trong bao quy đầu bởi Neubert và Lentze có thể là chất nhiễm mycobacteria từ đất và nước chẳng hạn như M gordonae Mặc dù M smegmatis có thể là sinh vật ký sinh trong túi bao quy đầu, nhưng không gây bệnh đường sinh dục, mà có thể gây nhiễm trùng mô mềm sau khi chấn thương hoặc phẫu thuật Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng cắt bao quy đầu không phải là nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn chủng vi khuẩn kháng axit từ niệu đạo của nam giới và sự hiện diện vi khuẩn kháng axit không gây ra nhiễm trùng tiết niệu Những dữ liệu này hỗ trợ quan điểm cho rằng M smegmtis là sinh vật ký sinh lành tính trong đường sinh dục ngoài [12], [16]

Bao quy đầu chứa tế bào biểu mô sừng bong tróc ra tương tự như các khoang niêm mạc khác như khoang miệng hoặc âm đạo Chất trắng, mịn này

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tích trữ dưới bao quy đầu (smegma hay còn gọi là bựa trắng) Smegma được chứng minh có chứa squalene, beta-cholestanol, sterol và các axit béo chuỗi dài Ở nam giới trên 35 tuổi, trong smegma có thể tìm thấy axit 9, 10 - methyleneoctadecanoic, nhưng không tìm thấy được ở thanh niên trẻ (17-20 tuổi) Chức năng của các steroid, sterol và axit béo đối với bao quy đầu chưa được biết rõ, nhưng những chất này được xem như hàng rào bảo vệ da ở các nơi khác trên cơ thể [16]

1.1.4 Sinh lý bao quy đầu

* Chức năng bảo vệ

Người ta thường nói, bao quy đầu là cấu trúc thoái hóa không có chức năng Tuy nhiên, trẻ có quy đầu hoàn toàn không được che phủ, bảo vệ bởi bao quy đầu dễ bị tổn thương khi tiếp xúc với quần áo hay tã lót Loét lỗ sáo gần như chỉ xảy ra ở những trẻ sơ sinh đã cắt bao quy đầu Tuy nhiên, loét lỗ sáo đôi khi cũng gặp ở những trẻ có bao quy đầu bất thường, dễ bị lộn ra làm quy đầu lộ ra ngoài [16]

* Chức năng tình dục

Bao quy đầu có cấu tạo bên ngoài là da, trong là niêm mạc, rất nhạy với kích thích tình dục và cần thiết cho chức năng tình dục bình thường Sự tương tác phức tạp giữa thụ thể cảm giác sâu của quy đầu với các thụ thể cảm giác của vành quy đầu và bao quy đầu là cần thiết cho hành vi giao hợp bình thường Quy đầu được chi phối chủ yếu bởi các đầu tận cùng dây thần kinh cảm giác, dẫn truyền cảm giác tại chỗ kém Ngược lại, bao quy đầu có sự phân

bố thần kinh cảm giác bản thể rất phong phú, rất nhạy với kích thích tình dục

Ở Mỹ, hiện tượng tăng tần suất thủ dâm, giao hợp qua đường hậu môn hay đường miệng có thể là do mất cân bằng cảm giác khi cắt bao quy đầu Hơn nữa, cắt bao quy đầu không chỉ loại bỏ khoảng 30% da quy đầu và phần lớn các thành phần lớp cơ Dartos, mà còn làm bề mặt quy đầu trải qua sừng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

hóa Rõ ràng, cắt bao quy đầu gây ra những thay đổi trong hành vi tình dục ở nam giới [16]

* Chức năng miễn dịch học

Trong nhiều năm, tế bào Langerhans được biết là đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch màng tế bào, niêm mạc và da Mặc dù người ta đã biết các tế bào Langerhans có thể tiết ra các cytokine, nhưng chỉ gần đây mới phát hiện ra rằng các tế bào biểu mô sừng, không có tế bào Langerhans cũng

có thể tiết ra các cytokine và interleukin-1, kích thích phản ứng miễn dịch tế bào T Các cytokine được tiết ra bởi niêm mạc bao quy đầu và da chưa được nghiên cứu một cách rõ ràng Weiss và cộng sự không thể tìm thấy tế bào Langerhans trên bề mặt niêm mạc của bao quy đầu trẻ sơ sinh, nhưng dễ dàng tìm thấy trong biểu mô niêm mạc bao quy đầu người lớn [62] Việc Weiss và cộng sự không tìm thấy tế bào Langerhans ở trẻ sơ sinh có thể do sự hợp nhất niêm mạc bao quy đầu và niêm mạc quy đầu Các tế bào Langerhans sẽ không

có trong niêm mạc chung của bao quy đầu và quy đầu [16]

1.2 Hẹp bao quy đầu

quy đầu quy đầu Khi mới sinh, đa số trẻ trai có hẹp bao quy đầu sinh lý Khi trẻ lớn lên, phần lớn các trường hợp bao quy đầu sẽ tự tách khỏi quy đầu nhưng cũng có trường hợp trở thành hẹp bao quy đầu bệnh lý [18]

Hẹp bao quy đầu sinh lý: Tình trạng này hay gặp ở trẻ nhỏ từ 0 - 4

tuổi, do bao quy đầu chưa hoàn toàn tách dính khỏi quy đầu Khi ta cố gắng lộn bao quy đầu, miệng bao quy đầu mở ra giống như một bông hoa, mềm mại, không có sẹo, để lộ ra niêm mạc bên trong bao quy đầu [16], [19], [27], [33], [52] Trong quá trình phát triển của trẻ, việc tách dính sẽ dần hoàn thiện, bao quy đầu sẽ lộn được ra để lộ hoàn toàn quy đầu

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hình 1.1 Hẹp bao quy đầu sinh lý.“Nguồn Hutton K A (2008) [36]”

Trẻ hẹp bao quy đầu sinh lý thường có biểu hiện bị phồng ở bao quy đầu khi đi tiểu Hiện tượng này sẽ hết sau khi bao quy đầu tách dính hoàn toàn khỏi quy đầu Nghiên cứu không xâm lấn đã xác minh rằng, dòng nước tiểu chảy bình thường, thể tích nước tiểu còn tồn đọng trong bàng quang và độ dày thành bàng quang không bị ảnh hưởng bởi hẹp bao quy đầu sinh lý [8]

Hẹp bao quy đầu bệnh lý: Bao quy đầu bị hẹp đồng thời có sẹo ở lỗ

bao quy đầu Nguyên nhân thường do tình trạng viêm quy đầu làm dính bao quy đầu ở phần lỗ bao quy đầu, lâu dần xơ hóa dẫn đến viêm xơ chít hẹp bao quy đầu (Balanitis xerotica obliterans – BXO) Quá trình diễn biến mô bệnh học của BXO ảnh hưởng đến bao quy đầu, quy đầu và đôi khi ảnh hưởng đến

cả niệu đạo Hẹp bao quy đầu bệnh lý thường có biểu hiện: bao quy đầu có màu tái nhợt, sẹo xơ, hẹp miệng bao quy đầu, có thể hẹp lỗ sáo [7]

Hình 1.2 Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu

“Nguồn Hutton K A (2008) [36]”

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Mô học của hẹp bao quy đầu bệnh lý đặc trưng bởi các đặc điểm tăng sừng với nhiều nang, teo lớp Malpighi với sự thoái hóa các tế bào đáy, phù bạch huyết, tiêu biến đồng nhất hóa collagen dưới da và liên quan đến một dãy tế bào viêm mạn tính xâm nhập [ 18], [27], [52]

Triệu chứng điển hình của hẹp bao quy đầu bệnh lý thường là ngứa vùng quy đầu, nhiễm trùng tại chỗ bao quy đầu, tiểu khó, dòng nước tiểu yếu, không lộn bao quy đầu được, có sẹo xơ ở lỗ bao quy đầu Đôi khi, trẻ có thể

bị bí tiểu cấp tính hoặc đái dầm ban ngày hay ban đêm do tắc nghẽn dòng tiểu mạn tính Siêu âm thấy hình ảnh ứ đọng nước tiểu ở bàng quang, có thể thấy thành bàng quang dày, rất hiếm có giãn thứ phát của đường tiết niệu trên Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu (BXO) hiếm gặp ở trẻ dưới 5 tuổi (0,6%), tỷ lệ cao nhất ở các trẻ trai từ 9 đến 11 tuổi (76%) Viêm xơ chít hẹp bao quy đầu không có khuynh hướng gia đình hay bất kỳ một tác nhân vi khuẩn hay virus gây bệnh nào được xác nhận, cũng như không có mối liên quan giữa viêm xơ chít hẹp bao quy đầu với tuổi dậy thì [32]

1.3 Biến chứng của hẹp bao quy đầu

Viêm quy đầu và bao quy đầu

Hẹp bao quy đầu gây khó khăn cho việ ớc tiểu Bên trong bao quy đầu, cặ ụ lâu ngày kèm theo các chất bài tiết dễ hình thành bựa sinh dục (smegma) Bựa sinh dục này kích thích lên quy đầu gây ra các viêm nhiễm [15]

Triệu chứng của viêm bao quy đầu cấp tính bao gồm nhiễm trùng toàn

bộ túi bao quy đầu, có mủ Trường hợp điển hình, biểu hiện tích tụ mủ và phù bao quy đầu, lây lan sang da toàn bộ thân dương vật Các thể nhẹ hơn, quá trình viêm được giới hạn trong lỗ mở của bao quy đầu, gây đỏ và phù nề tại chỗ, nhưng không tích tụ mủ Thường hay gặp tiểu khó, có thể có chảy máu mức độ nhẹ từ lỗ bao quy đầu Do đó, cần chẩn đoán phân biệt viêm bao quy đầu cấp với nhiễm trùng tiết niệu Khi bị nhiễm trùng tiết niệu sẽ không có

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

các triệu chứng và dấu hiệu của bao quy đầu viêm [15] Vi khuẩn gây bệnh thường gặp là Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Proteus [17] Viêm bao quy đầu thường xảy ra ở hai dạng Một dạng là viêm mô tế bào bao quy đầu, trường hợp này đáp ứng tốt với thuốc và không có xu hướng tái phát Do

đó, chỉ định cắt bao quy đầu hay không vẫn còn là vấn đề chưa rõ ràng Dạng khác thường gặp hơn là viêm da amoniac do ảnh hưởng của tã lót Bản chất của viêm da amoniac đã được xác định rõ rệt bởi Cooke vào năm 1921 Những vi sinh vật phân hủy ure trong nước tiểu và giải phóng amoniac sẽ gây kích thích da, làm da trở nên dày hơn, bong vảy trên bề mặt Nhiều phẫu thuật viên nhi khoa coi đây là lý do để cắt bao quy đầu Điều trị viêm bao quy đầu bao gồm kháng sinh, kết hợp vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh duc Phẫu thuật cắt bao quy đầu nên chỉ định ở những bệnh nhi bị viêm tái phát nhiều lần Ngoài

ra, phẫu thuật tạo hình bao quy đầu hoặc sử dụng kem steroid bôi tại chỗ cũng được xem là giải pháp thay thế cắt bao quy đầu [18], [36]

Kén bao quy đầu

Tùy thuộc vào tuổi, dính bao quy đầu bình thường có thể được giải quyết một cách tự nhiên theo thời gian, như mô tả của Gairdner năm 1949 [27] Một

số trẻ trai có một hoặc nhiều cục u màu vàng ở dương vật mà thường được chẩn đoán là u bã nhờn hay u mỡ của thân dương vật Thật ra, tình trạng này

là do sự tích tụ smegma dưới bao quy đầu và chỉ cần vệ sinh sạch các cặn bẩn sau khi giải phóng dính bao quy đầu sẽ hết Thực tế, đôi khi kiểm tra một số trường hợp có thể thấy u nang thực sự của bao quy đầu U nang nằm tại chỗ

có thể được khoét lấy ra, nhưng nếu tổn thương lan tỏa thì cần cắt bao quy đầu [36]

Thắt nghẹt bao quy đầu (Paraphimosis)

Thắt nghẹt bao quy đầu là tình trạng hiếm gặp ở các bé trai liên quan đến thao tác lộn bao quy đầu ra và không thể kéo lại về phía quy đầu được, gây tình trạng thắt nghẹt và phù nề bao quy đầu và quy đầu Thường xảy ra khi

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lộn bao quy đầu quá thô bạo hoặc sau khi đặt sonde tiểu [31] Thắt nghẹt bao quy đầu không phải là bệnh tiềm ẩn của bao quy đầu và một lần bị thắt nghẹt bao quy đầu không phải là chỉ định cắt bao quy đầu Trong trường hợp này, hiếm khi cần phải rạch một đường ở phía lưng dương vật mà có thể xử trí bằng cách giảm phù nề bao quy đầu thông qua băng ép, chọc thủng nhiều chỗ bằng kim hay làm mát tại chỗ sau đó kéo bao quy đầu về vị trí ban đầu Thắt nghẹt bao quy đầu tái phát thường xuyên có chỉ định để cắt bao quy đầu [27], [36] Hình 1.9 là điển hình của paraphimosis, gây phù nề bao quy đầu

Hình 1.3 Thắt nghẹt bao quy đầu (Paraphimosis)

“Nguồn Hutton K A (2008) [36]”

Nhiễm khuẩn tiết niệu

Viêm nhiễm ở quy đầu và bao quy đầu nếu không được điều trị sớm và triệt để, vi khuẩn có thể xâm nhập vào bên trong gây viêm bàng quang, viêm tiền liệt tuyến, viêm thận…Tùy vào mức độ nhiễm khuẩn mà có các triệu chứng khác nhau Bệnh nhân có thể sốt, rối loạn thành phần và bài tiết nước tiểu như đái buốt, đái rắt, đái đục…, xét nghiệm nước tiểu có bạch cầu, nitrite Tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới suy thận [17]

Ung thư dương vật

Các chất cặn bã, các chất bẩn kích thích mạn tính lên quy đầu và bao quy đầu có thể gây ung thư dương vật Nghiên cứu của Natasha L Larke và cộng

sự năm 2011 cho thấy, một trong những nguyên nhân gây ung thư dương vật

là do hẹp bao quy đầu [69]

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4

“Nguồn Hutton K A (2008) [36]”

Ảnh hưởng đến sự phát triển của dương vật

Viêm nhiễm bao quy đầu tái phát liên tục sẽ khiến quy đầu và bao quy

đầu bị dính làm hạn chế khả năng phát triển và khả năng cương của dương vật, gây đau đớn khi quan hệ tình dục và là nhân tố gây nên hiện tượng xuất tinh sớm và rối loạn cương dương, thủ dâm…[35]

Vô sinh

Viêm nhiễm bao quy đầu và quy đầu dẫn đến viêm tuyến tiền liệt, ảnh hưởng đến hoạt động cũng như sự kết dính và chất lượng tinh dịch, có thể dẫn đến vô sinh [31]

Ảnh hưởng đến sức khỏe nữ giới

Do các chất cặn bã và vi khuẩn tích tụ trong bao quy đầu nên khi giao hợp sẽ xâm nhập vào âm đạo nữ giới gây viêm nhiễm cơ quan sinh dục nữ

Đây là một trong những nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung ở nữ giới [31] 1.4 Điều trị hẹp bao quy đầu

Có nhiều quan điểm khác nhau về điều trị hẹp bao quy đầu Đối với người châu Á, chỉ can thiệp khi bao quy đầu hẹp gây biến chứng Đối với người phương Tây, 80%

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cho rằng nên cắt, nong bao quy đầu từ sớm, ngay lúc trẻ mới sinh [20], [21]

1.4.1 Điều trị phẫu thuật cắt bao quy đầu

Cắt bao quy đầu lâu đời nhất được tìm thấy trong các xác ướp người Ai Cập cổ đại (2300 năm trước Công nguyên) và hình vẽ trên tường được tìm thấy

ở Ai Cập cho thấy cắt bao quy đầu là phong tục của vài ngàn năm trước [29]

Hình 1.5 Hình vẽ trên bia mộ Ankhmahor ở Saqquara, Ai Cập (2345-2182 trước Công Nguyên) đại diện cho buổi lễ cắt bao quy dầu người lớn

“Nguồn: WHO & UNAID (2007)” [29]

Theo Nguyễn Thanh Liêm [4], hiện nay chỉ định cắt bao quy đầu vẫn còn là một vấn đề chưa thống nhất Tuy nhiên có thể nêu lên một số chỉ định cắt bao quy đầu như:

- Cắt bao quy đầu để tránh nhiễm khuẩn tiết niệu Tại Mỹ, theo nghiên cứu của Hutton K A và cộng sự, trẻ không cắt bao quy đầu có tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu cao hơn trẻ cắt bao quy đầu từ 10 - 20 lần [36]

- Cắt bao quy đầu để phòng ung thư dương vật vì hẹp bao quy đầu nhất

là hẹp hoàn toàn là một trong những nguyên nhân gây ra ung thư dương vật

- Cắt bao quy đầu vì lý do tôn giáo Một số tôn giáo như người Do Thái, người theo đạo Hồi thường có phong tục cắt bao quy đầu cho trẻ em

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4.2 Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu

Điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu không do viêm xơ chít hẹp bao quy đầu với mục đích để bao quy đầu lộn ra được hoàn toàn ở độ tuổi sớm hơn Can thiệp như vậy thường tốt hơn cho những trường hợp hẹp bao quy đầu sinh lý có triệu chứng tại chỗ hoặc viêm bao quy đầu tái phát

Nghiên cứu tại các nước Anh, Pháp, Mỹ và tại Bệnh viện Nhi đồng I thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, điều trị bảo tồn những trường hợp bị hẹp bao quy đầu ở trẻ em là biện pháp rẻ tiền, dễ thực hiện, giúp tránh tai biến do

không kém các phương pháp can thiệp bằng phẫu thuật; hơn nữa trẻ không bị đau, không bị sang chấn về tinh thần hay sang chấn tại chỗ như trong cắt bao quy đầu [5], [7], [10], [29]

1.4.2.1 Dùng tay kéo căng da bao quy đầu mỗi ngày

Phần lớn các trường hợp bao quy đầu bị hẹp có thể được nong rộ

dẫn cho bố, mẹ trẻ thực hiện phương pháp này Dùng dầu Vaseline làm chất bôi trơn để bôi tay và bôi lên da bao quy đầu, sau đó nhẹ nhàng kéo da bao quy đầu lên xuống vài lần ứ ịu đựng được (trẻ không bị đau) để làm

ấn cũng như không gây tổn thương cấu trúc của da bao quy đầu Tuy nhiên, khi thự ộ

kéo căng bao quy đầu một cách từ từ, nhẹ nhàng, lần sau kéo căng nhiều hơn lần trước, như thế lớp da bao quy đầu sẽ giãn dần ra Phương pháp này đòi hỏi

sự kiên trì, phối hợp tốt giữa bố mẹ và trẻ, đặc biệt là sự tuân thủ yêu cầu về

sẹ

[20]

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4.2.2 Nong bao quy đầu

Thường áp dụng nong bao quy đầu bằng dụng cụ đối với hẹp bao quy đầu ở mức độ nhẹ Trẻ có thể được nong bao quy đầu trong tình trạng tỉnh táo Giảm đau cho trẻ bằng thuốc tê dạng xịt, sau đó dùng panh nhỏ nhẹ nhàng nong rộng bao quy đầu để tách dính bao quy đầu với quy đầu Sau khi tách dính, lộn bao quy đầu để hở hoàn toàn quy đầu rồi vệ sinh sạch sẽ các chất cặn bẩn bên trong bao quy đầu cần được thực hiện

rách bao quy đầu gây chảy máu,

khó thực hiện các lần tiếp theo [20]

1.4.2.3 Bôi kem steroid tại chỗ

Bôi kem steroid tại chỗ điều trị hẹp bao quy đầu đã được chứng minh rõ ràng bởi nhiều nghiên cứu Steroid có thể làm bao quy đầu mỏng và giãn ra

dễ hơn, giúp bao quy đầu có thể lộn ra để hở hoàn toàn quy đầu một cách dễ dàng hơn [28], [59]

Một số dạng steroid hay được sử dụng để điều trị hẹp bao quy đầu là: Betamethasone 0,05%, clobetasol propionate 0,05%, triamcinolone acetonide 0,02% Khi dùng kem bôi steroid thường sử dụng hai lần/ngày, trong 4-8 tuần, có thể lặp lại một đợt nếu chưa đạt kết quả điều trị Sử dụng steroid bôi tại chỗ cần kết hợp với nong bao quy đầu bằng tay và phải thực hiện kiên trì Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thành công của phương pháp này từ 65,8% - 95% và đây là phương pháp điều trị an toàn, không biến chứng [28], [43], [59]

Tác dụng dược lý của kem bôi có chứa steroid

Hiệu lực của kem bôi có chứa steroid được xác định bởi hàm lượng các chất dầu có trong sản phẩm Kem bôi steroid được phân thành 7 nhóm thùy theo hiệu lực của chúng [24]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tất cả các sản phẩm steroid dùng tại chỗ bao gồm một thành phần hoạt chất và một dung môi Dung môi ngoài việc là một chất vận chuyển, còn ảnh hưởng đến hiệu lực dựa trên sự thay đổi của tỷ lệ phóng thích steroid và khả dụng sinh học Hầu hết corticosteroid dùng tại chỗ có sẵn dưới nhiều hình thức, bao gồm thuốc mỡ, kem bôi, gel, bình xịt và thuốc nước Lựa chọn hình thức nào tùy thuộc vào độ nghiêm trọng của tình trạng da Đối với tình trạng nghiêm trọng, thuốc mỡ có thể cung cấp một lượng lớn thuốc vào mô thượng bì và lớp

bì Thuốc mỡ thường chứa petrolatum, sáp, parafin, propylene glycol, dầu khoáng sản giúp thủy phân các lớp tế bào sừng, do đó tăng cường sự thấm thuốc Thuốc mỡ đặc biệt hữu ích cho tổn thương có vảy khô Các loại kem bôi, nước và gel có ích cho tổn thương rỉ dịch và phồng rộp, nơi không cần bổ sung độ ẩm Các sản phẩm này sử dụng cho vùng da có lông phủ dễ hơn thuốc

mỡ Thuốc nước và các loại kem bôi được các phụ huynh ưa thích vì chúng dễ

sử dụng hơn, sạch hơn và ít dính vào quần áo ờng được lựa chọn trong điều trị hẹp bao quy đầu là Betamethasone 0,05% [14]

Betamethason là một corticosteroid tổng hợp, có tác dụng glucocorticoid rất mạnh, kèm theo tác dụng mineralocorticoid không đáng kể [2] 0,75 mg betamethason có tác dụng chống viêm tương đương với khoảng

5 mg prednisolon Betamethason có tác dụng chống viêm và chống dị ứng Thuốc dùng đường uống, tiêm, tiêm tại chỗ, hít hoặc bôi để trị nhiều bệnh cần chỉ định dùng corticosteroid, trừ các trạng thái suy thượng thận thì ưa dùng hydrocortison kèm bổ sung fludrocortison Do ít có tác dụng mineralocorticoid, nên betamethason rất phù hợp trong những trường hợp bệnh lý mà giữ nước là bất lợi Dùng liều cao, betamethason có tác dụng ức chế miễn dịch

Betamethason dễ được hấp thu qua đường tiêu hóa Thuốc cũng dễ được hấp thụ khi dùng tại chỗ Khi bôi, đặc biệt nếu băng kín hoặc khi da bị rách hoặc khi thụt trực tràng, có thể có một lượng betamethason được hấp thu

đủ cho tác dụng toàn thân Các dạng betamethasone tan trong nước dùng

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đường tiêm tĩnh mạch cho đáp ứng nhanh, các dạng tan trong lipid tiêm bắp

sẽ cho tác dụng kéo dài hơn [2]

Betamethason phân bố nhanh chóng vào tất cả các mô trong cơ thể Thuốc qua nhau thai và có thể bài xuất vào sữa mẹ với lượng nhỏ Trong tuần hoàn, betamethason liên kết rộng rãi với các protein huyết tương, chủ yếu là với globulin còn với albumin thì ít hơn Các corticosteroid tổng hợp bao gồm betamethason, ít liên kết rộng rãi với protein hơn so với hydrocortison Nửa đời của chúng cũng có chiều hướng dài hơn; betamethason là một glucocorticoid tác dụng kéo dài Các corticosteroid được chuyển hóa chủ yếu ở gan nhưng cũng cả

ở thận và bài xuất vào nước tiểu Chuyển hóa của các corticosteroid tổng hợp, bao gồm betamethason, chậm hơn và ái lực liên kết protein của chúng thấp hơn, điều đó có thể giải thích hiệu lực mạnh hơn so với các corticosteroid tự nhiên [2] Nguy cơ lớn nhất liên quan đến việc sử dụng corticosteroid tại chỗ là hấp thu toàn thân dẫn đến ức chế trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận Trường hợp này rất hiếm gặp, chỉ tăng nguy cơ khi sử dụng một lượng lớn các chế phẩm hiệu lực cao trong thời gian dài Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi

có nguy cơ tác dụng toàn thân do tỷ lệ bề mặt da và cơ thể lớn hơn so với người lớn Phản ứng tại chỗ của corticosteroid hay gặp hơn, thường là teo, rạn

da và sự đổi màu của da [28]

1.5 Tình hình nghiên cứu điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu bằng steroid trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Báo cáo đầu tiên của Kikiro C S và cộng sự (1993) đã giới thiệu một cách tiếp cận mới, không phẫu thuật trong điều trị hẹp bao quy đầu [39] Nghiên cứu tại bệnh viện nhi Royal ở Úc về đánh giá hiệu quả điều trị hẹp bao quy đầu cho 63 trẻ trai bằng bôi thuốc mỡ betamethasone valerate 0,05%, hydrocortisone 1% hoặc hydrocortisone 2% tại bao quy đầu ba lần mỗi ngày,

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong 4 tuần Kết quả cho thấy, 51/63 ( 80,95%) trẻ trai có khả năng lộn được bao quy đầu, 12 trẻ trai còn lại phải cắt bao quy đầu

Sử dụng thuốc mỡ steroid tại chỗ điều trị hiệu quả hẹp bao quy đầu trong

đa số trường hợp nhưng nếu bao quy đầu có sẹo trắng thì phương pháp này ít

có kết quả Sau khi dừng bôi kem steroid, hẹp bao quy đầu tái phát ở một vài trẻ [64] Wright J E (1994) nghiên cứu điều trị bảo tồn cho 111 bệnh nhi tại

Úc cho kết quả thành công đạt 80% [64] Esposito C và công sự (2008) cũng thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả của steroid bôi tại chỗ với kem giả dược thấy kết quả thành công là 65,8% cao hơn giả dược chỉ 16,6% [26] Ngay cả ở những trường hợp trẻ có hẹp bao quy đầu nặng được báo cáo trong nghiên cứu của Lee CH (2013) cũng có sự cải thiện rõ rệt khi điều trị bằng thuốc bôi steroid, tỷ lệ thành công đến 68,2% [41]

Nghiên cứu của Nzayisenga J B M và cộng sự (2005) so sánh chi phí điều trị giữa 3 phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu Kết quả ghi nhận điều trị bằng steroid tại chỗ là hiệu quả kinh tế nhất với chi phí từ 758 đô la đến

800 đô la cho mỗi trường hợp Trong khi đó chi phí phẫu thuật tạo hình bao quy đầu từ 2515 đô la đến 2580 đô la, chi phí cắt bao quy đầu từ 3009 đô la đến 3241 đô la Chi phí hiệu quả nhất để điều trị là sử dụng steroid tại chỗ với betamethasone 0,05% trong 4 đến 6 tuần [49] Phương pháp này tiết kiệm được 75% chi phí so với cắt bao quy đầu Can thiệp phẫu thuật chỉ lựa chọn khi điều trị tại chỗ thất bại

Thống kê so sánh hiệu quả kinh tế giữa phẫu thuật và dùng steroid tại chỗ của Berdeu D và cộng sự tại Pháp (2001), tỷ lệ thành công khi điều trị với steroid là 85%, giảm chi phí đến 75%, tiết kiệm khoảng 150 triệu Phăng trong một năm [10]

Orsola A và cộng sự từ năm 1997 đến 1998 đã tiến hành nghiên cứu tiến cứu đánh giá kết quả lâu dài của việc sử dụng steroid tại chỗ trong điều trị hẹp bao quy đầu cho 137 trẻ trai tại phòng khám niệu nhi ở Fundacio Pulgvert ở

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tây Ban Nha [51] Steroid được dùng là betamethasone dipropionate 0,05%, bôi tại chỗ 2 lần/ ngày trong 1 tháng Kết quả đánh giá vào cuối đợt và 6 tháng sau cho thấy có 90% (124) trẻ trai bao quy đầu có thể lộn ra dễ dàng, không có vòng hẹp xơ, không thấy khác biệt trong tỷ lệ đáp ứng giữa những trẻ hẹp bao quy đầu sinh lý và hẹp bao quy đầu bệnh lý Trong tất cả 137 trẻ, betamethasone được dung nạp tốt mà không có tác dụng phụ tại chỗ hoặc toàn thân Nghiên cứu của Nzayisenga J B M (2005) tại Zambia khi điều trị bằng batamethasone 0,1% cũng đạt kết quả tương tự với tỷ lệ thành công 89% [49] Năm 2000, Lund L và cộng sự nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên mù đôi tại Hồng Kông đánh giá hiệu quả điều trị hẹp bao quy đầu bằng steroid bôi tại chỗ cho 137 trẻ trai Số lượng trẻ được chia thành 2 nhóm, một nhóm sử dụng betamethasone (n=66) và một nhóm dùng giả dược (n=71) Điều trị được thực hiện trong 4 tuần, dùng kem bôi 2 lần/ ngày, điều trị thêm 4 tuần nếu không đáp ứng Sau 4 tuần điều trị, 49 trẻ (74%) dùng betamethasone có thể lộn được bao quy đầu, còn nhóm dùng giả dược chỉ có 31 (44%) trẻ có thể lộn được bao quy đầu Lund cho rằng steroid tại chỗ nên lựa chọn đầu tiên, giúp tránh được phẫu thuật gần 90% các trường hợp [43]

Đối với những trường hợp viêm xơ chít hẹp bao quy đầu, Vincent M V (2005) nghiên cứu trên 56 trẻ trai được chẩn đoán viêm xơ chít hẹp bao quy đầu tại phòng khám nhi bệnh viện nhi Sheffield, kết quả cho thấy, steroid chỉ

có hiệu quả trên những trường hợp viêm xơ chít hẹp bao quy đầu nhẹ với sẹo nhỏ mới hình thành, còn khi sẹo đã có từ lâu thì steroid không có tác dụng [61] Celis S và cộng sự thực hiện nghiên cứu lại y văn những trường hợp điều trị viêm xơ chít hẹp bao quy đầu từ năm 1995 đến năm 2013 đã ghi nhận phẫu thuật là phương pháp điều trị chính, nhưng steroid tại chỗ cũng có kết quả khả quan, có thể xem xét thay thế phẫu thuật [13]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Hẹp bao quy đầu là tình trạng rất phổ biến ở trẻ trai Hẹp bao quy đầu có thể là hẹp sinh lý hoặc bệnh lý Có hai phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu

là phẫu thuật (cắt tạo hình bao quy đầu) và điều trị bảo tồn bằng kem steroid bôi tại chỗ kết hợp nong bao quy đầu Đến nay, việc chỉ định cắt bao quy đầu hay điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau [20]

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Tiến và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị bảo tồn hẹp bao quy đầu với kem betamethasone dipropionate 0,05% cho 319

Lần đầu, tại bệnh viện, sau khi gây tê tại chỗ, các bác sĩ dùng một thông sắt nhỏ hoặc kìm cong, nong tách dính giữa quy đầu và bao quy đầu cho tới rãnh quy đầu Sau đó, rửa sạch các chất cặn bẩn và bôi trơn quy đầu và bao quy đầu bằng betamethasone 0,05% Kỹ thuật này phải nhẹ nhàng, không làm rách da bao quy đầu gây chảy máu Toàn bộ thao tác được hướng dẫn lại cho phụ huynh trẻ để tự làm ở nhà hai lần/ngày, thực hiện liên tục trong 1 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ thành công 90,5% Tác giả nhận định, phương pháp dùng kem bôi betamethasone 0,05% được thực hiện đơn giản, ít tốn kém Kết quả tái khám cho thấy tỷ lệ thành công không liên quan đến yếu tố tuổi, mà tùy theo thể bệnh Tỷ lệ thành công cao ở những trẻ trai hẹp bao quy đầu do dính và thấp hơn ở những trẻ có sẹo xơ hóa hoặc kèm vùi dương vật [5]

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả học sinh nam ở độ tuổi từ 6 - 10 tuổi, của trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Tất cả học sinh nam ở độ tuổi từ 6 - 10, có bộ phận sinh dục ngoài bình

thường

- Chọn những học sinh nam bị hẹp bao quy đầu (từ loại I - IV theo phân loại của Kayaba [38])

- Bố mẹ học sinh và học sinh tự nguyện tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Học sinh có dị tật lỗ tiểu kèm theo

- Hẹp bao quy đầu bệnh lý

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Chọn chủ đích trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

- Lý do chọn địa điểm nghiên cứu: Chọn chủ đích hai trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh vì đây là hai trường tiểu học ở hai

xã thuộc diện còn khó khăn của huyện Phú Lương; sự hiểu biết của người dân

về các vấn đề sức khỏe nhất là sức khỏe lứa tuổi học đường còn có phần hạn chế, các bậc phụ huynh còn chưa thực sự quan tâm, chú trọng đến sức khỏe con em mình Trong nghiên cứu điều trị nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% tại hai trường tiểu học, học sinh không phải trả chi phí nghiên cứu, chi phí nghiên cứu do nghiên cứu viên tự túc

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 11, 12 năm 2014, sau khi được sự cho phép tiến hành nghiên cứu trên học sinh của Hiệu trưởng Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên Toàn bộ thời gian nghiên cứu được thực hiện trong 8 tuần, trong đó 2 tuần đầu thực hiện khám sàng lọc các trẻ bị hẹp bao quy đầu và làm xét nghiệm nước tiểu; tiếp theo tiến hành điều trị nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% và đánh giá kết quả sau 6 tuần điều trị

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu can thiệp so sánh trước và sau khi điều trị Nghiên cứu gồm 2 giai đoạn:

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mô tả thực trạng hẹp bao quy đầu của học sinh nam từ 6 - 10 của trường tiểu học Hợp Thành và trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

- Từ kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn các học sinh nam bị hẹp bao quy đầu (loại I đến loại IV theo phân loại Kayaba H 1996); tiến hành nghiên cứu can thiệp nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% và đánh giá kết quả sau 6 tuần điều trị

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Đối với nghiên cứu mô tả: Chọn mẫu thuận tiện Chọn toàn bộ 353 học sinh nam từ 6 - 10 tuổi tại Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh của huyện Phú Lương - Thái Nguyên Vì nghiên cứu được thực hiện tại hai trường tiểu học, do đó lựa chọn lứa tuổi đang học tiểu học là từ 6 - 10 tuổi

* Đối với nghiên cứu can thiệp: Chọn mẫu thuận tiện có chủ đích Chọn toàn bộ 273 học sinh nam được chẩn đoán xác định có hẹp bao quy đầu

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

từ nghiên cứu mô tả vào nhóm nghiên cứu Học sinh và bố (mẹ) học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu

2.3.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

* Phương pháp xét nghiệm nước tiểu

- Phương pháp lấy mẫu nước tiểu: Hướng dẫn bố (mẹ) học sinh và học sinh lấy nước tiểu vào ống đựng bệnh phẩm như sau:

+ Phát cho mỗi học sinh một ống nghiệm đựng nước tiểu có nắp đậy kín

và đã dán mã số theo mã nghiên cứu trên phiếu điều tra

+ Thời gian lấy nước tiểu: Dặn bố (mẹ) học sinh và học sinh lấy nước tiểu vào 6 giờ sáng sau khi ngủ dậy Hướng dẫn bố (mẹ) học sinh và học sinh trước khi lấy nước tiểu cần vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài bằng nước sạch và

xà phòng, sau đó lau khô bằng khăn sạch

+ Phương pháp lấy nước tiểu: Hướng dẫn học sinh và bố (mẹ) học sinh khi lấy nước tiểu thì bỏ phần nước tiểu đầu bãi, sau đó lấy nước tiểu giữa bãi vào ống nghiệm (khoảng 2/3 ống) rồi đậy kín nắp ống nghiệm lại Bố (mẹ) học sinh giám sát việc lấy nước tiểu của học sinh

- Loại que thử làm xét nghiệm nước tiểu: Sử dụng que thử nước tiểu 10 thông số loại ACON Mission

- Cách làm xét nghiệm nước tiểu: Sau khi lấy được mẫu nước tiểu, nghiên cứu viên dùng que thử nước tiểu thả ngập vào trong ống nghiệm đựng nước tiểu mẫu (trừ phần cán que thử), để khoảng 1 - 2 phút rồi lấy ra đọc kết quả

- Cách đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu: Lấy que thử nươc tiểu trong ống nghiệm ra so sánh ngay sự thay đổi màu sắc trên que thử với bảng màu sắc mẫu trên lọ đựng que thử để xác định sự có mặt của các thành phần trong nước tiểu

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Tiêu chuẩn đánh giá nhiễm khuẩn tiết niệu: Xác định có nhiễm khuẩn tiết niệu khi kết quả xét nghiệm nước tiểu chứng tỏ có cả Leukocyte và Nitrite trong nước tiểu

Hình 2.1 Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử

* Phương pháp điều trị hẹp bao quy đầu: Nong bao quy đầu bằng

dụng cụ sau đó tiến hành bôi thuốc mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và bao quy đầu

- Địa điểm thực hiện phương pháp điều trị: Phòng y tế của Trường tiểu học Hợp Thành và Trường tiểu học Tức Tranh, huyện Phú Lương - Thái Nguyên

- Dụng cụ nong bao quy đầu: Bộ panh tiểu phẫu cỡ nhỏ, gạc vô khuẩn, găng tay vô khuẩn

- Thuốc:

+ Thuốc để thực hiện thủ thuật:

Lidocain 10% dạng xịt Dung dịch betadin, nước muối sinh lý + Thuốc bôi tại bao quy đầu:

Betamethasone 0,05%

Biệt dược: Medskin Beta Nhà sản xuất: Công ty cổ phần dược Hậu Giang

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Thuốc uống sau khi làm thủ thuật:

Paracetamol 500mg (phát cho trẻ uống sau khi nong và bôi thuốc, liều 10 - 15mg/kg cân nặng)

- Kỹ thuật nong bao quy đầu và bôi thuốc betamethasone 0,05%: Trước tiên, trẻ được gây tê tại chỗ bao quy đầu bằng Lidocain 10%, dạng xịt Sau

đó, dùng panh nhỏ nong nhẹ nhàng lỗ bao quy đầu (không gây rách bao quy đầu) để tách dính giữa quy đầu và niêm mạc bao quy đầu, tách đến tận rãnh quy đầu Rửa sạch cặn bã bẩn, bôi trơn quy đầu và niêm mạc bao quy đầu bằng Betamethasone 0,05% Khi nong tách dính cần chú ý nhẹ nhàng, tránh làm rách da bao quy đầu gây chảy máu, dẫn đến nguy cơ tạo sẹo về sau

: + Bôi thuốc 2 lần/ ngày, vào buổi sáng trước khi đi học và buổi tối sau khi tắm

+ Trước khi bôi thuốc, phải vệ sinh bộ phận sinh dụ ằng

+ Kéo lộn bao quy đầu căng đến mức có thể (không gây đau cho trẻ) rồi bôi mỡ betamethasone 0,05% lên quy đầu và da bao quy đầu

+ Hẹn lịch khám lại cho học sinh sau 6 tuần để đánh giá kết quả điều trị

- Hướng dẫn bố (mẹ) học sinh và học sinh trong quá trình điều trị tại nhà, khi kéo bao quy đầu lên để vệ sinh rồi bôi thuốc phải kéo lại bao quy đầu

về vị trí cũ để tránh thắt nghẹt bao quy đầu (paraphimosis) Trường hợp không kéo được bao quy đầu xuống thì phải đến ngay cơ sở y tế gần nhất hoặc báo cho bác sỹ theo số điện thoại ghi trên phiếu hướng dẫn

- Trong quá trình bôi thuốc tại nhà, nếu thấy xuất hiện mẩn ngứa; sưng đau bao quy đầu và quy đầu, thay đổi màu sắc hay bất cứ bất thường nào tại bao quy đầu và quy đầu cần điện thoại cho bác sỹ theo số điện thoại ghi trong

tờ hướng dẫn để được tư vấn

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

* Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1

- Hình thái bao quy đầu, được đánh giá và phân thành 5 loại theo Kayaba

H (1996) [38]

- Tình trạng niêm mạc bao quy đầu

- Tiền sử có sưng, đau quy đầu, bao quy đầu

- Tiền sử có đái buốt, đái rắt

- Tình trạng biến chứng do hẹp bao quy đầu (viêm bao quy đầu, viêm đường tiết niệu)

- Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Nhiễm khuẩn tiết niệu (khi có cả Leukocyte và Nitrite trong nước tiểu)

* Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2

- Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05% sau 6 tuần điều trị So sánh hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị

- Tỷ lệ các loại hình thái bao quy đầu sau khi điều trị (theo phân loại của Kayaba H [38])

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với hình thái bao quy đầu

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với tình trạng niêm mạc bao quy đầu

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu và việc tuân thủ điều trị

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với trình độ học vấn của bố, mẹ học sinh

- Mối liên quan giữa kết quả điều trị hẹp bao quy đầu với dân tộc của bố,

mẹ học sinh

2.5 Biến số nghiên cứu và cách đánh giá

- Tuổi của học sinh: tính theo năm dương lịch

- Hình thái bao quy đầu: Khám và phân theo Kayaba H (1996) [38]:

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hình 2.2 Phân loại bao quy đầu

“Nguồn Kayaba H (1996) [38]”

+ Loại I: Bao quy đầu lộn ra không hở lỗ sáo

+ Loại II: Bao quy đầu lộn ra chỉ để hở lỗ sáo

+ Loại III: Bao quy đầu lộn ra để lộ trong khoảng 1/2 quy đầu tính từ lỗ sáo + Loại IV: Bao quy đầu lộn ra để lộ quá 1/2 quy đầu tính từ lỗ sáo nhưng chưa hở rãnh quy đầu

+ Loại V: Bao quy đầu lộn ra dễ dàng, để lộ hoàn toàn quy đầu

Trong đó, từ loại I đến loại IV là hẹp bao quy đầu với mức độ giảm dần, loại V là bao quy đầu bình thường (bao quy đầu không hẹp)

- Tình trạng niêm mạc bao quy đầu:

+ Tiêu chuẩn đánh giá:

Viêm: Niêm mạc bao quy đầu dày đỏ, mất bóng, lộn bao quy đầu

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Thời điểm đánh giá: Tại thời điểm điều tra

- Tiền sử sưng, đau vùng quy đầu: Trước thời điểm điều tra, học sinh đã từng bị sưng đỏ, đau ở vùng quy đầu

- Tiền sử đái buốt, đái rắt: Trước thời điểm điều tra, học sinh đã từng bị

đi đái buốt, đái rắt (ngày đi đái nhiều lần nhưng mỗi lần chỉ đái được ít nước tiểu, đi tiểu xong một lúc lại có cảm giác buồn tiểu)

- Nhiễm khuẩn tiết niệu:

+ Tiêu chuẩn đánh giá: Kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử có

cả Leucocyte và Nitrit

+ Thời điểm đánh giá: Tại thời điểm điều tra

- Hình thái bao quy đầu sau 6 tuần điều trị: theo phân loại của Kayaba [38]

- Kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi Betamethasone 0,05%: + Thời điểm đánh giá: Sau 6 tuần điều trị

+ Tiêu chuẩn đánh giá:

Kết quả tốt: Da bao quy đầu khi lộn để lộ hết quy đầu và rãnh quy đầu, khi kéo xuống không gây thắt nghẹt bao quy đầu Kết quả trung bình: Mức độ hẹp bao quy đầu có cải thiện

so với trước khi điều trị

Không kết quả: Tình trạng hẹp bao quy đầu không cải thiện so với trước khi điều trị

- Tai biến trong khi làm thủ thuật:

+ Rạn, rách bao quy đầu gây chảy máu

+ Tác dụng phụ của lidocain 10% dạng xịt: mẩn ngứa xuất hiện ngay sau khi xịt, sốc phản vệ

- Biến chứng sau khi làm thủ thuật:

+ Thắt nghẹt bao quy đầu: bao quy đầu sau khi lộn ra không kéo trở lại

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vị trí cũ ngay gây thắt nghẹt, bao quy đầu phù nề, sưng mọng

+ Nhiễm trùng bao quy đầu: bao quy đầu sưng tấy, có mủ

- Tác dụng phụ của thuốc betamethasone 0,05%:

+ Dị ứng: da bao quy đầu mẩn đỏ, ngứa, khi ngừng bôi thuốc thì hết + Teo da: da bao quy đầu mỏng, mạch máu nổi rõ

+ Thay đổi màu sắc da bao quy đầu

- Tuân thủ điều trị tại nhà của bố (mẹ) học sinh và học sinh:

+ Có tuân thủ: Thực hiện đúng theo phương pháp điều trị đã được nghiên cứu viên hướng dẫn

+ Không tuân thủ: Không thực hiện đúng theo phương pháp điều trị do nghiên cứu viên hướng dẫn

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

- Nghiên cứu viên trực tiếp khám, chẩn đoán, phân loại đối tượng nghiên cứu vào 5 nhóm dựa theo phân loại bao quy đầu của Kayaba H [38], sau đó chọn những học sinh nam có bao quy đầu thuộc loại I, loại II, loại III, loại IV đồng ý tham gia điều trị để can thiệp và hướng dẫn điều trị bảo tồn tại nhà Các số liệu được thu thập theo mẫu phiếu điều tra

- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học Sử dụng chương trình phần mềm SPSS 16.0 Tần suất và tỷ lệ phần trăm được sử dụng để mô tả các đặc điểm về hẹp bao quy đầu ở học sinh nam Đánh giá kết quả điều trị với kiểm định χ2

Kết quả có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

2.7 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu này nhằm mục đích nâng cao sức khỏe cộng đồng, ngoài ra không nhằm một mục đích nào khác Đề tài đã được Hội đồng thông qua đề cương

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/

của Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên cho phép tiến hành nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện với tinh thần thái đội nghiêm túc, tôn trọng học sinh, được sự đồng ý của học sinh bố (mẹ) học sinh Giải thích kỹ mục đích và cách tiến hành kỹ thuật cho bố hoặc mẹ của học sinh Lựa chọn vào nghiên cứu những học sinh có sự chấp thuận của gia đình Đảm bảo giữ bí mật kết quả nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi cho gia đình học sinh dưới

sự giám sát của giáo viên hướng dẫn

2.8 Hạn chế của đề tài

- Do đề tài thực hiện tại 2 xã khó khăn của huyện Phú Lương, quy trình triển khai thực hiện qua nhiều bước nên việc đánh giá kết quả chỉ thực hiện sau 6 tuần để không ảnh hưởng việc học của học sinh và hoạt động chuyên môn của nhà trường

- Do hạn chế về nguồn tài chính, nguồn nhân lực, lần đầu tiên áp dụng phương pháp nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi thuốc Betamethasone 0,05% tại cộng đồng nên số lượng học sinh trong nghiên cứu còn hạn chế

Ngày đăng: 28/12/2015, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Ngoại (2002). Bệnh lý hẹp bao quy đầu, .2. Betamethasone, (2002).. Tr. 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý hẹp bao quy đầu, ". 2. "Betamethasone
Tác giả: Bộ môn Ngoại (2002). Bệnh lý hẹp bao quy đầu, .2. Betamethasone
Năm: 2002
6. (2012). "Giá trị que thấm chẩn đoán nhanh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 16- Số 2.B. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị que thấm chẩn đoán nhanh nhiễm trùng tiểu ở trẻ em
Năm: 2012
7. Ashfield J E, Nickel K R. (2003), "Treatment of phimosis with topical steroids in 194 children", J Urol, 169 (3), pp 1106 -1108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of phimosis with topical steroids in 194 children
Tác giả: Ashfield J E, Nickel K R
Năm: 2003
8. Babu R, Harrison S K, Hutton K A. (2004), "Ballooning of the foreskin and physiological phimosis: is there any objective evidence of obstructed voiding?", BJU Int, 94 (3), pp 384-387 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ballooning of the foreskin and physiological phimosis: is there any objective evidence of obstructed voiding
Tác giả: Babu R, Harrison S K, Hutton K A
Năm: 2004
9. Bell L.E, Mattoo T.K. (2009), "Update on childhood urinary tract infection and vesicoureteral reflux", Semin Nephrol, 29, pp 349-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Update on childhood urinary tract infection and vesicoureteral reflux
Tác giả: Bell L.E, Mattoo T.K
Năm: 2009
10. Berdeu D, Sauze L. (2001),"Cost-effectiveness analysis of treatment for phimosis: a comparison of surgical and medicinal approaches and their economic effect", BJU International, 87, pp 239 – 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost-effectiveness analysis of treatment for phimosis: a comparison of surgical and medicinal approaches and their economic effect
Tác giả: Berdeu D, Sauze L
Năm: 2001
11. Birley H D, Walker M M. (1993), "Clinical features and management of recurrent balanitis; association with recurrent washing", Genitourin.Med 69, pp 400-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical features and management of recurrent balanitis; association with recurrent washing
Tác giả: Birley H D, Walker M M
Năm: 1993
12. Caljouw M A A, Elzen W P J. (2011), "Predictive factors of urinary tract infections among the oldest old in the general population. a population-based prospective follow-up study", Published online May 16, 2011,9 (57)), pp 10.1186/1741-7015-9-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictive factors of urinary tract infections among the oldest old in the general population. a population-based prospective follow-up study
Tác giả: Caljouw M A A, Elzen W P J
Năm: 2011
13. Celis S, Reed F, Murphy F. (2014), "Balanitis xerotica obliterans in chilren and aldolescents: a literature review and clinical series", J Pediatr Urol,vol 10 (1), pp 34-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balanitis xerotica obliterans in chilren and aldolescents: a literature review and clinical series
Tác giả: Celis S, Reed F, Murphy F
Năm: 2014
14. Chu, C. C., Chen, K.C., Diau, G.Y. (1999), "Topical steroid treatment of phimosis in boys.". J. Urol,162, pp 861-863 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Topical steroid treatment of phimosis in boys
Tác giả: Chu, C. C., Chen, K.C., Diau, G.Y
Năm: 1999
15. Clark C J, Kennedy W A. (2010), "Urinary tract infection in children: when to worry". Urol Clin North Am, 37 (2), pp 229-241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Urinary tract infection in children: when to worry
Tác giả: Clark C J, Kennedy W A
Năm: 2010
16. Cold C J, Taylor J R. (1999), "The prepuce", BJU Int,83 (1), pp 34-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The prepuce
Tác giả: Cold C J, Taylor J R
Năm: 1999
17. Conway P H, Cnaan A. (2007), "Recurrent urinary tract infections in children: risk factors and association with prophylactic antimicrobials.", JAMA,298 (2), pp 179-186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recurrent urinary tract infections in children: risk factors and association with prophylactic antimicrobials
Tác giả: Conway P H, Cnaan A
Năm: 2007
18. Davenport M. (1996), "ABC of general surgery in children. Problems with the penis and prepuce", BMJ, 312, pp 299-301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ABC of general surgery in children. Problems with the penis and prepuce
Tác giả: Davenport M
Năm: 1996
19. Deibert G A. (1933), "The separation of the prepuce in the humen penis", Anat Rec, 57 (4)pp 387-389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The separation of the prepuce in the humen penis
Tác giả: Deibert G A
Năm: 1933
20. Dewan PE. (2003), "Treating phimosis", Med J,178 (4), pp 148 – 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treating phimosis
Tác giả: Dewan PE
Năm: 2003
21. Dobanovacki D, Lucić Prostran B. (2012), "Prepuce in boys and adolescents: what when, and how?", Med Pregl 65 (7 -8 ), pp 295-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prepuce in boys and adolescents: what when, and how
Tác giả: Dobanovacki D, Lucić Prostran B
Năm: 2012
23. Elmore JM, Baker LA, Snodgrass WT. (2002), "Topical steroid therapy as an alternative to circumcision for phimosis in boys younger than 3 years", J Urol,168 (4), pp 1746 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Topical steroid therapy as an alternative to circumcision for phimosis in boys younger than 3 years
Tác giả: Elmore JM, Baker LA, Snodgrass WT
Năm: 2002
24. Eric T, Herfindal D. (2011), "Corticosteroid, Goodman &amp; Gilman's pharmacological basis of therapeutics", pp 165-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Corticosteroid, Goodman & Gilman's pharmacological basis of therapeutics
Tác giả: Eric T, Herfindal D
Năm: 2011
25. Escala J M, Rickwood A M. (1989), "Balanitis", Br. J. Urol, 63, pp 196-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balanitis
Tác giả: Escala J M, Rickwood A M
Năm: 1989

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hẹp bao quy đầu sinh lý.“Nguồn Hutton K A (2008) [36]” - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Hình 1.1. Hẹp bao quy đầu sinh lý.“Nguồn Hutton K A (2008) [36]” (Trang 18)
Hình 2.1. Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Hình 2.1. Đọc kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử (Trang 34)
Bảng 3.2. Phân loại hình thái bao quy đầu theo tuổi - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.2. Phân loại hình thái bao quy đầu theo tuổi (Trang 42)
Bảng 3.3. Tỷ lệ hẹp bao quy đầu theo tuổi - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.3. Tỷ lệ hẹp bao quy đầu theo tuổi (Trang 43)
Bảng 3.4. Tình trạng niêm mạc bao quy đầu theo tuổi - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.4. Tình trạng niêm mạc bao quy đầu theo tuổi (Trang 44)
Bảng 3.5. Liên quan giữa tình trạng niêm mạc bao quy đầu với hình thái - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.5. Liên quan giữa tình trạng niêm mạc bao quy đầu với hình thái (Trang 45)
Bảng 3.6. Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu theo tuổi - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.6. Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu theo tuổi (Trang 46)
Bảng 3.7. Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu và hình thái bao quy đầu - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.7. Kết quả Leucocyte, nitrit nước tiểu và hình thái bao quy đầu (Trang 47)
Bảng 3.8. Kết quả leucocyte, nitrit nước tiểu và   tình trạng niêm mạc bao quy đầu (n=280) - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.8. Kết quả leucocyte, nitrit nước tiểu và tình trạng niêm mạc bao quy đầu (n=280) (Trang 48)
Bảng 3.11. Tỷ lệ hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.11. Tỷ lệ hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị (Trang 51)
Hình thái - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Hình th ái (Trang 52)
Bảng 3.12. Hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.12. Hình thái bao quy đầu trước và sau khi điều trị (Trang 52)
Hình thái - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Hình th ái (Trang 53)
Bảng 3.15. Liên quan giữa kết quả điều trị và sự tuân thủ điều trị - Đánh giá kết quả nong hẹp bao quy đầu kết hợp bôi betamethasone 0,05% cho học sinh từ 6-10 tuổi tại 2 xã của huyện phú lương thái nguyên
Bảng 3.15. Liên quan giữa kết quả điều trị và sự tuân thủ điều trị (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w