1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận trình tự giao kết hợp đồng dân sự và một số vấn đề lí luận

8 1,9K 43

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 25,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống hiện nay, việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa chủ thể này với chủ thể khác là không thể thiếu. Vì vậy chế định về hợp đồng dân sự đã sớm ra đời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa các chủ thể với nhau. Trong đó, giao kết hợp đồng dân sự là một phần quan trọng, đó là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự. Vậy, trình tự giao kết hợp đồng dân sự được pháp luật quy định như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này em đã chọn đề tài “ Trình tự giao kết hợp đồng dân sự và một số vấn đề lí luận” để nghiên cứu làm bài tập của mình.I. TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN:1. Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự:Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên có liên quan bày tỏ, thống nhất ý chí, nguyện vọng của mình để qua đó xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau theo hình thức, nội dung, nguyên tắc và trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận. 2. Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng:2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng:Đề nghị giao kết hợp đồng là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất trong quá trình giao kết hợp đồng.Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 quy định:“ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.”Như vậy, thực chất đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên bày tỏ ý chí của mình cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết hợp đồng với người đó.Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng với các hành vi khác như: lời mời đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, báo giá, quảng cáo, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ,…Trong khi đó, đề nghị giao kết hợp đồng tạo ra hậu quả pháp lý quan trọng đối với cả bên đề nghị và bên được đề nghị. Vì vậy một đề nghị giao kết hợp đồng cần phải thỏa mãn các điều kiện cần và đủ sau đây:Thứ nhất, phải thể hiện rõ ý định của bên đề nghị muốn ký kết hợp đồng với bên được đề nghị và nội dung của hợp đồng tương lai phải được thể hiện cụ thể và rõ ràng, gần như là các điều khoản trong hợp đồng đó.Ví dụ như quảng cáo hàng hóa hay catalog giới thiệu sản phẩm thì chỉ được coi là lời mời chào giao kết hợp đồng hoặc lời mời bàn bạc để thỏa thuận giao kết, vì chúng không chứa nội dung của một hợp đồng tương lai. Thứ hai, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ sự ràng buộc của bên đề nghị với lời đề nghị của mình trong trường hợp có sự trả lời chấp thuận. Có nghĩa là, đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa nội dung sao cho khi đọc lời đề nghị thì bên được đề nghị biết được rằng, chỉ cần họ thể hiện sự đồng ý với lời đề nghị thì hợp đồng sẽ được ký kết. Ngoài ra, tính ràng buộc còn thể hiện ở chỗ: trong trường hợp nội dung lời đề nghị ghi rõ thời hạn có giá trị của lời đề nghị và quy định rõ thời hạn trả lời thì trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với bên thứ ba thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị nếu có thiệt hại phát sinh ( Khoản 2 Điều 390 BLDS 2005).Thứ ba, lời đề nghị giao kết hợp đồng phải gửi cho một hoặc một số người xác định. Có nghĩa, đề nghị giao kết hợp đồng phải chỉ rõ người đề nghị muốn giao kết hợp đồng với ai và xác định rõ ràng địa chỉ gửi đến là đâu. Ngoại lệ cũng có những lời đề nghị không gửi cho ai cụ thể, gọi là đề nghị giao kết hợp đồng công cộng. Ví dụ: Trung mới mở một cửa hàng bán hoa và thông báo công khai rằng, ai đến mua đầu tiên sẽ được giảm giá 70%. Hợp đồng sẽ được giao kết khi có một khách hàng bất kỳ trong số những người không xác định đến mua hoa đầu tiên.2.1.2. Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực:Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực là thời điểm phát sinh nghĩa vụ của bên đề nghị với bên được đề nghị. Tức là thời điểm mà bên đề nghị bắt đầu bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi chính lời đề nghị của mình.Theo Khoản 1 Điều 391 BLDS 2005 quy định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:Do bên đề nghị ấn định: đối với trường hợp này thời điểm có hiệu lực hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của bên đề nghị.Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực từ khi bên được đề nghị nhận được lời đề nghị. Vậy như thế nào được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng?Khoản 2 Điều 391 BLDS 2005 quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:a)Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;b)Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;c)Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.2.1.3. Thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng:Việc người đề nghị xác định thời hạn hiệu lực của lời đề nghị thể hiện sự ràng buộc của họ đối với lời đề nghị của mình. Thông qua đó thể hiện sự uy tín của mình và lấy được sự tin cậy của bên đối tác. Như vậy, trong trường hợp lời đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì người đề nghị không được rút lại hoặc thay đổi lời đề nghị trong thời hạn đó. Tuy nhiên, để tạo sự linh động của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng pháp luật cũng có những điều khoản về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng.Khoản 1 Điều 392 BLDS 2005 quy định bên đề nghị có thể thay đổi, rút lại lời đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau:Khi thông báo về việc thay đổi, rút lại đề nghị đến tay bên được đề nghị trước hoặc cùng lúc với lời đề nghị giao kết hợp đồng.Khi điều kiện về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng được bên đề nghị ghi rõ trong lời đề nghị phát sinh.Bên đề nghị cũng có thể hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, việc hủy bỏ đề nghị không được áp dụng một cách tùy tiện. Điều 393 BLDS 2005 quy định khi lời đề nghị đã có giá trị pháp lý thì bên đề nghị chỉ được quyền hủy bỏ đề nghị chỉ khi thỏa mãn được hai điều kiện cần và đủ sau:Điều kiện cần: trong lời đề nghị giao kết hợp đồng bên đề nghị phải ghi rõ trong trường hợp, điều kiện nào thì có quyền hủy bỏ đề nghị.Điều kiện đủ: bên đề nghị phải thông báo cho bên được đề nghị về việc hủy bỏ đề nghị và thông báo này phải đến tay bên được đề nghị trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.2.1.4. Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng:Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng là dựa trên sự thể hiện ý chí của các bên tham gia trong quá trình giao kết hợp đồng. Điều 394 BLDS 2005 quy định cụ thể các trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt:Bên được đề nghị trả lời về việc không chấp nhận đề nghị.Hết thời hạn trả lời chấp nhận.Khi bên đề nghị có thông báo về việc thay đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng và thông báo này đã có hiệu lực.Theo thỏa thuận giữa các bên về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:2.2.1. Khái niệm và đặc điểm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:Điều 396 BLDS 2005 quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”Theo quy định này thì sự trả lời đề nghị được coi là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ sau:Điều kiện cần: trong câu trả lời đề nghị phải thể hiện ý chí của bên được đề nghị đồng ý với toàn bộ điều kiện mà bên đề nghị nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng.Điều kiện đủ: bên đề nghị phải nhận được câu trả lời trong thời hạn hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng.Trong thực tế, nhiều trường hợp bên được đề nghị trả lời chấp nhận tuy nhiên trong câu trả lời có đề xuất sửa đổi, bổ sung đề nghị sao cho phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của họ. Tức có sự thay đổi, không phụ thuộc vào sự thay đổi này là đáng kể hay không đáng kể, chỉ cần có sự thay đổi thì coi như bên được đề nghị không chấp thuận lời đề nghị và đã đưa ra lời đề nghị mới (Điều 395 BLDS 2005).Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 có quy định: “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.” Như vậy, nếu các bên có thỏa thuận trước hoặc bên đề nghị có ghi rõ trong lời đề nghị giao kết hợp đồng thì im lặng cũng có thể được coi là hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.2.2.2. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng:Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng là một khoảng thời gian hoặc một thời điểm cụ thể mà trong khoảng thời gian hoặc tại thời điểm đó bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.Điều 397 BLDS 2005 quy định hai trường hợp:Thứ nhất, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; trường hợp bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì đây được coi là một đề nghị mới của bên chậm trả lời; nếu thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do đó thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.Thứ hai, khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận , trừ trường hợp có thỏa thuận khác về thời hạn trả lời.2.2.3. Rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:Theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị có thể rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm mà bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.2.2.4. Hậu quả pháp lý của việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:Người chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có quyền rút lại thông báo chấp nhận trong trường hợp người đề nghị chưa nhận được trả lời chấp nhận, nhưng một khi chấp nhận đề nghị đã được người đề nghị tiếp nhận sẽ không được rút lại hay thay đổi theo ý chí đơn phương của người chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp chấp nhận đề nghị được gửi trễ hạn và trở thành một đề nghị mới ( Khoản 1 Điều 397 BLDS 2005).BLDS 2005 cũng quy định rõ hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết hợp đồng trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 398) và trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 399). Nếu sau khi đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận hợp lệ mà bên đề nghị hoặc bên được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự , thì việc đề nghị và chấp nhận đề nghị vẫn có giá trị. Khi đó, việc giao kết, thực hiện hợp đồng được đảm bảo thông qua vai trò của người thừa kế hoặc người đại diện.II. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:Thứ nhất, về khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng:Khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng tại Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 còn chung chung, so với các văn bản pháp luật về hợp đồng trước đây, BLDS 2005 đã đề cập đến các điều kiện của một đề nghị giao kết hợp đồng, giúp các chủ thể dễ dàng hơn khi xác định một thông tin là đề nghị giao kết hợp đồng. Nhưng hiện nay, BLDS 2005 chưa quy định một cách cụ thể, rõ ràng về các điều kiện để một thông tin được coi là đề nghị giao kết hợp đồng. Vì vậy, rất khó để phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch. Chúng thường bị nhầm lẫn vì đều có sự ràng buộc của người đưa ra đề nghị với nội dung đã đưa ra. Sự khác biệt cơ bản là hậu quả pháp lý của chúng. Việc bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao dịch không dẫn đến sự ra đời của một hợp đồng mà chỉ dẫn đến sự hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng, trong khi đó chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dẫn đến sự hình thành một hợp đồng.Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về đề nghị giao dịch khiến cho thực tế có nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch. Ví dụ: các tờ rơi, báo giá, thư mời thầu,…có được coi là đề nghị giao kết hợp đồng không? Vì vậy, để tránh sự nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng, BLDS 2005 cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn những dấu hiệu nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch.Thứ hai, về thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng:Hiện nay, BLDS 2005 không quy định về thời hạn trả lời đối với trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng không xác định thời hạn trả lời. Do vậy, thời hạn trả lời chỉ kết thúc nếu thông báo thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc các bên có thỏa thuận. Nếu 1 bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng nhưng không xác định thời hạn hiệu lực của đề nghị, thì đề nghị này có hiệu lực trong bao lâu? Nếu sau một vài năm, bên được đề nghị mới trả lời chấp nhận thì giá trị của lời chấp nhận đó như thế nào? Do đó, BLDS 2005 cần quy định về thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp bên đề nghị không xác định thời hạn trả lời.Thứ ba, bổ sung thêm một số trường hợp làm chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự:Điều 394 BLDS 2005 quy định về các trường hợp làm đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp khác cũng làm chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng như: Một trong hai bên (bên đề nghị và bên được đề nghị giao kết hợp đồng) hoặc cả hai bên chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị phá sản trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng; đối tượng của hợp đồng dân sựu dự kiến không còn do nguyên nhân bất khả kháng ( như hợp đồng thuê nhà ở nhưng nhà bị hư hại do bão, lũ lụt,…)Thứ tư, về trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự:BLDS 2005 có quy định, trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị tại Điều 398, hoặc bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị tại Điều 399. Như vậy, hợp đồng được coi là đã hình thành và ràng buộc các bên mặc dù một trong hai bên chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự.Quy định trên của pháp luật là không hợp lý trong trường hợp hợp đồng bắt buộc phải do cá nhân thực hiện. Ví dụ: công ty X gửi đề nghị giao kết hợp đồng với ông A, theo đó ông A sẽ thiết kế tòa nhà văn phòng cho công ty X. Ông A chết sau khi đã trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Trong trường hợp này hợp đồng vẫn được hình thành và ràng buộc các bên nhưng thực tế, việc thực hiện hợp đồng là không thể nếu ông A không có người thừa kế hoặc có nhưng người thừa kế không thể thiết kế. Bên cạnh đó, quy định này cũng mâu thuẩn với Khoản 3 điều 424 BLDS 2005 chấm dứt hợp đồng dân sự trong trường hợp cá nhân giao kết hợp đồng chết mà hợp đồng phải do chính cá nhân đó thực hiện. Pháp luật nên có quy định hợp lý và thống nhất hơn về hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết hợp đồng trong trường hợp một hoặc hai bên giao kết chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự.III. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2012. PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện – TS. Đoàn Thị Phương Diệp – ThS. Lê Nguyễn Gia Thiện, Giáo trình Luật dân sự tập 2, NXB ĐHQG Tp.HCM. TS. Dương Anh Sơn, Các quy định của bộ luật dân sự 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng – nhìn từ góc độ luật học so sánh.

Trang 1

Trong cuộc sống hiện nay, việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa chủ thể này với chủ thể khác là không thể thiếu Vì vậy chế định về hợp đồng dân sự đã sớm ra đời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, tài sản giữa các chủ thể với nhau Trong đó, giao kết hợp đồng dân sự là một phần quan trọng, đó là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự Vậy, trình tự giao kết hợp đồng dân sự được pháp luật quy định như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này em đã chọn đề tài “ Trình tự giao kết hợp đồng dân sự và một số vấn đề lí luận” để nghiên cứu làm bài tập của mình

I TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN:

1 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự:

Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên có liên quan bày tỏ, thống nhất ý chí, nguyện vọng của mình để qua đó xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự với nhau theo hình thức, nội dung, nguyên tắc và trình tự nhất định được pháp luật thừa nhận

2 Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:

2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng:

2.1.1 Khái niệm và đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng:

Đề nghị giao kết hợp đồng là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất trong quá trình giao kết hợp đồng

Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 quy định:

“ Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.”

Như vậy, thực chất đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên bày tỏ ý chí của mình cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết hợp đồng với người đó

Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng với các hành vi khác như: lời mời đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, báo giá, quảng cáo, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ,…Trong khi đó, đề nghị giao kết hợp đồng tạo ra hậu quả pháp lý quan trọng đối với cả bên đề nghị và bên được đề nghị Vì vậy một đề nghị giao kết hợp đồng cần phải thỏa mãn các điều kiện cần và đủ sau đây:

Trang 2

Thứ nhất, phải thể hiện rõ ý định của bên đề nghị muốn ký kết hợp đồng với bên được

đề nghị và nội dung của hợp đồng tương lai phải được thể hiện cụ thể và rõ ràng, gần như

là các điều khoản trong hợp đồng đó.Ví dụ như quảng cáo hàng hóa hay catalog giới thiệu sản phẩm thì chỉ được coi là lời mời chào giao kết hợp đồng hoặc lời mời bàn bạc

để thỏa thuận giao kết, vì chúng không chứa nội dung của một hợp đồng tương lai

Thứ hai, đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ sự ràng buộc của bên đề nghị với lời

đề nghị của mình trong trường hợp có sự trả lời chấp thuận Có nghĩa là, đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa nội dung sao cho khi đọc lời đề nghị thì bên được đề nghị biết được rằng, chỉ cần họ thể hiện sự đồng ý với lời đề nghị thì hợp đồng sẽ được ký kết Ngoài ra, tính ràng buộc còn thể hiện ở chỗ: trong trường hợp nội dung lời đề nghị ghi rõ thời hạn

có giá trị của lời đề nghị và quy định rõ thời hạn trả lời thì trong thời hạn chờ bên được

đề nghị trả lời, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng với bên thứ ba thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị nếu có thiệt hại phát sinh ( Khoản 2 Điều 390 BLDS 2005)

Thứ ba, lời đề nghị giao kết hợp đồng phải gửi cho một hoặc một số người xác định Có

nghĩa, đề nghị giao kết hợp đồng phải chỉ rõ người đề nghị muốn giao kết hợp đồng với

ai và xác định rõ ràng địa chỉ gửi đến là đâu Ngoại lệ cũng có những lời đề nghị không gửi cho ai cụ thể, gọi là đề nghị giao kết hợp đồng công cộng Ví dụ: Trung mới mở một cửa hàng bán hoa và thông báo công khai rằng, ai đến mua đầu tiên sẽ được giảm giá 70% Hợp đồng sẽ được giao kết khi có một khách hàng bất kỳ trong số những người không xác định đến mua hoa đầu tiên

2.1.2 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực:

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực là thời điểm phát sinh nghĩa vụ của bên

đề nghị với bên được đề nghị Tức là thời điểm mà bên đề nghị bắt đầu bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi chính lời đề nghị của mình

Theo Khoản 1 Điều 391 BLDS 2005 quy định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau:

- Do bên đề nghị ấn định: đối với trường hợp này thời điểm có hiệu lực hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của bên đề nghị

Trang 3

- Trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực từ khi bên được đề nghị nhận được lời đề nghị Vậy như thế nào được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng?

Khoản 2 Điều 391 BLDS 2005 quy định các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:

a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;

b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị;

c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác

2.1.3 Thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng:

Việc người đề nghị xác định thời hạn hiệu lực của lời đề nghị thể hiện sự ràng buộc của

họ đối với lời đề nghị của mình Thông qua đó thể hiện sự uy tín của mình và lấy được sự tin cậy của bên đối tác Như vậy, trong trường hợp lời đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì người đề nghị không được rút lại hoặc thay đổi lời đề nghị trong thời hạn đó Tuy nhiên, để tạo sự linh động của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng pháp luật cũng có những điều khoản về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng

Khoản 1 Điều 392 BLDS 2005 quy định bên đề nghị có thể thay đổi, rút lại lời đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau:

- Khi thông báo về việc thay đổi, rút lại đề nghị đến tay bên được đề nghị trước hoặc cùng lúc với lời đề nghị giao kết hợp đồng

- Khi điều kiện về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng được bên đề nghị ghi rõ trong lời đề nghị phát sinh

Bên đề nghị cũng có thể hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, việc hủy bỏ đề nghị không được áp dụng một cách tùy tiện Điều 393 BLDS 2005 quy định khi lời đề nghị đã có giá trị pháp lý thì bên đề nghị chỉ được quyền hủy bỏ đề nghị chỉ khi thỏa mãn được hai điều kiện cần và đủ sau:

- Điều kiện cần: trong lời đề nghị giao kết hợp đồng bên đề nghị phải ghi rõ trong trường hợp, điều kiện nào thì có quyền hủy bỏ đề nghị

Trang 4

- Điều kiện đủ: bên đề nghị phải thông báo cho bên được đề nghị về việc hủy bỏ đề nghị và thông báo này phải đến tay bên được đề nghị trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

2.1.4 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng:

Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng là dựa trên sự thể hiện ý chí của các bên tham gia trong quá trình giao kết hợp đồng Điều 394 BLDS 2005 quy định cụ thể các trường hợp

đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấm dứt:

- Bên được đề nghị trả lời về việc không chấp nhận đề nghị

- Hết thời hạn trả lời chấp nhận

- Khi bên đề nghị có thông báo về việc thay đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng và thông báo này đã có hiệu lực

- Theo thỏa thuận giữa các bên về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng

2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

Điều 396 BLDS 2005 quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.”

Theo quy định này thì sự trả lời đề nghị được coi là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi thỏa mãn hai điều kiện cần và đủ sau:

- Điều kiện cần: trong câu trả lời đề nghị phải thể hiện ý chí của bên được đề nghị đồng ý với toàn bộ điều kiện mà bên đề nghị nêu trong đề nghị giao kết hợp đồng

- Điều kiện đủ: bên đề nghị phải nhận được câu trả lời trong thời hạn hiệu lực của

đề nghị giao kết hợp đồng

Trong thực tế, nhiều trường hợp bên được đề nghị trả lời chấp nhận tuy nhiên trong câu trả lời có đề xuất sửa đổi, bổ sung đề nghị sao cho phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của họ Tức có sự thay đổi, không phụ thuộc vào sự thay đổi này là đáng kể hay không đáng kể, chỉ cần có sự thay đổi thì coi như bên được đề nghị không chấp thuận lời đề nghị và đã đưa ra lời đề nghị mới (Điều 395 BLDS 2005)

Khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 có quy định: “Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.”

Trang 5

Như vậy, nếu các bên có thỏa thuận trước hoặc bên đề nghị có ghi rõ trong lời đề nghị giao kết hợp đồng thì im lặng cũng có thể được coi là hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

2.2.2 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng:

Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng là một khoảng thời gian hoặc một thời điểm

cụ thể mà trong khoảng thời gian hoặc tại thời điểm đó bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

Điều 397 BLDS 2005 quy định hai trường hợp:

Thứ nhất, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có

hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; trường hợp bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì đây được coi là một đề nghị mới của bên chậm trả lời; nếu thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do đó thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được

đề nghị

Thứ hai, khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại

hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận , trừ trường hợp có thỏa thuận khác về thời hạn trả lời

2.2.3 Rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

Theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị có thể rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm mà bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

2.2.4 Hậu quả pháp lý của việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:

Người chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có quyền rút lại thông báo chấp nhận trong trường hợp người đề nghị chưa nhận được trả lời chấp nhận, nhưng một khi chấp nhận đề nghị đã được người đề nghị tiếp nhận sẽ không được rút lại hay thay đổi theo ý chí đơn phương của người chấp nhận đề nghị, trừ trường hợp chấp nhận đề nghị được gửi trễ hạn

và trở thành một đề nghị mới ( Khoản 1 Điều 397 BLDS 2005)

Trang 6

BLDS 2005 cũng quy định rõ hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết hợp đồng trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 398) và trường hợp bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự (Điều 399) Nếu sau khi đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận hợp lệ

mà bên đề nghị hoặc bên được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự , thì việc đề nghị và chấp nhận đề nghị vẫn có giá trị Khi đó, việc giao kết, thực hiện hợp đồng được đảm bảo thông qua vai trò của người thừa kế hoặc người đại diện

II MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ:

Thứ nhất, về khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng:

Khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng tại Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 còn chung chung, so với các văn bản pháp luật về hợp đồng trước đây, BLDS 2005 đã đề cập đến các điều kiện của một đề nghị giao kết hợp đồng, giúp các chủ thể dễ dàng hơn khi xác định một thông tin là đề nghị giao kết hợp đồng Nhưng hiện nay, BLDS 2005 chưa quy định một cách cụ thể, rõ ràng về các điều kiện để một thông tin được coi là đề nghị giao kết hợp đồng Vì vậy, rất khó để phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch Chúng thường bị nhầm lẫn vì đều có sự ràng buộc của người đưa ra đề nghị với nội dung đã đưa ra Sự khác biệt cơ bản là hậu quả pháp lý của chúng Việc bên được đề nghị chấp nhận đề nghị giao dịch không dẫn đến sự ra đời của một hợp đồng mà chỉ dẫn đến

sự hình thành một đề nghị giao kết hợp đồng, trong khi đó chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dẫn đến sự hình thành một hợp đồng

Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về đề nghị giao dịch khiến cho thực tế có nhiều trường hợp nhầm lẫn giữa đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch Ví dụ: các tờ rơi, báo giá, thư mời thầu,…có được coi là đề nghị giao kết hợp đồng không?

Vì vậy, để tránh sự nhầm lẫn khi ký kết hợp đồng, BLDS 2005 cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn những dấu hiệu nhận diện đề nghị giao kết hợp đồng và phân biệt đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao dịch

Thứ hai, về thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng:

Trang 7

Hiện nay, BLDS 2005 không quy định về thời hạn trả lời đối với trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng không xác định thời hạn trả lời Do vậy, thời hạn trả lời chỉ kết thúc nếu thông báo thay đổi, rút lại, hủy bỏ đề nghị có hiệu lực hoặc các bên có thỏa thuận Nếu 1 bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng nhưng không xác định thời hạn hiệu lực của

đề nghị, thì đề nghị này có hiệu lực trong bao lâu? Nếu sau một vài năm, bên được đề nghị mới trả lời chấp nhận thì giá trị của lời chấp nhận đó như thế nào?

Do đó, BLDS 2005 cần quy định về thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng trong trường hợp bên đề nghị không xác định thời hạn trả lời

Thứ ba, bổ sung thêm một số trường hợp làm chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự:

Điều 394 BLDS 2005 quy định về các trường hợp làm đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp khác cũng làm chấm dứt đề nghị giao

kết hợp đồng như: Một trong hai bên (bên đề nghị và bên được đề nghị giao kết hợp đồng) hoặc cả hai bên chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị phá sản trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng; đối tượng của hợp đồng dân sựu dự kiến không còn do nguyên nhân bất khả kháng ( như hợp đồng thuê nhà ở nhưng nhà bị

hư hại do bão, lũ lụt,…)

Thứ tư, về trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng hoặc bên được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự:

BLDS 2005 có quy định, trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì

đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị tại Điều 398, hoặc bên được đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị tại Điều 399 Như vậy, hợp đồng được coi là đã hình thành và ràng buộc các bên mặc dù một trong hai bên chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự

Quy định trên của pháp luật là không hợp lý trong trường hợp hợp đồng bắt buộc phải do

cá nhân thực hiện Ví dụ: công ty X gửi đề nghị giao kết hợp đồng với ông A, theo đó ông

A sẽ thiết kế tòa nhà văn phòng cho công ty X Ông A chết sau khi đã trả lời chấp nhận

Trang 8

giao kết hợp đồng Trong trường hợp này hợp đồng vẫn được hình thành và ràng buộc các bên nhưng thực tế, việc thực hiện hợp đồng là không thể nếu ông A không có người thừa kế hoặc có nhưng người thừa kế không thể thiết kế Bên cạnh đó, quy định này cũng mâu thuẩn với Khoản 3 điều 424 BLDS 2005 chấm dứt hợp đồng dân sự trong trường hợp cá nhân giao kết hợp đồng chết mà hợp đồng phải do chính cá nhân đó thực hiện Pháp luật nên có quy định hợp lý và thống nhất hơn về hậu quả pháp lý của việc chấp nhận giao kết hợp đồng trong trường hợp một hoặc hai bên giao kết chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự

III TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2012.

- PGS.TS Nguyễn Ngọc Điện – TS Đoàn Thị Phương Diệp – ThS Lê Nguyễn Gia

Thiện, Giáo trình Luật dân sự tập 2, NXB ĐHQG Tp.HCM.

- TS Dương Anh Sơn, Các quy định của bộ luật dân sự 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng – nhìn từ góc độ luật học so sánh.

Ngày đăng: 28/12/2015, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w