Việc một siêu cường như Mỹ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào các quốc gia có chủ quyền là điều không mới, nhưng khi Mỹ bất ngờ đưa ra học thuyết “đánh đòn phủ đầu”, ưu tiên sử dụng s
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Trang 2HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Hoàng Giáp
2 TS Doãn Mai Linh
Hà Nội - 2015
Trang 3Tôi cam đoan Luận án "Chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ từ năm 2001 đến nay" là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận án
Ngô Mạnh Hùng
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến PGS TS Nguyễn Hoàng Giáp và
TS Doãn Mai Linh đã tận tình, hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành Luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, giảng viên Học viện Ngoại giao, các chuyên gia, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu châu Mỹ, Viện Sử học, Viện Quan hệ quốc tế (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đã đọc góp ý, cung cấp kiến thức, tài liệu
Xin cảm ơn cán bộ, nhân viên Khoa Đào tạo sau Đại học đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh học tập và hoàn thành luận án Đặc biệt, gia đình luôn là nguồn động viên, ủng hộ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Học viện Ngoại giao
Tác giả luận án
Trang 5GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
NATO North Atlantic Treaty
Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NMD National Missile Defense Phòng thủ tên lửa quốc gia
OSCE Organization for Security and
Cooperation in Europe
Tổ chức An ninh và hợp tác châu
Âu
Cooperation in Southeast Asia
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác
ở Đông Nam Á TMD Theater Missile Defense Phòng thủ tên lửa chiến trường WMD Weapon of Mass Destruction Vũ khí hủy diệt hàng loạt
Trang 6ii
Trang
MỸ GIAI ĐOẠN 2001-2015
12 1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Một số luận điểm sử dụng sức mạnh quân sự trong quan hệ quốc tế 12
1.1.2 Tư duy quân sự Mỹ 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Bối cảnh quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI: Những thách thức chủ yếu đối với quân sự Mỹ
25 1.2.2 Tình hình nước Mỹ 34
1.2.3 Kết quả triển khai chiến lược quân sự của Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton
44 Tiểu kết 49
Chương 2 NỘI DUNG VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TOÀN CẦU CỦA MỸ GIAI ĐOẠN 2001 -2015
51 2.1 Nội dung chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ …… 51
2.1.1 Mục tiêu chiến lược 51
2.1.2 Nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng quân sự Mỹ 57
2.1.3 Đối tượng chiến lược, các loại hình chiến tranh 61
2.2 Quá trình triển khai chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ 64
2.2.1 Tiến hành chiến tranh, chiến dịch quân sự 64
2.2.2 Điều chỉnh bố trí lực lượng quân sự ở nước ngoài 69
2.2.3 Tăng cường hiện đại hóa quân đội, nâng cao tiềm lực quốc phòng 73
2.2.4 Thúc đẩy hợp tác quân sự - quốc phòng 78
2.3 Đặc điểm chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ 83
2.3.1 Chiến lược quân sự mang tính cường quyền, phục vụ bá quyền ………… 83
2.3.2 Lấy an ninh quốc gia làm nền tảng 85
2.3.3 Coi trọng triển khai lực lượng ở nước ngoài 86
Trang 7iii
Tiểu kết 90
Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TOÀN CẦU CỦA MỸ ĐẾN NƯỚC MỸ VÀ AN NINH, CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ 92 3.1 Tác động đến nước Mỹ 92
3.1.1 Tác động đến vị thế, quyền lực của nước Mỹ 92
3.1.2 Tác động đến việc thực hiện các mục tiêu an ninh quốc gia Mỹ 94
3.1.3 Tác động đến kinh tế Mỹ 99
3.2 Tác động đến khu vực Trung Á, Trung Đông – Bắc Phi 102
3.2.1 Tác động đến tình hình an ninh 102
3.2.2 Tác động đến so sánh lực lượng ……… 106
3.2.3 Sự phát triển của lực lượng khủng bố quốc tế … 108
3.3 Tác động đến khu vực châu Âu 111
3.3.1 Tác động đến tình hình an ninh 111
3.3.2 Tác động đến so sánh lực lượng ……… ……… 117
3.3.3 Mâu thuẫn đối kháng giữa Mỹ và Nga 119
3.4 Tác động đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương 122
3.4.1 Tác động đến tình hình an ninh 122
3.4.2 Tác động đến so sánh lực lượng 127
3.4.3 Cạnh tranh sức mạnh và ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc 132
3.4.4 Tác động đến Việt Nam 135
3.5 Một số dự báo 138
3.5.1 Về xu hướng Mỹ sử dụng quân sự trong quan hệ quốc tế 138
3.5.2 Về trọng tâm chiến lược quân sự của Mỹ 139
3.5.3 Xu hướng quan hệ quân sự giữa Mỹ với các nước 140
Tiểu kết …… 142
KẾT LUẬN 144
KIẾN NGHỊ 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ 151
Trang 8iv
PHỤ LỤC 167 Phụ lục 1 Hệ thống bảng biểu, số liệu
Phụ lục 2 Một số chiến lược quân sự của Mỹ trong chiến tranh Lạnh
Phụ lục 3 Một số học thuyết quân sự của Mỹ thời gian gần đây
Trang 91 Lý do chọn đề tài
Quân sự – quốc phòng là một trong những lĩnh vực, nhân tố quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại vì quá trình dịch chuyển quyền lực trong môi trường quốc tế chịu tác động và hậu thuẫn tích cực của lực lượng quân sự Sức mạnh quân sự vẫn tiếp tục là một trong những phương tiện chủ yếu được sử dụng
để giải quyết xung đột, mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế khi các biện pháp ngoại giao, kinh tế không phát huy được tác dụng
Mỹ là chủ thể đặc biệt quan trọng trong hệ thống quốc tế đương đại Với tiềm lực quân sự đứng đầu thế giới, mỗi hành động quân sự của Mỹ ở nước ngoài đều có tác động trực tiếp đến quốc gia mà Mỹ coi là đối tượng, đối thủ và tác động nhất định đối với khu vực và thế giới Giới lãnh đạo Mỹ luôn tuỳ thuộc vào bản chất của cuộc xung đột và mức độ lợi ích để đề ra cách thức giải quyết bằng lực lượng quân sự hoặc sử dụng đồng bộ tất cả các biện pháp và phương tiện nhằm đảm bảo an ninh quốc gia ở mức cao nhất, đồng thời phục vụ việc tập hợp lực lượng và duy trì địa vị của Mỹ trên trường quốc tế
Từ năm 2001 đến nay, quan hệ quốc tế bị chi phối bởi nhiều nhân tố mới, trong đó là sự trỗi dậy về mọi mặt của một số cường quốc, nhất là Trung Quốc Thế giới đã chứng kiến các cuộc chiến tranh tại Afghanistan, Iraq, chiến dịch quân sự tại Libya, Syria đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến Mỹ Việc một siêu cường như Mỹ phát động chiến dịch quân sự nhằm vào các quốc gia có chủ quyền là điều không mới, nhưng khi Mỹ bất ngờ đưa ra học thuyết “đánh đòn phủ đầu”, ưu tiên sử dụng sức mạnh cứng, triển khai cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu, sử dụng lý do chống khủng bố để tập hợp lực lượng đã khiến cho giới chính trị, quân sự nhiều nước bất ngờ và cho rằng Mỹ đã thay đổi chiến lược quân
sự Đặc biệt, từ năm 2012 trở lại đây, Mỹ đẩy mạnh hiện diện quân sự tại châu Á
- Thái Bình Dương, tăng cường can dự vào các vấn đề an ninh, quốc phòng tại khu vực, khiến cho tình hình an ninh, quan hệ giữa các quốc gia liên quan có nhiều biến chuyển mới Do vậy, câu hỏi đặt ra là: Tại sao Mỹ lại có những hành
Trang 10động quân sự mạnh mẽ đến vậy? Chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ có những thay đổi nào? Các hoạt động quân sự của Mỹ từ năm 2001 đến nay đã tác động như thế nào đến trật tự thế giới và khu vực, thế cân bằng lực lượng tại các khu vực trọng điểm? Quan hệ giữa Mỹ với các trung tâm quyền lực trong bàn cờ chính trị quốc tế đầu thế kỷ XXI là Tây Ây, Nga, Trung Quốc có những thay đổi
ra sao Đây là những vấn đề cần phải nghiên cứu và giải đáp dưới góc độ quan hệ quốc tế
Trên phương diện nghiên cứu chiến lược, những động thái quân sự thời gian qua của một siêu cường như Mỹ đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu để nắm bắt những thay đổi về mục tiêu, phương châm hành động quân sự của Mỹ cũng như xác định những vấn đề có tính quy luật, ổn định và xuyên suốt trong chiến lược quân sự toàn cầu của quốc gia này Từ đó, có thể đánh giá chính xác tình hình, cục diện an ninh - chính trị liên quan, dự báo tình hình liên quan và đưa ra những kiến nghị về đường lối, chính sách của Việt Nam trong quan hệ với đối tác đặc biệt là Mỹ
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài:“Chiến lược quân sự toàn cầu của
Mỹ từ năm 2001 đến nay” làm Luận án tiến sỹ chuyên ngành quan hệ quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về luận điểm sử dụng sức mạnh quân sự trong quan hệ quốc tế
- Công trình nghiên cứu của nước ngoài
Hans J Morgenthau (1948), “Political Power” trong cuốn Politics among
Nations: The Struggle for Power and Peace, nhận định: Mục tiêu chính trị của việc chuẩn bị quân sự dưới bất kì hình thức nào là nhằm răn đe những quốc gia khác không dám tấn công bằng cách làm cho việc tấn công trở nên quá rủi ro không đáng để thực hiện Nói cách khác, mục tiêu chính trị của chiến tranh không chỉ đơn thuần là chinh phục lãnh thổ và tiêu diệt quân đội kẻ thù mà còn khiến cho đối thủ tiềm năng từ bỏ ý định sử dụng vũ lực quân sự, thay đổi suy nghĩ của
kẻ thù và làm cho họ phải tuân theo ý chí của người chiến thắng [139]
Trang 11Bàn về vấn đề sử dụng sức mạnh cứng trong quan hệ giữa các quốc gia, Paul
Kennedy (1987), tác giả của cuốn sách The rise and fall of the Great Powers cho
rằng: Các cường quốc hưng thịnh và suy vong phụ thuộc vào tỷ lệ tăng trưởng của nền tảng công nghiệp và phí tổn của các cam kết đế chế tương quan với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Sự bành trướng của các đế quốc đã mang trong nó mầm mống của suy vong trong tương lai
Gideon Rose (1998), trong “Neoclassical Realism and Theories of Foreign
Policy” (World Politics, Vol 51, No 1) cho rằng: Các quốc gia có lý trí muốn theo đuổi an ninh có thể bình tĩnh và chỉ cần trỗi dậy khi cần đối phó với các mối
đe dọa hiếm hoi từ bên ngoài Ngay cả đến khi phải đối phó, những quốc gia này cũng chỉ phải đối phó bằng cách cân bằng lại để ngăn chặn mối đe dọa và tránh xảy ra xung đột
Stephen M Walt (1998), trong International Relations: One World, Many
Theories, Foreign Policy, No 110 nhận định: Các cuộc chiến tranh giữa các cường quốc phần lớn xẩy ra do các nhóm trong nước phóng đại mối đe doạ và tin tưởng một cách quá mức vào hiệu quả của lực lượng quân sự
Trong cuốn sách International Relations of Asia do Maryland: Rowman &
Littlefield xuất bản năm 2008, tác giả Amitav Acharya nhận định trong bài viết Theoretical Perspectives on International Relations in Asia như sau: Trật tự thế giới, vốn ổn định, được duy trì bằng cán cân quyền lực kinh tế và quân sự
Ernest J Wilson III (2008) “Hard Power, Soft Power, Smart Power”, The
ANNALS of the American Academy of Political and Social Science 2008, mở rộng khái niệm quyền lực cứng và quyền lực mềm nhằm giới thiệu khái niệm quyền lực thông minh Ernest J Wilson định nghĩa: Quyền lực thông minh là khả năng một chủ thể kết hợp các thành tố của quyền lực cứng và quyền lực mềm thông qua các phương thức tác động qua lại nhằm đạt được mục đích mình mong muốn một cách hiệu quả Tác giả cho rằng phát huy quyền lực thông minh đã trở thành vấn đề cấp thiết đối với an ninh của các quốc gia do tác động của những thay đổi cấu trúc mang tính dài hạn trong các điều kiện quốc tế và những thất bại trong ngắn hạn của chính quyền hiện tại
- Các công trình nghiên cứu của Việt Nam:
Trang 12Hoàng Khắc Nam (2011), trong cuốn sách Quyền lực trong quan hệ quốc tế:
Lịch sử và vấn đề, cho rằng: Quyền lực được coi là bản chất, là “máu của sự sống” đối với chính trị quốc tế, là động cơ và lợi ích cơ bản của quốc gia trong quan hệ quốc tế Tranh giành quyền lực cũng được coi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chiến tranh và xung đột trong lịch sử Không chỉ là thực tế lớn trong quan hệ quốc tế, quyền lực còn là lí luận trung tâm của Chủ nghĩa hiện thực và mối quan tâm hàng đầu của nhiều lí thuyết khác Đồng thời quyền lực cũng là một hệ quy chiếu hay lăng kính để giải thích lịch sử, nhất là lịch sử quan hệ quốc tế Đây là một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này thông qua việc tập hợp, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu lí luận về quyền lực trong quan hệ quốc tế cả trong lịch sử và hiện tại
2.2 Nghiên cứu về tình hình quốc tế, thế và lực của Mỹ
- Nghiên cứu của nước ngoài
Trong cuốn sách America’s Global Interests: A New Agenda do Edward K
Hamilton chủ biên (Nhà xuất bản New York: W.W Norton phát hành năm 1989), học giả Lawrence Eagleburger đã đưa ra những nhận định các mối đe doạ đối với
Mỹ trong thế kỷ XXI trở nên đa dạng hơn, trong đó quyền lực và ảnh hưởng phân tán giữa nhiều quốc gia
Trong cuốn sách Bound to Lead: the Changing Nature of American Power,
Joseph Nye (1990) cho rằng Mỹ vẫn là cường quốc hàng đầu trong nhiều thập kỷ tới và sự suy yếu của Mỹ chỉ có tính chất tương đối trong bối cảnh sự phục hồi mạnh mẽ của Nhật Bản và Đức Tuy nhiên, theo Joseph Nye, sức mạnh của Mỹ phụ thuộc vào chính việc Mỹ đối phó với những thách thức mới như thế nào
Để phục vụ công tác tuyên truyền về Mỹ, Chương trình Thông tin Quốc tế,
Bộ Ngoại giao Mỹ đã phát hành nhiều cuốn sách như: Christopher Conte và
Albert R Karr (2001), Khái quát nền kinh tế Mỹ, Chương trình Thông tin Quốc tế,
Bộ Ngoại giao Mỹ (2011), Tóm lược về nền kinh tế Mỹ, Nhà xuất bản Thanh niên
Tác giả Trung Quốc Dương Đại Chí (2004) trong bài viết Năm nhân tố lớn
thúc đẩy chuyển đổi quân sự Mỹ đă ng trên Tạp chí Quân sự hiện đại (Trung
Quốc), số 6/2004, nhận định rằng sau khi chính phủ Bush lên nắm quyền, việc chuyển đổi quân sự trở thành vấn đề nóng trong giới quân sự và Bộ Quốc phòng
Trang 13Mỹ Việc đề xuất và phát triển chuyển đổi quân sự của Mỹ có bối cảnh và nguyên nhân sâu xa, nói cụ thể có 5 điểm sau: Môi trường an ninh thay đổi nảy sinh nhu cầu chuyển đổi quân sự; những điều chỉnh lớn về chiến lược quân sự xác định rõ phương hướng chuyển đổi quân sự; ưu thế của khoa học kỹ thuật và kinh tế nâng
đỡ cho sự phát triển chuyển đổi quân sự; thông qua thực tiễn chiến tranh chống khủng bố đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi quân sự; những kẻ theo chủ nghĩa bảo thủ mới nắm chính quyền tích cực điều khiển việc chuyển đổi quân sự Năm nhân
tố trên đây là những cơ sở quan trọng để Mỹ điều chỉnh chiến lược quân sự
- Nghiên cứu của Việt Nam
Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu có giá trị về tình hình nước Mỹ
như các cuốn sách: Mỹ điều chỉnh chính sách kinh tế của Nguyễn Thiết Sơn (2002), Các vấn đề nghiên cứu về Mỹ của Nguyễn Thái Yên Hương, Tạ Minh
Tuấn (đồng chủ biên) (2011) Các cuốn sách nghiên cứu về tình hình quốc tế như
Phạm Bình Minh - chủ biên (2010), Cục diện thế giới đến 2020, Nguyễn Xuân
Thắng, Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Một số đặc điểm nổi bật của thế giới và khu
vực những năm đầu thế kỷ 21; Đỗ Thanh Bình, Văn Ngọc Thành (2012), Quan hệ
quốc tế thời hiện đại: Những vấn đề mới đặt ra; Nguyễn Hoàng Giáp (cb),
Nguyễn Thị Quế, Thái Văn Long (2014), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong
giai đoạn hiện nay… Các cuốn sách này đã đưa ra cách tiếp cận mới về một số vấn đề nổi bật trong lịch sử quan hệ quốc tế như nguồn gốc Chiến tranh Lạnh; quan hệ giữa các cường quốc lớn như Ấn Độ - Trung Quốc, Nga – Trung Quốc,
Mỹ - Nga…; quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á, Liên minh Châu
Âu, Châu Phi, Châu Mỹ… Đây là một số vấn đề mới đặt ra trong quan hệ quốc tế thời hiện đại giúp nhận thức toàn diện hơn về cục diện quan hệ quốc tế, đặc biệt là giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa các cường quốc
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết có giá trị khi nghiên cứu về thế và lực của
Mỹ như: Hoàng Khắc Nam (2012), Nước Mỹ - Nhân tố quan trọng trong trật tự
thế giới?, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 3-2012, Nguyễn Tuấn Minh (2012),
Nước Mỹ và những thay đổi tương quan sức mạnh địa chính trị thế giới, Tạp chí
Trang 142.3 Nghiên cứu về nội dung và quá trình triển khai chiến lược quân sự của Mỹ
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Trong cuốn sách “U.S Army War College Guide to National Security Issues Volume II: National Security Policy and Strategy” do Viện Nghiên cứu chiến lược thuộc Trường Đại học Chiến tranh Quân đội Mỹ phát hành tháng
6/2012, bài viết National military strategies: A historical Perspective, 1990 to
2012, Richard M Meinhart (2012) đã tóm lược các chiến lược quân sự quốc gia của Mỹ gồm chiến lược của các năm 1989, 1992, 1995, 1997, 2004 và 2011 và có một số nhận định về quá trình xây dựng cũng như giá trị của từng chiến lược Bài viết có ưu điểm ở chỗ giúp người đọc hiểu khái quát nhất về thách thức đối với an ninh quân sự của Mỹ, mục tiêu và nhiệm vụ của quân đội Mỹ Mặc dù vậy, bài viết có nhiều hạn chế như: Đơn thuần mô tả lại các chính sách quân sự mà Mỹ đã ban hành; không phân tích cơ sở xây dựng chiến lược; không có nhận định đánh giá về quá trình và kết quả triển khai chiến lược
Việc thay đổi chính sách quân sự của Mỹ được nhiều nhà nghiên cứu nước
ngoài quan tâm nghiên cứu, trong đó có thể kể đến các công trình như: Chiến lược
an ninh quốc gia Mỹ sau sự kiện 11.9: Những ý nghĩa đối với chính sách ngoại giao quân sự và sự chuẩn bị cho chiến tranh thế kỷ XXI của Marvin Leibstone
(2002) đăng trên Tạp chí Miltech (Đức, số 11/2002), bài viết Về thất bại của Mỹ ở
Iraq và tác động đối với thế giới của tác giả A.A.Khramchihin (2006) đăng trên
ấn phẩm “Bình luận quân sự độc lập” của Nga, Đánh giá chính sách của Chính
quyền Obama tại châu Á của Robert Sutter trên Tạp chí “Châu Á đương đại” (Luân Đôn, Anh) số ra tháng 9/2009; Đường lối chính trị quân sự của Mỹ của Đại
tá D Zilxov (2011) đăng trên Tạp chí Bình luận quân sự nước ngoài (Nga), số 7/2011, David R Francis (2011), Iraq War will Cost More Than World War II,
www.globalpolicy.org, October 25, 2011; US defense strategic review 2012:
Global and regional implications trên Tạp chí điện tử Eurasia Review Journal của Tiến sĩ Subhash Kapila (Ấn Độ), Rebalancing to Asia with an Insecure China của tác giả Ely Ratner (2013) đăng trong Tạp chí The Washington Quarterly, Tập 36,
Số 2; bài viết A Recommended Agenda for the Next Secretary of Defense của các
Trang 15tác giả Andrew Philip Hunter, Ryan Crotty, Gregory Sanders, Maren Leed, Melissa Dalton, John Schaus, T.J Cipoletti (2014) đăng trên www csis.org, 4/12/2014…
Ở các bài viết trên đây, các tác giả đều có chung nhận định rằng, mục tiêu cơ bản trong chính sách quân sự của Nhà Trắng vẫn là duy trì vị thế lãnh đạo của Mỹ trên thế giới như là một siêu cường quân sự và duy trì cả ở trong nước và trên thế giới các điều kiện để bảo đảm lợi ích quốc gia trong lĩnh vực an ninh Để đạt được mục tiêu này, Mỹ đưa ra đường lối nâng cao tiềm lực quân sự, tăng cường sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang Mỹ, áp dụng chính sách cứng rắn trong mối quan hệ với các chế độ không thân thiện với Mỹ Trong xây dựng và sử dụng các lực lượng vũ trang quốc gia, các khuynh hướng ưu tiên là: lực lượng vũ trang phải thích nghi với các điều kiện và yêu cầu của tình hình, duy trì sẵn sàng tiến hành các chiến dịch ở các chiến trường xa xôi; nâng cao sẵn sàng chiến đấu
và tác chiến, bảo đảm thực hiện hiệu quả cơ chế hoạt động thường xuyên
Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có nhiều bài viết đánh giá, bình
luận về chiến lược quân sự của Mỹ, tiêu biểu là các bài viết: Chiều hướng điều
chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ của tác giả Triệu Dĩnh (2002) đăng trên Tạp chí
Quân sự hiện đại (Trung Quốc) số 4/2002, Phân tích sơ bộ chiến lược “đánh phủ
đầu” của chính quyền Bush của tác giả Tưởng Hiểu Yến (2002) đăng trên Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện đại số 9/2002, Sự chuyển biến chiến lược từ “răn đe kiềm
Tạp chí “Chính trị và kinh tế thế giới” số tháng 10-2002 Các tác giả đều có chung nhận thức rằng tư duy chiến lược quân sự của Mỹ từ thời Chiến tranh Lạnh đến nay thực tế là quá trình từng bước chuyển từ chủ nghĩa hiện thực mang tính phòng thủ sang chủ nghĩa hiện thực mang tính tấn công Quá trình thực hiện chiến lược quân sự mới này sẽ làm cho quan hệ quốc tế nảy sinh nhiều xung đột và mâu thuẫn mới
- Các công trình nghiên cứu của Việt Nam
Về xu hướng can thiệp quân sự của Mỹ thời kỳ sau chiến tranh Lạnh, Tạp
chí nghiên cứu quốc tế số 29/1999, Lê Linh Lan (1999) cho rằng chiến lược quân
sự của chính quyền Mỹ phải dựa trên xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, đủ sức
Trang 16khống chế đồng minh và đủ khả năng đối phó với những thách thức và đe dọa đối với Mỹ sau chiến tranh Lạnh
Đan Gia Bách (2005), trong Mấy đặc tính trong sự chuyển biến tư duy quân
sự Mỹ, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số tháng 8-2005 cho rằng, việc chuyển biến
tư duy quân sự trong quá trình hoạch định và thực thi chiến lược chuyển loại hình quân sự Mỹ có các đặc tính sau: (1) nhấn mạnh tính phi đối xứng của lực lượng quân sự và hiệu năng tác chiến của Mỹ so với các nước khác; (2) tính tích cực sáng tạo và sự mạo hiểm đúng mức trong tư duy quân sự; (3) tính thống nhất giữa lợi ích quân sự với lợi ích quốc gia
Sau khi ông Obama trở thành tổng thống, có nhiều công trình phân tích, đánh giá về sự thay đổi của chiến lược quân sự Mỹ, tiêu biểu như: Nhân tố quân
(2010) đăng trên Tạp chí Kiến thức quốc phòng hiện đại số 03.2010, Chiến lược
Quốc phòng toàn dân điện tử; Chính sách của chính quyền Obama đối với Trung
Quốc trong lĩnh vực an ninh - quân sự của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2013), Tạp
chí Nghiên cứu quốc tế số 92 (3/2013) Các tác giả cho rằng chiến lược quân sự của Mỹ dưới thời tổng thống Obama đã có những điều chỉnh căn bản về phương châm, phương thức chiến lược, theo hướng linh hoạt hơn, đa phương hơn; chia sẻ trách nhiệm an ninh với các đồng minh; tranh thủ những điểm tương đồng, lợi ích chung để mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong giải quyết những vấn đề khu vực và thế giới Chiến lược quân sự của Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự, các khả năng nâng cao sức mạnh tác chiến và sức mạnh ngăn chặn ở châu Á-Thái Bình Dương Nhận thức chung của các tác giả là Mỹ điều chỉnh chiến lược quân
sự thực chất chỉ là thay đổi, điều chỉnh phương thức tập hợp lực lượng để đối phó với những thách thức mới nổi (như Trung Quốc) nhằm tiếp tục thiết lập một trật
tự thế giới do Mỹ đóng vai trò là người lãnh đạo
Tóm lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây đều liên quan trực tiếp và gián tiếp đến chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam, hầu như chưa thấy có một công trình nghiên cứu cách
Trang 17hệ thống về chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ dưới góc độ quan hệ quốc tế
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ nội dung, bản chất chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ từ năm 2001 đến nay và tác động của việc triển khai chiến lược này đến nước Mỹ và cục diện
an ninh, chính trị tại khu vực Trung Á, Trung Đông – Bắc Phi, châu Âu và châu Á – Thái Bình Dương
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, Luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ cơ sở hoạch định chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ giai đoạn 2001-2015 trên phương diện lý thuyết và thực tiễn
Thứ hai, phân tích, làm rõ nội dung và quá trình triển khai chiến lược quân
sự toàn cầu của Mỹ giai đoạn 2001-2015, từ đó rút ra đặc điểm chiến lược quân
sự toàn cầu của Mỹ
Thứ ba, đánh giá tác động của việc Mỹ triển khai chiến lược quân sự toàn cầu giai đoạn 2001-2015 đến nước Mỹ và cục diện an ninh, chính trị quốc tế (cụ thể là
khu vực Trung Á, Trung Đông – Bắc Phi, châu Á – Thái Bình Dương, châu Âu)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ từ năm 2001 đến năm 2015
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu: Luận án tập trung vào nội dung chiến lược quân
sự toàn cầu của Mỹ và việc triển khai các hoạt động quân sự chủ yếu của Mỹ tại khu vực Trung Á, Trung Đông - Bắc Phi, châu Á – Thái Bình Dương, châu Âu + Giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết quan hệ quốc tế (chủ nghĩa Hiện thực, chủ nghĩa Tự do), Luận án
sử dụng các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế gồm phương pháp các cấp
Trang 18độ phân tích, lịch sử, phân tích chính sách, hệ thống và một số phương pháp nghiên cứu khác như tổng hợp, so sánh - đối chiếu, chuyên gia
6 Đóng góp của luận án
Về mặt lý luận, Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống về chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ (2001-2015) từ góc độ của nhà nghiên cứu Việt Nam Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hoạch định, triển khai chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ; chỉ ra những vấn đề cơ bản của chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ và tác động của chiến lược này đến nước Mỹ và an ninh, chính trị quốc tế
Về mặt thực tiễn, Luận án góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu
cơ bản về Mỹ nói chung và về chiến lược quân sự của Mỹ nói riêng Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu quan hệ quốc tế liên quan đến chính sách đối ngoại của Mỹ tại các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu cũng như các cơ quan, tổ chức có liên quan khác Có thể tham khảo kết quả nghiên cứu trong hoạch định chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam trong quá trình Mỹ tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á – Thái Bình Dương
Trang 19Chương 2: Nội dung và quá trình triển khai chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ giai đoạn 2001 - 2015
Chương này trình bày nội dung chủ yếu của chiến lược quân sự toàn cầu của
Mỹ từ năm 2001 đến năm 2015 gồm: Mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng quân sự Mỹ, đối tượng chiến lược, các loại hình chiến tranh Đồng thời, khái quát quá trình triển khai hoạt động quân sự tiêu biểu của Mỹ giai đoạn
2001 – 2015, rút ra đặc điểm chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ
Chương 3: Tác động của việc triển khai chiến lược quân sự toàn cầu của
Mỹ đến nước Mỹ và an ninh, chính trị quốc tế
Chương này trình bày tác động của việc triển khai chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ đến nước Mỹ trên các mặt như vị thế, quyền lực của nước Mỹ, tác động đến việc thực hiện các mục tiêu an ninh quốc gia, tác động đến kinh tế Mỹ Đồng thời cũng tập trung phân tích, đánh giá tác động từ các hoạt động quân sự của
Mỹ đến cục diện an ninh, chính trị tại khu vực Trung Á, Trung Đông – Bắc Phi, châu Âu và châu Á - Thái Bình Dương
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ TOÀN CẦU CỦA MỸ
GIAI ĐOẠN 2001-2015
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số luận điểm sử dụng sức mạnh quân sự trong quan hệ quốc tế
1.1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Hiện thực
Trong lý thuyết quan hệ quốc tế của chủ nghĩa Hiện thực, phạm trù quyền lực và sức mạnh là điểm mấu chốt có ý nghĩa nền tảng; đấu tranh giành quyền lực được coi là quy luật vĩnh cửu và bất biến chi phối toàn bộ quá trình diễn biến của chính trị quốc tế Chủ nghĩa Hiện thực nhấn mạnh, tuyệt đối hoá yếu tố quyền lực, sức mạnh và cho rằng quan hệ chính trị quốc tế là quan hệ “quyền lực” được xác lập trên cơ sở sức mạnh Các cuộc khủng hoảng, chiến tranh, tình trạng bạo lực,
vô chính phủ, các cuộc xung đột đều bắt nguồn từ ham muốn của con người về lợi ích và quyền lực Sự hợp tác giữa các chủ thể là điều hiếm hoi nếu không muốn nói là chỉ trên bề mặt; các thể chế quốc tế vận hành theo ý muốn của các siêu cường Trật tự thế giới, vốn ổn định, được duy trì bằng cán cân quyền lực kinh tế
và quân sự [130; tr.60]
Theo các nhà hiện thực, hệ thống quốc tế luôn diễn ra tình trạng “vô chính phủ”, “tiến thoái lưỡng nan” về an ninh, kèm theo tâm trạng nghi ngờ lẫn nhau nên các quốc gia buộc phải hoạt động theo nguyên tắc “tự lực”, phải dựa vào sức mạnh để duy trì hay tăng cường vị trí quyền lực của họ đối với các quốc gia khác Mỗi quốc gia cần phải tự bảo vệ mình và không thể trông chờ vào những liên minh lỏng lẻo bởi mỗi quốc gia trong liên minh đó đều nhằm hướng đến những lợi ích riêng của mình Mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt Điều này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang) nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài [40] Theo H.J Morgenthau, mục tiêu chính trị của việc chuẩn bị quân sự dưới bất kì hình thức nào là nhằm răn đe những quốc gia khác không dám tấn
Trang 21công bằng cách làm cho việc tấn công trở nên quá rủi ro không đáng để thực hiện Nói cách khác, mục tiêu chính trị của chiến tranh không chỉ đơn thuần là chinh phục lãnh thổ và tiêu diệt quân đội kẻ thù mà còn khiến cho đối thủ tiềm năng từ
bỏ ý định sử dụng vũ lực quân sự, thay đổi suy nghĩ của kẻ thù và làm cho họ phải tuân theo ý chí của người chiến thắng [139]
Các nhà Hiện thực mới đã đề ra hai học thuyết để xây dựng chính sách đối ngoại là chủ nghĩa Hiện thực tấn công và chủ nghĩa Hiện thực phòng thủ Cả hai trường phái này đều cho rằng hệ thống quốc tế được cấu thành bởi các quốc gia
có lý trí, động cơ của các quốc gia này là tìm kiếm an ninh
Chủ nghĩa Hiện thực tấn công cho rằng tình trạng vô chính phủ nhìn chung
là mang tính chất hỗn mang; ngoài những tình trạng như hệ thống hai cực hay răn
đe hạt nhân thì an ninh là khan hiếm và các quốc gia phải cố gắng để đạt được nó bằng cách tối đa hóa những lợi thế tương đối của họ Trong thế giới của các nhà hiện thực tấn công, các quốc gia có lý trí muốn theo đuổi an ninh sẽ có xu hướng thực hiện những hành động có thể dẫn đến mâu thuẫn với các quốc gia khác Sự khác biệt bên trong của các quốc gia là không quan trọng vì những sức ép mà hệ thống quốc tế tạo ra là đủ mạnh để khiến các quốc gia rơi vào những hoàn cảnh tương tự sẽ hành động giống nhau mà không quan tâm tới những đặc điểm chính trị đối nội bên trong Để tìm hiểu nguyên nhân một quốc gia hành động theo một cách riêng, các nhà hiện thực tấn công đề nghị cần xem xét những khả năng tương đối của quốc gia cũng như môi trường tác động bên ngoài vì các yếu tố này sẽ trực tiếp quy định nội dung của chính sách đối ngoại và định hình cách thức mà quốc gia chọn lựa để gia tăng lợi ích của mình
Ngược lại, trong thế giới của các nhà hiện thực phòng thủ, các quốc gia có
lý trí muốn theo đuổi an ninh có thể bình tĩnh và chỉ cần trỗi dậy khi cần đối phó với các mối đe dọa hiếm hoi từ bên ngoài Ngay cả đến khi phải đối phó, những quốc gia này cũng chỉ phải đối phó bằng cách cân bằng lại để ngăn chặn mối đe dọa và tránh xảy ra xung đột Ngoại lệ của trường phái này là khi xảy ra những tình trạng khiến các quốc gia đang tìm kiếm an ninh cảm thấy bất an về nhau, ví
dụ như việc tấn công để giành thế chủ động trong một cuộc chiến [138; 148-149] Các nhà hiện thực phòng thủ cho rằng các quốc gia có rất ít lợi ích trong việc xâm
Trang 22chiếm quân sự và lập luận rằng cái giá phải trả cho sự bành trướng nhìn chung cao hơn cái lợi có được Theo họ, các cuộc chiến tranh giữa các cường quốc phần lớn xẩy ra do các nhóm trong nước phóng đại mối đe doạ và tin tưởng một cách quá mức vào hiệu quả của lực lượng quân sự [154; tr.37] Ở khía cạnh nào đó, thất bại quân sự của Mỹ ở Afghanistan và Iraq phần nào phù hợp với cách lý giải của chủ nghĩa hiện thực phòng thủ
Chủ nghĩa Hiện thực từ khi ra đời đã được giới hoạch định chính sách của nhiều nước nghiên cứu, vận dụng Ở Mỹ, chủ nghĩa Hiện thực khá phát triển và trở thành một trường phái riêng Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, các nhà nghiên cứu chính trị quốc tế thuộc trường phái chủ nghĩa Hiện thực ở Mỹ đã đưa
ra những phân tích về cục diện thế giới, đồng thời khuyến nghị những phương án chính sách đối ngoại cụ thể đối với từng khu vực Nếu như tổng thống B Clinton nghiêng nhiều về lý thuyết của chủ nghĩa Tự do qua việc tăng cường can dự vào nhiều khu vực thế giới, cải thiện quan hệ với các nước lớn, thúc đẩy tự do thương mại… thì đảng Cộng hoà và giới cầm quyền Mỹ, nhất là dưới thời tổng thống G.W Bush thường tìm thấy trong lý thuyết của chủ nghĩa Hiện thực những chỉ dẫn có ý nghĩa nền tảng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại, quân sự của mình và lấy đó làm cơ sở để phê phán chính sách của người tiền nhiệm
Để có hình thức và biện pháp hữu hiệu nhằm “kiểm soát một cách có định hướng” tình hình nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của Mỹ trên phạm vi toàn cầu, duy trì vị trí “lãnh đạo” thế giới của Mỹ thông qua việc sử dụng sức mạnh quân sự, áp đặt giá trị tự do kiểu Mỹ trên toàn thế giới, tổng thống G.W.Bush cùng với các quan chức trong chính quyền đã đề ra học thuyết quân sự đánh đòn phủ đầu Sau
sự kiện 11/9/2001, việc điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia Mỹ thể hiện rõ lý luận cơ bản của chủ nghĩa hiện thực tấn công [128; tr2] với quan niệm cho rằng một nhà nước coi việc mở rộng tối đa sức mạnh tương đối của bản thân là con đường tốt nhất để có được an ninh, tìm kiếm mọi cơ hội làm cho mình mạnh lên, không chỉ để đối mặt với các mối đe dọa rõ rệt nào đó, mà hơn nữa, để đề phòng, chuẩn bị đối phó các mối đe dọa tiềm tàng không thể dự đoán trước trong tương lai Các cuộc chiến tranh, hoạt động tác chiến và trợ giúp quân sự của Mỹ tại Trung Á, Trung Đông, Bắc Phi… đã áp dụng các biện pháp răn đe dựa trên sức
Trang 23mạnh quân sự Việc mở rộng NATO và sử dụng NATO phục vụ mục đích quốc tế của Mỹ cũng là quan điểm của các nhà hiện thực Mỹ [147; tr.19] Trong quan hệ với các nước lớn như Mỹ - Nga, Mỹ - Trung hay các nước “cứng đầu” như Iraq, CHDCND Triều Tiên, Sirya, Mỹ đều tỏ ra cứng rắn hơn Chính quyền G.W Bush cũng phê phán Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện đã ký với Liên Xô trước đây, tăng chi phí quốc phòng, khẳng định quyết tâm triển khai kế hoạch phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD), kế hoạch phòng thủ tên lửa chiến trường Đông Á - Thái Bình Dương (TMD)…
Vai trò của yếu tố lợi ích quốc gia, sức mạnh của Mỹ trong hệ thống quốc tế, các yếu tố vật chất như sức mạnh quân sự, tiềm lực kinh tế được các nhà hiện thực ở Mỹ nhấn mạnh và coi trọng Khi các đối thủ của Mỹ đang nổi lên, đe dọa lợi ích của Mỹ, sức mạnh của Mỹ suy giảm, khả năng hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược không còn được như trước chủ nghĩa Hiện thực cung cấp cách tiếp cận “cân bằng ngoại vi” để giải thích cho sự thay đổi chính sách của chính quyền Obama khi chú trọng hơn đến khu vực châu Á - Thái Bình Dương Chiến lược
“cân bằng ngoại vi” có hai mục tiêu quan trọng nhất là giảm thiểu nguy cơ nước
Mỹ rơi vào một cuộc chiến tranh của các cường quốc và tăng cường sức mạnh so sánh của Mỹ trong hệ thống quốc tế [53; tr.36] Để có được sự cân bằng, Mỹ sẽ sử dụng các nguồn lực một cách cân bằng, tương ứng với những mối đe dọa ở các khu vực địa lý quan trọng như châu Âu, Đông Á, vịnh Ba Tư nhằm mục tiêu ngăn chặn các nước bá quyền tại khu vực này
Đáng lưu ý, chủ nghĩa Hiện thực mới ở Mỹ cho rằng, nếu như trước đây Mỹ
sử dụng sức mạnh tùy hứng thì nay Mỹ sẽ tăng cường hợp tác, liên kết với đồng minh và dựa vào đồng minh để ngăn chặn thách thức đe dọa Mỹ sẽ thay đổi từ chính sách can thiệp tự do… sang một chính sách lớn khác có ảnh hưởng hơn theo tư duy cân bằng ngoại vi của các nhà lý luận hiện thực mới Mỹ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự một cách “thông minh” và mục tiêu quan trọng của Mỹ là xây dựng một hệ thống các đồng minh và đối tác trong khu vực [53] Khi vấn đề khủng bố nổi lên, trở thành mối đe doạ trực tiếp với Mỹ, Mỹ đã lãnh đạo liên minh chống khủng bố để hiện thực hoá những mục tiêu địa chiến lược của mình Khủng bố trở thành tiêu chí để Mỹ phân biệt ranh giới bạn thù, đối tượng, đối tác
Trang 24Mỹ cũng sẽ thiên về sử dụng biện pháp ngoại giao, kinh tế và chính trị và chủ trương lãnh đạo quân sự từ phía sau, nghĩa là thông qua cuộc chiến uỷ nhiệm nhằm ủng hộ các “lực lượng cách mạng” Tính thực dụng lúc này sẽ thể hiện rõ nét nhất khi mà Mỹ đẩy trách nhiệm và gánh nặng tổn thất trực tiếp về người sang đồng minh, đối tác còn mình hỗ trợ từ đằng sau Những nhà hiện thực chủ nghĩa của Mỹ khẳng định, sứ mệnh nòng cốt của Mỹ là huy động các nguồn lực để xây dựng và phát triển xã hội dân chủ trên toàn thế giới Các biến động chính trị - xã hội ở các nước Bắc Phi và Trung Đông vừa qua là minh chứng rõ nét nhất cho quan điểm của chủ nghĩa Hiện thực về việc Mỹ sử dụng quyền lực thông minh trong chính sách đối ngoại để phục vụ các mục đích địa - chính trị của mình Lực lượng góp phần tạo ra “quyền lực thông minh” đó chính là các cơ quan tình báo, các tổ chức phi chính phủ, các quỹ tài trợ dân chủ, các chuyên gia quân sự làm nhiệm vụ huấn luyện chiến thuật cho các lực lượng đối lập thay vì lực lượng quân
sự chính quy
1.1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Tự do
Theo quan điểm của chủ nghĩa Tự do, hành động của quốc gia với tư cách là chủ thể duy lý chịu tác động đáng kể của nhiều yếu tố bên trong Vị trí, vai trò, sự ảnh hưởng và việc tính toán lợi ích của nhóm chiếm ưu thế trong quốc gia sẽ quyết định đường hướng chiến lược đối ngoại của quốc gia Ngoài ra, các yếu tố đối nội có thể tạo ra các tác động thúc giục hay kiềm chế ý chí của các nhà lãnh đạo và từ đó là đến chính sách đối ngoại Chính trị đối nội trở thành một phần của quan hệ quốc tế và các nhóm trong nước trở thành một trong những đơn vị phân tích trong nghiên cứu quan hệ quốc tế [76] Bên cạnh việc khẳng định, chính sách đối ngoại phải xuất phát và phục vụ nhiệm vụ chính trị trong nước, chủ nghĩa Tự
do cũng cho rằng chính sách đối ngoại cũng phải phản ánh và phù hợp với tình hình quốc tế Về mặt lý thuyết, quan điểm của chủ nghĩa Tự do trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của một quốc gia có những nhân tố hợp lý nhất định nên được nhiều quốc gia phương Tây sử dụng
Các nhà lý luận chủ nghĩa Tự do cho rằng, lợi ích mà quốc gia theo đuổi khi tham gia các mối quan hệ quốc tế gồm nhiều vấn đề khác nhau như an ninh, chính trị và kinh tế, trong đó kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực cơ bản nhất trong quan
Trang 25hệ quốc tế, luôn gắn bó mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau Khi theo đuổi các lợi ích, các quốc gia hoàn toàn có khả năng hòa hợp lợi ích, dẫn đến những xu hướng hòa hoãn, hợp tác trong quan hệ quốc tế Đặc biệt, vì mục đích
an ninh, vì hòa bình, các quốc gia sẽ tham gia cơ chế an ninh tập thể Đây là cách thức “mọi người chống lại một người” nhằm bảo đảm an ninh, loại trừ chiến tranh
ra khỏi đời sống Theo đó, khi một nước đe dọa hay tiến hành xâm lược nước khác, tất cả các nước phải hành động tập thể để đẩy lùi sự xâm lăng đó hoặc cùng
sử dụng các biện pháp tập thể như bao vây, cấm vận kinh tế, can thiệp quân sự để trả đũa, hoặc phòng vệ tập thể
Theo chủ nghĩa Tự do, xung đột không phải là hình thái quan hệ quốc tế duy nhất trong môi trường vô chính phủ mà vẫn có chỗ cho hợp tác diễn ra trong vấn
đề cụ thể nào đó trên cơ sở tương đồng nhất định Hợp tác vẫn có thể tiến hành trong lĩnh vực này kể cả khi trong lĩnh vực khác đang tồn tại xung đột, thậm chí hợp tác và cạnh tranh vẫn có thể cùng tồn tại trong cùng một vấn đề Chủ nghĩa
Tự do còn nhấn mạnh xu thế hợp tác sẽ ngày càng tăng, dần dần thay thế cho xung đột và trở thành xu thế chính trong quan hệ quốc tế [76]
Một số nhà tư tưởng tự do còn cho rằng, chiến tranh là một căn bệnh của đời sống chính trị xã hội; bạo lực, chiến tranh là hình thức lỗi thời của giao lưu xã hội, không xứng đáng với bản chất con người và cấu trúc của hệ thống quan hệ quốc tế Tuy nhiên, chiến tranh có thể được loại bỏ khỏi xã hội thông qua việc xây dựng nền dân chủ và tự do mậu dịch Đặc biệt, việc mở rộng dân chủ như là chìa khoá đối với hoà bình thế giới bởi các quốc gia dân chủ vốn có tính chất hoà bình hơn các quốc gia độc tài Việc một quốc gia nhân danh “nhân quyền” để can thiệp vào một quốc gia khác nhằm giúp quốc gia đó tránh khỏi họa diệt chủng hay các tội ác về nhân quyền khác là điều mà nhiều nhà chủ nghĩa Tự do hướng đến mặc dù vẫn còn một số nhà tự do vẫn ủng hộ chủ nghĩa không can thiệp vì cho rằng như thế là vi phạm chủ quyền của quốc gia
Những người chủ nghĩa Tự do mới trên cơ sở phát hiện ra sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ quốc tế, đã đề cao sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế như cách thức ngăn chặn chiến tranh, thúc đẩy hợp tác và hội nhập Sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ buộc các chủ thể quan hệ quốc tế phải tăng cường hợp tác mà nó còn
Trang 26đem lại tác dụng lớn cho hòa bình và an ninh vì chính sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ làm nản lòng các nhà nước trong việc sử dụng vũ lực chống lại nhau bởi vì chiến tranh sẽ đe dọa sự thịnh vượng của cả hai bên Sự phụ thuộc sẽ hạn chế khả năng sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, tạo cơ sở cho việc phổ biến
và thực thi hiệu quả luật pháp trong quan hệ quốc tế cũng như sự hình thành các thể chế hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế Chủ nghĩa
Tự do mới đặc biệt đề cao vai trò của thể chế quốc tế và coi đây là nền tảng chủ yếu để xây dựng và sắp xếp lại quan hệ quốc tế
Sau chiến tranh Lạnh, một quan điểm được các nhà tự do tích cực ủng hộ đó
là lý thuyết hoà bình nhờ dân chủ, trong đó các nước dân chủ hầu như cũng tiến hành chiến tranh như các quốc gia khác nhưng họ hầu như không bao giờ tiến hành chiến tranh chống lại nhau [154; tr.39] Ở mức độ nào đó, những người theo chủ nghĩa Tự do tin rằng việc các nước dân chủ không gây chiến với nhau chính là một trong các lý do quan trọng để Mỹ mở rộng biên giới dân chủ ra khắp thế giới
Từ góc nhìn của chủ nghĩa Tự do có thể thấy rằng, việc hoạch định và thực thi chiến lược quân sự của Mỹ dù ở giai đoạn nào cũng chịu ảnh hưởng của quan điểm tự do Chủ nghĩa Tự do là lăng kính cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ nhận thức thế lực nào đang đe dọa đất nước và cần phải cân bằng lại và ai là những đồng minh tiềm năng Dưới thời tổng thống Bush, Mỹ chủ trương dùng chính sách can thiệp theo tư tưởng của chủ nghĩa Tự do dựa trên một thế giới quan “lý tưởng hóa” và mang tính “đạo đức” Theo đó, những giá trị cụ thể như dân chủ, nhân quyền là điều đương nhiên phải hiện diện trên toàn cầu nên Mỹ có
“trách nhiệm” phổ biến những giá trị đó [53; tr.35] Với chủ nghĩa Tự do, khi đã
có sức mạnh thì quốc gia có thể sử dụng nó tùy ý Dựa trên quan niệm này, Mỹ sử dụng sức mạnh của không quân, hải quân, bộ binh cơ giới, lực lượng đặc nhiệm
để tiến hành các chiến dịch quân sự khắp nơi trên thế giới Chủ nghĩa Tự do cũng thường đặt ra mục tiêu và tham vọng lớn và không tính toán hết những hậu quả và nguy cơ mà chính sách đem lại Tổng thống Mỹ G.W Bush đã từng công bố “Đề
án Trung Đông Lớn” với danh nghĩa là “phát triển dân chủ” nhưng thực chất là nhằm vẽ lại bản đồ của 24 quốc gia trong khu vực Trung Đông Lớn nhằm tăng cường ảnh hưởng và lợi ích địa - chính trị của Mỹ Tuy nhiên, chiến lược với
Trang 27nhiều ý tưởng tự do này xem ra đã thất bại khi Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq
1.1.2 Tư duy quân sự Mỹ
1.1.2.1 Chủ nghĩa quốc tế Mỹ và vai trò lãnh đạo toàn cầu về quân sự
Mỹ là một siêu cường về kinh tế, quân sự và luôn duy trì chính sách ngoại giao nước lớn; mỗi sự thay đổi của Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân
sự, đối ngoại đều có ảnh hưởng toàn cầu Với sức mạnh tổng hợp quốc gia đứng đầu thế giới, Mỹ luôn tự coi mình là một quốc gia toàn cầu Nhân tố Mỹ và lợi ích
Mỹ đã và đang có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới
Người Mỹ luôn cho rằng, Mỹ là một dân tộc của các dân tộc; đi đôi với sức mạnh của Mỹ là trách nhiệm lớn lao đối với cộng đồng quốc tế Họ cũng luôn tự hào về phương pháp, cách thức thúc đẩy tự do, dân chủ, tự do thương mại, phát triển vì một tương lai hòa bình, thịnh vượng Người Mỹ cũng luôn tự hào do đi đầu trong việc mở rộng tự do, dân chủ kiểu Mỹ ra khắp thế giới
Không chỉ tuyên bố, người Mỹ “cam kết sẽ đi đầu bằng hành động” [18; tr.3] Mỹ luôn sẵn sàng can thiệp để bảo vệ lợi ích toàn cầu cũng như chuẩn bị tâm lý để đón nhận những thách thức và trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế trong hàng loạt vấn đề như “đảm bảo hòa bình, thúc đẩy phát triển kinh tế, chiến đấu chống nạn khủng bố và tội phạm quốc tế, giúp tránh được các cuộc khủng hoảng nhân đạo và cải thiện môi trường toàn cầu” [57; tr.11], giải trừ vũ khí hạt nhân, đảm bảo an ninh hàng hải, phòng chống dịch bệnh toàn cầu… Nước Mỹ cũng đóng góp ngân sách rất lớn cho một loạt các cơ quan của Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc tế để thực hiện các hoạt động mang tính chất toàn cầu
Như vậy, có thể thấy rằng chủ nghĩa quốc tế Mỹ nhấn mạnh vai trò của Mỹ trong các vấn đề quốc tế, trong đó người Mỹ cho rằng họ có trách nhiệm lãnh đạo thế giới, chủ trì giải quyết các vấn đề quan trọng của thế giới Vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ được khẳng định trong nhiều văn kiện của chính phủ nước này Khi công bố Chiến lược an ninh quốc gia năm 2002, Tổng thống G W Bush khẳng định: “Ngày nay, nhân loại nắm trong tay cơ hội phát huy chiến thắng của tự do trước tất cả các kẻ thù Mỹ chào đón trách nhiệm lãnh đạo của mình trong việc điều hành sứ mạng vĩ đại này” [157; tr.3] Mỹ sẽ sử dụng vị thế để xây dựng một
Trang 28thế giới tốt đẹp hơn, an toàn hơn trong đó bảo đảm quyền tự do của con người, dân chủ và tự do kinh doanh Mỹ đã “lãnh đạo một liên minh quốc tế lật đổ chế
độ độc tài của Iraq” [158; tr.5], “lựa chọn vai trò lãnh đạo thay cho chủ nghĩa biệt lập và theo đuổi các thị trường mở cửa, tự do và buôn bán bình đẳng thay cho chế
độ bảo hộ nền công nghiệp trong nước” [158; tr.6]
Trên lĩnh vực quân sự, Mỹ khẳng định “không quốc gia nào được đặt vào vị trí lãnh đạo tốt hơn nước Mỹ”, “Trong một thế kỷ mới mà đường đi của cả thế giới chưa rõ ràng, nước Mỹ sẵn sàng lãnh đạo thêm một lần nữa”, “Nước Mỹ cần phải tiếp tục lại vai trò lãnh đạo thế giới của mình thông qua việc tạo dựng và phát huy các nguồn lực sức mạnh và ảnh hưởng” [159; tr.7] Trong chiến lược quân sự quốc gia năm 2004, Mỹ cho rằng việc sử dụng lực lượng trong một cuộc chiến tranh nào đó chứng tỏ ý chí lãnh đạo của Mỹ và khuyến khích các nước khác giúp bảo vệ, duy trì và mở rộng hoà bình
Đối với tổng thống George W Bush và tổng thống Barack Obama, mục tiêu
cơ bản của chính sách quân sự của Nhà Trắng vẫn là đưa nước Mỹ thích nghi với những tiến triển và duy trì vị thế lãnh đạo của Mỹ trên thế giới như là một siêu cường quân sự Để thúc đẩy các ưu tiên an ninh quốc gia hàng đầu như chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, phát triển kinh tế, thúc đẩy dân chủ, hình thành một trật tự quốc tế theo ý tưởng của Mỹ, các nhà lãnh đạo Mỹ cho rằng họ phải “duy trì ưu thế thông thường về quân sự, đồng thời nâng cao khả năng đánh bại những nguy cơ phi đối xứng” [159; tr.5] Quân đội Mỹ “sẽ tiếp tục làm trụ cột trong chính sách an ninh quốc gia và đảm nhận vai trò lãnh đạo thế giới Khi quân đội được sử dụng một cách thích hợp, an ninh và vai trò lãnh đạo của Mỹ sẽ được củng cố” [159; tr.18]
Với tiêu đề Duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: Những ưu tiên về quốc
phòng trong thế kỷ 21, Chiến lược quốc phòng năm 2012 dẫn lời khẳng định của ông Obama: “Trong một thế giới đang thay đổi đòi hỏi sự lãnh đạo của chúng ta,
Mỹ sẽ vẫn là sức mạnh lớn nhất vì tự do và an ninh mà thế giới từng biết đến”,
“Mỹ đóng vai trò lãnh đạo trong việc thay đổi hệ thống quốc tế trong 65 năm qua” [168; tr.1] Ông Leon Panetta - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng tuyên bố: “Tôi công bố đường lối chỉ đạo chiến lược mới đối với Bộ Quốc phòng để nêu rõ
Trang 29những ưu tiên cho một nền quốc phòng thế kỷ XXI duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ” [168]
1.1.2.2 Nhận thức của Mỹ về vai trò, tầm quan trọng của quân sự
Trong tư duy của giới lãnh đạo Mỹ, quân sự là công cụ quan trọng và giữ vị trí nền tảng trong thực thi chính sách đối ngoại nhằm góp phần thực hiện được những mục tiêu toàn cầu của nước này Một số tư tưởng nổi bật về quân sự gồm:
Thứ nhất, quân sự là yếu tố quan trọng giúp Mỹ can dự trên toàn cầu và tạo
ra trật tự thế giới theo ý định của Mỹ
Theo quan điểm của Mỹ, “can dự là sự tham gia tích cực của Mỹ vào các mối quan hệ ở nước ngoài” Mỹ cũng nhận thấy rằng, chính sách cô lập, bao vây, cấm vận hầu như không phát huy được hiệu quả như Mỹ mong muốn Thúc đẩy
sự can dự quốc tế sẽ giúp cho Mỹ phát triển thịnh vượng trong một nền kinh tế toàn cầu, đồng thời xây dựng thiện chí và các mối quan hệ phục vụ cho việc duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ Nó cũng giúp truyền bá giá trị Mỹ và mở rộng tự do, dân chủ trên toàn thế giới Chính vì thế, Mỹ muốn “tái can dự với thế giới trên cơ
sở toàn diện và bền vững” [157] Những nước mà Mỹ tiến hành can dự gồm cả đồng minh và đối tác, các nước lớn có nhiều ảnh hưởng như Trung Quốc, Ấn Độ
và Nga, các đối tác mới từ châu Mỹ đến châu Phi, từ Trung Đông đến Đông Nam
Á Để can dự tích cực vào các điểm nóng, các địa bàn có giá trị chiến lược, ngoài các biện pháp kinh tế, ngoại giao, truyền bá giá trị dân chủ, Mỹ còn dựa vào đội quân hùng hậu của mình có mặt trên tất cả các châu lục với vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại, hệ thống tên lửa và hạt nhân chiến lược rộng khắp, khả năng triển khai quân nhanh chóng cùng với sự hậu thuẫn của các liên minh và những mối quan hệ sẵn sàng “chia sẻ” gánh nặng nếu Mỹ yêu cầu
Trong nhận thức và thực tiễn triển khai chiến lược an ninh quốc gia Mỹ, quân sự là nhân tố quan trọng hàng đầu, giữ vai trò chi phối và được ưu tiên sử dụng khi các công cụ khác như kinh tế, ngoại giao không phát huy được hiệu quả Thậm chí, để bảo vệ tối đa lợi ích quốc gia và tạo dựng trật tự thế giới kiểu Mỹ,
Mỹ sẽ lựa chọn hành động quân sự, thậm chí sẵn sàng đơn phương tiến hành hoạt động quân sự nhằm bảo đảm các lợi ích cơ bản, lâu dài của Mỹ và giá trị Mỹ Đối với Mỹ, sức mạnh quân sự luôn là công cụ quan trọng hàng đầu được tính đến
Trang 30trong chính trị quốc tế và là yếu tố then chốt trong chiến tranh và có tính chất răn
đe khi không có chiến tranh
Sức mạnh quân sự vượt trội là điều kiện giúp Mỹ răn đe, kiềm chế các đối thủ, ép buộc các nước phải tuân thủ các quy tắc quốc tế do Mỹ đặt ra, hoặc sẽ phải hứng chịu các hậu quả, trong đó có cả sự bao vây, cấm vận mà Mỹ khởi xướng Sức mạnh quân sự sẽ giúp giải quyết bất đồng giữa Mỹ và những quốc gia, tổ chức chống Mỹ, tạo dựng các liên minh, củng cố quan hệ với các đồng minh thân cận như Anh, Pháp, Đức; hỗ trợ các nước chống chủ nghĩa cực đoan, bạo lực và phổ biến vũ khí hạt nhân
Quân sự còn là công cụ để Mỹ sử dụng trong việc “thực thi luật pháp quốc tế”, “can dự vào hệ thống Liên Hợp Quốc trên một cơ sở đặc biệt” [157] từ biện pháp trừng phạt cho đến việc cô lập, cấm vận nhằm thay đổi cách ứng xử của những đối thủ mà Mỹ xem là các quốc gia thách thức hay phá hoại một trật tự quốc tế do Mỹ chi phối Từ năm 1991 đến 2011, thế giới đã liên tiếp chứng kiến các cuộc chiến tranh công nghệ cao do Mỹ tiến hành ở Iraq, Nam Tư, Afghanistan, Libya nhằm khuất phục các nước khác bằng cây gậy “chỉ huy thế giới”, “tiêu diệt chế độ độc tài và thúc đẩy dân chủ hiệu quả” [159], thay đổi chính quyền không thân Mỹ, chống đối Mỹ, đồng thời, răn đe mọi thế lực, mọi quốc gia không theo Mỹ, chứng minh cho thế giới biết khả năng quân sự vượt trội của Mỹ và sức mạnh vô địch của Mỹ Chiến tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa Mỹ và các quốc gia khác khi không còn cách giải quyết nào khác Thông qua chiến tranh, Mỹ ngầm cảnh báo với thế giới rằng: Đi theo Mỹ là con đường tồn tại và phát triển, chống Mỹ là con đường sẽ bị diệt vong
Thứ hai, quân sự là phương tiện hiện thực hoá các lợi ích toàn cầu của Mỹ
Các lợi ích quốc gia Mỹ được chia làm ba loại: (1) Các lợi ích mang tính sống còn, có tầm quan trọng to lớn liên quan đến an ninh của lãnh thổ Mỹ và của các đồng minh, sự an toàn của công dân Mỹ ở trong cũng như ngoài nước, sự thịnh vượng về kinh tế của Mỹ; (2) Các lợi ích quốc gia quan trọng gồm các khu vực mà Mỹ có quyền lợi kinh tế lớn hoặc cam kết đối với đồng minh, việc bảo vệ môi trường toàn cầu và các cuộc khủng hoảng có khả năng tạo nên dòng người tị nạn gây bất ổn định lớn; (3) Các lợi ích nhân đạo và các lợi ích khác liên quan
Trang 31đến những rủi ro, những thảm hoạ thiên tai, những vấn đề mang tính nhân đạo và những vi phạm về giá trị, lối sống theo quan điểm Mỹ diễn ra trên thế giới Mỹ cũng xác định, hiện nay Mỹ đang đối mặt với một loạt các mối đe doạ rộng khắp
và nguy hiểm Các thách thức truyền thống, bất quy tắc, thảm họa yêu cầu lực lượng vũ trang Mỹ phải điều chỉnh nhanh chóng và chính xác để thay đổi và chặn trước các nguy cơ đang nổi lên [143; tr.4]
Trên cơ sở xác định rõ các lợi ích quốc gia và những mối de dọa đối với các lợi ích đó, Mỹ vạch ra chính sách nhằm bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích chiến lược của Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh ở cả trong và ngoài nước Việc bảo vệ những lợi ích này giúp Mỹ duy trì vị trí siêu cường duy nhất trong một thế giới có nhiều trung tâm quyền lực nổi lên cạnh tranh nhau gay gắt Các chiến lược
an ninh quốc gia của Mỹ đều xác định kế hoạch của quốc gia trong việc phối hợp
sử dụng tất cả các công cụ của sức mạnh nhà nước – phi quân sự cũng như quân
sự - nhằm theo đuổi các mục tiêu phòng vệ và thúc đẩy lợi ích an ninh quốc gia Chiến lược quân sự là nhằm đạt được mục tiêu an ninh và quân sự thông qua việc
sử dụng công cụ quân sự Nó mang lại những phương tiện có hiệu quả để hoàn thành các mục tiêu cho chiến lược an ninh quốc gia đề ra [45; tr.32] Thực tế cho thấy Tổng thống G W Bush ưu tiên sử dụng sức mạnh quân sự còn đối với Tổng thống Obama, việc sử dụng sức mạnh cứng ở Afghanistan và Pakistan cũng không khác lắm so với người tiền nhiệm Hay trong vấn đề vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) thì quân đội Mỹ được coi là công cụ thích hợp để đảm bảo cho thế giới an toàn hơn với WMD, đánh bại bất cứ đối thủ nào đe dọa sử dụng WMD, giảm thiểu tác hại do WMD gây ra, ngăn cản các cuộc tiến công bằng WMD trong tương lai… [144; tr.5] Trong những trường hợp này, sức mạnh cứng đi trước sức mạnh mềm Ngoại trưởng Hillary Clinton đã từng miêu tả chiến lược của mình trong bài điều trần trước Quốc hội với nguyên tắc “3D”: quốc phòng (defense), chính sách ngoại giao (diplomacy) và phát triển (development) - theo đúng thứ tự như vậy Có thể nhận thấy, để bảo vệ những lợi ích sống còn, quan trọng cũng như các lợi ích khác, dù đảng nào lên cầm quyền thì chính sách chung của Mỹ đều ưu tiên (khi cần thiết và thích hợp) sử dụng sức mạnh quân sự một cách đơn phương và kiên quyết ngăn chặn một cách hiệu quả, kịp thời sự xâm
Trang 32phạm các lợi ích đó
Thứ ba, quân sự là nhân tố thúc đẩy, hỗ trợ kinh tế và ngoại giao
Lợi ích quốc gia cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế là lợi ích kinh tế, trong
đó an ninh và sự thịnh vượng của Mỹ là hai vấn đề không thể tách rời Trong thời
kỳ hoà bình, lực lượng quân sự hùng mạnh là hậu thuẫn vững chắc để giữ gìn lợi ích kinh tế của Mỹ ở hải ngoại; “ khi nổ ra khủng hoảng và chiến tranh, Mỹ cần theo nguyên tắc của buôn bán mà hoạch định chiến lược quân sự, nghiên cứu hiệu quả, lợi ích của chiến tranh, sau đó mới quyết định nên hay không nên xuất binh” [6; tr.46]
Để đảm bảo kinh tế là “ngọn nguồn sức mạnh quyền lực của nước Mỹ” [157], quân sự phải tạo ra môi trường thuận lợi nhất nhằm thúc đẩy thị trường tự
do, khuyến khích các nước mở cửa hơn Một lực lượng quân sự mạnh sẽ tạo môi trường phát triển và bảo vệ tốt thành quả kinh tế Lực lượng quân sự Mỹ phải đảm bảo an toàn cho nước Mỹ, bảo vệ cơ sở hạ tầng của Mỹ và người dân Mỹ Quân
sự sẽ phải đối phó và giải quyết thành công các nguy cơ mà nước Mỹ phải đối mặt, chẳng hạn như khủng bố Như vậy, có thể thấy rằng yếu tố quân sự có mối quan hệ chặt chẽ với yếu tố kinh tế trong chiến lược an ninh quốc gia Mỹ, trong
đó, quân sự là nhân tố bảo đảm và tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế còn kinh tế vừa là cơ sở cho sức mạnh quân sự, vừa là mục tiêu, động lực của hoạt động quân sự
Không chỉ đóng vai trò là nhân tố quan trọng thúc đẩy, hỗ trợ kinh tế, quân sự còn là nhân tố rất quan trọng đối với ngoại giao Sức mạnh quân sự là yếu tố răn đe,
hỗ trợ thực hiện các mục tiêu ngoại giao Mỹ ở nước ngoài, nhất là các chuẩn mực
về dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ Quân sự có thể tạo ra “thế” và điều kiện “cần” để ngoại giao mặc cả trên bàn đàm phán do quân sự tạo ra sức mạnh có tính chất răn
đe, kiềm chế Sức mạnh quân sự của Mỹ khiến các đối thủ, thậm chí đồng minh, đối tác phải e ngại, cân nhắc trước khi có bất cứ quyết định nào liên quan đến lợi ích hoặc gây ảnh hưởng đến vị thế của Mỹ Đây chính là cơ sở để Mỹ có thể áp đặt, thậm chí ép buộc các nước khác thực hiện theo ý đồ của mình
Hoạt động đối ngoại quân sự của quân đội Mỹ là một bộ phận trong hoạt động ngoại giao của Mỹ, thực hiện đường lối đối ngoại của chính phủ Mỹ trong
Trang 33lĩnh vực quân sự và những nội dung liên quan, nhằm xây dựng lòng tin, tăng cường khả năng liên kết với các đồng minh nước ngoài, thiết lập và phát triển quan hệ về quốc phòng với tất cả các đối tác mới Bên cạnh đó, ngoại giao có thể
đi sau, hỗ trợ đắc lực cho quân sự Khi quân đội Mỹ giảm bớt lực lượng và rút khỏi những khu vực then chốt thì ngoại giao sẽ giúp “lấp đầy” những lỗ hổng về
an ninh của Mỹ ở khu vực đó [151; tr.9]
Quan hệ quân sự và quan hệ đối ngoại cũng thường được triển khai song song Trong bài phát biểu tại Đại học bang Kansas về chiến lược quân sự Mỹ, ông Michael Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, cho rằng tuy là công cụ tốt nhất và đôi khi là công cụ đầu tiên, quân đội không bao giờ là công cụ duy nhất Quân sự và ngoại giao không thể là những sự lựa chọn riêng rẽ,
mà phải bổ sung và hỗ trợ nhau trong tất cả các quan hệ quốc tế [99]
Tóm lại, trong quá trình hoạch định chiến lược quân sự toàn cầu từ năm
2001 đến năm 2015, giới lãnh đạo chính trị - quân sự Mỹ không chỉ bị tác động bởi các quan điểm của chủ nghĩa Hiện thực và chủ nghĩa Tự do mà còn dựa trên những nhận thức riêng của người Mỹ về việc sử dụng sức mạnh quân sự trong chiến lược toàn cầu Chính nền tảng lý luận quan trọng này kết hợp với các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan khác của nước Mỹ đã tạo nên những đặc trưng trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ từ năm 2001 đến năm 2015
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Bối cảnh quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI: Những thách thức chủ yếu đối với quân sự Mỹ
Sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên bang Xô-viết và các nước Trung - Đông
Âu, “thế giới đang ở thời kỳ quá độ chuyển tiếp sang một cấu trúc quyền lực mới chưa rõ hình hài, chứa đầy nguy hiểm và khó dự báo” [67; tr.89] Hầu hết các nước đều quan tâm đến việc củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia, điều chỉnh chính sách đối ngoại nhằm cải thiện vị thế của mình trên trường quốc tế và khu vực Xu thế hợp tác ngày càng nổi trội tác động lớn đến phương thức tập hợp lực lượng ở các khu vực
Tuy nhiên, tại một số nơi trên thế giới, xung đột địa chiến lược giữa các nước lớn ngày một nhiều thêm, không ngừng mở rộng về phạm vi và gia tăng
Trang 34mức độ căng thẳng Ở châu Âu, châu Á và Trung Đông, một số cường quốc khu vực và cường quốc thế giới đang thực thi chủ nghĩa dân tộc và khẳng định vị thế của mình thông qua việc gia tăng tiềm lực quân sự cũng như ảnh hưởng quân sự,
an ninh đối với khu vực Một số quốc gia do không chú trọng đến quốc phòng, an ninh nên diễn ra tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo ác liệt, cộng thêm nhiều quốc gia duy trì chế độ có tính chất độc tài, chuyên chế và trở thành địa bàn thuận lợi cho sự xuất hiện các lực lượng ly khai, chống đối chính quyền trung ương cũng như làm nảy sinh chủ nghĩa khủng bố, cực đoan Đây là điều kiện để các nước lớn sử dụng các thủ đoạn, cơ hội làm sâu sắc thêm mâu thuẫn, trầm trọng thêm những khó khăn tại các quốc gia này nhằm thực hiện chính sách can dự, thậm chí can thiệp bằng quân sự để đẩy nhanh việc cải tạo tiến tới lật đổ các quốc gia có chế độ chính trị khác nhằm thu hút các quốc gia đó vào khu vực ảnh hưởng của mình Ngoài ra, trên thế giới xuất hiện một loạt các thách thức an ninh phi truyền thống đòi hỏi lực lượng quân sự phải trực tiếp tham gia giải quyết như tình hình khủng bố quốc tế, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn giáo cực đoan ngày càng phát triển; hậu quả khôn lường của biến đổi khí hậu…
Đáng chú ý, xu hướng tranh chấp quyền lực, lãnh thổ truyền thống đang từng bước chuyển hóa thành tranh chấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội; các quốc gia tranh chấp cả quyền lực cứng và quyền lực mềm để mở rộng không gian ảnh hưởng phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc
Điểm đáng lưu ý trong hoạt động quân sự toàn cầu là cuộc cách mạng quân
sự trên thế giới có nhiều bước phát triển vượt bậc, là điều kiện thuận lợi để các quốc gia tạo ra các vũ khí và trang bị mới có chất lượng và hiệu quả cao hơn trước nhiều lần như máy bay chiến đấu tàng hình, vũ khí công nghệ cao (vũ khí định hướng, vũ khí lade, pháo điện từ ) Việc hiện đại hóa quân đội không chỉ tạo ra sức mạnh răn đe mà còn có nguy cơ dẫn đến xu thế chạy đua vũ trang Một
số quốc gia cũng như các phần tử phi quốc gia đang tìm cách phát triển các khả năng chiến lược, mở rộng phạm vi hoạt động và liên kết thông qua việc tìm kiếm,
sở hữu những công nghệ tiên tiến như tên lửa, các phương tiện tự động và điều khiển từ xa Điều này ảnh hưởng lớn đến môi trường an ninh quốc tế và chính
Trang 35sách quốc phòng của các nước lớn
Trong sự biến động của môi trường an ninh thế giới, do lợi ích của Mỹ căng
trải khắp toàn cầu nên trong bối cảnh quốc tế từ năm 2001 đến năm 2015, một số
thách thức đối với quân sự Mỹ đã hiện hữu rõ nét hơn, trong đó có những thách thức đòi hỏi chính quyền Mỹ phải tập trung nguồn lực để giải quyết Những thách
thức đó bao gồm:
1.2.1.1 Sức mạnh, ảnh hưởng của Nga và sự trỗi dậy của Trung Quốc Trong khi khẳng định quân đội Mỹ mạnh nhất thế giới trong các dạng chiến tranh truyền thống, Mỹ cho rằng, Mỹ vẫn phải đối phó với những thách thức truyền thống xuất phát từ các quốc gia sử dụng những khả năng và lực lượng quân
sự công khai trong các hình thức cạnh tranh và xung đột quân sự quen thuộc Những thách thức này phần nhiều gắn với các quốc gia sử dụng lục quân, hải quân và không quân trong các hoạt động quân sự do các quốc gia vẫn duy trì tiềm lực quân sự để sẵn sàng đối phó với tình hình an ninh nội địa và an ninh khu vực [158; tr.44] Trong đó, Mỹ luôn tỏ ra lo ngại về khả năng cạnh tranh quân sự của Nga và Trung Quốc và cho rằng năng lực quân sự của hai nước này có thể đe doạ nước Mỹ và đồng minh, cạnh tranh với Mỹ trong các lĩnh vực quân sự và công nghệ then chốt hoặc đe doạ lợi ích của Mỹ bằng việc thay thế Mỹ và duy trì ảnh hưởng tại các khu vực quan trọng
Theo đánh giá của Mỹ, “Nga có ảnh hưởng lớn không chỉ ở châu Âu và vùng
lân cận, mà còn có ảnh hưởng đến nhiều khu vực khác nằm trong lợi ích sống còn đối với Mỹ như: Trung Đông rộng lớn, Nam và Trung Á, Đông Nam Á” [158; tr.39] Nga còn bị Mỹ đánh giá là thụt lùi về dân chủ và ít cởi mở hơn, có thể tạo ra những thách thức lớn đối với Mỹ, đồng minh châu Âu và các đối tác của Mỹ ở khu vực Nga sử dụng quyền tiếp cận các nguồn năng lượng để làm đòn bẩy, đã tuyên
bố chủ quyền ở Bắc cực, tiếp tục chèn ép các nước láng giềng [164; tr.3-4]
Từ khi Tổng thống Putin lên cầm quyền, kế thừa những thành quả quân sự của Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, Nga tiếp tục tăng chi tiêu quân sự, (xem biểu đồ 1, 3 Phụ lục 1), tiếp tục cải cách quân sự, cải tổ lực lượng vũ trang, hiện đại hoá quân đội, tập trung phát triển lực lượng phản ứng nhanh, khôi phục lại các chuyến bay tuần tiễu của các máy bay ném bom chiến lược Nga tiến hành
Trang 36hiện đại hóa kho vũ khí và “tuyên bố coi vũ khí hạt nhân là nền tảng an ninh”[12; tr.648] và sẵn sàng áp dụng đòn tiến công hạt nhân đáp trả các vũ khí hạt nhân và phi hạt nhân nhằm vào Nga Ngoài việc tiếp tục chế tạo các tổ hợp tên lửa di động
và cố định mới, cải tiến công nghệ kỹ thuật đối với lực lượng tên lửa chiến lược, Nga còn có kế hoạch lắp đặt một hệ thống phòng thủ trong không gian vũ trụ để đối phó với các mối đe doạ trên không, đồng thời quyết tâm khôi phục sức mạnh của lực lượng Hải quân Đồng thời, từ năm 2012 trở lại đây, Nga không ngừng sử dụng quân đội và sức mạnh quân sự nhằm triển khai sức mạnh ra bên ngoài, khẳng định vị thế cường quốc lớn toàn cầu
Ngoài ra, Nga đang tích cực cải thiện quan hệ và hợp tác quân sự với các cường quốc khu vực, bao gồm Trung Quốc, Iran và Venezuela; duy trì khả năng ảnh hưởng về quân sự trong không gian hậu Xôviết Trong khi Mỹ tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan, sa lầy vào cuộc chiến ở Iraq, can dự vào khu vực ảnh hưởng truyền thống và gia tăng sức ép về chính trị, quân sự đối với Nga, thì Nga cũng can dự vào khu vực sân sau của Mỹ thông qua nhiều động thái tăng cường hợp tác về chính trị, quân sự và kinh tế với các nước Mỹ Latinh Những hành động đó cho thấy Nga đang tìm kiếm ảnh hưởng và vai trò quốc tế lớn hơn Đặc biệt, học thuyết quân sự của Nga năm 2014 chỉ ra các mối đe dọa đối với an ninh Nga, đó là: “NATO mở rộng tiềm năng sức mạnh, cơ sở hạ tầng quân sự tiến sát biên giới Liên bang Nga, trong đó có việc mở rộng khối này; triển khai binh sỹ nước ngoài trên lãnh thổ các nước có chung biên giới với Liên bang Nga; hình thành và triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chiến lược” [93; tr.28]
Đã từ lâu, Mỹ vẫn coi Nga là đối thủ chiến lược nhưng thời gian gần đây, Nga liên tiếp có các động thái khẳng định quyền lực và việc Nga công khai coi NATO, Mỹ là đối thủ đã khiến Mỹ thêm quyết tâm trong các hành động quân sự tại châu Âu và NATO Trong quá trình hoạch định chiến lược quân sự toàn cầu, Nga được Mỹ coi là đối thủ số một
Không chỉ quan tâm đến việc gia tăng sức mạnh quân sự của nước Nga, chính
quyền Mỹ cho rằng Trung Quốc đã và đang có các hành động làm trầm trọng thêm
những mối quan tâm trên toàn bộ khu vực và thế giới bằng việc tăng cường quân sự thiếu minh bạch [158; tr.41] Trong những năm gần đây, sự trỗi dậy của Trung
Trang 37Quốc đã làm thay đổi hệ thống quốc tế và trực tiếp thách thức vai trò truyền thống của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương nhất là trong thời điểm Mỹ đang phải đối phó với các vấn đề ngân sách, hai cuộc chiến kéo dài chưa có hồi kết và sự chia rẽ chính trị trong nước Theo Robert Sutter (2009), khi nước Mỹ ngày càng sa lầy trong hậu quả của cuộc chiến Iraq và có vẻ như đã nhấn mạnh thái quá tới cái gọi
là “cuộc chiến chống khủng bố” thì Trung Quốc sử dụng chiến lược ngoại giao hiệu quả và đã nhanh chóng mở rộng thương mại và đầu tư dựa trên một nền kinh tế tăng trưởng hai chữ số, từ đó mở rộng tầm ảnh hưởng trong khu vực và triển khai vững chắc, thúc đẩy nhanh chóng tiềm năng quân sự [91]
Trong báo cáo thường niên đệ trình quốc hội Mỹ ngày 18/5/2012, Bộ Quốc phòng Mỹ nhận định rằng Trung Quốc đang tăng cường hiện đại hóa quân đội ở quy mô ngày càng tăng, tập trung đầu tư vào năng lực quân sự, cho phép lực lượng vũ trang Trung Quốc tiến hành các chiến dịch trên quy mô rộng, gồm cả những chiến dịch ở xa Trung Quốc nhằm chuẩn bị đề phòng các sự việc bất ngờ ở
eo biển Đài Loan Thời gian qua, thay đổi lớn nhất của chiến lược quân sự của Trung Quốc là thay đổi chiến lược mặt đất thành chiến lược hải dương nhằm phục
vụ cho chiến lược biển đầy tham vọng của nước này Trung Quốc tiếp tục duy trì đầu tư vào tên lửa hành trình hiện đại, tên lửa đạn đạo tiêu chuẩn tầm ngắn và tầm trung, năng lực quân sự về không gian, với mục tiêu cho phép thực hiện các nhiệm vụ chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) 1 Thực tế cho thấy, quân đội Trung Quốc đã tự sản xuất và trang bị được những chiến đấu cơ tiên tiến, thử nghiệm máy bay tàng hình J-20, máy bay ném bom H-6K, tên lửa chiến lược Đông Phong; triển khai đóng mới và đưa vào hoạt động nhiều tàu sân bay, tàu ngầm; hợp nhất sức mạnh phòng vệ trên không, chiến tranh dưới đại dương, tấn công chiến thuật và ngăn chặn hạt nhân; nâng cao năng lực chỉ huy và tác chiến; cùng các hoạt động huấn luyện và diễn tập đa dạng hơn trong tất cả các binh chủng bộ binh, hải quân và không quân Trung Quốc [148; tr.iv]
Ngoài ra, để thực hiện chiến lược biển nhằm tranh giành tài nguyên, ngăn chặn Mỹ và thể hiện sức mạnh trước các quốc gia trong khu vực, Trung Quốc không ngừng mở rộng xây dựng căn cứ hải quân ở vịnh Á Long (phía Nam đảo
1 Về chi tiêu quân sự, của Trung Quốc, xem thêm biểu đồ 4, 5 Phụ lục 1
Trang 38Hải Nam), hiện đại hóa trang thiết bị quân sự trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, củng cố các căn cứ quân sự tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa… Theo đánh giá của giới quân sự Mỹ, sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc sẽ ngăn chặn Mỹ triển khai các hành động quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Mặc dù hiện tại “tỷ lệ xảy ra xung đột là khá thấp, nhưng Bắc Kinh hoàn toàn có thể gây ra thiệt hại nặng nề tới lợi ích của Mỹ và đồng minh tại châu
Á – Thái Bình Dương” [140], thậm chí có khả năng gây thiệt hại nặng cho lực lượng truyền thống của Mỹ ở khu vực này Sự trỗi dậy về quân sự của Trung Quốc vừa là thách thức, cũng vừa là cơ hội để Mỹ tập hợp lực lượng bao vây, kiềm chế quân sự đối với Trung Quốc ở cả khu vực Đông Á và trên thế giới
1.2.1.2 Khủng bố quốc tế
Chủ nghĩa khủng bố quốc tế được Mỹ xem như là một trong những mối đe dọa chủ yếu đối với an ninh quốc gia và an ninh thế giới Khủng bố không phải là hiện tượng mới trong xã hội hiện đại nhưng chủ nghĩa khủng bố cũng như hoạt động khủng bố là một trong những thách thức phi truyền thống mà Mỹ xác định
là mục tiêu trong chính sách đối ngoại và chính sách quân sự - quốc phòng, là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến môi trường chiến lược, đe dọa đến lợi ích, an ninh của Mỹ và đồng minh thời gian vừa qua và những năm tới
Cuộc tấn công khủng bố vào nước Mỹ ngày 11/9/2001 là một sự kiện mang tính biến đổi đối với nước Mỹ vì nó cho thấy các xu hướng diễn ra ngoài lãnh thổ
có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của người dân Mỹ Các cuộc tấn công
đã nhằm vào chính vị thế siêu cường của nước Mỹ, gây tổn hại đến lợi ích của
Mỹ ở cả trong nước và nước ngoài Mỹ cho rằng những kẻ cực đoan đang phát động một cuộc chiến toàn cầu giành quyền kiểm soát chính quyền và coi Mỹ và phương Tây là trở lực chủ yếu ngăn chặn chúng, nên những kẻ cực đoan, bạo lực
sẽ sử dụng mọi phương tiện để tấn công khủng bố vào Mỹ cũng như các xã hội
“mở” và “tự do” khác Lực lượng khủng bố có thể tìm cách sử dụng mọi phương tiện, kể cả vũ khí hủy diệt hàng loạt nhằm vào các mục tiêu ở trong và ngoài nước
Mỹ, đặc biệt “sự tiếp cận của các phần tử khủng bố với các thiết bị hạt nhân có khả năng gây ra những hậu quả tàn phá đối với nước Mỹ” [168; tr.3] Về sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố, Mỹ cho rằng các mạng lưới khủng bố phân tán hơn
Trang 39và ít tập trung hơn Lực lượng khủng bố đã tấn công ở nhiều nơi kể cả ở Afghanistan, Ai Cập, Indonesia, Iraq, Israel, Jorrdan, Marocco, Pakistan, Nga, Arab Saudi, Tây Ban Nha và Anh… Mối đe dọa của chủ nghĩa cực đoan bạo lực không chỉ bó hẹp ở Nam Á Các nhóm như Al-Qeada ở Bán đảo Ảrập, Al-Qeada trong tổ chức Islamic Maghreb, tổ chức al-Shabaab, tổ chức Lashkar-e-Tayyiba
và những tổ chức khác có nguồn gốc từ Somali, Yemen và những nơi khác trên toàn thế giới đều là những mối đe doạ đến Mỹ [145; tr.6] Mỹ nhận định một số chế độ “độc tài” hậu thuẫn cho chủ nghĩa khủng bố, “một số nhà nước như Syria
và Iran tiếp tục trở thành nơi ẩn náu của lực lượng khủng bố và đỡ đầu cho hoạt động khủng bố ở nước ngoài” [158; tr.9] đe doạ trực tiếp an ninh cũng như những lợi ích của Mỹ
Trước sự nguy hiểm của chủ nghĩa khủng bố, chiến lược an ninh quốc gia
Mỹ năm 2002 nhấn mạnh: “Nước Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu Ưu tiên hàng đầu của Mỹ là đập tan và tiêu diệt các tổ chức khủng bố trên phạm vi toàn cầu, tấn công vào hàng ngũ cầm đầu, chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc; các nguồn hỗ trợ vật chất và tài chính của các tổ chức đó” [157; tr.5] Mỹ cho rằng, việc tiêu diệt Osama Bin Laden và bắt giữ hoặc tiêu diệt nhiều lãnh đạo cao cấp khác của Al Qaeda đã làm cho tổ chức này giảm bớt khả năng của nó Tuy nhiên, Al Qaeda và các chi nhánh của nó vẫn hoạt động ở Pakistan, Afghanistan, Yemen, Somali và những nơi khác, tiếp tục đe dọa những lợi ích, các đồng minh, các đối tác và đất nước Mỹ [168; tr.1] Trong lời công bố Chiến lược an ninh quốc gia năm 2015, Tổng thống Obama cam kết nước
Mỹ tiếp tục lãnh đạo liên minh quốc tế gồm hơn 60 đối tác trong chiến dịch toàn cầu nhằm làm suy yếu và cuối cùng là đánh bại Nhà nước Hồi giáo (ISIL) ở Iraq và Syria, trong đó có việc ngăn chặn các chiến binh nước ngoài đổ về hai nước này và tiếp tục gây áp lực với Al-Qaeda [160]
1.2.1.3 Nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD)
Trong bài phát biểu tại West Point, New York ngày 1 tháng 6 năm 2002, Tổng thống G W Bush tuyên bố: Mối đe doạ nguy hiểm nhất đối với tự do là sự kết hợp giữa chủ nghĩa cực đoan và công nghệ Khi các loại vũ khí hoá học, vũ khí sinh học, vũ khí hạt nhân cùng công nghệ tên lửa đạn đạo được phổ biến rộng
Trang 40rãi thì ngay cả các quốc gia nhỏ bé và các nhóm người nhỏ cũng có thể đạt được sức mạnh mang tính huỷ diệt để tấn công các quốc gia khác [157; tr.13] Việc phổ biến công nghệ hạt nhân, sinh học và hóa học có khả năng làm gia tăng các mối
đe dọa từ các nhân tố nhà nước, giúp họ tự do hành động hơn để thách thức những lợi ích của Mỹ Sự tiếp cận của các phần tử khủng bố với ngay cả các thiết bị hạt nhân có khả năng gây ra những hậu quả tàn phá đối với nước Mỹ [168; tr.3] Mặc dù có nhiều nỗ lực để ngăn ngừa nguy cơ phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt nhưng Mỹ cho rằng vẫn còn nhiều thách thức nghiêm trọng như:
“Iran đã vi phạm thô bạo những nghĩa vụ bảo vệ Hiệp ước chống phổ biến và khước từ việc đưa ra các cam kết khách quan rằng chương trình hạt nhân của họ chỉ phục vụ các mục đích hoà bình Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên tiếp tục làm mất ổn định trong khu vực và thách thức cộng đồng quốc tế, hiện đang mở rộng kho vũ khí hạt nhân cỡ nhỏ và một chương trình hạt nhân bất hợp pháp vi phạm thô bạo những nghĩa vụ quốc tế Lực lượng khủng bố kể cả những kẻ có liên hệ với mạng lưới Al Qaeda tiếp tục tìm kiếm vũ khí huỷ diệt hàng loạt Một số nguồn cung cấp nhiên liệu phân hạch ở cấp độ vũ khí - thành phần cơ bản để chế tạo vũ khí hạt nhân trên thế giới - đã không được bảo vệ một cách nghiêm ngặt Những tiến bộ trong công nghệ sinh học tạo ra nhiều cơ hội lớn hơn cho các tổ chức chính phủ
và phi chính phủ có thể nghiên cứu những mầm bệnh và thiết bị nguy hiểm”