1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ

101 416 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 731,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là luận án TS Câu cảm thán trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2004 nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, đặc điểm về hình thức của câu cảm thán trong tiếng Việt, ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BẠCH QUỲNH HOA

HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Mã số: 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS- TS Hà Quang Năng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chƣa đƣợc công bố trong một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Bạch Quỳnh Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Ngôn ngữ khóa 21, giai đoạn 2013 – 2015 của trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của tập thể thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Phòng Đào tạo

bộ phận Quản lý Sau Đại học và Ban Giám hiệu trường đại học Sư phạm Thái Nguyên, cùng các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho lớp Cao học K21 - Ngôn ngữ học Thầy cô đã luôn tạo điều kiện cho

em có cơ hội học tập và nghiên cứu khoa học

Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành , sâu sắc tới PGS- TS Hà Quang Năng - người thầy rất nghiêm khắc, nhiệt tình, tận tâm trong công việc đã truyền thụ nhiều kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Bạch Quỳnh Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG iv

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6

1.1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 6

1.1.1 Khái niệm "hành vi ngôn ngữ" 6

1.1.2 Các loại hành vi ngôn ngữ 7

1.1.2.1 Hành vi tạo lời 7

1.1.2.2 Hành vi mượn lời 7

1.1.2.3 Hành vi ở lời 7

1.1.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời 7

1.1.4 Phân loại hành vi ở lời 8

1.1.4.1 Hành vi ở lời trực tiếp 9

1.1.4.2 Hành vi ở lời gián tiếp 9

1.2 Hành vi cảm thán 10

1.2.1 Khái niệm "hành vi cảm thán" 10

1.2.2 Các thành tố của hành vi cảm thán 11

1.2.2.1 Đối tượng cảm thán 11

1.2.2.2 Nội dung cảm thán 13

1.3 Hành vi cảm thán và câu cảm thán 13

1.3.1 Khái niệm câu cảm thán 13

Trang 6

1.3.2 Mối quan hệ giữa hành vi cảm thán và câu cảm thán 14

1.4 Lý thuyết hội thoại 15

1.4.1 Khái niệm hội thoại 15

1.4.2 Vận động hội thoại 16

1.4.2.1 Sự trao lời 16

1.4.2.2 Sự trao đáp 16

1.4.2.3 Sự tương tác 17

1.4.3 Cấu trúc hội thoại 18

1.4.3.1 Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích hội thoại 18

1.4.3.2 Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn 18

1.4.3.3 Cấu trúc hội thoại theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp 19

1.4.4 Các quy tắc hội thoại 20

1.4.4.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời 21

1.4.4.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại 21

1.4.4.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự 21

1.5 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 22

Tiểu kết 23

Chương 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ 24

2.1 Phương tiện thể hiện hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ 24

2.1.1 Dùng từ cảm thán 24

2.1.1.1 Kết quả thống kê, phân loại 24

2.1.1.2 Phân tích 24

2.1.2.Sử dụng quán ngữ 32

2.1.2.1 Kết quả thống kê, phân loại 33

2.1.2.2.Phân tích 35

2.2 Các loại hành vi cảm thán trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ 37

2.2.1 Hành vi cảm thán trực tiếp 38

2.2.1.1 Hành vi cảm thán có các từ cảm thán đi kèm 38

Trang 7

2.2.1.1.1 Hành vi cảm thán sử dụng từ cảm thán đích thực 38

2.2.1.1.2 Hành vi cảm thán sử dụng từ cảm thán lâm thời 40

2.2.1.2 Hành vi cảm thán nhận diện qua dấu chấm than ("!") 49

2.2.2 Hành vi cảm thán gián tiếp 50

2.2.2.1 Câu hỏi nhằm mục đích thể hiện hành vi cảm thán 50

2.2.2.2 Câu cầu khiến nhằm mục đích thể hiện hành vi cảm thán 54

2.2.2.3 Câu kể nhằm mục đích thể hiện hành vi cảm thán 56

TIỂU KẾT 59

Chương 3: CHỨC NĂNG VỀ HÀNH VI CẢM THÁN CỦA HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 61

3.1 Dẫn nhập 61

3.2 Chức năng duy trì cuộc thoại của hành vi cảm thán 62

3.2.1 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi hỏi 62

3.2.1.1 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi hỏi nhằm mục đích để trả lời 63

3.2.1.2 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi hỏi mục đích để khẳng định 63

3.2.1.3 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi hỏi nhằm mục đích ra lệnh, cầu khiến 64

3.2.1.4 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp hành vi hỏi mục đích để trách móc, mỉa mai 65

3.2.2 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cầu khiến 66

3.2.3.1 Hành vi cảm thán hồi đáp hành vi cầu khiến để yêu cầu, ra lệnh 66

3.2.3.2 Hành vi cảm thán hồi đáp hành vi cầu khiến để khuyên 67

3.2.3.3 Hành vi cảm thán hồi đáp hành vi cầu khiến thúc giục 67

3.2.3 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cảm thán 68

3.2.2.1 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cảm thán tích cực 68

3.2.2.2 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi cảm thán tiêu cực 69

3.2.4 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi thông báo 70

3.2.5 Hành vi cảm thán được dùng để hồi đáp cho hành vi thuyết phục 71

Trang 8

3.2.6 Hành vi cảm thán đƣợc dùng để hồi đáp cho hành vi kể 72

3.2.7 Hành vi cảm thán đƣợc dùng để hồi đáp cho hành vi chửi 73

3.2.8 Hành vi cảm thán đƣợc dùng để hồi đáp cho hành vi đánh giá 74

3.2.9 Hành vi cảm thán đƣợc dùng để hồi đáp cho hành vi nhắc nhở 75

3.3 Chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán 75

3.3.1 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại thể hiện bằng hành vi cầu khiến 76

3.3.2.Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại thể hiện bằng hành vi chào, hô gọi 77

3.3.3 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để tuyên bố, thông báo 78

3.3.4 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để chửi 78

3.3.5 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để nhận xét, đánh giá 79

3.3.6 Hành vi cảm thán dẫn nhập cuộc thoại để đe dọa 80

3.4 Chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán 80

3.4.1 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại đƣợc thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi cầu khiến 81

3.4.2 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại đƣợc thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi nhận xét, đánh giá 82

3.4.3 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại đƣợc thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi than thở 83

3.4.4 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại đƣợc thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi tuyên bố, thông báo 84

3.4.5 Hành vi cảm thán kết thúc cuộc thoại đƣợc thực hiện gián tiếp bằng biểu thức của hành vi chửi 85

Tiểu kết 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng thống kê, phân loại từ cảm thán 24

Bảng thống kê, phân loại quán ngữ đƣa đẩy 33

Bảng thống kê chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại 60

Bảng thống kê chức năng duy trì cuộc thoại của hành vi cảm thán 60

Bảng thống kê chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán 75

Bảng thống kê chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán 79

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngữ dụng học là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp Tuy ra đời chưa lâu song bộ môn khoa học này đã phát triển mạnh mẽ cả về lí thuyết, cả về những nghiên cứu cụ thể, khiến ngôn ngữ học không còn nằm trong hệ thống khép kín của cấu trúc luận nội tại

mà đã đi vào thực tế đa dạng của đời sống ngôn ngữ Nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, đặc biệt là hành vi ở lời, là phần việc quan trọng của ngữ dụng học Từ khi lý thuyết hành vi ngôn ngữ ra đời, người ta bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực hoạt động thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, tức nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ vai trò hành chức của nó

Trong giao tiếp, để bày tỏ được ý định, mục đích của mình, người ta thường dùng nhiều loại hành vi ngôn ngữ Trong đó hành vi cảm thán là hành vi thể hiện rõ nhất tình cảm, cảm xúc của con người Hành vi này thường được biểu thị bằng câu cảm thán gắn liền với giao tiếp, với môi trường sử dụng tức là môi trường hội thoại

Là một gương mặt tiêu biểu của văn xuôi nữ sau Đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ ngay từ những truyện ngắn đầu tiên đã tìm ngay cho mình một vị trí xứng đáng trên văn đàn văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại Không thuộc số những nhà văn viết nhiều, Thu Huệ chỉ viết khi câu chuyện đã đầy ắp trong tim óc cần hiện diện ra thành câu chữ Vì thế hơn hai mươi năm cầm bút, số lượng bà viết không thật nhiều

Chúng được tập hợp trong sáu tập: Cát đợi (1992); Hậu thiên đường (1993); Phù thủy (1995); Nào, ta cùng lãng quên (2003); 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2010);

và gần đây nhất là tập Thành phố đi vắng (2012) Bà cũng là nữ nhà văn đã tạo dựng

được phong cách riêng và đặc biệt có duyên với các giải thưởng: Giải nhất cuộc thi sáng tác về Hà Nội, Giải nhất cuộc thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tặng thưởng Hội

nhà văn với tác phẩm Hậu thiên đường Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía

cạnh khác nhau đối với truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Tuy nhiên ở bình diện ngôn ngữ chưa được chú ý nhiều, trong đó, hành vi cảm thán trong truyện ngắn của Thu Huệ vẫn là đề tài chưa từng được nghiên cứu

Trên đây là lí do để chúng tôi chọn đề tài: “Hành vi cảm thán trong truyện

ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”

Trang 11

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về hành vi cảm thán và câu cảm thán

Từ cuối những năm 80 trở lại đây, ở Việt Nam vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ nói chung và hành vi cảm thán nói riêng đã được đưa vào giảng dạy trong các trường học Cảm thán trở thành vấn đề ngữ dụng quen thuộc Câu cảm thán

là một trong bốn kiểu câu phân theo mục đích nói năng: Câu tường thuật, Câu nghi

vấn, Câu cảm thán và Câu cầu khiến Việc phân chia như trên được đề cập nhiều trong

các tác phẩm nghiên cứu về ngữ pháp học và cả trong ngữ dụng học Đó là các công trình: Ngữ dụng học của Nguyễn Đức Dân, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, phần viết

về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, Dụng học Việt Ngữ của Nguyễn Thiện Giáp…

Ngoài ra có nhiều bài nghiên cứu về từ cảm thán, câu cảm thán như: Sắc thái cảm thán

qua một số từ cảm thán trong tiếng Việt và ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt thực hành (Tạp chí Khoa học - KHXH - ĐHQGHN, số 6/1999); Một số hình thức hỏi biểu thị cảm thán trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2003, Hà Nội) Đặc biệt là

luận án TS Câu cảm thán trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc, 2004

nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, đặc điểm về hình thức của câu cảm thán trong tiếng Việt, nghiên cứu câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng để nêu lên được các giá trị cơ bản của câu cảm thán trong tiếng Việt, giúp hiểu thấu đáo các nét sắc thái cảm thán được thể hiện trong câu cảm thán và tầm tác động của câu cảm thán trong

hành thức

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về hành vi cảm thán chưa nhiều Theo thu thập của chúng tôi có các công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Hà Thị Hải Yến,

Phạm Kim Thoa Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hải Yến (2004): Hành vi cảm thán

và sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt Luận án đã nghiên cứu hành vi cảm thán,

sự kiện, lời nói cảm thán trong hội thoại, cụ thể là trong cặp thoại, đoạn thoại và trong một số hình thức hội thoại đặc biệt như lời than khóc trong lễ tang, nhật kí, điếu văn, văn tế Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu về hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng Việt Luận án đã xây dựng định nghĩa về hành vi cảm thán,

sự kiện lời nói cảm thán; chỉ ra được biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi của hành vi

Trang 12

cảm thán trong sự kiện lời nói cảm thán, phân loại hành vi cảm thán, đồng thời đưa ra cấu trúc hình thức của sự kiện lời nói cảm thán trong tiếng Việt Qua đó, luận án khẳng định vị trí, vai trò của hành vi cảm thán, sự kiện lời nói cảm thán trong hội thoại tiếng

Việt Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Kim Thoa (2009): Hành vi cảm thán trong

Truyện Kiều Luận văn đã khảo sát, tìm hiểu các phương tiện thể hiện hành vi cảm

thán và các loại hành vi cảm thán trong Truyện Kiều Từ đó tác giả tìm hiểu sâu thêm

về vai trò của hành vi cảm thán trong việc xây dựng hình tượng nhân vật và thể hiện thái độ của tác giả Nguyễn Du trong Truyện Kiều Luận văn đã mở ra một hướng nghiên cứu tác phẩm Truyện Kiều dưới góc độ ngữ dụng học Bên cạnh đó còn có đóng góp của hai luận văn nghiên cứu về hành vi cảm thán trong tác phẩm của Vũ

Trọng Phụng là hành vi cảm thán trong ba tiểu thuyết Số đỏ, Giông tố, Làm đĩ và hành

vi cảm thán trong một số phóng sự của ông

2.2 Các công trình nghiên cứu về Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút trẻ tiêu biểu của nền văn học hiện đại sau 1975 Nguyễn Thị Thu Huệ có một phong cách viết độc đáo, thu hút nhiều độc giả và các nhà nghiên cứu khoa học Theo khảo sát của chúng tôi cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự nghiệp của bà, song chủ yếu tìm hiểu, nghiên cứu từ góc độ văn học của các tác giả sau: Bùi Thị Duyên với công trình nghiên cứu khoa học có tên đề

tài “Nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại Việt Nam (qua sáng

tác của Dạ Ngân, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư)”; Nguyễn Thị Hoa

với luận văn thạc sĩ “Nhân vật nữ trong truyện ngắn ba tác giả nữ Y Ban, Võ Thị Hảo,

Nguyễn Thị Thu Huệ” (năm 2003), Lê Thị Hương Thủy với luận văn thạc sĩ khoa học

ngữ văn có tên đề tài là “Truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì đổi mới ” (qua

sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Lí Lan) (năm 2004) Ngoài ra còn có luận văn thạc sĩ khoa học của tác giả Lê Thị Tuyết với tên đề tài

“Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ , Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu” (năm 2010) Bên cạnh đó còn có khá nhiều bài tiểu luận, bài viết được in trên

các tạp chí Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mới từ góc độ văn học, chưa có công trình nào nghiên cứu về hành vi cảm thán trong tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 13

Như vậy, căn cứ vào tình hình thực tiễn nghiên cứu về hành vi cảm thán và về tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi chưa thấy có công trình nghiên cứu nào về tác

phẩm của bà Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của

Nguyễn Thị Thu Huệ” làm đề tài cho luận văn của mình

3 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu nghiên cứu hành vi cảm

thán trong hai tập truyện ngắn : “37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” và tập “Thành

phố đi vắng”

3.2 Mục đích

Chúng tôi vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại để nghiên cứu các phương tiện biểu thị hành vi cảm thán, các loại hành vi cảm thán và chức năng của hành vi cảm thán trong tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Phục vụ hiệu quả trong việc giảng dạy Ngữ văn phần Tiếng Việt Ngoài ra còn phục

vụ cho giảng dạy một số tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là một số tác phẩm văn học hiện đại sau 1975

3.3 Nhiệm vụ

Luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nắm vững và biết vận dụng những cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài để xác lập một khung lí thuyết cho đề tài luận văn

- Khảo sát, thống kê, phân loại các phương tiện thể hiện hành vi cảm thán, các loại hành vi cảm thán trong tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

- Tìm hiểu chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại: Chức năng dẫn nhập cuộc thoại, chức năng duy trì cuộc thoại và chức năng kết thúc cuộc thoại

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình nghiên cứu chúng tôi để tiến hành thống kê khảo sát và phân loại các phương tiện thể hiện hành vi cảm thán, các loại hành vi cảm thán, chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại

Trang 14

4.2 Phương pháp phân tích, miêu tả

Chúng tôi tiến hành phân tích ngữ liệu, miêu tả các hiện tượng, để thấy được một cách cụ thể đặc điểm hành vi cảm thán trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Từ đó rút ra nhận định tổng quát về đối tượng nghiên cứu

4.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Phương pháp này được chúng tôi tiến hành sử dụng để phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ với vai trò là ngữ liệu để rút ra các phương tiện thể hiện hành vi cảm thán, các chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại

5 Đóng góp của luận văn

- Đưa ra cách tiếp cận mới đối với truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ trên cơ

sở kiến thức liên ngành ngôn ngữ và văn học

- Đóng góp thực tiễn vào việc phân tích và giảng dạy một số tác phẩm văn chương trong nhà trường, đặc biệt là đối với một số truyện ngắn hiện đại sau 1975

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết

- Chương 2: Các phương tiện thể hiện hành vi cảm thán trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

- Chương 3: Chức năng hành vi cảm thán trong hội thoại tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm "hành vi ngôn ngữ"

Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách

sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ là một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ

J.T Austin - một nhà triết học người Anh là người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết hành vi ngôn ngữ trong cuốn sách được công bố sau khi ông qua

đời How to do things with words Người phát triển lí thuyết này là nhà triết học J.Searle với công trình Speech Acts

Ở Việt Nam, từ cuối những năm 1980 trở lại đây, vấn đề hành vi ngôn ngữ đã thu hút được sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Các nhà nghiên cứu

ngôn ngữ học Việt Nam đã trình bày khái niệm “hành vi ngôn ngữ” như sau:

Theo Đỗ Hữu Châu: "Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta

thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C"[7; 88]

Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn từ, ông cho rằng:

"Các hành động được thực hiện bằng lời là hành động ngôn từ Hành động ngôn từ

chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn" [14; 337-338]

Trong "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học", hành vi ngôn ngữ được các nhà nghiên cứu định nghĩa là: "Một đoạn lời nói có tính mục đích nhất định được

thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó"[40; 107]

Như vậy, "hành vi ngôn ngữ" chính là một hành động sử dụng ngôn từ nhằm

tác động đến người tiếp nhận lời trong giao tiếp; nó gắn liền với hoạt động nói năng của con người và mang tính chất xã hội

Trang 16

1.1.2 Các loại hành vi ngôn ngữ

Austin cho rằng hành động ngôn ngữ có ba loại hành vi lớn là acte

locutoire, acte perlocutoire, acte illocutoire, Đỗ Hữu Châu đã dịch là: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời

1.1.2.1 Hành vi tạo lời

Là hành động nói tạo ra một chuỗi các âm thanh có nghĩa làm thành nội dung mệnh đề (nội dung phán đoán) trong lời Từ đó ý nghĩa của lời được xác lập Đây là phần ý nghĩa biểu thị nội dung mệnh đề

1.1.2.2 Hành vi mượn lời

Là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận

hoặc chính người nói Hành động mượn lời khi thực hiện một phát ngôn là hành vi

nhằm gây ra những biến đổi trong nhận thức, trong tâm lý (xúc động, yên tâm, bực mình, phấn khởi ), trong hành động vật lý có thể quan sát được gây ra một tác động nào đấy đối với ngữ cảnh

1.1.2.3 Hành vi ở lời

Hành vi ở lời (còn được gọi là hành động ngôn trung) là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng nhằm gây ra những hiệu quả ngôn ngữ, tức là chúng ta gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận Đó là hành động nói được thực hiện bằng một lực thông báo của một phát ngôn (lực ngôn trung) thể hiện mục đích giao tiếp nhất định của lời (đích ngôn trung) như trần thuật, hỏi, cầu khiến làm nên ý nghĩa ngôn trung Đích ngôn trung và lực ngôn trung đều được dùng làm tiêu chí nhận diện hành động ngôn trung bởi vì cùng một mục đích ngôn trung lại có thể được thực hiện bằng những lời mang lực ngôn trung khác nhau

Như vậy, khi thực hiện một phát ngôn, người nói thực hiện ba loại hành vi này, trong đó hành vi ở lời được các nhà ngữ dụng học quan tâm nhất, đồng thời đây là loại hành động tạo nên sắc thái giao tiếp phong phú, chính vì vậy ở luận văn này chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích, khảo sát đối tượng nghiên cứu hành vi ở lời

1.1.3 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Đỗ Hữu Châu định nghĩa: "Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những

điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ

Trang 17

cảnh của sự phát ngôn ra nó."[7; 111] Theo Austin, điều kiện sử dụng các hành vi ở

lời là các điều kiện "may mắn", nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt hiệu quả

Sau khi điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của Austin, Searle

đã gọi chúng là những điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn Ông cho rằng có bốn điều kiện sử dụng các hành vi ở lời sau:

a Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành động Nội dung

mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín hay miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với câu hỏi khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng có hoặc không; phải, không phải…) Nội dung của mệnh đề có thể là hành động của người nói (hứa hẹn), hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu)

b Điều kiện nội dung chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn

về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về mối quan hệ giữa người nói, người nghe Ví dụ khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận lệnh có khả năng thực hiện hành động quy định trong lệnh…sự hứa hẹn có ý muốn thực hiện lời hứa

và người nghe cũng thực sự mong muốn lời hứa được thực hiện Khảo nghiệm, xác tín, không những đòi hỏi người nói nói một cái gì đó đúng mà còn đòi hỏi anh ta phải có những bằng chứng

c Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người

phát ngôn Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói…

d Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe

bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều được nói ra)

1.1.4 Phân loại hành vi ở lời

Người ta chia các hành vi ngôn ngữ ra hai loại: hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

Trang 18

1.1.4.1 Hành vi ở lời trực tiếp

Theo Đỗ Hữu Châu, hành vi ở lời trực tiếp được hiểu là: " các hành vi ngôn

ngữ chân thực, nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với các điều kiện sử dụng, đúng với các đích ở lời của chúng đúng với các điều kiện sử dụng."[7; 145]

George Yule thì quan niệm: "Chừng nào có mối liên hệ trực tiếp giữa một cấu

trúc và một chức năng, thì ta có một hành động nói trực tiếp" [43; 110] và Nguyễn

Thiện Giáp cũng có chung quan điểm như vậy

Ví dụ 1: “Trời ơi!Những kẻ đã phá hoại ta lại là những kẻ ruột thịt và thân thiết

nhất với ta Phải thế nào bây giờ…” [1; 116]

Đây là phát ngôn trong truyện ngắn “Thiếu phụ không chồng” của nhân vật Hảo

với hành vi cảm thán thể hiện trực tiếp thái độ đau khổ, phẫn uất, thất vọng, bất lực

khi biết chồng mình ngoại tình với chính em gái mình là My

1.1.4.2 Hành vi ở lời gián tiếp

Sử dụng hành vi ở lời trực tiếp sẽ hạn chế được hiện tượng mơ hồ về nghĩa, song trong cuộc sống không phải lúc nào người ta cũng có thể nói thẳng ra ý định của mình Chính vì vậy người ta hay mượn hành vi ngôn ngữ này để biểu đạt hiệu quả ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác tạo thành hành vi ở lời gián tiếp Vấn đề này đã được Austin, Searle và nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới quan tâm nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn

Thuật ngữ hành vi ở lời gián tiếp là do Searle đặt ra Theo ông, " một hành vi

ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp"[9; 60] George Yule và Nguyễn Thiện Giáp cũng có cùng quan

điểm mà Searle đặt ra Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: "Một hành vi ngôn ngữ được

gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ của hành vi tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói"[10; 229]

Hành vi ở lời gián tiếp được Đỗ Hữu Châu quan niệm như sau: "Trong thực tế

giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành

vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành

Trang 19

vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác"

[7; 145-146]

Ví dụ 2 : “- Anh im đi Ai cho anh xúc phạm tôi? anh là bố tôi hay sao mà

phán xét tôi như thế? Anh nói vô lí thế mà cũng nghe được hả? ” [1; 141]

Đây là những câu hỏi tu từ của nhân vật cô gái, mục đích không phải để hỏi mà thể hiện tâm trạng tức giận, đau khổ khi bị thói ghen tuông gia trưởng vô lối của người

yêu hành hạ trong truyện ngắn “Tình yêu ơi, ở đâu?”

Hành vi ở lời gián tiếp nhiều khi mang lại hiệu quả cho mục đích giao tiếp hơn

là cách nói trực tiếp, góp phần tạo nên sự phong phú của ngôn ngữ hội thoại, vừa là môi trường để hành vi ngôn ngữ bộc lộ các khả năng vốn có Tuy vậy, không thể tuỳ tiện dùng mọi hành vi ở lời trực tiếp để tạo ra mọi hành vi ở lời gián tiếp Người sử dụng ngôn ngữ cần dựa vào những điều kiện nhất định để lựa chọn cách sử dụng hành

vi ở lời trực tiếp hay gián tiếp để đạt được mục đích giao tiếp

1.2 Hành vi cảm thán

1.2.1 Khái niệm "hành vi cảm thán"

Theo Từ điển tiếng Việt, từ cảm thán là từ "biểu thị tình cảm, cảm xúc” Từ cảm

thán đồng thời là phương tiện biểu thị hành vi cảm thán

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học đã có nhiều quan niệm khác nhau được đưa ra

về hành vi này Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi cảm thán là hành động biểu cảm và

định nghĩa " người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong nội

dung mệnh đề, như xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh Đặc trưng của hành động biểu cảm là : làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm thấy tình huống" [14; 384]

Còn Yule thì gọi hành vi cảm thán là hành động bộc lộ " là những thứ hành

động trình bày cái mà người nói cảm nhận Chúng bộc lộ những trạng thái tâm lí và

có thể trình bày sự hài lòng, nỗi đau khổ, sự ưa thích, sự không ưa thích, niềm hoan hỉ, hoặc nỗi buồn Những hành động này có thể do cái mà người nói hoặc người nghe gây ra, nhưng chúng đều là nói lên kinh nghiệm của người nói" [ 43; 107]

Trang 20

Trong luận án tiến sĩ ngữ văn: “Hành vi cảm thán và sự kiện lời nói cảm thán” tác giả Hà Thị Hải Yến cũng đưa ra một cách hiểu về hành vi cảm thán:" Cảm thán là

một hành vi ngôn ngữ mà người nói thực hiện, nhằm bộc lộ trạng thái tình cảm, cảm xúc không thể kìm nén của mình trước sự tác động của một sự vật, sự việc hay sự kiện nào đó đã, đang hoặc sắp xảy ra" [ 42; 20]

Như vậy khi nghiên cứu về hành vi cảm thán, các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm: hành vi cảm thán là một hành vi ngôn ngữ bộc lộ tình cảm, cảm xúc mang tính tức thời, tự phát ở mọi lúc, mọi nơi Cảm thán chỉ được thực hiện khi trạng thái tâm lí đang tồn tại ở một mức độ nào đó không thể không nói ra

* Một số đặc trưng nhận diện hành vi cảm thán: Hành vi cảm thán được biểu thị trong những câu có dấu hiệu hình thức:

- Có từ ngữ cảm thán chuyên biệt

- Có từ hoặc tổ hợp từ biểu thị cảm xúc đau đớn, buồn bực, vui sướng hạnh phúc, hoặc bộc lộ thái độ lo lắng, sợ hãi, giận dữ, ngạc nhiên,

* Một số kiểu kết cấu đặc trưng biểu thị hành vi cảm thán:

- Kiểu kết cấu: x ơi là x ( x là danh từ): con ơi là con, cháu ơi là cháu,

sử với chả sách

- Sự vật, sự kiện thuộc về người cảm thán

Trang 21

Ví dụ 3 : “Trời ơi! Những kẻ đã phá hoại ta lại là những kẻ ruột thịt và thân

thiết nhất với ta Phải thế nào bây giờ…” [1; 116]

Đây là phát ngôn của nhân vật Hảo với hành vi cảm thán thể hiện trực tiếp thái

độ đau khổ, phẫn uất, thất vọng, bất lực khi biết chồng mình ngoại tình với chính em

gái mình là My

- Sự vật, sự kiện thuộc về người tiếp nhận cảm thán

Ví dụ 4: “ Những trò đó là của đàn ông Em là con gái, phải giữ bản tính

của mình chứ!” [1;32]

Đây là phát ngôn của thầy chủ nhiệm không bằng lòng và góp ý chân tình với Hoài khi biết cô có lối sống ngang tàng, phá phách Hành vi cảm thán này hướng về

đối tượng người nghe là Hoài trong truyện ngắn “Xin hãy tin em”

- Sự vật, sự kiện thuộc về người thứ ba

Ví dụ 5 : “Thằng khốn nạn! Nó bỏ vợ bỏ con bơ vơ Lại lừa con tôi Tôi phải

giết nó! Thân tàn ma dại rồi con ơi! !” [1; 162]

Sự việc nhân vật chàng trai yêu và đi chơi tối với cô gái, bị người mẹ hiểu lầm rằng con gái bà và anh quan hệ với nhau, bà đau khổ thật sự và quát mắng con gái Nhân vật anh là người thứ ba Sự kiện này không thuộc về người cảm thán (người mẹ), cũng không thuộc về người tiếp nhận cảm thán (cô con gái), mà thuộc về nhân vật

chàng trai trong truyện ngắn “Biển ấm”

- Sự vật, sự kiện thuộc về ngoại cảnh, cuộc sống xung quanh

Ví dụ 6: “ Xe dừng lại trên đỉnh dốc

Bà thốt lên: Yên bình quá!” [1; 459]

Cảnh vật nên thơ của thiên nhiên là những sự kiện đã tác động đến người nói khiến họ thốt lên một phát ngôn cảm thán

Qua các ví dụ nêu trên, có thể thấy chính sự vật, sự kiện là những nhân tố quan yếu làm nảy sinh các trạng thái cảm xúc của người nói, khiến họ không thể kìm giữ nổi tâm trạng của mình và buộc phải thực hiện hành vi cảm thán Tuy vậy, để được cộng đồng chấp nhận và tuân theo thì hành vi cảm thán phải đạt đến một ngưỡng nhất định

Do đó, trong thực tế, người ta chỉ cảm thán khi cảm xúc ở ngưỡng cho phép và được mọi người chấp nhận Nếu chưa đến ngưỡng mà người nói đã cảm thán thì hành vi cảm thán đó bị coi là không hợp tự nhiên và nhiều khi còn bị người nghe phê phán

Trang 22

1.2.2.2 Nội dung cảm thán

Trong giao tiếp hàng ngày, có một số vấn đề thường được cảm thán đó là:

- Cảm thán về lĩnh vực riêng tư: là những hành vi cảm thán bắt nguồn từ nguyên nhân thuộc về lĩnh vực riêng tư của đời sống con người, gồm tinh thần và thể chất.Thông thường, ngoại cảnh là nguyên nhân làm nảy sinh các trạng thái tâm lí như vui sướng, hạnh phúc hay lo sợ, đau buồn,

Ví dụ 7 : “Tại sao? Mà Dương là anh rể em, có thích cũng không được phép

Đó là tội loạn luân!” [1;113]

Đây là phát ngôn của nhân vật Hảo nói với My trong truyện ngắn “Thiếu phụ

chưa chồng” thể hiện tâm trạng đau khổ, phẫn uất đến tột cùng khi biết được mối quan

hệ ngoại tình bất chính giữa em gái và chồng mình Nếu hành vi cảm thán thuần về thể chất thì lí do dẫn đến cảm thán chính là trạng thái sinh lí đối với chủ thể phát ngôn, như: mệt mỏi, đau đớn, đói,

Ví dụ 8:“Về ngủ đi Em đi xa chắc mệt lắm!” [1;158]

- Cảm thán về lĩnh vực đời sống xã hội

Nguyên nhân dẫn đến loại cảm thán này xuất phát từ những vấn đề xã hội như: văn hoá, xã hội, chính trị, chế độ, tôn giáo, tâm linh,

Ví dụ 9 : “Anh đói quá! Có gì ăn không? Tối nay đi xem phim nhé? Phim

“Xác chết trên cao nguyên”, thấy bảo như phim ma của Mĩ mà ở các quán giải khát mình vẫn ngồi uống rồi xem ấy! ” [1;170]

Đây là phát ngôn của nhân vật Đàm nói chuyện với Thanh trong truyện ngắn

“Xin hãy tin em” thể hiện thái độ hồ hởi, vui vẻ , có chút vô tâm không để ý đến sự

đau khổ của Hoài

1.3 Hành vi cảm thán và câu cảm thán

1.3.1 Khái niệm câu cảm thán

Câu cảm thán giữ vai trò hết sức quan trọng trong giao tiếp tiếng Việt Đây

là loại câu đặc biệt cả về mặt nội dung ý nghĩa lẫn hình thức biểu hiện và có giá trị biểu cảm rất lớn Về loại câu này hiện nay có nhiều cách hiểu như sau:

Trong Từ điển tiếng Việt, câu cảm thán được tường giải là câu "biểu lộ

tình cảm, cảm xúc" Câu cảm thán còn được gọi là câu biểu cảm

Trang 23

Trong cuốn Câu trong tiếng Việt do Cao Xuân Hạo chủ biên, câu cảm thán được xác định "là câu của một hành động ngôn trung bộc lộ cảm xúc, tình cảm"

Các tác giả cho rằng có loại câu cảm thán điển hình (là câu cảm thán đặc biệt) và câu cảm thán không điển hình (là các câu có nguyên hình thức trần thuật hoặc có hình thức trần thuật kết hợp với những đại từ không xác định làm chúng có dáng dấp câu hỏi)

"Câu cảm thán dùng để bộc lộ những cảm xúc, tình cảm, thái độ của người nói đối với sự vật hay hiện tượng được nói đến" [20; tr.98] Hoàng Trọng Phiến gọi câu

cảm thán bằng thuật ngữ "câu than gọi" và cho rằng loại câu này " thể hiện hành vi

bộc lộ những cảm nghĩ, suy tư nội tâm, thái độ của chủ thể phát ngôn trước một sự kiện, sự tình, hiện tượng mong tìm một sự chia sẻ của người tiếp ngôn" [31; 367]

Như vậy những quan niệm đều thống nhất ở một điểm: Câu cảm thán là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát của người nói, thường được dùng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ văn chương

1.3.2 Mối quan hệ giữa hành vi cảm thán và câu cảm thán

Về mặt nội dung biểu hiện, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng: câu cảm thán là loại câu biểu thị cảm xúc, tình cảm, trạng thái tâm lí đặc biệt Sự thể hiện đó thường được thông qua các phương tiện đặc biệt là từ, cụm từ và ngữ điệu

Về mặt hình thức biểu hiện, các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Từ cảm thán chính là hình thức biểu hiện tiêu biểu của câu cảm thán Tuy vậy, câu cảm thán còn có thể dùng các phương tiện tình thái khác như thực từ, trợ từ, phó từ, kết

từ, ngữ điệu, và một số cấu trúc không bao hàm từ cảm thán

Trong mối tương quan giữa hành vi cảm thán với câu cảm thán, có thể nhận thấy rằng: "hành vi cảm thán" là một khái niệm thuộc ngữ dụng học còn "câu cảm thán" là khái niệm thuộc cú pháp học Khái niệm "hành vi cảm thán" có thể trùng với khái niệm "câu cảm thán", đặc biệt khi nó chỉ là biểu thức ngữ vi

nguyên cấp, không có thành phần mở rộng, ví dụ: "Ối !", "Chao ôi !", "Khốn thay

!" Ở góc độ ngữ pháp, các ví dụ được coi như những câu cảm thán đặc biệt, ở góc

độ ngữ dụng, đó là các hành vi cảm thán

Trang 24

Cấu trúc của câu cảm thán thường gồm hai phần: phần cảm thán + phần nêu lí do cảm thán Trong đó, phần cảm thán biểu thị hành vi cảm thán được coi là trung tâm, phần nêu lí do cảm thán được coi là thành phần mở rộng để giải thích lí do cảm thán

Hành vi cảm thán khi có thành phần mở rộng là các hành vi ngôn ngữ khác

đi kèm sẽ tạo nên phát ngôn ngữ vi cảm thán (ví dụ: Ối giời ôi, chết tôi rồi !) Khái

niệm "hành vi cảm thán" tương tự khái niệm "câu cảm thán" có yếu tố cảm thán đi cùng nòng cốt câu Vì vậy, có thể kết luận rằng: cấu trúc của hành vi cảm thán tương đương mô hình của câu cảm thán

1.4 Lý thuyết hội thoại

1.4.1 Khái niệm hội thoại

Từ năm 1970, hội thoại đã trở thành đối tượng chính thức của phân ngành ngôn ngữ học ở Mĩ, sau đó là Anh, Pháp và đến nay là hầu hết các nước trên thế giới Hiện nay ở Việt Nam , các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) hội thoại “là sử dụng một ngôn

ngữ để nói chuyện với nhau” [30, 444]

Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa hội thoại nhưng khẳng định tầm quan

trọng của nó: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, có

cũng là hình thức cơ sở cho mọi hoạt động ngôn ngữ khác”[7, 201]

Tác giả Nguyễn Đức Dân chỉ rõ hơn đặc điểm của hội thoại: “Trong giao tiếp hai

chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất là hội thoại” [11; 76]

Đỗ Thị Kim Liên thì cho rằng: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn

ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [21; 18]

Như vậy có thể hiểu hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống con người Ngôn ngữ hội thoại tồn tại ở hai dạng: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Trang 25

1.4.2 Vận động hội thoại

Bất kì cuộc thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình thành nên một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức

1.4.2.1 Sự trao lời

Đây là vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại “Trao lời là vận động mà Sp1(vai nói) nói lượt lời của mình và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 (vai nghe) nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là giành cho Sp2.”[ 7; 205]

Ví dụ 10: “Đừng đi anh Hãy tin em Hãy tha lỗi cho em! Em yêu anh! – Hoài

nức nở, ánh nước loang loáng trên khuân mặt có những nét rất đẹp nhưng thoáng vẻ nhầu nhò.” [1; 26]

Phát ngôn trên là của Sp1 (Hoài) hướng đến Sp2 (Thắng) trong truyện ngắn “Xin hãy

tin em” với mong muốn được Thắng tha lỗi và tin vào tình yêu và sự thay đổi của Hoài

Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là tất yếu, không thể thiếu Sự có mặt đó thể hiện ở nhiều dấu hiệu như: từ xưng hô ngôi thứ nhất, tình cảm, thái độ, quan điểm của Sp1 trong nội dung lời trao Ngoài ra còn phải kể đến những yếu tố phi lời khác như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt…; qua những yếu tố hàm ẩn tiền giả định trong giao tiếp, qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi, chỉ định, lời thưa gửi…

1.4.2.2 Sự trao đáp

Trao đáp hay còn gọi là sự đáp lời là lời mà Sp2 (vai nghe) dùng để đáp lại lời của Sp1( người nói) Phải có lời trao đáp thì một cuộc thoại mới chính thức được hình thành

Ví dụ 11:

“Sp1: “ Đừng đi anh Hãy tin em Hãy tha lỗi cho em! Em yêu anh! – Hoài nức

nở, ánh nước loang loáng trên khuân mặt có những nét rất đẹp nhưng thoáng vẻ nhầu nhò.” [1; 26]

Sp2: Tôi không ở thêm một phút nào nữa Vĩnh biệt cô! Lần cuối cùng xin cô đừng tìm tôi mà vô ích!”[1;26]

Đây là lời trao đáp của Sp2 (nhân vật Thắng) thông báo với Sp1 (nhân vật Hoài)

trong truyện ngắn “Xin hãy tin em” về việc mình cương quyết từ chối, chia tay với Hoài

Trang 26

Trong ví dụ trên trong truyện ngắn “Xin hãy tin em”, lời trao đáp của Sp2

(nhân vật Hoài) thể hiện thái độ đau khổ cùng cực, dẹp bỏ hết sĩ diện để níu kéo, tha

thiết mong Sp1 (Thắng) hãy tha lỗi và tin tình yêu của cô dành cho anh

1.4.2.3 Sự tương tác

Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của nhau Đây được xem là vận động tương tác xảy ra trong hội thoại Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cách nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại,nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có thể nói đã có một cuộc hội thoại tích cực Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Có một hoạt động xã hội thì có sự tương tác Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ

Ví dụ 13:

“Sp1: My, im ngay, ai cho mày xúc phạm tao, mày khốn nạn quá rồi đấy My ạ! – Hảo hét lên run rẩy

Sp2: Thì vì tình chị em tôi mới nói toẹt ra thế, chứ tôi và Dương không bao giờ

bỏ nhau đâu, chị cấm chỉ vô ích thôi!

Sp1: Trời ơi, tôi có làm gì hại ai đâu mà trời phạt tôi thế này nhỉ? Ai sẽ làm cho

em tỉnh ra hả My?

Sp2: Thôi đi chuyện sau này đừng bàn ra đây, biết đâu tôi không nhằn được chồng chị trước thì sao Thời của tôi khác thời của chị rồi Sống như các mẹ, các chị để

mà ngớ ngẩn à? Giời ơi Biết có sống đến lúc ấy mà ân với chả hận” [1; 115]

Đây là cuộc thoại giữa hai nhân vật: nhân vật Hảo (Sp1) và My(Sp2) trong truyện

ngắn “Thiếu phụ không chồng” Cuộc thoại diễn ra với hai quan điểm, thái độ, tình cảm

Trang 27

khác nhau : Sp1 (Hảo) phản đối, ngăn cấm việc My ngang nhiên ngoại tình với chồng mình (đồng thời là anh rể My), cô vô cùng đau khổ vì điều đó Còn với My(Sp2), việc yêu anh rể là chuyện rất bình thường và cô tự tin về việc làm của mình Như vậy các nhân vật trong cuộc thoại đã không cộng tác với nhau khiến cho cuộc thoại trở nên căng thẳng, không củng cố được mối quan hệ giữa các nhân vật

Như vậy trong các cuộc hội thoại ba vận động: trao lời, đáp lời, tương tác là ba vân động đặc trưng, có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Bằng vận động trao lời, đáp lời, các nhân vật hội thoại sẽ tự hòa phối, liên hòa phối để thực hiện vận động tương tác

1.4.3 Cấu trúc hội thoại

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu trên thế giới hiện nay có ba trường phái với những quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại Tương ứng với mỗi cấu trúc hội thoại là đơn

vị hội thoại tương ứng

1.4.3.1 Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích hội thoại

Theo trường phái này, đơn vị hội thoại là các lượt lời Harvey Sack là người đặt nền móng đầu tiên cho trường phái phân tích hội thoại Theo ông, dưới các lượt lời không có đơn vị nào khác nữa ngoài các phát ngôn Dù khác nhau về kiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi với nhau lập thành từng cặp gần như tự động, gọi đó là các cặp kế cận.Những cặp kế cận thường thấy là: cặp chào - chào, cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị - đáp ứng v.v… Cốt lõi của lý thuyết phân tích hội thoại là cặp kế cận

1.4.3.2 Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn

Theo trường phái này, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại Nền tảng

của phân tích diễn ngôn là công trình “Hướng tới việc phân tích diễn ngôn” của

Sinclair và Coulthard được công bố năm 1975 Theo hai ông, hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi Trong đó, hành vi là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại Hành vi này không trùng với khái niệm hành vi ngôn ngữ hay hành vi ở lời mà hành vi được xác định theo chức năng của chúng đối với bước thoại 22 hành vi được đề cập đến là: đánh dấu, khởi phát, phát vấn, điều khiển, thông tin, giục, gợi nhắc, gợi ý, xin phép, chỉ định, tri nhận, trả lời, phản ứng,

Trang 28

chú thích, chấp nhận, đánh giá, dấu lặng nhấn mạnh, siêu trần thuật, móc lại và ngoài lề Một bước thoại do một số hành vi tạo nên Đến lượt mình, bước thoại lại chiếm vị trí trong cấu trúc cặp thoại So với lý thuyết phân tích hội thoại, lý thuyết phân tích diễn ngôn đi vào các đơn vị hội thoại trên và dưới đơn vị lượt lời sâu hơn, toàn diện hơn

1.4.3.3 Cấu trúc hội thoại theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp

Theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp, đơn vị hội thoại gồm cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Tiếp nhận quan điểm của hai trường phái trước, lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ - Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp Các đơn vị hội thoại đã nêu trên theo trường phái này đã thể hiện rõ điều đó

- Cuộc thoại được coi là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất, được xác định bởi các tiêu chí: nhân vật hội thoại, tính thống nhất về thời gian và địa điểm, tính thống nhất về đề tài diễn ngôn Đối với tiêu chí về các dấu hiệu định ranh giới cuộc thoại, thông thường có dấu hiệu mở đầu cuộc thoại và kết thúc cuộc thoại nhưng không bắt buộc, đặc biệt trong cuộc thoại giữa những người quá thân quen

- Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng Dù sự phân định đoạn thoại không có sự phân định rành mạch vì đường phân giới khá mơ hồ, nhiều khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán nhưng đây vẫn là đơn vị có thực

- Cặp trao đáp là đơn vị tối thiểu Cuộc hội thoại chính thức được bắt đầu khi

có sự xuất hiện của đơn vị này Cặp thoại có thể là một tham thoại, có thể là hai hoặc

ba tham thoại Tính chất của các cặp thoại thường mang tính chất nghi thức tương ứng với hai kiểu cặp thoại: cặp thoại sửa chữa và cặp thoại củng cố Cặp thoại củng cố tương ứng với cặp thoại dẫn nhập và kết thúc cuộc thoại Cặp thoại sửa chữa có đơn vị cơ bản

là tham thoại sửa chữa – tham thoại dựa trên khái niệm sửa chữa lại một sự vi phạm lãnh địa của người đối thoại Khi một cặp thoại thoả mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là một cặp thoại tích cực và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó Ngược lại, ta có cặp thoại tiêu cực và có tính chất không bình thường

- Tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên xét về tổ chức nội tại Một tham thoại có một hành vi chủ hướng và có thể có một hoặc một số hành vi phụ

Trang 29

thuộc Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Hành vi phụ thuộc là hành vi thêm vào cho hành vi chủ hướng Nó có thể là các hành vi dùng để láy lại, củng cố, bổ sung, giải thích

Trong một cặp thoại, thường có các tham thoại sau:

+ Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng)

+ Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại

+ Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại)

Chức năng ở tham thoại dẫn nhập là chức năng ở lời quy định quyền lực và trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại Các chức năng ở tham thoại dẫn nhập là: yêu cầu thông tin, yêu cầu được tán đồng, ủng hộ, thỉnh cầu, ban tặng, mời, khẳng định, ra lệnh Trách nhiệm tương ứng mà chức năng này đặt ra là: trách nhiệm trả lời, tán đồng, ủng

hộ, hành động, nhận, đánh giá, vâng lệnh Chức năng của tham thoại hồi đáp là chức năng ở lời của các tham thoại hồi đáp lại chức năng ở tham thoại dẫn nhập Các chức năng ở tham thoại hồi đáp có thể chia thành 2 nhóm: chức năng hồi đáp tích cực và tiêu cực Các tham thoại hồi đáp không chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lời dẫn nhập, không phải nó chỉ thực hiện trách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập mà nó còn đưa ra một quyền lực buộc người đối thoại phải tin vào, đáp lại điều mà tham thoại hồi đáp đưa

ra Vì vậy, khi một tham thoại hồi đáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắc trở thành một tham thoại đòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại

- Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Để hiểu các cặp thoại, các ứng xử bằng lời cũng như các yếu tố kèm ngôn ngữ đều phải căn cứ vào hành

vi ngôn ngữ đi trước hoặc sau Vì thế, hành vi ngôn ngữ cần xem xét trong hội thoại

Vai trò của hành vi ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại

1.4.4 Các quy tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo một quy tắc nhất định Tính bị chi phối bởi quy tắc của hội thoại được biểu hiện ra thành tính nghi thức của hội thoại C.K.Orecchioni đã nêu lên tính chất của quy tắc hội thoại, đồng thời chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm như sau:

Trang 30

1.4.4.1 Quy tắc điều hành luân phiên lượt lời

Quy tắc này gồm một hệ thống các điều khoản như sau:

Thứ nhất, vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại

Thứ hai, mỗi lần chỉ có một người nói

Thứ ba, lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài do đó cần có những biện pháp

để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt

Thứ tư, vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài

Thứ năm, thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia diễn ra không bị ngắt quãng quá dài, không bị dẫm đạp lên nhau

Thứ sáu, trật tự của những người nói không cố định, trái lại luôn thay đổi Đằng sau sự liên hoà phối là quy tắc điều hành luân phiên lượt lời và chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau Điều này giúp các quy tắc vận hành tốt, quy tắc vận hành tốt thì hội thoại mới hiệu quả

1.4.4.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại có dạng tổng quát như sau:

"Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn

mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào" [ 13; 130]

Nội dung của một cuộc thoại được phân phối thành nội dung của các lượt lời Nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc quan yếu là hai nguyên tắc thuộc quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

1.4.4.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân – phép lịch sự

Lịch sự được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng có thể hiểu một cách khái quát nhất theo định nghĩa của C.K Precchioni là “Chúng tôi chấp nhận rằng phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn:

1 Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)

2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ cá nhân

3 Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó

Nói lịch sự là một chiến lược có nghĩa là nó chỉ hình thành, có mặt và phát huy tác dụng khi có tương tác, nói đúng hơn chỉ nói đến mặt tương tác của lịch sự Phép lịch

Trang 31

sự giúp chúng ta phát hiện và lý giải hiện tượng được gọi là cấu trúc hai chiều trong

tương tác

1.5 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ra ở Thạch Phú, Bến Tre vào năm 1966

Bà lấy chồng và lập nghiệp, sống tại Hà Nội Có một thời gian bà rời khỏi Hà Nội

để “di trú” vào Sài gòn và đi các nước trên thế giới Đến mỗi một nước bà thường ở lại

khá lâu vì theo bà đấy là một thói quen từ nhỏ Di chuyển liên tục cho bà cảm giác mới

mẻ, yêu quý hơn những nơi mình đã đi qua Vào Sài Gòn sống mấy năm thực ra với bà

là về quê Họ nội của bà sống dọc từ Sài Gòn tới mũi Cà Mau, nên việc thay đổi nơi ở

với mọi người có thể là lớn, nhưng với bà là bình thường Hơn nữa với một người cầm

bút, việc có nhiều nơi chốn để mình gắn bó, yêu thương và nhớ nó khi chia tay luôn là

những cảm xúc quý giá

Sau Đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những gương mặt tiêu biểu

của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại Bà không nằm trong số các nhà văn

viết nhiều và chú trọng đến đề tài hậu chiến tranh, Thu Huệ viết nhiều về số phận con

người, đặc biệt về thân phận người phụ nữ và thân phận tình yêu thời kì đổi mới Tính đền thời điểm hiện tại, bà đã có trên 50 tác phẩm được in trong các tập truyện

khác nhau như : Cát đợi (NXB Hà Nội, H-1992); Hậu thiên đường (NXB Hội nhà văn,

H- 1995); Phù thủy (NXB Văn học, H- 1997); 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

(NXB Hội nhà văn, H- 2001); 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (NXB Hội nhà

văn, H- 2004); Và gần đây nhất là tập Thành phố đi vắng (2012) Ngoài ra có một số

tác phẩm in chung trong các tập truyện chọn lọc khác

Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn nữ đã làm nên một phong cách viết văn riêng

và bà rất có duyên với các giải thưởng : Giải nhất cuộc thi sáng tác về Hà Nội, Giải

nhất cuộc thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tặng thưởng Hội nhà văn với tác phẩm Hậu

thiên đường

Hơn hai mươi năm cầm bút , Nguyễn Thị Thu Huệ luôn là cây bút nữ không

(chưa) mệt mỏi trên hành trình sáng tạo Kim Dung nhận xét “Văn tài của chị mấy có

ai theo kịp” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 11- 1994) Điều đó thật không sai đối

với những thành công mà tác giả này gặt hái được

Trang 32

Tiểu kết

Trong chương 1 của luận văn chúng tôi đã trình bày các vấn đề lí thuyết sau: Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại, gồm ba loại lớn: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời Trong đó, hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngữ dụng học Vì vậy luận văn đã trình bày các điều kiện sử dụng hành vi ở lời, hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp

Hành vi cảm thán là một hành vi ngôn ngữ bộc lộ tình cảm, cảm xúc mang tính tức thời, tự phát ở mọi lúc, mọi nơi Cảm thán chỉ được thực hiện khi trạng thái tâm lí đang tồn tại ở một mức độ nào đó không thể không nói ra Đối tượng cảm thán: sự vật,

sự việc thuộc về người cảm thán, sự vật, sự kiện thuộc về người tiếp nhận cảm thán, sự vật, sự kiện thuộc về người thứ ba, sự kiện thuộc về ngoại cảnh Nội dung cảm thán là

về các lĩnh vực riêng tư và các lĩnh vực đời sống xã hội

Trong mối tương quan giữa hành vi cảm thán với câu cảm thán thì

"hành vi cảm thán" là một khái niệm thuộc ngữ dụng học còn "câu cảm thán" là khái niệm thuộc cú pháp học Khái niệm "hành vi cảm thán" có thể trùng với khái niệm "câu cảm thán", đặc biệt khi nó chỉ là biểu thức ngữ vi nguyên cấp, không có thành phần mở rộng

Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thường xuyên diễn ra trong đời sống con người Bất kì cuộc thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình thành nên một

cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức Theo lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ – Pháp,

hội thoại là một tổ chức tôn ty như một đơn vị cú pháp gồm cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Hội thoại diễn tiến theo các quy tắc nhất định: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung hội thoại, quy tắc chi

phối quan hệ liên cá nhân- phép lịch sự

Về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ, luận văn giới thiệu những nét

ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của bà, đặc biệt là 2 tập truyện ngắn: “37

truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” và tập “Thành phố đi vắng”

Trang 33

CHƯƠNG 2

CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN HÀNH VI CẢM THÁN TRONG TRUYỆN

NGẮN CỦA NGUYỄN THỊ THU HUỆ

2.1 Phương tiện thể hiện hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

Hành vi cảm thán được thể hiện qua nhiều phương tiện: phương tiện từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm Trong phạm vi đề tài luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát, nghiên cứu về phương diện từ vựng biểu hiện hành vi cảm thán Ở phương diện từ vựng chúng tôi đi vào khảo sát nghiên cứu từ cảm thán và quán ngữ vì các phương tiện khác được sử dụng với số lượng không nhiều nên chúng tôi không tiện nghiên cứu, còn đối với các từ cảm thán và quán ngữ được Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng nhiều làm nổi bật phong cách viết truyện của bà

2.1.1 Dùng từ cảm thán

Về mặt ngữ nghĩa, từ ngữ cảm thán là những đơn vị từ vựng đặc biệt được sử dụng để biểu đạt những cảm xúc, những tình cảm, trạng thái khác nhau của người nói trước hiện thực khách quan

Về mặt ngữ pháp, theo nhiều nhà nghiên cứu thì từ ngữ cảm thán có khả năng độc lập tạo câu, trong khẩu ngữ chúng thường đứng ở đầu câu, là thành phần độc lập với nòng cốt câu, nhưng cũng có khi đứng cuối câu hoặc xen vào giữa nòng cốt câu

Trong tiếng Việt, các từ ngữ cảm thán có thể được tách riêng thành một nhóm độc lập Do số lượng từ cảm thán thể hiện hành vi cảm thán được sử dụng trong 2 tập truyện ngắn khá nhiều nên trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát và thống kê những đơn vị từ thể hiện rõ tính chất cảm thán và có tần số lặp đi lặp lại nhiều lần

Trang 34

2.1.1.1 Kết quả thống kê, phân loại

Bảng thống kê, phân loại từ cảm thán

Trang 35

Nhìn vào bảng số liệu thống kê tuyển tập truyện ngắn chúng tôi nhận thấy:

Số lượng từ và cụm từ (có tần số lặp lại từ 2 lần trở lên) nhằm mục đích biểu đạt hành vi cảm thán trong tuyển tập truyện ngắn được sử dụng khá lớn: 507 lượt từ Một số từ cảm thán biểu đạt hành vi cảm thán lặp đi lặp lại nhiều trong các tiểu thuyết

này như các từ quá (53 lần), lắm (50 lần), thôi (48 lần), thì (47 lần) Bốn từ này đã

chiếm 39,04% số lần sử dụng từ cảm thán trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ mà luận văn khảo sát và thống kê Đây không phải các từ cảm thán chuyên dụng nhưng trong những văn cảnh cụ thể chúng có khả năng biểu đạt tình cảm , cảm xúc trong hành vi cảm thán của các nhân vật

Các từ tình thái từ như a, à, ờ, kìa, ấy…xuất hiện với tần số ít hơn so với các phụ từ quá, lắm, thôi, thì… nhưng đã bộc lộ trực tiếp hành vi cảm thán của nhân vật

với nhiều cung bậc khác nhau: đau đớn, xót xa, buồn rầu, tiếc nuối, khẳng định, trách

cứ, ngạc nhiên, vui mừng…

Sự xuất hiện với số lượng lớn các từ và cụm từ được dùng với mục đích biểu đạt hành vi cảm thán cho thấy đây chính là phương tiện đắc lực được nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng để thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc, thái độ của nhân vật và của nhà văn trong tác phẩm

2.1.1.2 Phân tích tư liệu khảo sát

Trong hai tập truyện ngắn 37 truyện ngắn, Thành phố đi vắng của mình,

Nguyễn Thị Thu Huệ nhiều lần sử dụng các từ cảm thán để biểu thị những cung bậc cảm xúc, trạng thái, tình cảm, suy nghĩ khác nhau của nhân vật và người kể chuyện

a Biểu hiện thái độ khẳng định rõ ràng, dứt khoát

Hành vi cảm thán biểu hiện thái độ khẳng định rõ ràng, dứt khoát của người

nói được thể hiện thông qua các từ cảm thán như: quá, lắm, thì, thôi Đây đều là các

từ cảm thán được sử dụng nhiều lần trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ

mà chúng tôi khảo sát, thống kê Từ thì có số lần sử dụng tương đối nhiều: 47 lần, chiếm 9,27% Theo Diệp Quang Ban, “thì dùng nhấn mạnh với ý nghĩa khẳng định

chủ đề hoặc khẳng định quan hệ giữa các sự vật hay sự kiện được nêu trong câu”[2;

tr 145] Từ thì được sử dụng trong hai tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ đều

Trang 36

thể hiện thái độ khẳng định rõ ràng, dứt khoát của các nhân vật trước các sự việc, hoàn cảnh khác nhau

Ví dụ 14:

“My đến bên Dương, cô ngồi lọt thỏm vào lòng anh:

- Để chị ấy cắt đi Không có chị ấy thì đã có em Em chỉ yêu và sống với một

mình anh thôi.” [1; 381]

Từ thì trong ví dụ này thể hiện thái độ khẳng định, trước sau như một của My

về mục định sẽ yêu và sống với Dương suốt đời trên hà Nội và dần dần loại bỏ Hảo ra khỏi cuộc đời của anh

Ví dụ 15:

“- Thì vì tình chị em tôi mới nói toẹt ra thế, chứ tôi và Dương không bao giờ

bỏ nhau đâu, chị cấm chỉ vô ích thôi – My đến bên cửa sổ trời đêm đen thẫm, nhằng nhịt những làn chớp.” [1; 114]

Trong trường hợp này từ thì được đặt ở vị trí đầu câu nhằm nhấn mạnh tới thái

độ dứt khoát, rõ ràng của người nói, mà cụ thể là thái độ của My trước việc khẳng định về chuyện tình của cô và Dương với Hảo

Ví dụ 16:

“ Mày là đứa may mắn nhất lớp mình Tao thì chẳng biết lão họ Trư có lấy

tao không Biết đâu lão chỉ thích làm ăn với cơm dẻo canh ngọt cho qua đời sinh viên

thì tao chết.” [2; 276]

Trong phát ngôn này, từ thì được nhân vật Thanh sử dụng hai lần để thể hiện

sự khẳng định hoang mang, lo lắng của mình về tương lai sau này của mình với Đàm

Từ chứ là một trợ từ tình thái cũng được sử dụng khá nhiều trong các truyện

ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: 227 lần, chiếm 8,77%

Ví dụ 17:

“Mợ nhìn thấy hai cậu cháu, chì chiết:

- Gớm, có bão có khác Về sớm thế Cậu thả mày ở đâu rồi lại đón chứ gì?

Chắc quẳng cho cháu một ít tiền, kiếm cho cháu một ả gái tơ rồi để cháu ngồi đó Cậu tếch với gái già của cậu.” [1; 471]

Trang 37

Từ cảm thán chứ trong phát ngôn của nhân vật người mợ đã khẳng định thái

độ hằn học, bực bội, ghen tuông về việc phát hiện chồng mình có tình nhân

Ví dụ 18:

“- Trưa nay đi đâu về, phăm phăm lấy đĩa thịt quay của tao mang cho Lu Từ ngày có Lu, ông ấy chăm về trưa cho nó ăn hơn Ra đến sân, thấy bọn trẻ con đang đốt rơm thui chó, ngoảnh lại thấy cái rọ không lăn lóc dưới đất, ông ấy nghiến răng ném cái đĩa thịt quay vào tao Tao tránh được, chửi ngay cho một bài May mà cái

đĩa không trúng chứ mà vô phúc cho ông ấy, nó mà trúng vào mặt tao, tao cầm dao chém ngay chứ chẳng tha Ông ấy đi luôn rồi cùng về với mày đấy Làm gì tao? Tao

là chủ nhà này Tự nhiên tha con chó điên của con đĩ nào về bắt tao nuôi Tao thịt ăn

là tốt đấy

Tôi quay người Đi nhanh lên cầu thang Bỏ lại sau lưng tiếng xoe xóe của bà mợ.” [1;53]

Trong phát ngôn trên của nhân vật bà mợ, từ chứ được nhắc lại hai lần để biểu

hiện thái độ dứt khoát rõ ràng sự hằn học, ngoa ngoắt, có phần cay độc của mình với ông chồng khi thấy chồng mang con chó lạ về nhà nuôi mà bà nghĩ rằng đó là con chó của tình nhân chồng cho

Ngoài từ thì, chứ biểu hiện rất rõ thái độ khẳng định, rõ ràng, dứt khoát của

nhân vật trước các sự việc, hoàn cảnh khác nhau thì nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

còn sử dụng từ chắc cũng nhằm biểu hiện ý nghĩa này

Ví dụ 19:

“Dương đến bên My, giọng anh ấm áp, du dương như hát:

- Bé con, em lớn không tưởng tượng nổi Anh có mua cho em mấy cái áo

phông đời mới nhất Đi tắm rồi thay anh xem, em mặc chắc đẹp lắm!” [1; 20]

Từ chắc trong lời thoại của nhân vật Dương biểu hiện sự khẳng định chắc

chắn về việc My vốn đã dẹp, nay diện những chiếc áo mới sẽ đẹp hơn rất nhiều

Trang 38

Từ chắc trong ví dụ này là sự khẳng định chắc chắn của nhân vật Dương về vẻ

đẹp của My, và đây cũng là cái cớ khiến Dương và My không kiềm chế được những tình cảm của mình và dần đi quá giới hạn

b Biểu thị thái độ thương cảm, xót xa, phẫn uất

Trong hai tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, thương cảm, xót xa, phẫn uất là những trạng thái cảm xúc không thể kìm nén được khiến nhân vật và người kể chuyện trước những sự vật, sự việc khác nhau bộc lộ ra bằng hàng loạt từ

cảm thán:

Ví dụ 21:

-“Trời ơi, tôi có làm gì hại ai đâu mà trời phạt tôi thế này nhỉ? Ai sẽ làm cho

em tỉnh ra hả My? Một ngày nào đó, em già và xấu như chị bây giờ, Dương sẽ lại bỏ

em như hôm nay bỏ chị Em sẽ thấy mọi thứ là vô nghĩa hết Phải thôi, mọi thứ đều có giá của nó !” [1;115] (1)

-“Giời ơi, sao cái số tôi nó khốn nạn thế không biêt Cũng tại ông cơ Cái gì

cũng con này lo hết mới đến nông nỗi này.” [1; 414] (2)

“-Ối giời ơi là giời ơi, đời thuở nhà ai mà có mỗi mụn con gái bạ đâu cũng

gả” [1;100] (3)

Trong tiếng Việt, giời ơi là một thán từ có “chức năng dẫn xuất, biểu lộ trực

tiếp thái độ, tình cảm chủ quan của chủ thể phát ngôn do tác động khách quan” (Lê Biên, Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản giáo dục,1999) Trong ba phát ngôn

trên từ giời ơi, hoặc trong cụm từ “giời ơi là gời ơi”đều thể hiện tâm trạng của chủ

thể phát ngôn với đối tượng được đề cập đến

Trời ơi thể hiện tâm trạng xót xa, đau đớn, phẫn uất của nhân vật Hảo khi phát

hiện ra sự việc em gái mình đang ngoại tình với chính chồng mình ngay trong chính ngôi nhà của mình

Từ giời ơi trong cụm từ “Giời ơi là giời ơi” mặc dù là câu được tác giả trích

dẫn trong vở chèo song đã góp phần thể hiện số phận bi kịch trong tương lai của My sau này

Giời ơi thể hiện tâm trạng đau xót, phẫn uất, tiếc của ở nhân vật người vợ khi

con chó Minu trong tình trạng sắp chết, không có khả năng kiếm được ra tiền

Trang 39

Các cụm từ “Giời ơi, trời ơi, giời ơi” được đặt ở đầu câu trong các phát ngôn

của nhân vật thể hiện nỗi xót xa, đau đớn

c Biểu thị sự buồn rầu, tiếc nuối, tuyệt vọng, cam chịu

Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn có ngòi bút tinh tế, bén nhạy của trái tim phụ

nữ đa cảm Đằng sau mỗi trang viết trong từng truyện ngắn là những số phận khác nhau (mà chủ yếu là số phận người phụ nữ) Mỗi nhân vật trong truyện ngắn của bà là mỗi cảnh đời và hầu hết đều trĩu nặng nỗi buồn, sự tiếc nuối, tuyệt vọng hoặc cam

chịu, bất lực với những vật lộn khao khát yêu thương

Ví dụ 22:

“Trời ơi! Những kẻ đã phá hoại ta laị là những kẻ ruột thịt và thân thiết nhất

với ta Phải làm thế nào bây giờ?” [1; 116]

Cụm từ Trời ơi trong phát ngôn trên đã thể hiện sự đau khổ đến tột cùng Hảo khi

phát hiện ra chồng mình và My –là em gái ruột của Hảo- chính là những người đang phá hoại hạnh phúc gia đình cô, gây nên bi kịch vô cùng đau đớn trong lòng Hảo

Ví dụ 23:

“Nó bừng tỉnh khỏi thế giới của mình, đờ đẫn nhìn mẹ:

- Làm sao mà bàn ghế đổ hết thế này Vỡ cả phích nước rồi Giời ơi là giời!” [1; 220]

Cụm từ Giời ơi là giời qua phát ngôn của nhân vật người mẹ biểu thị sự

buồn rầu, bực bội, nhưng đằng sau là thái độ tuyệt vọng về người chồng mình khi trút lên đầu con gái mình

Ví dụ 24:

“Trời ơi Vừa lúc nãy, nó còn hẹn mình đi dạo xong đợi trăng lên phá

cỗ Thế mà bây giờ trăng đã lên tròn, đẹp thế kia còn nó thì nằm lạnh ở bãi cỏ rồi về với đất - Bà tựa vào ông như quỵ ngã”.[1;464]

Phát ngôn trên nhiều lần cách quãng với dấu … và thán từ trời ơi thể hiện tâm

trạng buồn rầu, tiếc nuối của nhân vật người phụ nữ trước cái chết đầy bất ngờ của cô gái trẻ

d Biểu thị sự lo lắng, sợ hãi

Lo lắng, sợ hãi là tâm trạng thường thấy của con người khi không yên tâm, không yên lòng trước một khả năng không may, không như ý nào đó có thể xảy ra

Trang 40

Trong hai tập truyện ngắn của nguyễn Thị Thu Huệ, trạng thái tâm lí này được biểu

hiện chủ yếu qua tình thái từ: giời ơi

Ví dụ 25:

“Ối giời ơi, chẳng cần đẻ Chỉ cần nó sống thôi! – Mọi thứ với tôi bỗng thành

vô nghĩa Tôi chỉ cần Minu sống Thế thôi ” [1; 405]

Sự sợ hãi và lo lắng thật sự của “tôi” khi chứng kiến cảnh con chó Minu hấp hối, đến lúc này sự lo lắng sợ hãi không phải xuất phát từ việc con cho chết đi sẽ mất

đi nguồn kiếm tiền mà xuất phát từ tình cảm gắn bó, yêu thương thực sự với

Minu.Cụm từ “Ối giời ơi” trong phát ngôn trên là thể hiện sự lo lắng, sợ hãi không

biết con chó Minu có được cứu sống hay không

Trong trường hợp khác, cụm từ Ối giời ơi trong phát ngôn của bà cụ dưới

đây lại thể hiện sự lo lắng, đau khổ của mình khi con gái bỏ bà và đứa con gái lại cho bà nuôi

Ví dụ 26:

“ Ôi giời ơi Số kiếp tôi sao khốn nạn thế này Tôi có hại ai đâu, có làm gì

nên tội đâu mà giờ khổ thế này?”[1; 266]

Ví dụ 27:

“- Giời ơi sao không cho vào nhà mà để nó nằm ngoài cỏ lạnh thế?” [1; 464]

Thán từ trời ơi thể hiện sự lo lắng và đau khổ của người phụ nữ khi tận mắt

chứng kiến cái chết lạnh lẽo thương tâm của cô gái trẻ

e Biểu hiện thái độ chê cười, mỉa mai

Mặc dù Nguyễn Thị Thu Huệ không phải là nhà văn có biệt tài trong việc thể hiện cái hài, song khi cần thể hiện khía cạnh tính cách nào đó của nhân vật thì bà vẫn dùng từ ngữ để biểu thị thái độ mỉa mai, chê cười

Ví dụ 28:

-“Tôi không ngờ cô giỏi như thế Tôi xin lỗi Xin phép được đèo cô về” [1; 36]

Cụm từ “giỏi như thế” được sử dụng trong trường hợp này không phải với

mục đích sử dụng từ giỏi Chúng kết hợp với các thán từ như thế để thể hiện thái độ

mỉa mai của Thắng trước việc thay đổi bất ngờ của Hoài, từ một cô gái hiền lành,

Ngày đăng: 28/12/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A- Đỗ Việt Hùng- Bùi Minh Toán (1998), Tiếng Việt thực hành, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Lê A- Đỗ Việt Hùng- Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Diệp Quang Ban (2007), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
3. Diệp Quang Ban (2007), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2007
4. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
5. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
6. Đỗ Hữu Châu (1979), “Cách xử lí hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ”. Tạp chí ngôn ngữ số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cách xử lí hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1979
7. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học tập1, Nxb. Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học tập1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2010
9. Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2010
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học, tập 1
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
11. Nguyễn Đức Dân (1996), Logic và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
12. Nguyễn Đức Dân (1989), Logic- ngữ nghĩa- cú pháp, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic- ngữ nghĩa- cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1989
13. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2000
14. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
15. Cao Xuân Hạo (1998), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, Câu trong tiếng Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1998
16. Nguyễn Thị Ngọc Hân (2001), “Tiểu từ tình thái cuối câu nhé: hàm ý của người nói”, Tạp chí ngôn ngữ số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiểu từ tình thái cuối câu nhé: hàm ý của người nói”
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Hân
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Hiệp (2001), “Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt”, Tạp chí ngôn ngữ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 2001
18. Đỗ Đức Hiểu (2004), Từ điển Văn học, Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2004
19. Nguyễn Thị Hòa (1999), Sự nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Việt, Những vấn đề ngữ dụng học (Kỉ yếu hội thảo khoa học), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Việt, Những vấn đề ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê, phân loại quán ngữ đƣa đẩy  Stt  Quán ngữ đƣa đẩy  Tần số xuất hiện  Tỉ lệ (%) - Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ
Bảng th ống kê, phân loại quán ngữ đƣa đẩy Stt Quán ngữ đƣa đẩy Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%) (Trang 42)
Bảng thống kê chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại - Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ
Bảng th ống kê chức năng của hành vi cảm thán trong hội thoại (Trang 69)
Bảng thống kê chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán - Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ
Bảng th ống kê chức năng dẫn nhập cuộc thoại của hành vi cảm thán (Trang 84)
Bảng thống kê chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán - Hành vi cảm thán trong truyện ngắn của nguyễn thị thu huệ
Bảng th ống kê chức năng kết thúc cuộc thoại của hành vi cảm thán (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w