Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng Theo Khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 Luật các TCTD 2010 thì Tổ chức tín dụng TCTD được định nghĩa như sau: “Tổ chức
Trang 1NỘI DUNG TRANG
I Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng 1
1 Phân loại TCTD dựa vào thời hạn sử dụng vốn vay 3
2 Phân loại cho vay dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay 7
3 Phân loại cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn vay 10
g Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng 13
III Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại cho vay của các TCTD 15
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề tài chính tiền tệ đang là một vấn đề vô cùng quan trọng, do đó có thể thấy được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng Các Tổ chức tín dụng hoạt động tốt sẽ thúc đẩy nền kinh tế, tài chính phát triển theo Trong nền kinh tế đang phát triển mạnh như nước ta hiện nay, nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh doanh và tiêu dùng
là rất lớn, trong khi đó kênh huy động vốn của chúng ta chủ yếu chỉ là các Tổ chức tín dụng Vì vậy, các tổ chức tín dụng càng đa dạng hoá các hình thức cho vay bao nhiêu thì càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu về vốn có được điều kiện tiếp cận vốn để sản xuất kinh doanh hay phục
vụ sinh hoạt tốt hơn Vì những đặc điểm quan trọng như trên, em xin chọn để tài
“phân loại cho vay của tổ chức tín dụng và ý nghĩa pháp lý của việc phân loại đó”.
B NỘI DUNG
I Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các TCTD 2010) thì Tổ chức tín dụng (TCTD) được định nghĩa như sau: “Tổ chức
tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” Khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 4 Luật
các TCTD năm 2010 giải thích về các thuật ngữ: Ngân hàng, Tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và Quỹ tín dụng nhân dân như sau:
“2 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Trang 34 Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
5 Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.
6 Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân
và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một
số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.”
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì : “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Hoạt động cho vay bao gồm các yếu tố cấu thành cơ bản sau:
- Thứ nhất, về chủ thể, việc cho vay bao giờ cũng có hai chủ thể là bên
vay và bên cho vay Bên cho vay là người có tài sản chưa dùng đến, muốn cho người khác sử dụng để thoả mãn một số lợi ích của mình Bên đi vay là người đang cần sử dụng loại tài sản đó để thoả mãn nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng
- Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay chính là hợp đồng tín dụng
tài sản Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc tự do và thống nhất về ý chí, nguyên tắc tự định đoạt
- Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi cơ bản là hành vi ứng
Trang 4Hành vi tương ứng là tài sản do người cho vay thực hiện, còn hành vi hoàn trả được thực hiện bởi người vay sau đó một khoảng thời gian theo sự thoả thuận giữa hai bên
- Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho
vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay
Bên cạnh những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng còn có những dấu hiệu đặc thù sau:
- Thứ nhất, việc cho vay của TCTD là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh
mang tính chức năng
- Thứ hai, hoạt động cho vay của TCTD là một nghề nghiệp kinh có điều
kiện
- Thứ ba, ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp
đồng, hoạt động cho vay của TCTD còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về ngân hàng, thậm chí cả các tập quán thương mại về ngân hàng
II Phân loại cho vay của TCTD
Việc phân loại cho vay của TCTD cần phải căn cứ vào nhiều tiêu chí cơ bản khác nhau, mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa và mục đích nhất định
1 Phân loại TCTD dựa vào thời hạn sử dụng vốn vay
Căn cứ vào tiêu chí này, hoạt động cho vay của các TCTD phân thành các loại:
a Cho vay ngắn hạn
- Theo Khoản 1 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng thì “cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng” Ta thấy đây là
loại hình cho vay có thời hạn dưới 1 năm, vì thế hình thức cho vay này chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh
Trang 5doanh hoặc thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong thời hạn ngắn.
Cụ thể là 12 tháng
- Các loại cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của TCTD
+ Cho vay mua hàng dự trữ: là loại cho vay để tài trợ mua hàng tồn kho như nguyên liệu, bán thành phẩm, giá thành Đây là loại hình cho vay ngắn hạn chủ yếu của TCTD là ngân hàng Đối với loại hình cho vay này, ngân hàng sẽ xem xét cho vay từng lần theo đối tượng cụ thể, và kì hạn nợ của loại cho vay này cụ thể, bắt đầu từ lúc bỏ tiền mua hàng tồn kho và chấm dứt khi hàng tồn kho đã tiêu thụ và được tiền Phương thức cho vay đối với dự trữ hàng tồn kho được áp dụng là phương thức cho vay ứng trước, thời hạn cho vay gắn liền với chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp
+ Cho vay vốn lưu động: là loại hình cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ hàng tồn kho, có đặc điểm gần giống với cho vay mua hàng dự trữ Loại cho vay này nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp Đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt, hạn mức tín dụng là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải ngân Ở hình thức này không
có kì hạn cụ thể cho từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay Chi phí của khoản vay gồm có chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức Thời hạn vay tuỳ theo đặc điểm về chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng, tối
đa là một năm
+ Cho vay dựa trên tài sản có là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các khoản phải thu, tồn kho nguyên liệu, thành phẩm Tài sản bảo đảm cho các khoản vay này là các tài sản được tài trợ Đối với các khoản phải thu, hoạt động cho vay này được thực hiện qua nghiệp vụ chiết khấu hoặc nghiệp vụ mua nợ
Trang 6+ Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp thiếu vốn để mua nguyên liệu … Cho vay ngắn hạn trong trường hợp này cần chú ý những điểm sau:
Thứ nhất, việc xem xét cho vay chủ yếu phải dựa vào từng hợp đồng nhận
thầu;
Thứ hai, đối tượng cho vay là tiền thuê nhân công, thiết bị để thực hiện thi
công công trình;
Thứ ba, kỳ hạn nợ được xác định dựa vào kế hoạch thi công theo hợp
đồng nhận thầu;
Thứ tư, nguồn thu nợ là tiền thanh toán của nhà đầu tư, hợp đồng nhận
thầu là cơ sở để bảo đảm cho khoản tiền vay
Hoạt động cho vay ngắn hạn của TCTD còn được áp dụng với các loại vay để kinh doanh chứng khoán, vay để kinh doanh bán lẻ và cho vay đối với các định chế tài chính khác
+ Cho vay chiết khấu giấy tờ có giá: đây là một nghiệp vụ ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho tổ chức tín dụng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi chiết khấu Chứng từ có giá là những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị do những đơn vị được phép phát hành hợp pháp và được pháp luật thừa nhận như kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu
+ Thấu chi: là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động nhằm cân đối ngân quỹ hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng Nghiệp vụ thấu chi được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được dư nợ tài khoản vãng lai một số lượng tiền nhất định và trong một thời gian nhất định
b Cho vay trung hạn
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng
Trang 7thì “Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng” Đây là loại hình cho vay trong đó các bên thoả thuận thời hạn sử
dụng vốn vay là từ 1 đến 5 năm Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định hay được sử dụng để mua sắm các loại tài sản của khách hàng trong kinh doanh hoặc thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
c Cho vay dài hạn
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng
thì “Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên” Mục đích của khoản vay này thường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư.
Đối với hai hình thức cho vay trung và dài hạn của TCTD thì phương thức cho vay chủ yếu là cho vay thông thường và tín dụng tuần hoàn
+ Cho vay thông thường: khoản vay này chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm máy móc, thiết bị, nhu cầu thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, tiền vay được thanh toán dần cho ngân hàng theo định kỳ Số tiền thanh toán định kì
có thể khác nhau
+ Tín dụng tuần hoàn: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cam kết chính thức dành một hạn mức tín dụng trong thời hạn nhất định có thể từ 1 đến 3 năm, hay 5 năm, song thời hạn nợ kí kết trong hợp đồng thường ngắn, và nếu khách hàng thực hiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng thì cam kết hạn mức sẽ được tiếp tục
Hiện nay hầu hết các tổ chức tín dụng đều rất thận trọng khi quyết định cho vay trung và dài hạn bởi gặp rất nhiều khó khăn trong thanh khoản cũng như
cơ cấu tài sản của mình Trong ba hình thức cho vay trên thì các TCTD là ngân hàng được thực hiện tát cả các hình thức sử dụng vốn vay, còn các TCTD phi ngân hàng thì chỉ được thực hiện hoạt động cho vay trung và dài hạn Điều này
Trang 8cho thấy phạm vi về thời hạn cho vay của TCTD là ngân hàng thường diễn ra rộng hơn, phổ biến hơn so với các loại hình TCTD khác
2 Phân loại cho vay của TCTD dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay
Với tiêu chí này, hoạt động cho vay của các TCTD bao gồm các loại sau:
a Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Đây thực chất là hình thức bảo đảm tín dụng Nghĩa là TCTD sẽ áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo ra cơ sở kinh tế, pháp lí để thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay Có thể nhận thấy đây là hình thức cho vay
mà trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba (người bảo lãnh khoản tiền vay)
+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp là việc bên vay vốn thế chấp tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng chi trả, hoàn trả vốn vay Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay
Đối với thế chấp bất động sản thì tất cả các bất động sản thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân hay tổ chức đều có thể dử dụng để thế chấp vay vốn của TCTD Khi thế chấp thì hai bên, Ngân hàng và khách hàng phải có thoả thuận với nhau về việc định giá tài sản thế chấp và kí hợp đồng thế chấp có sự chứng nhận hợp pháp của Phòng công chứng
Đối với việc thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất thì do đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và thực hiện giao đất hoặc cho thuê đất đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội ổn định lâu dài Trong các chủ thể được giao đất và cho thuê đất ở trên thì chỉ có cá nhân, hộ gia đình và các tổ
Trang 9chức kinh tế mới có thể sử dụng quyền sử dụng đất để làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng
+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố
Cầm cố tài sản được hiều là việc bên đi vay giao tài sản là các động sản thuộc sở hữu của mình cho bên cho vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ Động sản cầm cố có thể là loại không cần đăng kí quyền sở hữu, có loại cần đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố tài sản phải được giao nộp cho bên cho vay Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu, khi cầm cố hai bên có thể thoả thuận để bên cầm cố giữ tài sản hoặc giao tài sản cầm cố cho bên thứ ba trông giữ
+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD Đây là hình thức mà khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD
Đối với biện pháp cho vay bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay thì chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho ngân
hàng cho vay đối với khách hàng và đối tượng vay
Thứ hai, Ngân hàng cho vay trung và dài hạn với các dự án đầu tư, phát
triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn vay đáp ứng được các điều kiện khách hàng vay có tín nhiệm, có khả năng tài chính để trả nợ, có dự án đầu tư khả thi, có mức vốn tự có tham gia vào dự án và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 50% vốn đầu tư
+ Cho vay bằng hình thức bảo lãnh
Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay ( người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến
Trang 10hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Bảo lãnh có thể chia làm hai loại chính:
Thứ nhất, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với
bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi vay không thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ
Thứ hai, bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội là
biện pháp đảm bảo tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, theo đó tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình bảo lãnh cho bên đi vay
b Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc của người thứ ba Để thực hiện cho vay theo hình thức này thì thông thường các bên chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, trường hợp TCTD cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản bat này không thể xem là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh bằng tín chấp vẫn phải xác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho TCTD để khách hàng vay có thể được TCTD chấp nhận cho vay
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nhìn chung là hình thức cho vay tương đối mạo hiểm của TCTD nên cần tuân thủ các điều kiện về vay vốn:
Thứ nhất, luật pháp các nước đều quy định rằng tổ chức tín dụng chỉ được
cho vay đối với những khách hàng có đủ năng lực chủ thể, nghĩa là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
Thứ hai, uy tín của người vay cũng là một điều kiện để vay vốn và là điều
kiện quan trọng nhất đơi với một chủ thế là bên vay trong quan hệ tín dụng không có bảo đảm