1 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2005 VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TỚI Hành vi giết người, từ trước đến nay, ở bất c
Trang 11
TÌNH HÌNH TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 1996 - 2005 VÀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG 10 NĂM TỚI
Hành vi giết người, từ trước đến nay, ở bất cứ chế độ nào đều bị coi là hành vi dã man, tàn ác, nó không những gây đau thương tang tóc cho gia đình nạn nhân, phá vỡ tế bào của xã hội mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lí hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân Bảo vệ cuộc sống bình yên cho mỗi người và chăm lo cho hạnh phúc của con người
là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta1 vì con người vừa là động lực vừa là mục tiêu chính của sự phát triển, con người đã sáng tạo ra xã hội và là
giá trị xã hội cao quí nhất "Trải qua mấy cuộc trường chinh đánh giặc dựng nước, giữ nước, với bao hi sinh, mất mát, mỗi người Việt Nam hiểu rõ hơn
ai hết các giá trị của tự do và quyền làm người Vì vậy, với chúng ta, quyền con người thật sự thiêng liêng"2 Để bảo vệ quyền thiêng liêng đó, pháp luật hình sự về tội giết người đã được hình thành sớm nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam và cũng chính từ mục đích này mà pháp luật về tội giết người cũng như nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người luôn được quan tâm hàng đầu Do đó, việc nghiên cứu thường xuyên, đầy đủ và sâu sắc
1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Khoá VII, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội, tr 5
2 Lê Minh Thông (1998), "50 năm - Tuyên ngôn thế giới về quyền con người", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 4), tr 41
Trang 22
tội giết người cả trên phương diện Luật hình sự lẫn trên phương diện Tội phạm học để đưa ra những kiến nghị có cơ sở lí luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này là rất cần thiết Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ
đi sâu, làm sáng tỏ tình hình tội phạm giết người ở Việt Nam trong giai đoạn 1996-2005 và dự báo tình hình tội phạm giết người ở Việt Nam trong 10 năm tới
II NỘI DUNG
1 Thực trạng của tội phạm giết người
Theo thống kê của TANDTC3, từ năm 1996 đến năm 2005 trong phạm
vi toàn quốc đã xảy ra 11.784 vụ phạm tội giết người với 17.960 bị cáo
Năm 1996 có 1.362 vụ, 1.758 bị cáo; năm 1997 có 1.166 vụ, 1.736 bị cáo; năm 1998 có 1.154 vụ, 1.739 bị cáo; năm 1999 có 1.098 vụ, 1.699 bị cáo; năm 2000 có 1.169 vụ, 1.721 bị cáo; năm 2001 có 1.009 vụ, 1.471 bị cáo; năm 2002 có 1.021 vụ, 1.394 bị cáo; năm 2003 có 1.183 vụ, 1.843 bị cáo; năm 2004 có 1.351 vụ, 2.425 bị cáo; năm 2005 có 1.271 vụ, 2.174 bị cáo (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm giết người
ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005
Trang 3Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự từ năm 1996 đến năm 2005"
Theo thống kê của Cục Cảnh sát điều tra Bộ Công an, từ năm 1996 đến năm 2005, trên phạm vi cả nước có 13.762 vụ án giết người đã được khởi tố, trong đó có 11.839 vụ được khám phá, đạt 86,03%4 Điều đó cho thấy, mỗi năm các cơ quan tư pháp, nhất là cơ quan Công an phát hiện khoảng trên dưới 1.300 vụ phạm tội giết người, nhưng điều tra, xử lí chỉ được từ 85% đến 90% (khoảng 1.100 vụ) Số vụ còn lại không được điều tra, xử lí nên không được đưa vào số liệu thống kê tình hình tội phạm giết người làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc đánh giá, nhận định về tình hình tội phạm Tuy nhiên, so với các loại tội phạm khác thì tội phạm giết người có tỉ lệ tội phạm
ẩn thấp nhất (chỉ chiếm khoảng 10 đến 15%) vì tội phạm giết người thường khó che giấu Hơn nữa, khi tội phạm xảy ra thường có nhiều người biết và những thông tin về tội phạm này thường được cơ quan Công an tiếp nhận,
xử lí nhanh chóng, kịp thời Những nhận định trên cho thấy, trong 10 năm trở lại đây, từ năm 1996 đến năm 2005, tội phạm giết người ở Việt Nam thực tế đã xảy ra khoảng 13.000 vụ, nhưng chỉ điều tra, xử lí được khoảng 11.000 vụ, còn lại 2.000 vụ không phát hiện được hoặc bỏ lọt nằm trong danh sách tội phạm ẩn5 Với tính toán như trên về tình hình tội phạm giết người xảy ra ở nước ta từ năm 1996 đến năm 2005, bao gồm tình hình tội phạm đã được phát hiện và tình hình tội phạm ẩn vì các lí do khác nhau, có thể rút ra kết luận: tổng số tội phạm giết người xảy ra trong thực tế, bao gồm tình hình tội phạm giết người đã được phát hiện và tình hình tội phạm ẩn, nhiều gấp 1,18 lần số liệu tình hình tội phạm giết người đã được phát hiện (số lượng tội phạm giết người đã được phát hiện chiếm 84,62%, còn lại 15,38% tội phạm đã được thực hiện nhưng chưa bị phát hiện) Như vậy, khả năng phát hiện, điều tra, khám phá tội phạm giết người của các cơ quan bảo
vệ pháp luật chỉ đạt từ 85% đến 90% so với tổng số tội phạm giết người đã xảy ra
Trang 42000 là 2,82 - tăng 0,61%; năm 2001 là 2,45 - tăng 0,24%; năm 2002 là 2,41
- tăng 0,2%; năm 2003 là 2,57 - tăng 0,36%; năm 2004 là 2,8 - tăng 0,59%; năm 2005 là 2,55 - tăng 0,34% (so với năm 1999)
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu tội phạm giết người trong các tội phạm nói chung
đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005
97,26%
2,74%
Téi giÕt ng−êi
C¸c téi ph¹m kh¸c ngoµi téi giÕt ng−êi
Trang 5(1)
Số vụ phạm tội nói chung
Trang 88
Cơ cấu của tội phạm giết người còn được thể hiện qua tỉ trọng giữa các loại tội xâm phạm tính mạng của con người Trong 10 năm qua, trên phạm vi toàn quốc đã xảy ra 13.594 vụ phạm tội xâm phạm tính mạng của con người, trong đó số vụ phạm tội giết người chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối (86,68%), các tội phạm khác xâm phạm tính mạng của con người chỉ chiếm 13,32%
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu tội phạm giết người trong các tội xâm phạm tính
mạng của con người đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 -
Số liệu thống kê tại Bảng 1.3 và Biểu đồ 1.2 cho thấy, trong cơ cấu các tội xâm phạm tính mạng của con người, tội phạm giết người chiếm tỉ lệ cao nhất sau đó đến các tội: vô ý làm chết người; làm chết người trong khi thi hành công vụ; giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; đe doạ giết người; giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; bức tử;
vô ý làm chết người do vi phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc qui tắc hành chính; không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng; giết con mới đẻ; xúi giục hoặc giúp người khác tự sát Cơ cấu này không những phản ánh hậu quả của tội phạm giết người quyết định hậu quả của tình hình các tội xâm phạm tính mạng của con người nói chung mà còn cho thấy tính chất nghiêm trọng hơn hẳn của tội phạm giết người so với các tội phạm khác xâm phạm tính mạng của con người Số liệu thống kê tại Bảng 1.3 còn cho thấy, trung bình mỗi năm xảy ra 1.178 vụ giết người và ứng với nó là số nạn nhân bị giết Bên cạnh những thiệt hại về thể chất có thể tính toán được, hành vi giết người còn gây ra những mất mát, đau thương về tinh thần không
Trang 99
gì bù đắp nổi; trật tự an toàn xã hội bị đe doạ; uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng vì thế mà có phần giảm sút Xu hướng giết người có tính chất côn đồ, giết người một cách man rợ, giết người kèm theo hiếp dâm hoặc cướp tài sản, giết ông bà, cha mẹ gia tăng càng làm tăng thêm tính chất nghiêm trọng và phức tạp của tội phạm giết người Thêm vào đó, tính chất của tội phạm giết người còn được thể hiện qua các loại hình phạt mà Tòa án
đã áp dụng đối với người phạm tội Bảng 1.4 cho thấy, trong vòng 10 năm,
từ năm 1996 đến năm 2005 đã có đến 1.028 bị cáo phạm tội giết người phải chịu mức án cao nhất - tử hình, chiếm 5,72%; 1.598 bị cáo phải chịu mức án
tù chung thân, chiếm 8,9%; 13.947 bị cáo bị xử phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm, chiếm 77,66%
Trang 1212
Theo thống kê của TANDTC, từ năm 1996 đến năm 2005 trong phạm vi toàn quốc đã xảy ra 11.784 vụ giết người, với 17.960 bị cáo Trong 17.960 bị cáo phạm tội giết người, số bị cáo là nam giới chiếm tới 94,47%, trong khi đó số bị cáo là nữ giới chỉ chiếm 5,53% (xem Bảng 1.5)
Bảng 1.5: Thống kê đặc điểm nhân thân bị cáo phạm tội giết người
đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005
Đặc điểm nhân thân bị cáo
Đảng
viên
Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Dân tộc
ít người
Nữ
Từ 18
đến
30 tuổi
Ngư
ời
chưa thành niên
Người nước ngoài
Trang 13Bảng 1.6: Thống kê đặc điểm nhân thân bị cáo phạm tội hình sự
nói chung đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 - 2005
Đặc điểm nhân thân bị cáo
Đảng
viên
Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Dân tộc
ít người
Người nước ngoài
Trang 14Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự từ năm 1996 đến năm 2005"
Sở dĩ nam giới phạm tội giết người nhiều hơn nữ giới chủ yếu vì đặc điểm tâm sinh lí của nam giới dễ bị ảnh hưởng của môi trường và điều kiện sống, dễ phát sinh tâm lí tiêu cực, dễ bị tiêm nhiễm thói hư, tật xấu Thêm vào đó, nam giới thường muốn thể hiện sức mạnh hoặc thích dùng vũ lực để khuất phục người khác nên họ cũng dễ phạm tội giết người hơn nữ giới
Cơ cấu về lứa tuổi cho phép xác định các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh thần và tâm sinh lí
của từng nhóm tuổi Nghiên cứu 17.960 bị cáo phạm tội giết người chúng tôi thấy,
số bị cáo ở lứa tuổi thanh niên (từ 18 đến 30) chiếm tỉ lệ cao nhất (39,7%), số bị cáo ở lứa tuổi chưa thành niên cũng chiếm tới 7,39% (xem Bảng 1.5) Nếu so với tỉ
lệ người chưa thành niên phạm tội nói chung (5,41%) thì tỉ lệ người chưa thành niên phạm tội giết người cao hơn 1,98% (xem Bảng 1.5 và Bảng 1.6) Sở dĩ lứa tuổi chưa thành niên và lứa tuổi thanh niên phạm tội giết người nhiều phần lớn là do sự thiếu quan tâm giáo dục từ phía gia đình, nhà trường, xã hội, sự tác động của những luồng văn hoá kích động bạo lực và sự quản lí lỏng lẻo của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Trình độ học vấn là những hiểu biết của con người về thế giới xung quanh, về
xã hội, về trách nhiệm công dân Những hiểu biết này trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của con người Nghiên cứu nhân thân người phạm tội giết người cho thấy, trình độ học vấn thấp đã tác động không nhỏ đến cách ứng xử,
đến việc giải quyết các mâu thuẫn xảy ra trong đời sống hàng ngày Không ít
trường hợp, do trình độ học vấn không đạt đến mức cần thiết nên chủ thể đã lựa chọn phương án xử sự trái với các chuẩn mực xã hội Kết quả nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn cho thấy: số bị cáo không biết chữ chiếm 18%; có trình độ phổ
Trang 15Nghề nghiệp và địa vị xã hội là đặc điểm quan trọng của nhân thân người phạm tội Địa vị xã hội cao và nghề nghiệp ổn định sẽ tạo môi trường thuận lợi cho
sự phát triển nhân cách con người, góp phần đảm bảo cuộc sống và giải quyết các mâu thuẫn kinh tế ở mức cần thiết Theo thống kê của TANDTC, từ năm 1996 đến năm 2005 số bị cáo là đảng viên, cán bộ, công chức bị đưa ra xét xử về tội giết người là 64 (trong đó có 3 bị cáo là cán bộ lãnh đạo, 1 là cấp ủy viên), chỉ chiếm 0,36% số bị cáo phạm tội giết người Trong khi đó, các đối tượng khác phạm tội giết người chiếm tỉ lệ gần như tuyệt đối (99,64%) Nếu so với tỉ lệ bị cáo là đảng viên, cán bộ, công chức phạm tội hình sự nói chung thì tỉ lệ này thấp hơn 0,22% (xem Bảng 1.5 và Bảng 1.6) Sở dĩ đảng viên và cán bộ, công chức ít phạm tội giết người là do họ được giáo dục tốt và có nghề nghiệp ổn định Thêm vào đó, vì được sống trong môi trường có sự quản lí chặt chẽ nên họ khó bị lôi kéo và sa ngã hơn những đối tượng khác Nghiên cứu nghề nghiệp và địa vị xã hội của các bị cáo phạm tội giết người chúng tôi thấy: số bị cáo là nông dân chiếm tới 51%, trong đó làm ruộng chiếm 29%, làm vườn chiếm 8%, nuôi tôm chiếm 5%, làm ngư nghiệp chiếm 4%, làm rẫy chiếm 2% Công nhân chiếm 3,2% Học sinh, sinh viên chiếm 6% Thất nghiệp hoặc không có nghề nghiệp ổn định chiếm 37%, trong đó thợ xây chiếm 3,3%, thợ mộc chiếm 2,6%, sửa xe chiếm 2%, thợ may chiếm 1,6%, gia công hàng mĩ nghệ chiếm 1%, bán vé số chiếm 0,8%, thợ sửa móng chân tay chiếm 0,7%, thợ sơn chiếm 0,6%, còn lại là lái xe, phụ gia đình, hớt tóc, sản xuất than đá, thợ khung nhôm kính, thợ đóng giầy, bảo vệ Các thành phần khác như: cán bộ nghỉ hưu, y tá, xã đội trưởng chiếm khoảng 2,8%8
Trong 17.960 bị cáo phạm tội giết người, số bị cáo có tiền án, tiền sự chiếm tới 5,24% Trong đó: tiền án, tiền sự về các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người chiếm tỉ lệ cao nhất (44%); tiền án, tiền sự về các hành vi xâm phạm sở hữu chiếm 30%; tiền án, tiền sự về các hành vi xâm phạm
6 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
7 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
8 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
Trang 1616
an toàn công cộng, trật tự công cộng chiếm 21%; tiền án, tiền sự về các hành vi xâm phạm những quan hệ xã hội khác chỉ chiếm 5% (xem Bảng 1.5)9
Nghiên cứu đặc điểm đạo đức - tâm lí của người phạm tội giết người cho thấy:
đa số thuộc loại ích kỉ, lười lao động nhưng lại thích hưởng thụ; có bản tính tàn
bạo, lì lợm; thích phiêu lưu, mạo hiểm; thích tìm cảm giác mạnh; thích dùng rượu hoặc các chất kích thích khác; không hiểu biết pháp luật hoặc có thái độ coi thường tính mạng, sức khoẻ người khác, coi thường các qui tắc của cuộc sống XHCN Một
số người có biểu hiện bệnh lí hoặc tâm lí không bình thường nên hành vi phạm tội của họ mang tính bệnh hoạn, được biểu hiện qua các trường hợp giết người một cách dã man, tàn ác; giết người kèm theo hiếp dâm; giết nhiều người thân cùng một lúc10 Để hiểu rõ hơn đặc điểm đạo đức - tâm lí của người phạm tội, chúng tôi đã nghiên cứu các trường hợp phạm tội giết người xảy ra trong thời gian gần đây và nhận thấy: giết người do ảnh hưởng của việc sử dụng rượu hoặc các chất kích thích khác chiếm tỉ lệ cao nhất (37%) Trong đó có 21% thuộc về người phạm tội - vì sử dụng rượu hoặc các chất kích thích khác nên người phạm tội đã không kiềm chế, không tự chủ được hành vi của mình dẫn đến phạm tội; 7% thuộc về nạn nhân - vì nạn nhân sử dụng rượu hoặc các chất kích thích khác nên đã có những xử sự trái
đạo đức, trái pháp luật, xúc phạm người phạm tội hoặc người thân thích của người
phạm tội và trong trạng thái bị kích động người phạm tội đã giết nạn nhân; 9% cả người phạm tội và nạn nhân đều sử dụng rượu hoặc các chất kích thích khác nên đã dẫn đến những xô xát, xích mích không đáng có, do không kiềm chế được hành vi của mình người phạm tội đã giết nạn nhân Giết người vì coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khoẻ người khác chiếm khoảng 31% Giết người vì động cơ
tư lợi chiếm 17%, còn lại là những trường hợp khác11
Động cơ, mục đích phạm tội không chỉ phản ánh nguyên nhân chủ quan của
người phạm tội mà còn phản ánh tính chất nghiêm trọng và phức tạp của tội phạm giết người Vì vậy, nghiên cứu động cơ, mục đích phạm tội là việc làm vô cùng cần thiết Trong các vụ án giết người, động cơ, mục đích phạm tội tương đối đa dạng, bao gồm: Giết người do mâu thuẫn, thù tức chiếm 45% Mâu thuẫn, xung đột này
có thể xảy ra trong phạm vi xóm làng, họ hàng, gia tộc, thậm chí ngay cả trong gia
đình, trong quan hệ vợ chồng, nam nữ, xuất phát từ sự khác biệt trong lối sống, sự
ghen tuông hay do tranh chấp đất đai, tài sản Nghiên cứu 458 vụ giết người xảy
ra trong thời gian gần đây chúng tôi thấy, 31% vụ giết người dạng này là để giải toả những mâu thuẫn, thù tức, trong đó có 18% số vụ thủ phạm và nạn nhân là những người có quan hệ họ hàng, thân thích với nhau12 Phần lớn các vụ giết người xuất
9 TANDTC (2006), Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự từ năm 1996 đến năm 2005, Hà Nội
Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
10 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
11 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
12 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
Trang 1717
phát từ những mâu thuẫn, xích mích trong nội bộ xóm giềng là do không được chính quyền can thiệp, giải quyết hoặc tuy có giải quyết, nhưng cách giải quyết đó chưa thấu tình, đạt lí hoặc chưa dứt điểm làm cho mâu thuẫn cứ âm ỉ, kéo dài rồi bùng nổ Có trường hợp trước khi giết nạn nhân, người phạm tội đã đến báo chính quyền, nhưng chính quyền không giải quyết nên án mạng đã xảy ra Trong nhóm
động cơ giết người do mâu thuẫn, thù tức, giết người do xung đột mang tính bột
phát, nhất thời chiếm tỉ lệ cao nhất (33%)13 Thủ phạm của các vụ giết người này thường là nam giới ở lứa tuổi chưa thành niên, thiếu chín chắn, nông nổi và hung hãn Không ít trường hợp chỉ vì một lí do đơn giản như va chạm xe trên đường, nói khích nhau trong quán rượu, cãi nhau trong cá độ cờ bạc, tranh giành nhau chỗ bán hàng, chỗ đãi vàng, chỗ đánh cá hay chỗ ngồi ở nơi công cộng mà án mạng đã xảy ra Nguyên nhân phát sinh hành vi giết người trong những trường hợp này một phần xuất phát từ phía người bị hại Họ cũng có những xử sự không tế nhị, thiếu kiềm chế nên khi gặp những đối tượng côn đồ, hung hãn thì lập tức xảy ra ẩu đả, giết người Một dạng khác của động cơ giết người do mâu thuẫn, thù tức là giết người mang tính côn đồ, càn quấy (chiếm khoảng 5%)14 Người phạm tội trong trường hợp này hầu hết là thanh niên, tuổi từ 18 đến 30, có trình độ văn hoá thấp, thiếu sự giáo dục của gia đình, không có việc làm ổn định, có bản tính hung hãn, thiếu hiểu biết hoặc coi thường pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà chúng thích Khi có ai cản trở hoặc không tuân theo yêu cầu của chúng thì lập tức chúng sẽ đánh đập, chửi bới, thậm chí là giết họ Giết người
tổ chức, trong những năm gần đây còn xảy ra nhiều vụ giết người cướp tài sản với
số lượng và giá trị không đáng kể, chỉ tương đương vài trăm, thậm chí vài chục nghìn đồng do sự thúc bách để thoả mãn nhu cầu cá nhân, nhất thời của người phạm tội như để có tiền tiêm chích ma tuý, để có tiền uống rượu hay đánh bạc Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác (trừ trường hợp giết người để cướp tài sản) chiếm khoảng 8% tổng số vụ giết người Tội phạm mà người phạm tội muốn che giấu thường là trộm cắp, hiếp dâm hoặc trốn khỏi nơi giam Trong
Nạn nhân trong các trường hợp này thường bị giết vì: họ không chấp nhận giao cấu nên đã chống cự lại, để đạt được mục đích của mình, người phạm tội đã giết nạn nhân; hoặc họ không đồng ý quan hệ tình dục, nhưng người phạm tội vẫn cố tình hành động để đạt được mục đích của mình, sau đó, vì sợ bị tố cáo nên đã giết nạn nhân; hoặc họ không đồng ý quan hệ tình dục nên đã kêu cứu, người phạm tội để
đạt được mục đích của mình đã bóp cổ hoặc dùng tay hay chăn, gối bịt miệng, bịt
13 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
14 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
15 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
16 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
Trang 1818
mũi làm nạn nhân chết vì ngạt thở hoặc suy hô hấp Giết người vì nạn nhân là người phạm tội chiếm khoảng 3%17 Nạn nhân trong các trường hợp này thường là thủ phạm của những vụ trộm cắp, cướp giật và người phạm tội do căm ghét, bất bình nên đã cố ý gây ra cái chết nạn nhân Giết người do mê tín dị đoan chiếm khoảng 2% và thường xảy ra ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa, miền núi, nơi trình độ dân trí chưa cao, các hiện tượng mê tín dị đoan và hủ tục lạc hậu lại chưa bị đẩy lùi18 Để trừ tà ma, để xua bệnh tật, tai hoạ, để làm nguôi cơn giận của "Giàng" không ít người đã bị giết một cách oan uổng
Trong 10 năm gần đây, số vụ giết người có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội chiếm tỉ lệ đáng kể (86%) Trong đó giết người có chuẩn bị trước công cụ, phương tiện phạm tội chiếm khoảng 60%; giết người có sự kết hợp nhiều công cụ, phương tiện phạm tội chiếm khoảng 4,9%19 Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, khoa học luật hình sự có nhiều cách phân loại công cụ, phương tiện phạm tội Dựa trên tính năng, tác dụng của chúng, công cụ, phương tiện phạm tội giết người có thể
được phân thành vũ khí nóng và vũ khí lạnh Vũ khí nóng như lựu đạn, thuốc nổ,
bộc phá ; vũ khí lạnh như dao, kiếm, búa, côn, gậy Kết quả khảo sát cho thấy, trong giai đoạn 1996 - 2000, số vụ giết người bằng vũ khí nóng chiếm tỉ lệ khá cao
- 14% Trong đó có 11% trường hợp thủ phạm dùng súng để bắn; 3% dùng các chất
nổ như lựu đạn, bộc phá, mìn để sát hại nạn nhân20 Tuy nhiên, từ năm 2001 đến năm 2005 số vụ giết người bằng vũ khí nóng đã giảm xuống một cách đáng kể, chỉ còn khoảng 5,7%21 Sở dĩ như vậy vì việc quản lí vũ khí nóng ngày càng được chú trọng và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định Nghiên cứu các trường hợp giết người có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội xảy ra trong thời gian gần
đây cho thấy: dùng dao, kéo, rìu, đục, tuýp nước, thanh sắt, tuốc nơ vít, liềm, đinh
ba để đâm, chém, cắt cổ nạn nhân chiếm khoảng 65% (trong đó giết người bằng dao đã chiếm tới 57%, gấp 8 lần những trường hợp giết người bằng các loại công
cụ, phương tiện khác); dùng cây gỗ, thanh gỗ, thước gỗ, gậy gỗ, ghế gỗ, chày gỗ, thang giường, cán chổi, gạch, đá để đập, vụt, phang, bổ, đánh nạn nhân chiếm khoảng 10%; dùng dây thừng, dây điện, dây dù, dây cao su, dây ni lông, quần, áo, khăn để xiết cổ, thắt cổ nạn nhân chiếm 5,3%; dùng súng kíp, súng hoả mai, súng săn, súng thể thao hoặc các loại súng quân dụng khác để bắn nạn nhân chiếm 4,7%; dùng côn, búa, cuốc, xẻng để đập, vụt, phang, bổ, đánh nạn nhân chiếm 4,4%; dùng xăng, dầu để đốt nạn nhân chiếm 3,6%; dùng thuốc độc, thuốc diệt chuột, thuốc diệt cỏ, lá ngón để đầu độc nạn nhân chiếm 3,2%; dùng điện để giết nạn nhân chiếm 2,8%; giăng dây điện để bảo vệ tài sản gây chết người chiếm 2,1%;
17 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
18 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
19 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
20 Nguyễn Xuân Yêm (2001), Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 416
21 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
Trang 1919
dùng a xít tạt vào người nạn nhân chiếm 1,9%; dùng thuốc nổ để giết nạn nhân chiếm khoảng 1%22 Sở dĩ giết người bằng cách dùng dao đâm, chém, cắt cổ nạn nhân chiếm tỉ lệ cao nhất (57% trong tổng số 394 trường hợp giết người có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội) vì trong số các công cụ, phương tiện được người phạm tội sử dụng, dao là công cụ vừa dễ có (do dễ mua, dễ mượn, dễ lấy được, tìm
được ), vừa dễ giấu, vừa dễ sử dụng lại vừa dễ gây ra hậu quả chết người Đây có
thể coi là nét đặc thù của tội phạm giết người ở Việt Nam, bởi lẽ nghiên cứu tình hình tội phạm giết người ở Nhật, Mĩ và các nước Châu Âu cho thấy, số vụ giết người bằng súng chiếm tỉ lệ cao hơn số vụ giết người bằng dao23
Bên cạnh công cụ, phương tiện phạm tội, khoa học điều tra hình sự rất quan
tâm tới việc nghiên cứu tìm ra phương pháp, thủ đoạn hoạt động của các loại tội
phạm Từ việc đi sâu nghiên cứu phương pháp, thủ đoạn phạm tội, khoa học điều tra hình sự có thể phát hiện những qui luật hình thành chứng cứ, tìm ra cách thu thập thông tin phục vụ cho công tác điều tra, khắc phục những sơ hở trong phòng ngừa tội phạm, từ đó đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống Có nhiều yếu tố hình thành và tác động vào phương pháp, thủ đoạn gây án của can phạm như: động
cơ, mục đích phạm tội; sức khoẻ của kẻ gây án; vũ khí được sử dụng Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phạm tội, phương pháp, thủ đoạn gây án cũng có sự khác nhau Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu phương pháp, thủ đoạn gây án theo các giai
đoạn trước, trong và sau khi thực hiện tội phạm Trước khi thực hiện tội phạm, can
phạm thường điều tra kĩ về nạn nhân để làm rõ những thông tin về nơi ở, nơi làm việc; qui luật đi lại, sinh hoạt, nghỉ ngơi; thói quen, sở thích; các mối quan hệ gia
đình và xã hội của họ Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các vụ giết người (trên
60%) trước khi gây án người phạm tội đã có sự chuẩn bị vũ khí gây án, chọn thời
điểm thích hợp để gây án, lên kế hoạch và phân công nhiệm vụ cho mỗi cá nhân
trong nhóm đồng phạm, chọn đường đến và đường rút lui sau khi gây án 99% vụ giết người để cướp tài sản hoặc giết người do mâu thuẫn gay gắt lâu ngày thủ phạm
có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi gây án24 Vì thủ phạm và nạn nhân có quan hệ từ trước và lại có mâu thuẫn, do vậy, thủ phạm biết rằng khi điều tra, cơ quan Công an nhất định sẽ đưa mình vào danh sách những người bị tình nghi Với suy nghĩ đó, thủ phạm luôn tìm cách tạo hiện trường giả nên sự chuẩn bị phạm tội thường rất công phu, chi tiết Sự chuẩn bị này thường là: điều tra kĩ qui luật đi lại của người chúng định giết; nơi để tài sản quý; thăm dò và lợi dụng các mối quan hệ của nạn nhân để tìm hiểu về địa điểm cất giấu tài sản cũng như những vấn đề khác có liên quan; mai phục hoặc tìm cách đưa nạn nhân đến những nơi vắng vẻ để giết nạn
22 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005
23 BRA-rapport (2004), Brotts-utvecklingen i Sverige 2001-2003, pp 23-40
Government of Japan (1998), Summary of the white paper on crime 1998, Research and Training Institute, Ministry of Justice, Japan, pp 70 Kenneth Polk (1999), When men kill, Cambridge University Press, London, pp 113-136
24 Thống kê từ 458 bản án về tội giết người của Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước giai đoạn 1996 - 2005