1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ trả bài tập làm văn lớp 4

33 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 4,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không những thế, môn học này còn giúpphát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng việt của học sinh, dựa trên những tri thứccăn bản, nhằm từng bước giúp các em làm chủ được công cụ ngôn ngữ để h

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người, tiếng mẹ đẻ có vaitrò vô cùng quan trọng bởi nó là công cụ để giao tiếp và tư duy Theo K A Usinki: " Trẻ em đi vào trong đời sống tinh thần của mọi người xung quanh nó,duy nhất thông qua tiếng mẹ đẻ và ngược lại ” Tiếng mẹ đẻ có vai trò to lớntrong việc hình thành những phẩm chất, nhân cách của con người Chính vì vậykhông một quốc gia nào không chăm lo dạy tiếng mẹ đẻ Vì vậy ở nước ta, mônTiếng việt được coi là một trong những môn học chính của các cấp học

Trong môn Tiếng việt thì phân môn Tập làm văn có vai trò quan trongviệc giúp học sinh tổ chức hoạt động độc lập, lĩnh hội, sinh sản ngôn bản nói vàviết phù hợp với mục đích giao tiếp Không những thế, môn học này còn giúpphát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng việt của học sinh, dựa trên những tri thứccăn bản, nhằm từng bước giúp các em làm chủ được công cụ ngôn ngữ để họctập, giao tiếp một cách đúng đắn, tự tin Trẻ em học văn từ khi nào? Trước khivào lớp 1 trẻ em đã tiếp xúc với văn học qua những lời ru, những câu ca dao,những câu chuyện kể hấp dẫn và kích thích chí tưởng tượng của trẻ thơ, hànhtrang ấy theo các em vào lớp 1 Sau giai đoạn học chữ để biết đọc, biết viết các

em được học nhiều phân môn, trong đó’’ Tập đọc’’và “Kể chuyện” sẽ phát triểncái vốn các en đã có Song việc học văn ở mức “cơ sở ban đầu’’ cũng chỉ bắtđầu từ lớp 4 khi các em đã có một vốn kinh nghiệm sống nhất định, khi các em

đã biết phân tích quan hệ giữa người với người trong những môi trường khácnhau, khi các em đã có thể sáng tạo bằng ngôn từ một cái gì đó của mình để thểhiện những sự kiện của đời sống

Thông qua các tiết học Tập làm văn, học sinh được bồi dưỡng tình yêucái đẹp, mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gíc, tư duy hình tượng, góp phầnhình thành nhân cách của con người Việt Nam hiện đại

Trang 2

Cùng với các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả,phân môn Tập làm văn 4 giúp học sinh rèn luyện cả bốn kỹ năng: Nghe, nói ,đọc, viết Học sinh lớp 4 được dạy các kĩ năng kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, câycối, con vật) Bên cạnh đó các em còn được rèn luyện kĩ năng thuyết trình, nângcao khả năng viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn đã được hình thành từ các lớpdưới

Hai mục tiêu chủ yếu của phân môn Tập làm văn của lớp 4 là :

+ Trang bị cho học sinh kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn

+ Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, bồi dưỡng tâmhồn, cảm xúc, thẩm mỹ từ đó hình thành nhân cách cho học sinh

Trong thể loại văn miêu tả và kể chuyện, học sinh được thực hiện các kĩnăng phân tích đề, quan sát, tìm ý, viết đoạn, chia đoạn, tóm tắt truyện, xây dựngcốt truyện theo các chủ điểm cụ thể Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chiađoạn, tóm tắt truyện góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phânloại của học sinh Tư duy hình tượng hoá cũng được rèn luyện nhờ các biệnpháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá khi miêu tả nhân vật, đồ vật Nhờ huy độngvốn sống trí tưởng tượng để xây dựng cốt truyện Làm tốt một bài văn ngoài kĩnăng sử dụng ngôn ngữ, học sinh cần có kĩ năng kiểm tra đánh giá hoạt độnggiao tiếp (đối chiếu văn bản, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt) Tất cảcác hoạt động: tập nhận xét văn bản nói hay viết của bạn , tự sửa chữa bài viếtnháp, bài viết chính thức của mình, đọc các bài văn hayđể học tập, tự chữa hoặcviết lại đoạn văn, bài văn đã được giáo viên chấm đều giúp học sinh luyệntập hình thành kỹ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập để luôn tiến bộ.Trong quá trình đó, các em rất cần có sự giúp đỡ của mỗi giáo viên đứng lớp

Qua quá trình dạy học nhiều năm khối 4,5 tôi nhận thấy rằng trong cácmôn học thì phân môn Tập làm văn là khó học nhất và cũng khó dạy nhấtnhưng đó cũng lại là môn học rất hay Qua bài văn của học sinh, tôi có thể đánhgiá được các quá trình học các môn khác của Tiếng Việt Nhưng có lẽ điềuquyết định nhất khi tôi chọn đề tài này là xuất phát từ yêu cầu và trách nhiệmcủa một giáo viên Tiểu học Tôi thấy việc giảng dạy môn Tiếng Việt giúp cho

Trang 3

học sinh rút kinh nghiệm và biết sửa những lỗi sai trong Tập làm văn là vô cùngcần thiết và quan trọng Nó giúp học sinh học Tập làm văn tốt hơn và yêu thíchmôn học hơn.

Tôi xin phép được trình bày dưới đây ‘Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ trả bài Tập làm văn lớp 4 ’’.

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra các biện pháp:

1 Giúp học sinh tập phát hiện ưu nhược điểm trong bài làm của bạn và củamình

2 Giúp học sinh biết sửa lỗi sai có trong bài và từ đó rút kinh nghiệm làmvăn tốt hơn

3 Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh Đó là các kĩ năng: xác định giá trị,

kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng tư duy sáng tạo,

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Học sinh lớp 4A3 - Trường Tiểu học Nhật Tân

IV PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:

- Căn cứ vào nội dung sách giáo khoa Tiếng việt tiểu học, căn cứ và nội dung

đồng tâm của phân môn Tập làm văn Tôi đi sâu nghiên cứu về Thể loại văn miêu tả (Kiểu bài miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật) để giúp học

sinh có kĩ năng làm văn tốt hơn

-Thời gian nghiên cứu: Năm học 2011 -2012

V CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ

2 Phương pháp tổng hợp

3 Phương pháp thực nghiệm

4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 4

B NỘI DUNG

I CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN:

Dựa vào chương trình Tiểu học, SGK Tiếng việt 4 đã thiết kế chương trìnhTập làm văn (đã giảm tải) như sau:

+ Trao đổi ý kiến với người thân

+ Giới thiệu hoạt động

+ Điền và giấy tờ in sẵn

Tổng số:

19

16

321

32

41410

11

30

19

1101410

3221

Trang 5

hướng phát huy tích cực của học sinh Tuy nhiên điều đó chưa vượt được quỹđạo của phương pháp dạy học truyền thống là hướng vào hoạt động dạy, tạo ra

sự mất cân bằng giữa hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh

Hạn chế của cách dạy này là:

- Học sinh nghe lời giảng, ghi chép lời của thầy cô Học sinh thụ động họctập, tư duy không được vận hành để chủ động nắm lấy kiến thức nên tri thức tiếpthu không được vững Tính thụ động lâu dần thành thói quen sẽ hạn chế trình độ

tư duy, phát triển nhận thức

- Học sinh không được gợi ý, hướng dẫn hay nêu câu hỏi thắc mắc, chỉ lotrả lời câu hỏi đặt ra cho mình Các em chưa được chuẩn bị đúng mức để hoạtđộng độc lập và sáng tạo

- Năng lực cá nhân học sinh không có điều kiện được bộc lộ và phát triểnnên hứng thú học tập bị giảm sút

* Có thể khẳng định rằng tập làm văn là phân môn khó dạy, nhất là với

tiết trả bài Chính vì thế hầu hết giáo viên đứng lớp còn gặp nhiều khó khăn lúngtúng trong việc tổ chức tiết dạy- học văn sao cho đúng yêu cầu của phân môn,đúng đặc trưng và đạt hiệu quả giờ dạy cao Hằng năm, trong các kì thi hội

giảng hầu như không thấy giáo viên nào đăng kí dạy giờ “Trả bài” Dưới cái

nhìn của giáo viên, giờ học này thường không gây hứng thú, họ có tâm lí ngạidạy giờ “Trả bài” Mặt khác, cả một năm học mới có 4 tiết trả bài Từ thực trạng

ấy dẫn đến việc dạy và học tiết “trả bài” cũng gặp nhiều hạn chế

III NGUYÊN NHÂN:

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có nhiều, song theo tôi có mấy lí dochính xuất phát từ phía người dạy và người học như sau:

1 Về phía giáo viên:

- Bản thân giáo viên chưa đánh giá hết tầm quan trọng của giờ dạy, còn

tồn tại tâm lí ngại dạy, với giờ “trả bài” chỉ đơn giản là thông báo đến học sinhkết quả bài làm của các em, cho rằng đề bài ấy chỉ làm một lần không phải quaylại lần nữa nên không coi trọng việc sửa lỗi cho học sinh

- Một số giáo viên biến giờ trả bài thành giờ học để đưa ra những lỗi ,

Trang 6

những sai làm của học sinh phục vụ cho việc trách mắng các em Điều đó vôhình chung làm học sinh càng sợ giờ học.

- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máymóc vào sách hướng dẫn, sách giáo viên, ít sáng tạo, chưa cuốn hút được họcsinh

- Năng lực sư phạm ít nhiều còn hạn chế nên khi đưa ra lỗi chữa bàikhông tạo được tình huống sửa mà chỉ dập khuôn máy móc một cách duy nhấttheo đáp án của giáo viên (nhất là các lỗi về dùng từ, đặt câu hay diễn đạt )

2 Về phía học sinh:

- Bản thân các em cũng ngại học văn, làm văn, bởi đây là môn học có tínhtổng hợp cao, các em phải tạo ra sản phẩm bài viết với nhiều thể loại, nhiều kiểubài khác nhau Mỗi bài lại phải vận dụng các kỹ năng dùng từ, đặt câu, dựngđoạn Trong khi đó vốn từ còn hạn chế, khả năng diễn đạt trong văn viết chưatốt

- Các em dễ dàng phát hiện ra lỗi sai song lại khó khăn trong việc chữa lỗisai ấy như thế nào? tránh lỗi ấy ra sao?

Đưa ra những nguyên nhân trên để chúng ta thấy rằng việc khắc phục vàgiảm bớt nhược diểm khi dạy học “trả bài” là hết sức cần thiết Tuy nhiên việclàm này không phải chỉ ngày một, ngày hai, càng không thể nôn nóng vội vàng.Việc làm đầu tiên và dễ nhất là xuất phát từ phía bản thân người dạy Mỗi giáoviên đứng lớp cần ý thức tầm quan trọng của môn học đối với học sinh, khôngchờ đến tiết trả bài mới chữa lỗi mà ngay trong từng tiết dạy giáo viên đã phảithực hiện Có như vậy học sinh sẽ hạn chế lỗi và giờ trả bài sẽ không còn căngthẳng và áp lực Hơn nữa từng bước hạn chế thiếu sót của mình, giúp học sinhkhắc phục hạn chế của các em Sau nhiều năm vừa làm vừa rút kinh nghiệm tôi

đã vận dụng một số biện pháp sau đây để giúp các em học tốt môn học ‘hay”nhưng ‘ khó” này

IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

Khi làm một bài văn học sinh đã thực hiện một hoạt động giao tiếp Mỗi

Trang 7

bài văn là sản phẩm không lặp lại của mỗi học sinh trước đề bài Do đó, có thểnói trong việc học tập làm văn, học sinh được chủ động, tự do thể hiện cái ‘Tôi”của mình một cách rõ ràng, bộc lộ cái riêng của mình một cách trọn ven Mỗibài viết là một sản phẩm mà các em phải đầu tư chăm chút Với khả năng có hạn

dù bài tốt đến đâu cũng không tránh khỏi những lỗi sai, và người giáo viên phảigiúp các em phát hiện lỗi sai đó và kịp thời sửa chữa

Muốn vậy đòi hỏi người giáo viên cần ý thức được một cách sâu sắc việc sau:

1 Chấm bài đảm bảo chính xác, công bằng, khách quan.

- Không phải với riêng tôi mà hầu hết tất cả các đồng nghiệp đã dạy khối

4,5 đều có chung một nhận xét: chấm bài Tập làm văn là một lao động vất vả,phức tạp Tuy nhiên với người giáo viên có trách nhiệm và lương tâm nghềnghiệp thì đây là một việc làm vô cùng hứng thú Giáo viên đươc tiếp xúc vớinhưng sản phẩm tinh thần của học sinh, kiểm nghiệm thành quả lao động củamình bằng việc chấm bài mà biết học sinh có suy nghĩ gì và diễn tả ý nghĩ nhưthế nào?

- Cá nhân tôi luôn chú tâm vào bài làm của học sinh khi đặt bút để chấm,chữa, ghi nhận xét vào bài Sự yêu thương, tôn trọng học sinh được thể hiệnngay trong việc chấm bài Điều đó thể hiện ở chỗ tôi luôn cố gắng chắt lọcnhững thành công dù nhỏ nhất trong bài làm của học sinh.Với những sai lầm củacác em tôi luôn ân cần chỉ rõ, đặc biệt luôn tránh thái độ giận dữ, bực bội dễ dẫnđến có những lời phê ảnh hưởng đến niềm tin, đến sự hứng thú của học sinh.Thực tế trong lớp có những học sinh thường mắc đi, mắc lại một lỗi Với trườnghợp này tôi kiên trì tìm hiểu nguyên nhân giúp các em luyện tập nhiều lần Bởi

vì tôi hiểu đại đa số các em thường không phải là những em có năng khiếu vềvăn

- Mỗi khi chấm bài của học sinh tôi luôn chú ý:

+ Căn cứ vào biểu điểm đã xây dựng, chấm kỹ từng bài Khi đọc bài, tôixem xét cả hai mặt nội dung và hình thức Chẳng hạn về nội dung bài có sát đềkhông? Các em hiểu đến mức độ nào (sâu sắc, bình thường, hay hời hợt)? Các

Trang 8

chi tiết (miêu tả, kể chuyện, hay viết thư) có đầy đủ chính xác không? Tình cảmnhận thức thể hiện trong bài như thế nào? Về hình thức, tôi xem: Bài làm cóđúng thể loại không? Bố cục có cân đối, mạch lạc, chặt chẽ không? Câu văn , từngữ có chỗ nào sai? Chữ viết chính tả ra sao?

+ Với những lỗi sai của các em tôi gạch chân và ghi nhận xét ra ngoài lềbên trái với những kí hiệu mà tôi quy ước trước với học sinh Còn những chỗ có

ưu diểm, có nét đặc sắc tôi gạch dài ở ngoài lề bên trái sát với phần bài làm,đồng thời cũng ghi rõ những nhận xét ở bên cạnh như: Ý đặc sắc, tả sinh động,cảm xúc chân thành sáng tạo Đối với những học sinh quá kém, bài có nhiều lỗisai tôi chỉ ra những sai sót trầm trọng nhất, tránh gạch nát bài dễ gây cho các emtâm lý chán nản

+ Khi đặt bút ghi lời nhận xét vào bài làm của học sinh tôi cũng chú ý ghinhững ưu điểm và nhược điểm cơ bản chủ yếu nhất, đặc biệt với những tiến bộ

dù nhỏ nhất của học sinh tôi cũng kịp thời động viên bằng những lời khích lệnhư: bài có tiến bộ, cố gắng phát huy

+ Trong khi chấm bài, tôi luôn có bảng thống kê những ưu, nhược điểm

sẽ đưa ra phân tích trong giờ trả bài Bảng này gồm hai phần: Một phần ghi ưuđiểm, phần dưới ghi nhược điểm về các mặt hình thức, nội dung (gồm: bố cục,dùng từ đặt câu lỗi chính tả, ).Ngoài việc thống kê lỗi, tôi còn ghi tên của họcsinh mắc lỗi để để tiện sửa riêng cho từng em trong các giờ học khác chứ khôngchỉ sửa trong giờ trả bài Những ưu, nhược điểm được ghi lại trong mỗi giờ trảbài là tư liệu quí cho tôi khi soạn giáo án và rút kinh nghiệm trong các tiết trảbài tiếp theo

2 Chữa lỗi cho học sinh trong giờ trả bài Tập làm văn.

Tiết trả bài nhằm thông báo cho học sinh kết quả học tập, đánh giá côngviệc lao động học tập về mặt tư tưởng, kiến thức, kĩ năng viết văn bản, từ đógiúp cho học sinh rút kinh nghiệm làm bài và định hướng cho những bài văn sautốt hơn

Thông thường trong giờ trả bài tôi hướng dẫn học sinh tập phát hiện cáihay, điểm nổi bất trong bài của bạn, qua đó học sinh có thể học hỏi cách viết

Trang 9

những câu văn hay, giàu xúc cảm ngay từ các bài văn của bạn mình Bên cạnh

đó giúp học sinh phát hiện ra lỗi, cùng bạn sửa lại cho đúng

Cụ thể:

a Phân tích nhận xét ưu điểm

Tâm lí học sinh Tiểu học rất thích được khen, do đó tôi triệt để sử dụng hìnhthức biểu dương thích đáng các ưu điểm về nội dung và hình thức của các bàiviết nhằm động viên khuyến khích các em Trong các ưu điểm ấy, tôi đặc biệtchú ý đến những suy nghĩ riêng, cảm xúc hồn nhiên tế nhị sâu sắc, những cácvận dụng khéo léo mới mẻ, những đoạn văn hay, những bài làm có ý sáng tạo,đặt câu, dùng từ gợi cảm, gợi tả,

Tôi chọn ra những đoạn văn hay hấp dẫn, gọi học sinh đọc to trước lớp, yêucầu học sinh nêu cảm nhận của mình khi nghe đoạn văn đó chẳng hạn:

Bài tả đồ chơi:

Tuổi thơ tôi được lớn lên từ từ lời ru của mẹ và những câu chuuyện cổ tích của bà Một phần không thể thiểu được đó là những thứ đồ chơi quen thuộc Đã bốn năm qua rồi mà cô bé Barbie vẫn luôn ở bên tôi như một người bạn nhỏ.

Tả đồ vật:

Cái nóng oi bức của mùa hè cùng những tiếng ve ngân rộn rã đã biến mất, thế chỗ và đó là tiết trời mùa thu mát mẻ, với những khóm cúc vàng rực rỡ Bọn trẻ chúng tôi lại háo hức chờ đón ngày khai trường, lại được mặc những

bộ đồng phục mới, nhất là được khoác trên vai chiếc cặp sách còn thơm mùi nhựa mà trong lòng lâng lâng vui sướng.

Tả cây cối :

“Tú hú kêu, tú hú kêu hoa phương nở, hoa phượng đỏ đầy ước mơ hi vọng ” Lời hát ngân vang khiến lòng tôi xao xuyến ngước nhìn bác phượng già đang thả những chùm hoa đỏ thắm báo hiệu mùa hè, mùa thi đến.”

Đó là những đoạn mở bài, những lời chào mời thật hấp dẫn, tự nhiên mà họcsinh viết được từ cảm xúc chân thật của mình Có thể trích ra đây bao nhiêu câuvăn, biết bao đoạn văn giàu xúc cảm, giàu tính sáng tạo của những em học sinh

Trang 10

Những câu văn ấy, đoạn văn ấy không phải là nhiều, không phải em nào cũngviết được, nhưng chúng thực sự là những dòng nước mát lành ấp ủ bao chồi nonchờ ngày xanh tốt Vì vậy phát hiện và kịp thời biểu dương trước lớp sẽ giúp bảnthân các em thêm phấn khởi, tự tin đồng thời giúp các em nhận thấy mình cũng

có thể học tập thêm ở ngay chính các bạn trong lớp của mình

Tuy nhiên mục đích chính của giờ văn trả bài là giúp học sinh sửa nhữnglỗi sai Do đó công việc chính mà tôi dành thời gian chủ yếu cho việc này

b Phân tích sửa chữa các loại lỗi

b.1 Chữa lỗi về bố cục.

Phần này có thể đua bài lên máy chiếu để nhận ra bố cục không rõ ràng Họcsinh viết một bài văn thành một đoạn văn dài, trong đoạn văn ấy có cả mở bài vàkết bài Tôi yêu cầu học sinh đó nhắc lại cấu tạo của kiểu bài văn và tự xác địnhlại bố cục cho bài văn của mình Như vậy những học sinh làm bài bố cục chưađầy đủ có thể tự phát hiện được và bổ sung cho hợp lí

b 2 Về nội dung của bài Tập làm văn.

Nếu có học sinh làm lạc đề, giáo viên yêu cầu học sinh đó đọc và phân tích

đề bài, xác đinh đúng yêu cầu

Trong quá trình làm bài, còn có học sinh nêu lên những điểm không chínhxác, những hiểu biết lệch lạc (trong cách miêu tả các chi tiết hoặc nội dung củacâu chuyện, sự việc ) GV cần chỉ ra, đồng thời có sự phân tích cụ thể để họcsinh rút kinh nghiệm

Ví dụ: Con mèo mướp của nhà em to bằng cái phích nặng chừng 10 kg

Câu văn này không chính xác với thực tế vì mèo mướp thường nhỏ và khốilượng tương đối nhẹ

Hoặc khi viết thư gửi ông bà vào thời điểm tháng năm nhưng lại nhưng lạinhắc đến chi tiết: “gió mùa đông bắc tràn về.” chi tiết này không thực tế

Hay khi miêu tả con gà trống có HS viết: “Chú gà trống nhà em ra dáng làchú gà trống đẹp Vì chú là gà mái nên có bộ lông trắng mượt.” Thực tế học sinhthành phố khi miêu tả con vật sẽ gặp không ít khó khăn bởi lẽ các em ít đượctiếp xúc với những con vật đó Trong trường hợp này tôi cho học sinh quan sát

Trang 11

ảnh của một số con gà, ghi lại những đặc điểm nổi bật của con vật bằng những

tả chung chung mà không xác định và tả kĩ được những đặc điểm nổi bật của đốitượng cần tả, chưa tìm ra nét tiêu biểu, nét riêng biệt để phân biệt với các đốitượng khác Cá biệt có những em dàn bài không chắc chắn, không nhất quántheo yêu cầu nội dung của đề bài Với những lỗi sai về dàn ý đã nêu, tôi thườngsửa bằng cách yêu cầu học sinh phân tích lại yêu cầu của đề bài, đặt biệt xácđịnh rõ nội dung của đề bài là gì và hướng tới trọng tâm nào?

b.4 Nêu và hướng dẫn sửa lỗi các lỗi về cách viết

+ Lỗi chính tả:

Trong quá trình chấm bài, tôi thống kê các loại lỗi sai về chính tả Với đốitượng là học sinh của vùng ven đô, tôi thấy các em thường mắc lỗi khi sử dụngcác cặp phụ âm như: l/n, ch/tr, s/x, r/d/gi Đôi khi các em viết sai các danh từriêng Nguyên nhân chính là do các em chưa nắm chắc quy tắc chính tả, mặtkhác do thói quen tuỳ tiện trong khi viết nên cũng dễ dàng mắc lỗi

- Để chữa lỗi chính tả, tôi kẻ bảng thành hai cột: cột bên trái ghi lỗi chính tảcác em mắc phải, cột bên phải ghi lỗi đã chữa

Trang 12

em trong lớp mắc phải nhất để chữa chúng bằng cách:

+ Đưa từ sai

+ Hỏi học sinh sai ở đâu? (âm, vần, quy tắc chính tả )

+ Sửa lại thế nào

+ Vừa giúp học sinh sửa lỗi vừa kết hợp nhắc lại những quy tắc chính tảhay những mẹo viết đúng các từ khó Đó là chữa chung trên lớp, còn với nhữnglỗi mà chưa được chữa thì cá nhân các em đó phải tự sửa lại vào bài làm củamình ra ngoài phần chữa lỗi bằng bút chì

+ Chữa lỗi dùng từ:

- Từ là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ Học sinh thường mắc lỗi dùng từchủ yếu ở mức độ sai về ý nghĩa hoặc sai về sắc thái biểu cảm Do vậy dùng từsai sẽ dẫn đến lỗi sai về câu Câu không đúng ý nghĩa có thể xếp lỗi sai dùng từvào lỗi sai về câu

Ví dụ:

- “Bạn có hàm răng trắng muốt.”

- “Các câu hỏi của cô giáo được tuôn ra.”

- “Đến trường, em thấy một đàn xe đang chờ sẵn

- “Từ ngày cô vĩnh biệt chúng em vễ thành phố, chúng emluôn nhớ tới cô.”

- “Ngày đầu tiên đến lớp, em ngậm ngùi đứng nép vào tường” Nguyên nhân chính dẫn đến lỗi sai về dùng từ là do các em không hiểu ýnghĩa vể dùng từ là do các em không hiểu ý nghĩa của từ mình dùng hoặc khôngđầy đủ, còn mơ hồ, vốn từ chưa phong phú, khả năng lựa chọn từ trong hệ thống

từ gần nghĩa và cùng nghĩa chưa tốt Bên cạnh đó, các em chưa nắm bắt đượchết những khả năng kết hợp của các loại từ loại như danh từ, động từ hay tính từ

Ví dụ:

-“Em rất thích nó vì nó toàn là những cây giúp ích cho đời sống”

-“Nhìn từ xa, cái xe nọ nối tiếp cái xe kia thành một hàng dài”

Từ “cái” dùng sai Khi dùng với xe cộ ta dùng từ “chiếc” thay cho từ

“cái” hoặc ta cũng có thể bỏ hẳn từ “cái” đi cho câu văn hay hơn, gọn hơn

Trang 13

Như vậy lạ thành quen, từ ít tới nhiều, dần dần học sinh biết cách chữa lỗi

về dùng từ Các em không chỉ dừng lại ở chữa lỗi mà còn có ý thức viết đúng,chọn đúng từ để hạn chế mắc phải lỗi này

+ Chữa lỗi về câu:

Nếu từ là đơn vị trung tâm để tạo câu, thì câu lại là cơ sở để tạo ra đoạn.Trong ngôn ngữ nói hàng ngày các em phải sử dụng rất nhiều loại câu, kiểu câu

Tuy nhiên học sinh Tiểu học rất hay có thói quen đưa ngôn ngữ nói vàotrong ngôn ngữ viết Trong khi đó, do khác nhau về mục đích sử dụng, văn nóichỉ cần đảm bảo đúng, đủ thông tin yêu cầu gọn thì viết lại đòi hỏi có sự lựachọn từ ngữ sao cho có hình ảnh, giầu cảm xúc Vì vậy, trong bài làm văn củamình, các em rất hay mắc lỗi về câu, về diễn đạt

Một số lỗi các em hay mắc như sau:

+ Câu chưa đủ thành phần

+ Câu sai do thiếu từ, lặp lại

+ Câu sai do chấm câu không đúng, xếp ý lộn xộn

+ Câu sai do sử dụng các biện pháp nghệ thuật không hợp lí

+ Câu sai do sử dụng biện pháp liên kết chưa chính xác

Với các trường hợp học sinh mắc lỗi về câu, về diễn đạt, tôi cũng tiếnhành sửa lỗi theo các bước:

Bước 1: Đọc câu sai (có thể hai hoặc ba câu nếu chưa đảm bảo sự liên

kết)

Bước 2: Phát hiện câu sai vì sao.

Bước 3: Sửa lại câu như thế nào.

Ví dụ 1:

- Với câu: “Nhà cháu có tất cả bốn loại.” tôi hướng dẫn học sinh cách sửabằng cách thêm chủ ngữ vào trước định ngữ “nhà cháu”: “Khu vườn nhà cháutrồng tất cả bốn loại cây”

Ví dụ 2:

- “Cứ hàng tuần em về chơi”

Trang 14

Câu chưa đủ thành phần Câu này có hai khả năng: nếu trước câu này đã

có một câu chỉ địa điểm thì cần có thêm từ “lại” đặt giữa “em” và “về” vì từ

“cứ” bao giờ cũng đi với từ “lại” Nếu trước câu này chưa có câu khác mà dùng

cả cụm từ trên với chức năng trạng ngữ thì câu thiếu thành phần Có thể sửa lạibằng cách thêm thành phần chính vào sau trạng ngữ

Tôi hướng dẫn học sinh cách sửa: “Cứ hàng tuần về chơi, cháu lại thấykhu vườn như đẹp hơn”

từ đó sẽ trở thành bộ phận trạng ngữ của câu

Có hai cách chữa:

+ Cách 1: Bỏ dấu chấm thay bằng dấu phẩy ở sau cụm từ “ngồi bên bà”.Câu sửa: “Vào những buổi tối, khi được ngồi bên bà, bà thường kể cho

em nghe những câu chuyện cổ tích”

+ Cách 2: Bỏ dấu chấm trước chủ ngữ “ bà” và diễn đạt lại câu cho hợp lí.Câu sửa: “Vào những buổi tối được ngồi bên bà, em lại được nghe nhữngcâu chuyện cổ tích vô cùng hấp dẫn.”

Ví dụ 4:

- “Thỉnh thoảng lại có những chú bướm nhởn nhơ bay lượn rồi đậu trênnhững bông hoa nở tươi hẳn lên”

Tôi hướng dẫn học sinh phân tích câu này thành hai ý:

+ Thỉnh thoảng, những chú bướm nhởn nhơ bay lượn rồi đậu trên nhữngbông hoa đang nở

+ Những bông hoa nở tươi hẳn lên

Câu có thể sửa lại như sau:

“Thỉnh thoảng, những chú bướm nhởn nhơ bay lượn rồi đậu trên những

Trang 15

bông hoa đang nở làm những bông hoa đó tươi hẳn lên”.

+ Sửa lỗi diễn đạt

Ví dụ:

“Cô dạy chúng em rất dễ học, lúc nào cũng nhanh hiểu bài”

- Xem từ nào thừa có thể lược bỏ bớt rồi viết lại cho gọn câu văn

Câu sửa lại: “Khi cô dạy, chúng em rất dễ hiểu và làm bài nhanh hẳn lên”

c.Tổ chức cho học sinh tự sửa lỗi trong bài làm của mình.

Dựa vào phần nhận xét và các lỗi mà giáo viên đã chỉ ra trong bài làm, họcsinh tự sửa lỗi sai (chủ yếu là lỗi về chính tả và dùng từ)

- Gọi học sinh nêu những cách chữa, sau đó các bạn nhận xét

d Hướng dẫn học sinh học tập cách viết văn hay

Thực tế cho thấy, những em học sinh viết văn tốt là những em chăm đọcsách báo và chịu khó rèn viết Qua việc đọc nhiều các em sẽ học tập được cáchviết hay từ đó vận dụng vào bài viết Do vậy đây cũng là một biện pháp tích cực

mà tôi thường xuyên áp dụng vào các giờ học Tiếng Việt khác chứ không chỉriêng giờ trả bài

Những câu văn, đoạn văn mà tôi chọn đưa ra cho học sinh học tập khôngphải là những câu, những đoạn trong sách văn mẫu Tôi luôn chọn từ chính sảnphẩm của chính học sinh trong lớp, vừa thực tế, vừa gần gũi lại có tác dụngkhuyến khích các em luyện viết Khi đưa ra những câu, đoạn văn ấy, tôi luôn cógợi ý bằng các câu hỏi đi kèm để học sinh có thể dễ dàng nhận xét trao đổi đểhọc tập những thành công trong bài làm của các bạn (về bố cục, sắp xếp ý diễnđạt dùng từ, đặt câu, sử dụng biện pháp liên tưởng, so sánh hay nhân hóa )

e Hướng dẫn học sinh chọn viết lại một đoạn cho hay hơn

Tùy theo thời gian cho phép, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện yêu cầunày tại lớp hay luyện tập thêm ở nhà để nâng cao kĩ năng viết văn Đoạn văn họcsinh chọn để viết lại có thể là đoạn còn mắc lỗi (lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi đặtcâu ), đoạn viết chưa hay, đoạn viết lại theo cách khác (ví dụ: chuyện mở bàitrực tiếp sang gián tiếp, chuyển từ cách tả riêng rẽ, từ ngoại hình điến tính tìnhsang cách tả kết hợp đan xen )

Trang 16

* So với các tiết khác, tiết trả bài cần được giáo viên chuẩn bị công phu từkhi chấm bài, đến việc soạn giáo án, cuối cùng là tổ chức các hoạt động dạy trênlớp Việc chấm bài cẩn thận, hướng dẫn học sinh chữa lỗi, học tập cách viết vănhay sẽ giúp trẻ phát triển các kĩ năng làm văn đồng thời góp phần hình thành chocác em ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng đối với sản phẩm tinh thần do mìnhlàm ra.

3 Tích hợp chữa lỗi trong giờ của phân môn Tiếng Việt.

Do chương trình Tập làm văn lớp 4, số lượng tiết trả bài quá ít Nếu chỉ chờđến giờ trả bài mới chữa, tôi e rằng học sinh sẽ mắc rất nhiều lỗi và khó có thểsửa lỗi khi các lỗi đó đã thành lối mòn Vì vậy việc tích hợp chữa lỗi cho họcsinh trong các giờ của phân môn tiếng việt là rất thiết thực, cụ thể:

+ Chữa trong giờ chính tả.

Trong các giờ chính tả ngoài việc xây dựng quy tắc chính tả để học sinhghi nhớ khái quát và có hệ thống, tôi còn lập các “mẹo” chính tả dựa vào cáckiến thức từ vựng ngữ nghĩa

Ví dụ: Những từ ghi “chờ” viết là “tr” hay “ch” nếu chúng chỉ đồ vậttrong gia đình thì hầu hết được viết là “ch” như: chai, chén, chăn, chiếu, chảo,chum, chĩnh, chậu

Đối với những lỗi viết hoa tùy tiện và không viết hoa danh từ riêng thìkhông phải học sinh không được học quy tắc viết hoa nhưng vì hay quên, chưa

có thói quen nên tôi luôn nhắc nhở học sinh những lúc viết bài

Hiểu nghĩa từ là cơ sở giúp học sinh viết đúng chính tả Nếu hiểu nghĩa từthì học sinh sẽ dễ dàng khi viết Chẳng hạn với những từ có hình thứ ngữ âm là

“za”

+ Chỉ những người sống chung một nhà: gia đình

+ Chỉ hoạt động: ra vào

+ Chỉ bộ phận bảo vệ người cơ thể: da thịt

Tôi luôn giải nghĩa từ cho học sinh và yêu cầu học sinh tìm các tiếng có phụ âm đầu giống nhau

+ Những từ sai đã sửa tôi yêu cầu học sinh và yêu cầu học sinh ghi vào sổ tay

Ngày đăng: 28/12/2015, 11:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bồi dưỡng mầm non văn học của tác giả Lê Mạnh Hưởng Khác
2. Bồi dưỡng Tiếng việt của tác giả Lê Phương Nga Khác
3. Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học của tác giả Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Đỗ Xuân Thảo Khác
4. Phương pháp dạy Tập làm văn lớp 4 Khác
5. Chuẩn kiến thức kĩ năng Khác
6. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học Khác
7. Các bài văn hay của học sinh khoá trư``` Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phụ ghi sẵn một số lỗi về chính tả, cách dùng từ, cách diễn đạt, ngữ pháp,... cần chữa chung cho cả lớp. - Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ trả bài tập làm văn lớp 4
Bảng ph ụ ghi sẵn một số lỗi về chính tả, cách dùng từ, cách diễn đạt, ngữ pháp,... cần chữa chung cho cả lớp (Trang 22)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w