Việc các thành viên WTO thống nhất lập ra một hệ thống giải quyết tranh chấp trong Vòng Uruguay đã nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của việc tất cả các nước trong WTO sẽ tuân thủ các nghĩ
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
VÀ CÁC TRANH CHẤP VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG
THƯƠNG MẠI
Năm 2007
LỜI NÓI ĐẦU
Hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ và thực thi các nghĩa vụ pháp
lý được quy định trong các Hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việc giải quyết tranh chấp kịp thời và theo một cơ chế chặt chẽ sẽ giúp hạn chế các tác động bất lợi do các tranh chấp gây ra
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là một sự kế thừa và sự hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT, đặc biệt trong Vòng đàm phán Uruguay
Từ khi WTO thành lập đến nay đã có gần 400 vụ tranh chấp đã được đưa ra Hệ thống giải quyếttranh chấp của WTO đã nhanh chóng chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế và cơ chế này đã trởthành một công cụ có ý nghĩa trong các quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước thành viên WTO
Nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO nói chung và cáctranh chấp trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật trong thương mại (technical barriers to trade - TBT) nói riêng,
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tổ chức biên soạn cuốn sách “Cơ chế giải quyết tranh chấp
Trang 2của WTO và các tranh chấp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại” để dùng làm tài liệu tham khảo,
giúp cho việc hiểu cũng như việc chủ động giải quyết các tranh chấp về TBT đối với Việt Nam, nếu có
Các vấn đề chung và cơ bản về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đề cập trong cuốn sáchnày được tham khảo từ các tài liệu về giải quyết tranh chấp xuất bản trong thời gian qua, đặc biệt cuốn
“Sổ tay về Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Ủyban quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế và cơ quan ADETEF tại Việt Nam xuất bản Các tranh chấp cụthể trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật trong thương mại được tham khảo chủ yếu từ tài liệu về giải quyếttranh chấp của WTO, trong đó tập trung giới thiệu, phân tích 28 vụ tranh chấp đã diễn ra từ năm 1995đến nay trong lĩnh vực TBT; đồng thời đề xuất trình tự sơ bộ giải quyết tranh chấp liên quan đến TBT đốivới Việt Nam để các cơ quan, tổ chức có liên quan tham khảo
Các vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp khá phức tạp, việc hiểu chính xác các thuật ngữpháp lý và kỹ thuật của WTO là một việc khó khăn khi Việt Nam là thành viên mới của WTO và mới chỉbước đầu cọ xát với thực tiễn trong quá trình thực thi cam kết gia nhập WTO Do vậy, việc dịch thuật cóthể không tránh khỏi sai sót hoặc chưa được Việt hoá Rất mong nhận được sự thông cảm và các ý kiếnđóng góp của bạn đọc cho cuốn sách này
Xin chân thành cám ơn
TỔNG CỤC TRƯỞNG
Ngô Quý Việt
PHẦN A: HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO
I Lịch sử phát triển của hệ thống giải quyết tranh chấp trong WTO
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO được coi là một đổi mới quan trọng trong thương mạiquốc tế Hệ thống này là một sự kế thừa của hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại đa biên trongHiệp định chung về Thương mại và Thuế quan GATT
Thực vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp đã tồn tại và phát triển dựa trên các Điều XXII và XXIIIcủa GATT 1947 Một số nguyên tắc và thực tiễn của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã đượcpháp chế hóa trong các quyết định và hiệp định của các Bên ký kết Hiệp định GATT 1947 Hệ thống giảiquyết tranh chấp hiện nay của WTO về cơ bản vẫn dựa trên và tuân thủ những nguyên tắc giải quyếttranh chấp đã được áp dụng theo các Điều XXII và XIII của GATT 1947 Tuy nhiên, Vòng đàm phánUruguay đã có những sửa đổi và chi tiết hóa hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT trước đó
1 Hệ thống giải quyết tranh chấp theo GATT 1947
a Thực tiễn của hệ thống giải quyết tranh chấp theo GATT 1947
Trang 3Những nguyên tắc đầu tiên trong Điều XXIII:2 của GATT 1947 quy định rằng các Bên ký kếtGATT phải với tư cách đại diện cho một nhóm nước để giải quyết bất kỳ tranh chấp nào giữa các Bên kýkết Vì vậy, các tranh chấp trong những năm đầu tiên tồn tại của GATT 1947 được Chủ tịch Hội đồngGATT đưa ra phán quyết Sau này, các tranh chấp được chuyển cho các Ban công tác bao gồm đại diệncủa tất cả các Bên ký kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp để giải quyết Các Ban công tácnày thông qua báo cáo trên cơ sở quyết định đồng thuận Không lâu sau đó Ban công tác đã bị thay thếbởi Ban hội thẩm gồm từ ba tới năm chuyên gia độc lập không liên quan tới các bên tranh chấp Các Banhội thẩm này viết những báo cáo độc lập kèm theo khuyến nghị và phán quyết nhằm giải quyết tranhchấp và chuyển tới Hội đồng GATT Những báo cáo này có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với cácbên tranh chấp một khi được sự chấp nhận của Hội đồng GATT Vì vậy các Bên ký kết GATT đã tạo ramột hệ thống án lệ và áp dụng cách tiếp cận ngày càng phụ thuộc vào các quy tắc pháp luật được thôngqua trước đó và phương thức lập luận như của toà án trong các báo cáo của họ.
Các Bên ký kết GATT 1947 đã dần dần pháp chế hóa và đôi khi cũng sửa đổi những thực tiễngiải quyết tranh chấp khi có thủ tục phát sinh Những quyết định và thỏa thuận quan trọng nhất về giảiquyết tranh chấp trước Vòng đàm phán Uruguay bao gồm:
- Quyết định về các thủ tục theo Điều XXIII (5.4.1966);
- Thỏa thuận về thông báo, tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát (28.11.1979);
- Quyết định về giải quyết tranh chấp trong Tuyên bố cấp Bộ trưởng (29.11.1982);
- Quyết định về giải quyết tranh chấp (30.11.1984)
b Những điểm yếu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT
Nguyên tắc quan trọng nhất trong GATT 1947 là nguyên tắc đồng thuận, kể cả khi chuyển một tranh chấp tới Ban hội thẩm cũng cần có sự đồng thuận Sự đồng thuận có nghĩa là không có sự phản đối từ bất kỳ Bên ký kết nào đối với quyết định đó
Đây chính là một điểm yếu trong hệ thống này nếu bên bị khiếu kiện có thể cản trở việc thành lậpBan hội thẩm Hơn nữa, việc thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và việc cho phép thực hiện biện pháp trả đũa đối với việc không thực hiện của bên bị khiếu kiện cũng cần phải có sự đồng thuận Những quyết định như vậy cũng có thể bị bên bị khiếu kiện cản trở
Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào khi bên bị khiếu kiện dùng quyền của mình để ngăn cản việcthành lập Ban hội thẩm, nếu họ nghĩ rằng họ có thể thua kiện? Làm thế nào khi bên thua kiện ngăn cảnviệc thông qua báo cáo của Ban hội thẩm? Làm sao để bên bị không thể dùng quyền phủ quyết của mìnhchống lại việc cho phép sử dụng biện pháp trả đũa kinh tế nhằm vào họ? Nếu các hệ thống xét xử trongmột nước phải hoạt động trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận như vậy thì có lẽ hầu hết các vụ xét xử theo
hệ thống này sẽ thất bại
Tuy nhiên, hệ thống tranh chấp của GATT 1947 không đến mức như vậy Các bên ký kết là bịđơn thường không ngăn cản các quyết định đồng thuận và cho phép tiến hành giải quyết các tranh chấpvới sự tham gia của họ, ngay cả khi quyết định đó của họ trước mắt sẽ có hại cho họ Họ làm như vậy vìnhững lợi ích lâu dài của mình vì biết rằng việc sử dụng thái quá quyền phủ quyết không chóng thì chày
sẽ bị các bên khác trả đũa lại tương tự Vì vậy, các Ban hội thẩm cũng đã được thành lập và các báo cáocủa họ thường được thông qua mặc dù cũng bị trì hoãn (dù chỉ áp dụng biện pháp trả đũa một lần)
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu thực tế, người ta đã kết luận rằng trong phần lớn các trường hợp, hệthống giải quyết tranh chấp của GATT 1947 cũng đã mang lại những giải pháp thoả đáng cho các bên.Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng thực chất những thống kê như vậy chỉ mới tính đến những đơn kiện thực
tế đã được đưa ra Có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa ra trước GATT vì bên khiếu kiện nghingờ rằng bên bị khiếu kiện sẽ dùng quyền phủ quyết Vì vậy, nguy cơ của việc dùng quyền phủ quyếtcũng đã làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT Ngoài ra, trong thực tế việc sử dụngquyền phủ quyết đã diễn ra, đặc biệt là trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc quan trọng vềkinh tế, như chống bán phá giá Kết quả là vào những năm 1980 hệ thống giải quyết tranh chấp củaGATT đã bị suy yếu dần vì các bên ký kết ngày càng hay cản trở việc thành lập Ban hội thẩm và việcthông qua các báo cáo của Ban hội thẩm
Ngay cả khi các báo cáo của Ban hội thẩm được thông qua thì nguy cơ một bên cản trở việcthông qua báo cáo chắc chắn ảnh hưởng tới nội dung các phán quyết của Ban hội thẩm Ban hội thẩmbiết trước rằng báo cáo của họ cũng phải được bên thua kiện chấp thuận thì mới được thông qua Vìvậy, động cơ đưa ra phán quyết không chỉ dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của vụ kiện, mà còn phải tínhđến một giải pháp mang “tính ngoại giao” thông qua việc đưa ra một thoả hiệp mà cả hai bên (bênnguyên và bên bị) đều có thể chấp nhận được
Vì thế những yếu kém về mặt cơ cấu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT là rất đáng
kể, mặc dù cuối cùng nhiều tranh chấp cũng đã được giải quyết
2 Hệ thống giải quyết tranh chấp trong Vòng Uruguay
a Thực tiễn của hệ thống giải quyết tranh chấp trong Vòng Uruguay
Như đã trình bày ở phần trên, cuối năm 1980, khi Vòng đàm phán Uruaguay diễn ra, sự yếu kém
về mặt cơ cấu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT ngày càng trầm trọng, đặc biệt trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc vì một số bên ký kết đã cố gắng đạt được sự thỏa hiệp giữa những vấn đề tranh chấp đang diễn ra và những vấn đề đang được thương lượng Hơn nữa, điều này cũng dẫntới nhiều hành động đơn phương để thực thi quyền thay vì dựa vào hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT
Do những vấn đề trục trặc cố hữu trong hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT làm cho ngày càng nhiều vấn đề tồn tại trong những năm 1980, nên các Bên ký kết GATT 1947 đều nhận thấy rằng hệ thống này cần được đổi mới và hoàn thiện Vì vậy, việc đàm phán về giải quyết tranh chấp đã được đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán trong Vòng Uruguay với mức độ ưu tiên cao
Năm 1989, trong quá trình đàm phán tại Vòng Uruaguay, các Bên ký kết đã sẵn sàng thực hiện một số kết quả cụ thể bước đầu của các cuộc đàm phán và đã thông qua Quyết định về Những đổi mới đối với các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp trong GATT (12.4.1989)
b Những thay đổi chủ yếu trong Vòng Uruaguay
Một trong những kết quả của Vòng Uruguay là việc Thoả thuận về Giải quyết tranh chấp (viết tắt
là DSU) đã đem lại một hệ thống giải quyết tranh chấp được hoàn thiện đáng kể Những thủ tục giải quyết tranh chấp đã chi tiết hơn đối với các giai đoạn khác nhau khi giải quyết tranh chấp, bao gồm cả các thời hạn cụ thể đã được quy định trong DSU Kết quả là DSU đã đưa ra nhiều mốc thời hạn nhằm bảo đảm giải quyết nhanh tranh chấp
Việc DSU loại bỏ quyền của các bên, nhất là bên có biện pháp bị kiện, trong việc ngăn cản việc thành lập Ban hội thẩm hoặc thông qua báo cáo được coi là đổi mới quan trọng nhất trong Vòng
Uruguay Trong Quyết định ngày 12.4.1989 đã cho phép tạm thời áp dụng các thử nghiệm đến cuối Vòng
Trang 5Uruguay và đề ra nhiều quy tắc mà sau này được đề cập trong DSU, chẳng hạn như quyền được có Banhội thẩm và khuôn khổ thời hạn nghiêm ngặt đối với thủ tục tố tụng của Ban hội thẩm.
Hiện nay, Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB) tự động thành lập Ban hội thẩm và thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, trừ khi có sự đồng thuận không nhất trí làm như vậy Quy tắc “đồng thuận nghịch” tương phản rất rõ với thực tiễn của GATT 1947 và ngoài việc được áp dụngđối với việc thành lập Ban hội thẩm và thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm thì quy tắc này cũng áp dụng đối với việc cho phép các biện pháp trả đũa chống lại bên không thực hiện phán quyết
Ngoài ra, một đặc điểm mới quan trọng của hệ thống giải quyết tranh chấp trong WTO là việc xem xét phúc thẩm các báo cáo của Ban hội thẩm và giám sát chính thức việc thực thi sau khi đã thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và của Cơ quan Phúc thẩm
II Giới thiệu về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO
1 Tầm quan trọng của hệ thống giải quyết tranh chấp
Một hiệp định quốc tế sẽ không có nhiều giá trị nếu các Bên ký kết không tuân thủ các nghĩa vụ của hiệp định này Do đó, một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả sẽ làm tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các Bên ký kết đã chấp thuận trong hiệp định quốc tế Việc các thành viên WTO thống nhất lập ra một hệ thống giải quyết tranh chấp trong Vòng Uruguay đã nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của việc tất cả các nước trong WTO sẽ tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Hiệp định WTO
Hệ thống giải quyết tranh chấp được thiết lập như hiện nay là một phần của Hiệp định WTO của Vòng Uruguay Nó là Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp và thường được nhắc tới như là Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, viết tắt là DSU Nói rộng hơn, hệ thống giải quyết tranh chấp hiện nay là kết quả tiến hóa của các quy tắc, thủ tục và thực tiễn được phát triển qua gần nửa thế kỷ của GATT 1947
2 Nguyên tắc trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO
Tranh chấp trong WTO thường là về vi phạm cam kết Các Thành viên WTO nhất trí nếu họ tinrằng các thành viên đối tác vi phạm nguyên tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống đa phương về giảiquyết tranh chấp thay vì thực hiện các hành vi đơn phương Điều này có nghĩa là không thay đổi nhữngquy trình đã cam kết và tôn trọng các phán quyết
Một tranh chấp nảy sinh khi một nước lựa chọn chính sách thương mại hoặc thực hiện nhữnghành vi mà một hoặc nhiều nước Thành viên WTO khác xem là vi phạm hoặc không thực hiện các nghĩa
vụ đối với các Hiệp định của WTO
Thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định theo GATT cũ nhưng không đưa ra thời gian biểu cụthể, các nguyên tắc dễ dàng bị ngăn cản và rất nhiều trường hợp bị kéo dài mà không có kết quả Vòngđàm phán Uruguay đã đưa ra một hệ thống hợp lý hơn với những thủ tục giải quyết rõ ràng Đồng thờiđưa ra nguyên tắc hợp lý hơn về khoảng thời gian giải quyết tranh chấp với các thời hạn linh hoạt trongcác bước khác nhau của quy trình Hiệp định nhấn mạnh rằng tăng cường giải quyết tranh chấp là cầnthiết nếu WTO thực hiện vai trò của mình một cách hiệu quả Thoả thuận đã quy định chi tiết quy trình vàthời gian để giải quyết tranh chấp Về nguyên tắc, nếu một tranh chấp được giải quyết theo đúng thờigian biểu quy định thì thời gian không mất nhiều hơn 12 hoặc 15 tháng, khi cần phúc thẩm Thời gian đểđạt được sự đồng thuận có thể linh hoạt và nếu trường hợp được xem là khẩn cấp, vụ việc sẽ được giảiquyết nhanh hơn
Vòng đàm phán Urugoay cũng cho phép các nước bị thua trong các tranh chấp không thông quaquyết định Theo GATT trước đây các quyết định chỉ được thông qua dựa trên sự đồng thuận, điều này
Trang 6có nghĩa là một mục đích cá nhân của một nước cũng có thể ngăn cản việc đưa ra quyết định Hiện naycác quyết định được tự động thông qua trừ phi có các bên cùng nhất trí phản đối Có nghĩa là bất kỳnước nào không muốn thực hiện quyết định phải thuyết phục các thành viên khác của WTO chia sẻ quanđiểm với mình
Mặc dầu quy trình giải quyết giống với thủ tục toà án, nhưng giải pháp thích hợp hơn vẫn là tạođiều kiện cho các nước có liên quan thảo luận về vấn đề của họ và tự hòa giải tranh chấp của mình Vìvậy, bước đầu tiên là tư vấn giữa các nước liên quan, và thậm chí khi tranh chấp đi vào các bước tiếpsau với chiều hướng tích cực, việc tư vấn và hoà giải vẫn là những phương thức ưu tiên
3 Mục tiêu của hệ thống giải quyết tranh chấp
a Bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương
Mục tiêu trọng tâm của hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước của hệ thống thương mại đa phương Mặc dù thương mại quốc tế được hiểu trong WTO như
là dòng hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển giữa các nước thành viên, nhưng nói chung, các chính phủ không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại này mà do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Cácđối tác tham gia thị trường này cần sự ổn định và tính dự báo trước trong các luật lệ, quy định, nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của họ, đặc biệt là khi họ thực hiện thương mại trên cơ sở các giao dịch dài hạn
Do đó, mục tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoảncủa Hiệp định WTO Thông qua việc tăng cường nguyên tắc pháp quyền, hệ thống giải quyết tranh chấp làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước Khi một thành viên cho
là có sự không tuân thủ Hiệp định WTO thì hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay, và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì có thể sẽ bị trừng phạt thương mại
b Bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các Thành viên WTO
Một tranh chấp phát sinh khi một Thành viên WTO thông qua một biện pháp chính sách thương mại mà một hay nhiều thành viên khác coi là không phù hợp với nghĩa vụ theo Hiệp định WTO Trong trường hợp đó, bất kỳ thành viên nào cảm thấy bị thiệt hại thì đều được phép viện dẫn đến các điều khoản và thủ tục của hệ thống giải quyết tranh chấp để chính thức phản đối lại biện pháp đó
Nếu các bên tranh chấp không thể đạt được một hoà giải thì bên khiếu kiện được bảo đảm giải quyết bằng một quy trình dựa trên nguyên tắc mà theo đó tính đúng đắn của đơn kiện sẽ được xem xét bởi một cơ quan độc lập (Ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm) Nếu bên khiếu kiện thắng kiện thì kết quả mong muốn là có được việc bên bị kiện rút bỏ biện pháp bị coi là không phù hợp với Hiệp định WTO.Bồi thường và các biện pháp trả đũa chỉ là các biện pháp thứ yếu và có tính tạm thời đối với một sự vi phạm Hiệp định WTO
Như vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp cho phép có một cơ chế giải quyết tranh chấp mà nhờ
đó các thành viên WTO có thể bảo đảm rằng các quyền của họ theo Hiệp định WTO được thực hiện Hệ thống này cũng quan trọng đối với cả bên bị khiếu kiện để họ tự bảo vệ mình nếu họ không đồng ý với lờicáo buộc của bên khiếu kiện Trong trường hợp này, hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò bảo vệ quyền và nghĩa vụ của thành viên theo Hiệp định WTO Các quyết định của các cơ quan liên quan nhằm mục tiêu phản ánh và thực thi một cách đúng đắn các quyền và nghĩa vụ như được quy định tại Hiệp định WTO
c Làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích
Phạm vi chính xác của quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hiệp định WTO không hoàn toàn được
rõ ràng ngay nếu chỉ đọc văn bản Hiệp định Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc một số tình tiết nào đó có gây ra vi phạm quy định pháp luật được hàm chứa trong một điều khoản
Trang 7cụ thể nào đó hay không là một câu hỏi mà không dễ gì có được câu trả lời Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định pháp lý trong các hiệp định quốc tế thường thiếu sự rõ ràng bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Những thành viên khác nhau tham gia vào quá trình đàm phán thường phải dung hòa các quan điểm khác nhau thông qua việc thống nhất nội dung của văn kiện sao cho có thể hiểu theo nhiều cách để vẫn thỏa mãn được yêu cầu của các nhóm có quyền lợi kinh tế khác nhau Các nhà đàm phán cũng có thể nhờ đó mà hiểu những quy định cụthể theo các cách trái ngược và khác nhau Tuy nhiên, DSU chỉ ra một cách rõ ràng rằng hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO “phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế”.
Như vậy, DSU đã công nhận sự cần thiết phải làm rõ các quy định của WTO và yêu cầu bắt buộc rằng việc làm rõ này phải theo đúng quy tắc có tính tập quán về giải thích Thêm vào đó, điều 17.6 của DSU đã ngầm công nhận rằng các Ban hội thẩm được phép phát triển các giải thích pháp lý Do đó,
“thẩm quyền duy nhất” theo Điều IX:2 của Hiệp định WTO phải được hiểu là khả năng thông qua những
giải thích “chính thức”, có hiệu lực chung đối với tất cả các thành viên WTO Điều này khác với các giải thích của các Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm là chỉ áp dụng cho các bên tranh chấp và cho một
tranh chấp cụ thể.
Về phương pháp giải thích, DSU dẫn chiếu đến các “quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế (Điều 3.2 của DSU) Tuy nhiên, các quy tắc của pháp luật tập quán quốc tế thường không được viết thành văn bản, nhưng đã có một số công ước quốc tế pháp điển hóa một số quy tắc của pháp luật tập quán về giải thích điều ước quốc tế Đáng chú ý là các điều 31 (Quy định chung về giải thích); điều 32 (Phương tiện bổ sung cho giải thích) và điều 33 (Giải thích điều ước được chứng thực bằng hai hay nhiều ngôn ngữ) của Công ước Viên về Luật của điều ước hàm chứa nhiều quy tắc có tính tập quán
về giải thích công pháp quốc tế
Do vậy, việc giải thích điều ước Hiệp định WTO cần được giải thích phù hợp với nghĩa thông thường của từ ngữ trong quy định liên quan, được cân nhắc trong bối cảnh của chúng và theo mục đích
và đối tượng của hiệp định Nghĩa thông thường của một thuật ngữ trong một quy định cần được làm rõ trên cơ sở lời văn đơn thuần Những định nghĩa của thuật ngữ của này trong từ điển có thể sử dụng để trợ giúp cho mục tiêu đó “Bối cảnh” là nói đến các kết luận có thể được đưa ra trên các cơ sở, chẳng hạn như cấu trúc, nội dung hoặc thuật ngữ ở các điều khoản khác cùng trong hiệp định, đặc biệt là những điều khoản có trước và sau quy định cần giải thích “Đối tượng và mục đích” là nói đến mục đích
rõ ràng hay ngụ ý của quy định liên quan hay cả hiệp định nói chung
Trên thực tế, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm dường như dựa nhiều vào nghĩa thông thường và bối cảnh hơn là vào đối tượng và mục đích của các điều khoản cần giải thích Lịch sử đàm phán hiệp định chỉ là một công cụ thứ cấp bổ sung cho việc giải thích, công cụ này chỉ được sử dụng để khẳng định sự giải thích theo nghĩa thông thường, bối cảnh, đối tượng và mục đích hoặc nếu như kết quả giải thích có thể hiểu theo nhiều cách, mơ hồ, rõ ràng là vô lý hoặc không hợp lý Một trong những
hệ luận của các nguyên tắc giải thích là ý nghĩa và hiệu lực phải được đưa ra đối với tất cả các thuật ngữcủa một hiệp định thay vì làm cho toàn bộ các phần của một hiệp định trở nên thừa và vô dụng
d Giải pháp ưu tiên là “Thỏa thuận”
Mặc dù hệ thống giải quyết tranh chấp được sử dụng để bảo toàn các quyền của các thành viên
bị xâm phạm và để làm rõ phạm vi các quyền và nghĩa vụ mà những quyền và nghĩa vụ này đã dần đạt được ở mức cao hơn về tính an toàn và dự báo trước, nhưng mục tiêu hàng đầu của hệ thống này không phải là để đưa ra các phán quyết hay để phát triển án lệ Giống như các hệ thống pháp luật khác,
nó ưu tiên giải quyết tranh chấp với mong muốn thông qua giải pháp được các bên tự dàn xếp, thỏa thuận và phù hợp với Hiệp định WTO Việc xét xử chỉ được sử dụng khi các bên không thể đưa ra được giải pháp này Với tư cách là giai đoạn đầu tiên của mỗi tranh chấp, DSU yêu cầu các bên tham vấn chính thức đưa ra một khuôn khổ mà theo đó các bên tranh chấp phải ít nhất là cố gắng đàm phán để đạtđược hòa giải Ngay cả khi vụ kiện đến giai đoạn xét xử, các bên vẫn có thể tự dàn xếp với nhau và luôn được khuyến khích nỗ lực theo hướng này
e Giải quyết tranh chấp nhanh chóng
DSU nhấn mạnh rằng giải quyết tranh chấp nhanh chóng là rất quan trọng nếu WTO muốn hoạt động hiệu quả và sự cân bằng các quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên được duy trì DSU đưa ra các
Trang 8thủ tục tương đối cụ thể và thời gian tương ứng phải tuân thủ trong giải quyết tranh chấp Thủ tục cụ thể được đưa ra nhằm mục tiêu đạt hiệu quả, bao gồm cả quyền của bên khiếu kiện được đi tiếp theo các bước tố tụng với đơn khiếu kiện ngay cả khi không có sự đồng ý của bên bị khiếu kiện Nếu vụ kiện đượcxét xử thì nó có thể cần không quá 12 tháng để Ban hội thẩm đưa ra phán quyết và không quá 15 tháng trong trường hợp vụ kiện được phúc thẩm.
Tuy nhiên, các cuộc tranh chấp trong WTO thường rất phức tạp cả về tình tiết và pháp lý Các bên thường đưa ra một số lượng đáng kể các số liệu và tài liệu liên quan đến biện pháp đang tranh chấp
và họ cũng đưa ra những lý lẽ pháp lý rất cụ thể Các bên cần thời gian để chuẩn bị những lý lẽ về thực
tế và về pháp lý để trả lời cho những lập luận mà bên đối lập đưa ra Ban hội thẩm và/hoặc Cơ quan phúc thẩm được bổ nhiệm để giải quyết vấn đề sẽ cần phải xem xét tất cả các bằng chứng và lý lẽ, có thể phải nghe chuyên gia và đưa ra lập luận chi tiết để giúp đưa ra kết luận Nếu tính đến tất cả các khía cạnh này, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và, trong mọi trường hợp,nhanh hơn nhiều so với các hệ thống tòa án của nước thành viên hoặc hệ thống tài phán quốc tế khác
f Cấm quyết định đơn phương
Các thành viên WTO đã đồng ý sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết các tranh chấp thương mại trong WTO của họ thay vì sử dụng đến hành động đơn phương Điều này có nghĩa là tuân thủ các thủ tục đã được thống nhất và tôn trọng các phán quyết khi được đưa ra và không được đơn phương áp dụng pháp luật Nếu một thành viên khiếu kiện thành viên khác là đã vi phạm các quy tắc WTO và hành động một cách đơn phương là áp dụng biện pháp đối kháng thì có nghĩa thành viên đó cũng vi phạm nghĩa vụ Thành viên đó có thể lập luận rằng mình đã hành động đúng luật vì sự vi phạm của họ được lý giải với tư cách là biện pháp đối kháng với sự vi phạm trước đó của thành viên khác Tuy nhiên, nếu thành viên bị khiếu kiện không đồng ý rằng biện pháp của họ là vi phạm nghĩa vụ của WTO thì
họ cũng sẽ không chấp nhận lý lẽ về biện pháp đối kháng mà thành viên khiếu kiện đưa ra Do vậy, thành viên bị khiếu kiện có thể cho rằng biện pháp đối kháng đó là bất hợp pháp và họ có lý do chính đáng để áp dụng một biện pháp đối kháng để chống lại Bên khiếu kiện ban đầu dựa trên quan điểm pháp lý của mình có thể sẽ lại không đồng ý và tiếp tục đưa ra một biện pháp đối kháng khác Sự việc có thể gia tăng căng thẳng ngoài tầm kiểm soát và nếu như không có một bên rút lui thì nguy cơ hạn chế thương mại giữa các bên sẽ ngày càng leo thang và điều này có thể dẫn đến “chiến tranh thương mại”
Để ngăn chặn mâu thuẫn gia tăng như vậy, DSU yêu cầu bắt buộc sử dụng hệ thống đa phương
để giải quyết tranh chấp mà các thành viên WTO phải sử dụng khi họ muốn một thành viên khác sửa sai trong khuôn khổ Hiệp định WTO Điều này áp dụng đối với trường hợp một thành viên tin tưởng rằng thành viên khác đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc làm triệt tiêu, hoặc suy giảm các lợi ích theo các hiệp định WTO, hoặc làm cản trở việc đạt mục tiêu của một trong số các hiệp định
Trong các trường hợp như vậy, một thành viên không thể hành động dựa trên các quyết định đơn phương khi xảy ra một trong các tình huống trên mà chỉ có thể hành động sau khi đã sử dụng việc giải quyết tranh chấp theo các thủ tục và quy tắc của DSU Nếu thành viên khiếu nại được hành động gì thì họ đều chỉ có thể dựa trên các kết luận của Ban hội thẩm được thông qua hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm hoặc phán quyết của trọng tài đã được thông qua Thành viên liên quan cũng phải tuân thủ các thủ tục được đề ra trong DSU đối với việc xác định về thời gian thực hiện và áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ trên cơ sở được phép của DSB
4 Phạm vi điều chỉnh của hệ thống giải quyết tranh chấp
Trang 9Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định của WTO được liệt kê trong Phụ lục I của DSU.
Trong DSU, những hiệp định này được nhắc tới như là “các hiệp định điều chỉnh”, bản thân DSU
và Hiệp định WTO (liên quan đến các điều I - XVI) cũng nằm trong số các hiệp định điều chỉnh Trong nhiều vụ kiện được đưa ra hệ thống giải quyết tranh chấp, bên khiếu kiện viện dẫn các điều khoản thuộc nhiều hiệp định điều chỉnh khác nhau
Những hiệp định được điều chỉnh cũng bao gồm các hiệp định được gọi là các hiệp định thương mại nhiều bên, nằm trong Phụ lục 4 của Hiệp định WTO (Phụ lục I của DSU) Các hiệp định này được gọi
là “nhiều bên” để phân biệt với “đa phương” bởi không phải tất cả các thành viên WTO đều ký kết chúng Tuy nhiên, việc áp dụng DSU đối với các hiệp định thương mại nhiều bên này phụ thuộc vào việc thông qua quyết định của các bên trong mỗi hiệp định về các điều kiện áp dụng DSU đối với từng hiệp định, bao gồm bất kỳ quy tắc hay thủ tục bổ sung đặc biệt nào
DSU cho phép có một hệ thống giải quyết tranh chấp thống nhất và chặt chẽ cho việc áp dụng chung đối với tất cả các hiệp định điều chỉnh Nó cũng kết thúc “GATT theo món” trước đó khi mà các hiệp định khác nhau thì không chỉ có số lượng các chữ ký khác nhau mà còn có các nguyên tắc giải quyết tranh chấp riêng biệt nhau Trừ một số trường hợp ngoại lệ, DSU được áp dụng thống nhất đối với các tranh chấp trong khuôn khổ tất cả các hiệp định của WTO
5 Đối tượng tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp
a Các bên tranh chấp và bên thứ ba
Chỉ có các quốc gia thành viên WTO mới là các bên tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp
và có thể tham gia hệ thống này với tư cách là các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương và khu vực không được phép khởi kiện thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO
DSU gọi thành viên đưa ra tranh chấp là “bên khởi kiện” hoặc “bên khiếu kiện”, do vậy đối tượng còn lại có thể dùng là “bên bị khiếu kiện” hoặc “bên bị kiện” Không có thuật ngữ nào cho cụm từ “bên được đề nghị tham vấn”
b Các đối tượng phi chính phủ
Chỉ các chính phủ thành viên WTO mới có thể đưa tranh chấp nên các cá nhân hoặc công ty tư nhân không trực tiếp tiếp cận với hệ thống giải quyết tranh chấp, ngay cả khi họ chính là những người bị tác động tiêu cực trực tiếp (với tư cách là nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu) bởi các biện pháp bị cho là đã
vi phạm Hiệp định WTO Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới vấn đề được xử lý trong hệ thống giải quyết tranh chấp (các tổ chức phi chính phủ thường được nhắc đến như các NGOs) và họ cũng không thể khởi kiện theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO
Tuy nhiên, các tổ chức này có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí gây áp lực lên chính phủ của một thành viên WTO liên quan đến việc đưa ra tranh chấp Trên thực tế, nhiều thành viên WTO đã chính thức thông qua luật pháp trong nước mà theo đó các bên tư nhân có thể đệ đơn lên chính phủ của họ đề nghị đưa tranh chấp ra WTO [1]
6 Các nước đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO
a Các nước đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp - lý thuyết và thực tiễn
Nhìn chung mọi người đều nhất trí rằng chính sự tồn tại của một hệ thống giải quyết tranh chấp đa phương mang tính bắt buộc là một lợi ích đặc biệt dành cho các nước đang phát triển và các thành viên nhỏ Một hệ thống mà tất cả các thành viên đều có khả năng tiếp cận bình đẳng và trong đó các quyết định được đưa ra trên cơ sở luật pháp thay vì dựa vào thế lực kinh tế đã tăng sức mạnh của các nước đang phát triển và các nền kinh tế nhỏ bằng cách dành cho “các nước yếu” một vị thế bình đẳng hơn so với “các nước mạnh” Theo nghĩa này bất kỳ một hệ thống thực thi pháp luật nào cũng sẽ có lợi cho các nước yếu hơn vì các nước mạnh luôn luôn có các công cụ khác để tự bảo vệ và áp đặt quyền lợi của
Trang 10mình khi không có hệ thống thực thi luật Quan điểm này đã bị một số bên chỉ trích vì quá mang nặng tính hình thức và lý thuyết Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, trên thực tế, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đã đưa ra nhiều ví dụ về việc các nước thành viên đang phát triển thắng các đối tác thương mại lớn trong các tranh chấp, thậm chí cả việc các nước lớn phải rút bỏ các biện pháp bị các nước thànhviên đang phát triển kiện là không phù hợp với quy định của WTO
Đồng thời rõ ràng là các nước đang phát triển muốn được hưởng lợi ích của hệ thống giải quyếttranh chấp đang phải đối mặt với gánh nặng đáng kể Ví dụ, các nước đang phát triển đặc biệt là cácnước nhỏ hơn, thường không có đủ nguồn nhân lực với kiến thức chuyên môn - những chuyên gia nắmđược bản chất phức tạp của các luật lệ WTO hoặc của các thủ tục giải quyết tranh chấp Khối lượngthông tin, kiến thức luật do Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm phát triển ngày càng nhiều khiến chocác quan chức thương mại trên toàn thế giới ngày càng khó nắm bắt được cả bản chất và thủ tục củaluật WTO, kể cả những tiến triển mới nhất Thêm vào đó, thường một hệ thống quản lý thương mại nhỏrất khó có khả năng cử một trong số các quan chức ít ỏi của mình - những người hiện đã phải đối mặtvới việc theo kịp toàn bộ các vấn đề trong WTO - tham gia tranh chấp Một tranh chấp cụ thể có thểchiếm rất nhiều thời gian của một quan chức - có thể tới hai năm Một nước thành viên đang phát triểncũng khó có thể chịu đựng tác hại về mặt kinh tế gây ra bởi hàng rào thương mại của một nước thànhviên khác trong toàn bộ quá trình tố tụng Nếu một hàng rào thương mại như vậy làm phương hại tới khảnăng xuất khẩu của nước đang phát triển đó và được kết luận trái với WTO, thì việc rút bỏ biện pháp nàycũng không được thực hiện cho tới tận hai hay ba năm sau khi khởi kiện trong WTO
Mặc dù có những khó khăn này, các nước thành viên đang phát triển đã tham gia tích cực vào
hệ thống giải quyết tranh chấp trong vòng tám năm qua Kể từ năm 1995, họ đã là bên nguyên trong hơn1/3 các vụ tranh chấp, và là bên bị trong khoảng 2/5 số vụ Các nước đang phát triển đã khởi kiện cácnước thành viên phát triển cũng như các nước thành viên đang phát triển khác Chỉ trong một năm 2001,các nước thành viên đang phát triển đã chiếm tới 75% tổng số đơn kiện Các nước chậm phát triển tớinay chưa tham gia vào tranh chấp nào trong WTO cả với tư cách bên đi kiện hay bên bị kiện Việc thamgia của các nước thành viên đang phát triển với tư cách là bên thứ ba là rất thường xuyên và mang lạikinh nghiệm quý báu cho các thành viên không tham gia thường xuyên vào quá trình giải quyết tranhchấp
Mặt khác, trong đa số các tranh chấp của WTO tới nay, bên đi kiện là một nước thành viên pháttriển, song các nước phát triển cũng là bên bị kiện trong đa số các vụ việc Tính tới thực tế thì đa số cácnước thành viên WTO là nước đang phát triển, nhưng có thể kết luận rằng các nước phát triển đã tậndụng hệ thống giải quyết tranh chấp là chính, do vậy không tương xứng nếu so về số lượng nhóm thànhviên phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, nếu luận như vậy thì sẽ bỏ qua thực tế là những thành viênphát triển này, đồng thời là bên đi kiện và bị kiện trong đa số các tranh chấp của WTO, chiếm phần lớnthương mại thế giới Họ thường có quan hệ thương mại rất rộng (trong cả các lĩnh vực hàng hoá và dịchvụ) và rất sâu (xét về khối lượng và giá trị thương mại) Những quan hệ thương mại như vậy đã tăngđáng kể khả năng phát sinh xung đột từ các hàng rào thương mại mà nước thành viên xuất khẩu sẵnsàng khởi kiện
Với điều này, lại cho thấy có một thực tế khó giải quyết, từ quan điểm của các nước thành viênđang phát triển Khối lượng thương mại khiêm tốn có thể bị ảnh hưởng bởi một hàng rào thương mạikhông hợp lệ của một nước thành viên khác không phải lúc nào cũng tương xứng với lượng thời gian vàtiền bạc cần đầu tư vào một tranh chấp của WTO Do vậy, rõ ràng các nước thành viên đang phát triển ở
Trang 11trong một tình thế đặc biệt mà ở chừng mực nào đó, hệ thống giải quyết tranh chấp hiện nay đang xemxét Một điều rõ ràng khác là khả năng sử dụng hiệu quả hệ thống giải quyết tranh chấp của các nướcđang phát triển là yếu tố cốt lõi giúp họ có thể thụ hưởng đầy đủ các lợi ích mà họ được hưởng theo Hiệpđịnh WTO Các công cụ để giải quyết tình trạng đặc biệt của các thành viên đang phát triển chính là cácquy định đối xử đặc biệt và khác biệt và những hỗ trợ pháp lý
b Đối xử đặc biệt và khác biệt
Đối xử đặc biệt và khác biệt trong DSU có hình thức khác so với các hiệp định liên quan khác,chứa đựng các quy định thực chất điều chỉnh thương mại quốc tế DSU thừa nhận điều kiện đặc biệt củacác nước thành viên đang và chậm phát triển thông qua việc dành thêm cho họ, ví dụ, các thủ tục bổsung hoặc ưu đãi và hỗ trợ pháp lý Các nước đang phát triển có thể chọn thủ tục nhanh hơn, yêu cầu cókhung thời hạn dài hơn hay yêu cầu trợ giúp pháp lý Các thành viên WTO cũng được khuyến khíchdành sự quan tâm đặc biệt đối với tình hình của nước thành viên đang phát triển Những quy định này sẽđược đề cập cụ thể dưới đây Một số quy định được áp dụng thường xuyên, nhưng một số khác thì vẫnchưa hề được sử dụng trên thực tế
b1 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong tham vấn
Trong tham vấn, các thành viên nên dành sự quan tâm đặc biệt tới các vấn đề và lợi ích cụ thểcủa các nước thành viên đang phát triển (Điều 4.10 của DSU) Nếu đối tượng của tham vấn là một biệnpháp do một nước thành viên đang phát triển áp dụng thì các bên có thể đồng ý kéo dài thời hạn thamvấn thông thường Nếu vào cuối giai đoạn tham vấn, các bên không thể đồng ý kết thúc tham vấn, Chủtịch DSU có thể kéo dài thời hạn tham vấn (Điều 12.10 của DSU)
b2 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong giai đoạn xét xử của Ban hội thẩm
Cũng có đối xử đặc biệt và khác biệt trong giai đoạn làm việc của Ban hội thẩm Khi một tranhchấp xảy ra giữa một nước thành viên đang phát triển và một nước thành viên phát triển, Ban hội thẩmphải căn cứ vào yêu cầu của nước thành viên đang phát triển có ít nhất một hội thẩm viên từ một nướcđang phát triển (Điều 8.10 của DSU)
Nếu một nước thành viên đang phát triển là bên bị kiện, Ban hội thẩm phải dành cho thành viênnày đủ thời gian để chuẩn bị và đệ trình lý lẽ bào chữa của mình Tuy nhiên, việc này không được ảnhhưởng tới toàn bộ thời gian dành cho Ban hội thẩm để hoàn tất quá trình giải quyết tranh chấp (Điều12.10 của DSU) Một Ban hội thẩm đã áp dụng điều khoản này bằng cách dành thêm 10 ngày cho bên bị
là nước thành viên đang phát triển, theo yêu cầu của bên này, để chuẩn bị văn bản đệ trình của mình gửitới Ban hội thẩm, bất chấp sự phản đối của bên nguyên
Khi một nước thành viên đang phát triển là bên tham gia trong một tranh chấp và dẫn ra các quyđịnh về đối xử đặc biệt và khác biệt của DSU hay của các hiệp định khác thì báo cáo của Ban hội thẩmphải chỉ rõ cách thức các quy định này được xem xét (Điều 12.11 của DSU) Điều này nhằm làm rõ tínhhiệu quả các quy định được dẫn chiếu và việc áp dụng chúng trong thực tế
b3 Đối xử đặc biệt và khác biệt trong thực thi
Ở giai đoạn thực thi, DSU cho phép dành sự quan tâm đặc biệt tới các vấn đề ảnh hưởng tới lợiích của các nước thành viên đang phát triển (Điều 21.1 của DSU) Điều khoản này đã được áp dụng
Trang 12nhiều lần bởi các trọng tài viên hoạt động theo Điều 21.3 của DSU khi quyết định thời hạn hợp lý để thựcthi Căn cứ vào Điều 21.2 của DSU, một trọng tài đã dành thêm một thời gian là 6 tháng để thực thi trongnhững hoàn cảnh cụ thể
Trong khuôn khổ giám sát thực thi, nếu như một nước thành viên đang phát triển nêu vấn đềnày, DSB phải cân nhắc có thêm hành động thích hợp ngoài việc giám sát và báo cáo hiện trạng (Điều21.7 của DSU) Khi cân nhắc các hành động thích hợp trong một vụ kiện của một nước thành viên đangphát triển, DSB phải xem xét không chỉ phạm vi thương mại bị ảnh hưởng bởi các biện pháp bị kiện, mà
cả tác động của chúng tới nền kinh tế của các nước thành viên đang phát triển có liên quan (Điều 21.8của DSU)
b4 Thủ tục rút gọn theo yêu cầu của một nước thành viên đang phát triển - Quyết định ngày 5-4-1996
Nếu một nước thành viên đang phát triển đưa ra khiếu kiện đối với một nước thành viên pháttriển, bên đi kiện có quyền tuỳ ý viện dẫn đến thủ tục rút gọn theo Quyết định ngày 5/4/1996 thay vì sửdụng các điều khoản trong Điều 4, 5, 6 và 12 của DSU Các quy định và thủ tục của Quyết định năm
1996 có giá trị ưu tiên áp dụng so với các quy định và thủ tục tương ứng trong các Điều 4, 5, 6 và 12 củaDSU khi có sự khác biệt (Điều 3.12 của DSU)
Trước hết, Quyết định này quy định rằng Tổng giám đốc có thể làm môi giới và tiến hành thamvấn theo yêu cầu của nước đang phát triển nhằm tìm ra giải pháp cho tranh chấp, khi tham vấn giữa cácbên đã thất bại Thứ hai, nếu trong vòng 2 tháng những tham vấn do Tổng giám đốc tiến hành khôngđem lại một giải pháp làm các bên hài lòng, Tổng giám đốc theo yêu cầu của một trong các bên, sẽ đệtrình một báo cáo về hành động của mình DSB khi đó sẽ thành lập Ban hội thẩm với sự đồng ý của cácbên Thứ ba, Ban hội thẩm sẽ xem xét đầy đủ tới hoàn cảnh và những mối quan tâm có liên quan đếnđơn khiếu nại các biện pháp, và tác động của chúng đối với thương mại và phát triển kinh tế của cácthành viên bị ảnh hưởng Thứ tư, Quyết định chỉ cho phép Ban hội thẩm có 60 ngày để đệ trình các kếtluận của mình tính từ ngày vấn đề được đưa ra Ban hội thẩm Khi Ban hội thẩm thấy rằng thời hạn này làkhông đủ, Ban này có thể gia hạn với sự đồng ý của bên khởi kiện
Các thời hạn của Quyết định chỉ được áp dụng một lần theo GATT 1947, nhưng chưa được ápdụng trong WTO Trên thực tế, các nước thành viên đang phát triển có xu hướng thích có thêm thời gian
để chuẩn bị các văn bản đệ trình của mình Tuy nhiên, họ thường kiên quyết theo yêu cầu Ban hội thẩmtôn trọng khung thời hạn tổng thể để hoàn tất thủ tục
b5 Các nước thành viên chậm phát triển tham gia vào tranh chấp
Tất cả các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt trên đều áp dụng cho các nước thành viênchậm phát triển, một phần của nhóm các nước thành viên đang phát triển Bên cạnh đó, DSU có một sốquy định đặc biệt chỉ áp dụng riêng cho các nước thành viên chậm phát triển
Khi một nước thành viên chậm phát triển tham gia vào tranh chấp phải lưu ý đến hoàn cảnh đặc biệt của thành viên đó trong toàn bộ các giai đoạn của tranh chấp Các thành viên phải kiềm chế thích đáng việc khởi kiện một nước thành viên chậm phát triển và trong việc yêu cầu bồi thường hay đề nghị
áp dụng quyền tạm ngừng các nghĩa vụ đối với một nước thành viên chậm phát triển đã “thua kiện” (Điều24.1 của DSU)
Trang 13Đối với các tranh chấp có liên quan tới một nước thành viên chậm phát triển, DSU cũng quy định
cụ thể việc môi giới, hoà giải và trung gian Khi tham vấn không đem lại kết quả thỏa đáng và do vậynước thành viên chậm phát triển có yêu cầu, Tổng giám đốc hay Chủ tịch của DSB phải tiến hành môigiới, hoà giải và trung gian Mục đích là giúp các bên giải quyết tranh chấp trước khi phải thành lập Banhội thẩm Khi tiến hành hỗ trợ như vậy, Tổng giám đốc hay Chủ tịch DSB sẽ tham khảo bất kỳ nguồn nàođược coi là thích hợp (Điều 24.2 của DSU)
b6 Hỗ trợ pháp lý
Ban thư ký của WTO hỗ trợ tất cả các thành viên trong giải quyết tranh chấp theo yêu cầu củacác thành viên này, nhưng các nước thành viên đang phát triển được cung cấp thêm tư vấn và hỗ trợpháp lý Để đạt được mục tiêu này, Ban thư ký được yêu cầu cung cấp một chuyên gia pháp lý có nănglực từ dịch vụ hợp tác kỹ thuật của WTO tới bất kỳ nước thành viên đang phát triển nào có yêu cầu (Điều27.2 của DSU) Học viện Đào tạo và Hợp tác kỹ thuật, một bộ phận của Ban Thư ký WTO, hiện naytuyển dụng chuyên gia chuyên trách và hai tư vấn gia độc lập làm việc bán chuyên trách để thực hiệnmục đích này Những chuyên gia này phải hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển trên nguyên tắctôn trọng tính trung lập, khách quan của Ban thư ký (Điều 27.2 của DSU)
Ban thư ký WTO cũng tiến hành các hoạt động hợp tác kỹ thuật ở Geneva và ở thủ đô các nướcthành viên thông qua việc tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt về hệ thống giải quyết tranh chấp (Điều 27.3của DSU) Đại diện của các nước thành viên phát triển cũng có thể tham dự các khoá học diễn ra ởGeneva
b7 Đại diện bởi nhà tư vấn tư nhân và trung tâm tư vấn về luật WTO
Như đã nêu trên, các nhà tư vấn pháp lý tư nhân có thể xuất hiện trước Ban hội thẩm và Cơquan phúc thẩm với tư cách thành viên phái đoàn các bên Tương tự, các công ty luật tư nhân thườngtham gia vào việc chuẩn bị văn bản đệ trình của các bên gửi tới Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm.Điều này rất quan trọng với các nước thành viên đang phát triển, vì nó giúp họ tham gia vào quá trình tốtụng giải quyết tranh chấp ngay cả khi họ thiếu nguồn nhân lực với các kiến thức chuyên môn cụ thể vềgiải quyết tranh chấp của WTO Tuy nhiên, việc sử dụng các chuyên gia pháp lý về luật WTO thườnghoạt động ở thủ đô các nước phát triển (như Washington, Brussels, Geneva, Paris, London)
Các nước thành viên đang phát triển có thể nhận được sự hỗ trợ hiệu quả trong giải quyết tranhchấp từ một cơ quan mới được thành lập gần đây, đó là Trung tâm tư vấn về Luật WTO, đặt tại Geneva.Trung tâm tư vấn này là một trung tâm “hỗ trợ pháp lý” dưới hình thức một tổ chức liên chính phủ độclập Trung tâm này tách rời và độc lập với WTO Nó được thành lập trên cơ sở một hiệp định quốc tế do
29 nước thành viên WTO ký kết ở Seattle ngày 1/12/1999 - Hiệp định thành lập trung tâm tư vấn luậtWTO Hiệp định này có hiệu lực vào ngày 15/6/2001 và chính thức mở cửa ngày 5/10/2001 Các nước
và lãnh thổ hải quan độc lập đang xin gia nhập WTO, đều có thể trở thành thành viên của Trung tâm Tưvấn này
Trung tâm tư vấn có chức năng chủ yếu là một văn phòng luật chuyên về luật WTO Nó cung cấpdịch vụ pháp lý và đào tạo cho các nước phát triển hay các nước có nền kinh tế chuyển đổi, cũng nhưcho tất cả các nước chậm phát triển là thành viên WTO hay các nước đang đàm phán gia nhập Các dịch
vụ pháp lý trong quá trình tố tụng giải quyết tranh chấp Việc này bao gồm đại diện cho các thành viên
Trang 14WTO trong quá trình giải quyết tranh chấp (ví dụ như soạn thảo các văn bản gửi cho DSB, các văn bản
đệ trình gửi Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm và thay mặt cho các thành viên này xuất hiện trước Banhội thẩm và Cơ quan phúc thẩm) Kể từ tháng 7/2001, Trung tâm Tư vấn đã thường xuyên đại diện chocác nước thành viên đang phát triển trong các vụ tranh chấp trong WTO Với những dịch vụ này, các
“thân chủ” trả phí (thấp) ở các mức khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mình và việc
họ có phải thành viên của Trung tâm tư vấn hay không Thứ hai, Trung tâm tư vấn tiến hành tư vấn pháp
lý về những vấn đề không hoặc chưa phải là đối tượng của một quá trình giải quyết tranh chấp trongWTO Những dịch vụ này miễn phí một số giờ nhất định cho cho các nước chậm phát triển và các nướcthành viên của Trung tâm tư vấn là các nước đang phát triển hay các nước có nền kinh tế chuyển đổi.Trung tâm tư vấn cũng tiến hành đào tạo về giải quyết tranh chấp trong WTO và có kế hoạch đào tạothực tập viên có trả lương để góp phần xây dựng năng lực (bằng cách tăng cường kiến thức chuyên môn
về WTO cho quan chức các nước đang phát triển) Số nhân viên của Trung tâm tư vấn khá nhỏ, songbao gồm các chuyên gia pháp lý, một số có kinh nghiệm về các vấn đề trong luật WTO nói chung và giảiquyết tranh chấp trong WTO nói riêng
7 Đánh giá về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO
ở hệ thống giải quyết tranh chấp, một trong những đặc trưng chủ yếu và mới của hệ thống thương mại
đa phương Vì những bế tắc trong các cuộc đàm phán đa phương, chức năng lập pháp của WTO còn
mờ nhạt và vai trò thực sự được thực hiện nhờ khả năng tư pháp
Từ GATT tới WTO, đã có bốn thay đổi chính trong các thủ tục về giải quyết tranh chấp:
a1 Thay đổi quan trọng nhất là việc áp dụng hình thức “đồng phản đối”: những quyết định củaBan hội thẩm (lúc ban đầu) và Ủy ban kháng nghị được mặc nhiên chấp nhận, trừ khi có một sự đồngthuận trong Cơ quan giải quyết tranh chấp để lật ngược các quyết định đó Điều này có nghĩa là nếu cókháng cáo, thì Ủy ban kháng nghị sẽ có quyết định cuối cùng Giả định là Ủy ban kháng nghị đưa ra cácquy định hoàn toàn độc lập với áp lực của các quốc gia và không thiên vị một nước nào đó, các công ty
và các chính phủ sẽ cân nhắc về “sự đánh giá” và “tiền lệ” của các trường hợp để quyết định có nên kiện
ra WTO hay không Điều đó có nghĩa là các trường hợp tranh chấp được đánh giá có khả năng chiếnthắng lớn hơn và những tiền lệ chiến thắng cũng rõ ràng hơn sẽ được đưa ra giải quyết tại WTO Ngượclại, phía bị đơn sẽ phải cân nhắc đến vấn đề này Ngay cả các công ty và các chính phủ dám nhận nguy
cơ rủi ro cao cũng dễ nhân nhượng nếu khả năng thất bại là 100% Việc chuyển các nguồn lực sangcạnh tranh thị trường có thể mang lại những lợi nhuận cao hơn (hay những mất mát nhỏ hơn) so với việcduy trì sự kiện tụng vô ích Hơn nữa, các trường hợp nhờ đến WTO có khả năng cao nhưng không phải
Trang 15đều có 100% cơ hội chiến thắng mà luôn có sự rủi ro trong việc các quy tắc sẽ được vận dụng như thếnào.
Một sự thay đổi khác kèm theo là khả năng xảy ra trả đũa rất cao khi phía bị đơn từ chối thựchiện phán quyết vi phạm Trong khuôn khổ của GATT trước đây, bên thất bại có thể dễ dàng cản trởphán quyết của Ủy Ban hội thẩm hay yêu cầu trả đũa (tại GATT, việc trả đũa chỉ xảy ra một lần duy nhất).Hiện nay, phán quyết “vi phạm” hay yêu cầu trả đũa đều không dễ dàng bị ngăn cản Vì vậy, phía bị đơn,một khi đã nhận được một bản tuyên án vi phạm, phải chấp nhận khả năng bị trả đũa đã được WTO chophép Tuy nhiên, khả năng trả đũa không phải lúc nào cũng là 100% Bên được phép trả đũa phải cânnhắc các yếu tố khác nhau khi quyết định trả đũa, ít nhất phải cân nhắc các ảnh hưởng đến kinh doanhcủa chính mình Mối quan tâm rất thiết thực này cần được chú ý thậm chí là cả trong một hoàn cảnh phithực tế Một nền kinh tế lớn với một thị trường nhập khẩu phong phú có ý nghĩa quan trọng đối với phía
bị đơn (ví dụ như nước Mỹ) khi đe dọa trả đũa sẽ có tác dụng nhiều hơn so với một nền kinh tế nhỏ vớinhững ngành nghề yếu kém phụ thuộc vào hàng nhập khẩu
a2 Sự thay đổi lớn thứ hai là việc đẩy nhanh tiến độ Trong khi các vụ kiện trong GATT có thểkéo dài mãi, thì đã có một lịch trình nghiêm ngặt cho các thủ tục tại WTO Các công ty liên quan đến cáccuộc tranh chấp đã hoan nghênh sự thay đổi này vì các trường hợp tranh chấp được giải quyết càngnhanh thì bên thắng cuộc càng đạt được nhiều lợi ích Hơn nữa, các công ty bị vi phạm sẽ có động lựclớn hơn để giải quyết tranh chấp tại WTO Trái lại, các công ty đang bào chữa cũng có động lực lớn hơn
để thừa nhận sai phạm của mình Tại thời kỳ của GATT, họ có thể dựa vào các thủ thuật trì hoãn thờihạn, tuy nhiên tại thời kỳ của WTO, điều này trở nên khó hơn, cho dù vẫn được sử dụng
a3 Sự thay đổi thứ ba là sự bổ sung thủ tục kháng án Cho dù Ủy ban kháng nghị có vẻ nhưkhông gạt bỏ hoàn toàn những quyết định của Ban hội thẩm, thì việc sửa đổi từng phần vẫn thường diễn
ra Khi điều này được đưa ra, chính phủ của bên bị đơn (với thất bại tại bước hội thẩm) có lẽ sẽ kháng
án, để hy vọng một phán quyết mềm dẻo hơn từ Ủy ban kháng nghị Một cách bình đẳng, bên thua kiện
sẽ kháng án nếu bản báo cáo của Ủy Ban hội thẩm không thoả mãn hoặc không đưa ra đầy đủ sự giảm
án Hơn nữa, việc kháng án là điều có lợi để bảo đảm uy tín của Chính phủ: nó có thể chỉ ra cho cáccông dân cử tri của Chính phủ đã tranh cãi một cách đích đáng Bên cạnh đó, thủ tục kháng án thườngđược thực hiện rất thường xuyên Trong số 78 quyết định của Ban hội thẩm được đưa ra từ năm 1995tới tháng 10 năm 2003, đã có 53 trường hợp (chiếm 68%) kháng án
a4 Thay đổi chính thứ tư là sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) Trong khi WTO
là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên quốc gia, bác bỏ sự tham gia của các thành phần phi chính phủ,thì WTO đã tiến hành các thủ tục trở nên minh bạch và dễ hiểu hơn Ví dụ, Ủy ban kháng án cho phépNGOs đính kèm ý kiến của NGOs vào đệ trình của Chính phủ Mỹ lên WTO trong vụ án tôm và rùa Điềunày đã làm thay đổi đặc trưng của các thủ tục tại WTO Ngày càng nhiều vấn đề phi thương mại liênquan đến các cuộc tranh chấp Điều này đưa ra một câu hỏi thú vị: Liệu có phải WTO bị chi phối bởi cácmối quan tâm thương mại hơn là phi thương mại?
Những thay đổi về cơ cấu tổ chức đã tạo ra một số thay đổi quan trọng các quy tắc chủ yếutrong giải quyết tranh chấp Hơn nữa, trong vòng đàm phán Doha đang có sự bổ sung những vấn đềmới, như nông nghiệp, dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ
mà cho đến nay, khoảng một phần ba các tranh chấp liên quan đến những vấn đề “mới” này Việc mở
Trang 16rộng quyền lực pháp lý của hệ thống thương mại đa phương đã ảnh hưởng đáng kể đến tính hiệu quảcủa thủ tục giải quyết tranh chấp
b Đánh giá về hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Vào thời điểm tháng 10 năm 2003, có hơn 300 đơn khiếu nại đã được đệ trình tại WTO tươngđương với con số của GATT trong 40 năm tồn tại của nó
Mặc dù WTO giải quyết đơn kiện một cách riêng rẽ, nhưng do có những trường hợp một vàinước cùng kiện một nước về cùng một biện pháp thương mại nên bản chất của những đơn kiện nàygiống nhau và khi Ủy Ban hội thẩm đã xử lý thì những đơn kiện này được coi như là một đơn kiện Theophương pháp tính toán này thì chỉ có 248 đơn kiện đã được đệ trình
Sự đánh giá việc giải quyết tranh chấp của WTO dựa vào hai loại kết quả khả quan chủ yếu là: (i)các bên đã thực thi các quy định của WTO và (ii) các bên đã tự giải quyết các tranh chấp với nhau, với
sự xét xử hoặc không cần sự xét xử của WTO Việc đánh giá dựa vào thông báo của các bên gửi đếnWTO Trong trường hợp WTO không tìm thấy những sai sót của bên bị đơn và không đòi hỏi hành độngnào của WTO thì có thể coi là một kết quả tranh chấp thành công, ít nhất là từ góc độ pháp luật Có hailoại vụ kiện đang trong quá trình xét xử bao gồm: (i) Loại vụ kiện được gọi là “đang diễn ra” - đang trongquá trình xét xử hoặc đã hoàn thành việc xét xử và vẫn đang trong giai đoạn thực thi (WTO cho phép mộtthời hạn thực thi hợp lý tối đa là 15 tháng) (ii) Loại vụ kiện thứ hai đang trong quá trình xét xử bao gồmnhững vụ kiện mà trong đó việc tư vấn đã không mang lại thoả thuận cụ thể Có thể một số trong những
vụ kiện này đã được giải quyết thực sự, nhưng các bên đã không thông báo cho WTO Cuối cùng, cómột vài vụ kiện mà kết quả cuối cùng không được biết đến
Trong suốt hai hoặc ba năm đầu tiên giải quyết tranh chấp, WTO đã có một thành tích tốt, tuynhiên từ năm 1998, số lượng những kết quả vụ kiện không thoả mãn đã tăng lên
So sánh với GATT có thể thấy trong số 207 các vụ kiện đã được đệ trình tới GATT (dữ liệu từnăm 1990 tới năm 1994 đang bị thất lạc), có 88 phán quyết, trong số đó có 20 phán quyết không vi phạm
và 68 phán quyết vi phạm Trong số 68 phán quyết vi phạm, 45 phán quyết dẫn tới những kết quả thànhcông và 15 phán quyết dẫn tới những kết quả thành công không trọn vẹn Trong số 64 vụ kiện đã đượcgiải quyết hay được thừa nhận mà không cần phán quyết của GATT, 37 vụ kiện dẫn tới những kết quảhoàn toàn thoả mãn và 25 vụ kiện đã đạt được những kết quả không trọn vẹn Từ đó, thước đo thậntrọng nhất là tỷ lệ thành công của cơ chế giải quyết tranh chấp tại GATT là 102/207 vụ kiện, chiếm 49%.Nếu chỉ xem xét những vụ kiện với những kết quả đã được biết (139 vụ kiện) và loại bỏ những vụ kiệnvới những phán quyết không vi phạm thì tỷ lệ thành công là 60%
Hoạt động một vài năm đầu tiên của việc giải quyết tranh chấp tại WTO là có thể so sánh với tỷ lệthành công của hệ thống GATT, tuy nhiên tỷ lệ này đã thấp hơn so với GATT kể từ năm 1998 Cũng phảithừa nhận rằng con số và bản chất của những tranh chấp được đệ trình là khác nhau và rằng không phải
sự phân tích hoàn toàn đối sánh nào đều có thể thực hiện được Tuy nhiên, nên nhấn mạnh rằng nhậnthức thông thường xem WTO là cực kỳ hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp (đặc biệt là tươngquan với GATT) cần được kiểm chứng
Một diễn giải hợp lý sự suy giảm tính hiệu quả của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO kể từnăm 1998 là quan hệ mâu thuẫn giữa Mỹ và EU WTO đã phán xét 2 trong số những vụ kiện khó khăn
Trang 17nhất từ năm 1997, đó là chuối và hóc môn thịt bò Họ đã nhận được sự chấp thuận nửa vời của Liênminh Châu Âu về vụ tranh chấp chuối và sự không bằng lòng với vụ tranh chấp hóc môn thịt bò Nước
Mỹ đã dùng đến sự trừng phạt trong cả hai vụ kiện này Điều này đã làm mối quan hệ của Mỹ và EU xấu
đi đáng kể Ví dụ, vụ kiện tiếp theo là việc EU chống lại nước Mỹ về các công ty bán hàng ở nước ngoàiđược nhìn nhận rộng rãi là một vụ trả đũa Ngoài ra, theo các nhà đàm phán tại Geneva, cuộc thươnglượng chính trị thường bị ngừng lại trong suốt thủ tục của Ban hội thẩm và Ủy ban kháng án; việc tranhcãi chỉ bắt đầu diễn ra sau khi tất cả các thủ tục pháp luật đã được giải quyết Điều này không phải làcách tận dụng thời gian hiệu quả vì nó gây ra những sự trì hoãn đáng kể
Một câu hỏi liên quan đến khía cạnh hiệu quả là liệu WTO có ngăn cản được sự bùng nổ của cáccuộc chiến tranh thương mại Câu trả lời phụ thuộc vào cách mà người ta định nghĩa về các cuộc chiếntranh thương mại và những gì sẽ diễn ra khi không có WTO Như đã đề cập, cho đến nay nước Mỹ đãdùng đến hình thức trừng phạt trong hai cuộc tranh chấp với EU, đó là chuối và hóc môn Trong quá khứ,Ecuador cũng đã dùng cách trả đũa và sau đó là Canada Nếu xem các vụ kiện này như các cuộc chiếntranh thương mại, thì dĩ nhiên WTO không kìm hãm được các cuộc chiến này Tuy nhiên, trong mỗitrường hợp WTO đã chọn một trọng tài để xác định quy mô của các biện pháp trả đũa Điều này đã cóhiệu quả kiềm chế đối với hành vi của các bên
PHẦN B – TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO HIỆP ĐỊNH VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT
TRONG THƯƠNG MẠI TBT
I Giải quyết tranh chấp trong Hiệp định TBT
1 Mối quan hệ giữa DSU và TBT
Theo Điều 14.1, Hiệp định TBT yêu cầu giải quyết tranh chấp theo các thủ tục quy định tại cácĐiều XXII và XXIII của GATT 1994, được hoàn thiện và áp dụng thông qua Thỏa thuận về các quy tắc vàthủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp Giải quyết tranh chấp (DSU) của WTO.[2] Hệ thống giảiquyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp phát sinh theo các Hiệp định của WTO,trong đó bao gồm cả Hiệp định TBT, được liệt kê trong Phụ lục 1 của DSU (Điều 1.1 của DSU) TrongThỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU, những hiệp định nàyđược đề cập đến như những “hiệp định được điều chỉnh” Thông qua việc áp dụng cho tất cả các hiệpđịnh được điều chỉnh này, Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấpDSU cung cấp cho một hệ thống giải quyết tranh chấp thống nhất và đồng bộ
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, có những “thủ tục và quy tắc bổ sung, đặc biệt” về giảiquyết tranh chấp được quy định trong những hiệp định được điều chỉnh [hiệp định chuyên ngành] (Điều1.2 và Phụ lục 2 của Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU).Phụ lục 2 quy định tham chiếu đến các Điều 14.2 đến 14.4 và Phụ lục 2 của Hiệp định TBT Đây là
Trang 18những quy tắc và thủ tục cụ thể được tạo ra để giải quyết những điểm đặc thù trong các tranh chấp theoHiệp định TBT Những quy tắc và thủ tục này được ưu tiên áp dụng so với những quy tắc trong Thỏathuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU trong trường hợp có sự khácnhau giữa các quy tắc và thủ tục của DSU và các quy tắc, thủ tục bổ sung, đặc biệt (Điều 1.2 Thoả thuậnDSU) “Sự khác nhau” hoặc mâu thuẫn như vậy giữa Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnhviệc giải quyết tranh chấp DSU và các quy tắc đặc biệt chỉ tồn tại “khi các điều khoản của Thỏa thuận vềcác quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU và các quy tắc và thủ tục bổ sung hoặcđặc biệt của hiệp định được điều chỉnh không thể coi là bổ sung lẫn nhau” bởi vì chúng không thống nhấtvới nhau và nếu liên kết thành một điều khoản sẽ dẫn đến việc vi phạm điều khoản khác.[3] Chỉ trongtrường hợp đó và mức độ đó, các điều khoản bổ sung đặc biệt mới được áp dụng.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là một yếu tố trung tâm trong việc mang lại sự an toàn
và tính dự báo cho hệ thống thương mại đa biên (Điều 3.2 Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điềuchỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU) Mục đích của Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việcgiải quyết tranh chấp DSU là cung cấp một hệ thống nguyên tắc có định hướng và hiệu quả để giải quyếtnhững tranh chấp nảy sinh liên quan đến việc áp dụng các Hiệp định của WTO Hiệu quả đạt được thôngqua các điều khoản chi tiết về thủ tục và tiến trình thực hiện Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB), nơibao gồm đại diện của tất cả các thành viên WTO, chịu trách nhiệm thực thi Thỏa thuận về các quy tắc vàthủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU, có nghĩa là giám sát tổng thể quá trình giải quyết tranhchấp Cơ quan DSB có thẩm quyền thành lập các Ban hội thẩm, thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và
Cơ quan phúc thẩm, duy trì giám sát việc thực hiện những quyết định và khuyến nghị và cho phép đìnhchỉ các nghĩa vụ quy định tại các hiệp định được điều chỉnh
Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm chịu trách nhiệm xét xử các tranh chấp giữa các Thànhviên Ban hội thẩm bao gồm 3, cá biệt là 5 chuyên gia được lựa chọn dựa trên một cơ sở không địnhtrước Cơ quan phúc thẩm là một nhóm cố định gồm 7 chuyên gia về các vấn đề thương mại và luậtthương mại chịu trách nhiệm xem xét lại các khía cạnh pháp lý của các báo cáo do các Ban hội thẩmđưa ra Các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm phải được thông qua bởi Cơ quan DSB.Nguyên tắc chung là Cơ quan DSB sẽ đưa ra quyết định trên cơ sở đồng thuận, đây là nguyên tắc chungcho tất cả các quyết định được đưa ra trong khuôn khổ WTO.[4] Tuy nhiên, khi Cơ quan DSB thành lậpcác Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Cơ quan phúc thẩm và Ban hội thẩm và cho phép thực thi
phán quyết, DSB sẽ phê duyệt quyết định trừ khi sự đồng thuận chống lại việc đó (Điều 6.1, 16.4, 17.14
và 22.6 Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU) Thủ tục đưa raquyết định đặc biệt này thường được đề cập như là sự đồng thuận “phủ định” hoặc “ngược” Ở 3 giaiđoạn quan trọng của quá trình giải quyết tranh chấp (thành lập, thông qua và thực thi phán quyết), cơquan DSB sẽ tự động đưa ra quyết định hành động, trừ khi sự đồng thuận không đạt được để ra quyếtđịnh làm việc đó
Trong Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU, việc giảiquyết tranh chấp thông qua bàn bạc, thoả thuận được ưu tiên Đến nay, đa số các tranh chấp (khoảng2/3) trong WTO được xử lý thông qua tham vấn, hòa giải hoặc là do việc giải quyết đạt được thông quathương lượng hoặc do bên nguyên đơn quyết định không theo đuổi vấn đề xa hơn nữa Điều này chothấy việc tham vấn, hòa giải thường là biện pháp hữu hiệu trong giải quyết tranh chấp trong WTO và
Trang 19những công cụ xét xử và thực thi phán quyết trong hệ thống giải quyết tranh chấp không phải lúc nàocũng cần thiết.
Các điều khoản cụ thể của TBT về giải quyết tranh chấp được quy định trong các Điều 14.2 đến14.4 và Phụ lục 2 của Hiệp định TBT Tuy nhiên, đến nay, các điều khoản này vẫn chưa được sử dụng.Các Điều 14.2 và 14.3 và Phụ lục 2 quy định việc thành lập nhóm chuyên gia kỹ thuật và Điều 14.4 quyđịnh các quy tắc giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động của các tổ chức không phải là cơ quanchính phủ trung ương
2 Nhóm chuyên gia kỹ thuật
Điều 14.2 Hiệp định TBT quy định rằng, theo yêu cầu của một bên tranh chấp hoặc theo sángkiến của mình, Ban hội thẩm có thể thành lập một nhóm chuyên gia kỹ thuật để hỗ trợ trong các vấn đề
kỹ thuật thông qua báo cáo gửi cho Ban hội thẩm (xem Phụ lục 2, đoạn 6) Điều 14.2 viết: “Theo yêu cầucủa một bên tranh chấp, hoặc theo sáng kiến của mình, Ban hội thẩm sẽ thành lập một nhóm chuyên gia
kỹ thuật để giúp xem xét các vấn đề mang bản chất kỹ thuật, đòi hỏi có sự cân nhắc kỹ lưỡng của cácchuyên gia”
Hơn nữa, theo Điều 14.3, các quy trình thủ tục mà nhóm chuyên gia kỹ thuật phải tuân thủ đượcquy định trong Phụ lục 2 của Hiệp định TBT, và phần lớn là tương đồng với các điều khoản của Phụ lục 4Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU về “Các nhóm xem xétchuyên môn”
Có 3 sự khác biệt chính giữa thủ tục thành lập “Nhóm chuyên gia kỹ thuật”, theo Điều 14 và Phụlục 2 của Hiệp định TBT, và “Nhóm xem xét chuyên môn”, theo Điều 13 và Phụ lục 4 của Thỏa thuận vềcác quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU:
· phạm vi chuyên môn được quy định đối với nhóm DSU rộng hơn nhóm TBT: nhóm DSU baotrùm các vấn đề thực tế liên quan đến cả vấn đề khoa học và kỹ thuật, trong khi đó, nhóm TBTchỉ trợ giúp các vấn đề bản chất kỹ thuật đơn thuần;
· theo Điều 14 Hiệp định TBT, cả Thành viên và Ban hội thẩm có quyền yêu cầu thành lập mộtnhóm như vậy, trong khi theo Điều 13 của Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việcgiải quyết tranh chấp DSU, chỉ Ban hội thẩm mới có quyền yêu cầu; và
· phụ lục 4 của Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSU
đề cập đến một thực tế là báo cáo chỉ để “tham vấn” Không có sự ràng buộc này quy định trongHiệp định TBT
Phụ lục 2 của Hiệp định TBT chứa đựng một câu dẫn đề và 6 đoạn Câu dẫn đề đưa ra chỉ dẫntham khảo Điều 14 Hiệp định TBT, trong khi đó 6 đoạn sau đưa ra các vấn đề như: quyền hạn của Banhội thẩm đối với nhóm chuyên gia kỹ thuật (đoạn 1, Phụ lục 2); tiêu chí lựa chọn chuyên gia (đoạn 2 và 3,Phụ lục 2); cách thức chuyên gia tìm kiếm thông tin (đoạn 4, Phụ lục 2); xử lý thông tin mật (đoạn 5, Phụlục 2); và lưu chuyển báo cáo đến Thành viên và Ban hội thẩm (đoạn 6, Phụ lục 2)
3 Giải quyết tranh chấp và hoạt động của các cơ quan không phải là các cơ quan chính phủ trung ương
Trang 20Các Thành viên sẽ dựa vào hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO liên quan đến tất cả cácđiều khoản của Hiệp định TBT, kể cả các phụ lục của nó Tuy nhiên, Hiệp định TBT có nét đặc trưngriêng biệt, các Thành viên có những nghĩa vụ cụ thể đối với các cơ quan không phải là các cơ quanchính phủ trung ương Điều 14.4 quy định các điều kiện bắt đầu một quy trình giải quyết tranh chấp trongbối cảnh này và theo Chú thích 3 Điều 4.2 Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyếttranh chấp DSU, Điều 14.4 sẽ được ưu tiên.[5] Các điều kiện như sau:
· thành viên sẽ dựa vào Điều 14.4 để cân nhắc việc Thành viên khác chưa đạt được “kết quảthoả mãn” theo các Điều 3, 4, 7, 8 và 9 (ví dụ về việc áp dụng Hiệp định của các tổ chức phichính phủ và cơ quan chính quyền địa phương cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực);
· “kết quả thoả mãn” sẽ là “tương đương với những kết quả nếu như cơ quan dính líu là Thànhviên” (Điều 14.4); và
· các lợi ích thương mại của Thành viên theo Điều 14.4 bị ảnh hưởng đáng kể
Điều 22.9 của Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp DSUkhẳng định rằng hệ thống giải quyết tranh chấp có thể dựa vào những biện pháp được thực hiện bởi “cácchính phủ hoặc chính quyền khu vực hoặc địa phương trong phạm vi lãnh thổ của một Thành viên”.[6]
Khi một biện pháp được phát hiện là không thống nhất với một điều khoản của một hiệp định chuyênngành, Điều 22.9 quy định rằng Thành viên sẽ phải áp dụng “những biện pháp hợp lý phù hợp với nó” đểđảm bảo việc tuân thủ hiệp định chuyên ngành.[7] Đây là một ngoại lệ đối với nguyên tắc mà theo côngpháp quốc tế dựa trên phong tục tập quán, các quốc gia chịu trách nhiệm về những hoạt động của các
cơ quan trực thuộc chính phủ trong hệ thống quản lý của họ, bao gồm cả cấp khu vực và các cơ quantrực thuộc khác của chính phủ Tuy nhiên, Điều 22.9 cũng quy định rằng các điều khoản liên quan đếnbồi thường và đình chỉ nghĩa vụ sẽ được áp dụng đầy đủ khi nó chưa thể đảm bảo được việc tuân thủhiệp định chuyên ngành
II Các vụ tranh chấp liên quan tới TBT
Theo thống kê của WTO thì có 28 tranh chấp thương mại liên quan tới các vấn đề được điều chỉnh trong phạm vi của Hiệp định TBT
Các mục tiêu sau nhằm cung cấp cho các bên hướng dẫn về mỗi tranh chấp liên quan tới TBT
và tình trạng tranh chấp giữa các bên trong WTO Thông tin được cập nhật tới ngày 7/3/2007
1 Các tranh chấp chỉ dừng ở bước ban đầu (đưa ra yêu cầu tham vấn)
1.1 DS279, Ấn Độ - Hạn chế nhập khẩu theo Chính sách xuất nhập khẩu 2002 - 2007 (được điều chỉnh cả trong SPS)
Nguyên kháng : EC (9/1/2003)
Bị kháng: Ấn Độ
Bên thứ ba: Hoa Kỳ
Tóm tắt:
Vụ này liên quan tới việc hạn chế nhập khẩu do Ấn Độ đưa ra theo chính sách xuất nhập khẩu
2002 - 2007 của nước này Hạn chế nhập khẩu của Ấn Độ trong chính sách xuất nhập khẩu được thực
Trang 21hiện theo các điều chỉnh khác nhau của WTO, như Điều XX(b), (c) và (d) và Điều XXI của GATT EC chorằng sự điều chỉnh như vậy không hợp pháp theo một số Hiệp định của WTO Một số lượng lớn sảnphẩm đã được đưa ra bởi bên nguyên
Điều khoản liên quan:
GATT: (III, X, XI); Nông nghiệp: (4, 2); Đăng ký: (1, 2, 3); SPS: (2, 3, 5, 7, 8); TBT: (2)
đã ký hiệp ước song phương với một số Thành viên WTO và ban hành Quy định EC liên quan tới Thànhviên WTO khác, tạo thuận lợi cho các nước này với ưu đãi đặc biệt trong trường hợp này TheoArgentina, EC đã hành động trái với các quy định theo Điều 2.1 của Hiệp định TBT
Điều khoản liên quan:
TBT (2.1, 2.2, 2.4, 12.3); GATT (I:1, III:4)
Trang 22các cơ sở được chứng minh bởi các tổ chức chính phủ liên quan ở các nước này hoặc bởi Bộ Y tếArgentina và đáp ứng yêu cầu sản xuất và kiểm tra chất lượng của Cơ quan quản lý y tế quốc gia Liênquan tới các nước trong Phụ lục II, cơ sở sản xuất của những nước này phải được Bộ Y tế Argentinakiểm tra và chấp nhận trước khi xuất khẩu vào Argentina Ấn Độ cho rằng nước này không được đề cập
rõ ràng trong cả hai Phụ lục và rằng sự phân biệt đối xử này dẫn đến việc thiếu liên kết thị trường chodược phẩm của Ấn Độ vào Argentina Liên quan tới Hiệp định TBT, Ấn Độ xem xét rằng Nghị định nàytrái với Điều 5.1.1 của Hiệp định TBT và trái với các điều khoản MFN của Điều I và III của GATT Ấn Độcũng cho rằng Nghị định này trái với các điều khoản của Điều 5.2, Hiệp định TBT vì thế tạo ra các ràocản không cần thiết với thương mại quốc tế
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, III); TBT: (2.2, 5.1, 5.2, 12); Hiệp định WTO: (XVI:4)
vệ sinh, bao gồm cả việc kiểm tra và kiểm dịch, đối với việc nhập khẩu heo từ 110kg, được áp dụng đốivới cả heo nhập khẩu nhỏ hơn và heo trong nước
Theo Hoa Kỳ, việc áp dụng các biện pháp an toàn vệ sinh hạn chế với heo nhập khẩu lớn hơn làkhông rõ ràng và phân biệt đối xử và các biện pháp này được duy trì mà không có bằng chứng khoa họcthích đáng và không dựa trên đánh giá rủi ro; và 4) quy chuẩn kỹ thuật, không tạo ra các biện pháp antoàn vệ sinh, mà là một đánh giá; 5) và quy chuẩn kỹ thuật, không tạo ra các biện pháp an toàn vệ sinh,
áp dụng đối với lợn nhập khẩu chứ không phải lợn trong nước
Điều khoản liên quan:
GATT: (III, XI); SPS: (2 3, 5, 7 và 8); Nông nghiệp: (4); TBT: (2, 5)
Tình trạng:
Yêu cầu tham vấn Không yêu cầu Ban hội thẩm và cũng không có bất cứ giải quyết nào đượcthông báo
Trang 231.5 DS144, Hoa Kỳ - Các biện pháp cụ thể ảnh hưởng tới việc nhập khẩu gia súc, lợn và gạo từ Canada(cũng được điều chỉnh trong SPS)
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, III, V, XI và XXIV); SPS: (2, 3, 4, 5, 6, 13, Phụ lục B và C); TBT: (2, 3, 5 và 7); Nôngnghiệp: (4)
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, III, XI); SPS: (2, 3, 4, 5 và 6); TBT: (2)
Trang 24Vụ này liên quan tới các hạn chế đưa ra bởi Ủy ban Châu Âu thông qua Cumulative RecoverySystem (CRS), trong việc xác định thuế nhập khẩu đối với mặt hàng gạo có hiệu lực từ ngày 1/7/1997thông qua Quyết định số 703/97 ngày 18/4/1997.
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, II, III, VIII, XI); Hiệp định về trị giá hải quan: (1-7, 11 và Phụ lục I); Cấp phép: (1, 3);TBT: (2); SPS: (2); Nông nghiệp: (4)
30/4/1997 sẽ không thích hợp để nhập khẩu vào Hoa Kỳ tới khi Hoa Kỳ có thể có đảm bảo về an toàn sản phẩm” Theo EC, văn bản không đề cập tới lý do mà gia cầm và các sản phẩm từ gia cầm của EC bỗng chốc trở nên không thích hợp khi lưu thông trên thị trường Hoa Kỳ EC cho rằng lệnh cấm này không phù hợp với quy định của Hoa Kỳ theo GATT, Hiệp định SPS và Hiệp định TBT
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, III, V, X, XI); SPS: (2, 3, 4, 5, 8 và Phụ lục C); TBT: (2, 5)
Trang 25phạm GATT và Hiệp định TBT Bên cạnh đó, Philippines cho rằng việc áp dụng biện pháp ảnh hưởng tới lợi ích theo Hiệp định GATT
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, II, III, VIII, XI, X III); TBT: (2)
Điều khoản liên quan:
GATT: (III, XI); SPS: (2, 5, 8); TBT: (2, 5, 6); Nông nghiệp: (4)
Tình trạng:
Yêu cầu tham vấn Không yêu cầu Ban hội thẩm và cũng không có bất cứ giải quyết nào đượcthông báo
2 06 vụ tranh chấp có giải pháp thống nhất chung
2.1 DS232, Mexico – Các biện ảnh hưởng tới nhập khẩu diêm
vệ công nghiệp Mexico Chile cho rằng các biện pháp không thích hợp với các điều khoản WTO, bao gồm Điều 1, 2 và 5 của Hiệp định TBT
Trang 26Điều khoản liên quan:
GATT: (III: 4); TBT: (1, 2, 5); Cấp phép: (1, 3, 5)
Tình trạng:
Vào ngày 5/2/2004, tham vấn thành công tiếp theo giữa Chile và Mexico, Chile thông báo Giảipháp thống nhất chung cho DSB Chile cho rằng yêu cầu của mình đã được đáp ứng và chính thức rútyêu cầu tham vấn
2.2 DS210, Bỉ - Quản lý các biện pháp xây dựng thuế hải quan cho mặt hàng gạo
Kỳ và đánh các loại thuế quá mức thuế ràng buộc trái với Điều II của GATT Liên quan tới Hiệp định TBT,Hoa Kỳ cho rằng việc từ chối thừa nhận một số tiêu chuẩn ngành đã được chấp nhận rộng rãi liên quan tới việc phân loại gạo là trái với Điều 2, 3, 5, 6, 7 và 9 của Hiệp định TBT
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, II, VII, VIII, X, XI); Trị giá hải quan: (1 - 6, 7, 10, 14, 16 và Phụ lục 1); TBT: (2, 3, 5, 6, 7,9); Nông nghiệp: (4)
Tình trạng:
Vào ngày 22/1/2001, Hoa Kỳ yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Vào 12/3/2001, Ban hội thẩmđược thành lập 27/7/2001, Hoa Kỳ yêu cầu Ban hội thẩm đình chỉ công tác tới tận ngày 30/9/2001 theotham vấn tiếp tục giữa Hoa Kỳ và EC Vào 2/1/2002, sau khi gia hạn thêm thời gian kiểm tra biên bản củaBan hội thẩm, Hoa Kỳ đã thông báo cho DSB về Giải quyết thống nhất chung đối với vụ tranh chấp
2.3 DS151, Hoa Kỳ - Các biện pháp ảnh hưởng tới các sản phẩm dệt may (II)
Trang 27kết thị trường Hoa Kỳ như Canada được hưởng trước đây, trái với Hiệp định về dệt may của WTO Liên quan tới Hiệp định TBT, EC cho rằng yêu cầu của Hoa Kỳ về ghi dấu nguồn gốc xuất xứ tương đương với một quy chuẩn kỹ thuật như được xác định trong Phụ lục I của Hiệp định TBT và rằng quy định của Hoa Kỳ về nguồn gốc không đảm bảo đối xử tương đương như hàng hoá trong nước, như vậy, trái với Điều 2 Hiệp định TBT
Điều khoản liên quan:
Dệt may: (2.4, 4.2, 4.4); Quy định về xuất xứ: (2); TBT: (2); GATT: (III)
Giải pháp thống nhất chung đã được thông báo ngày 25/2/1998 Tuy nhiên, EC cho rằng Hoa Kỳ
đã không áp dụng cam kết của mình như được quy định trong thống nhất và đưa ra một vụ mới vào25/11/1998 (Xem DS151 ở trên)
2.5 DS20, Hàn Quốc – Các biện pháp liên quan tới nước đóng chai
Điều khoản liên quan:
Trang 28GATT: (III, XI); SPS: (2, 5); TBT: (2)
Tình trạng:
Giải pháp thống nhất chung đã được thông báo ngày 6/5/1996 Hàn Quốc nhất trí sửa đổi cácquy định để cho phép việc nhập khẩu, bán và phân phối nước đóng chai xử lý bằng ozone vào ngày1/1/1997 và để đảm bảo tính minh bạch của các thủ tục nhằm gia hạn cho nước đóng chai
2.6 DS5, Hàn Quốc – Các biện pháp liên quan tới hạn sử dụng của các sản phẩm
về nông nghiệp
Điều khoản liên quan:
GATT: (III, XI); TBT: (2); SPS: (2, 5); Nông nghiệp: (4)
Tình trạng:
Vào ngày 31/7/1995 hai bên đã thông báo Giải pháp thống nhất chung đối với vụ này
3 08 vụ tranh chấp có báo cáo của Ban hội thẩm
3.1 DS291, DS292, DS293, Ủy ban Châu Âu – Các biện pháp ảnh hưởng tới việc thông qua và lưu thông các sản phẩm công nghệ sinh học (cũng được điều chỉnh trong SPS)
Nguyên kháng: Hoa Kỳ (20/05/2003), Argentina (21/5/2003) và Canada (20/5/2003)
và không thông qua bất kỳ một đăng ký nào Thêm vào đó, nguyên kháng cho rằng một số nước thành viên EC đã cấm nhập khẩu và lưu thông các sản phẩm GMO bất chấp những sản phẩm này đã được ECthông qua
Ban hội thẩm thấy rằng EC đã áp dụng lệnh hoãn đặc biệt về việc thông qua các sản phẩm công nghệ sinh học giai đoạn từ 6/1999 và 8/2003 Ban hội thẩm vì thế thấy rằng, do áp dụng lệnh hoãn này,
EC đã hành động trái với các nghĩa vụ quy định bởi Phụ lục C(1)(a), đoạn 1, và Điều 8 của Hiệp định SPS do lệnh này dẫn đến trì hoãn trái phép việc hoàn tất quy trình thông qua của EC Tuy nhiên, Ban hội
Trang 29thẩm không cho rằng EC đã làm trái với một số quy định khác của Hiệp định SPS như cáo buộc Cuối cùng, Ban hội thẩm đưa ra quyết định EC đã làm trái với các nguyên tắc của Điều 5.1 và 2.2 của Hiệp định SPS, liên quan tới về biện pháp bảo hộ của các nước Thành viên EC
Với lý do luật pháp, Ban hội thẩm không xem xét đến Hiệp định TBT Tuy nhiên, Ban hội thẩm cho rằng một quy định được xem như một phần của quy chuẩn kỹ thuật, “sai lầm khi đánh giá theo Hiệp định TBT, mở rộng ra là không bao gồm biện pháp phi SPS” Ban hội thẩm cho rằng các biện pháp bảo
hộ không bao gồm bất kỳ biện pháp phi SPS nào
Điều khoản liên quan:
GATT: (III, XI); TBT: (2); SPS: (2, 5); Nông nghiệp: (4)
Tình trạng:
Báo cáo Ban hội thẩm đã được thông qua vào 21/11/2006 Tại cuộc họp của DSB ngày19/12/2006, EC đã thông báo dự định áp dụng các quy định và khuyến nghị trong Báo cáo hội thẩm Tuynhiên, EC đã yêu cầu giai đoạn phù hợp để áp dụng Giai đoạn này chưa được quy định
3.2 DS290, Ủy ban Châu Âu - Bảo vệ thương hiệu và chỉ dẫn địa lý của nông sản và thực phẩm
Nguyên kháng: Úc (DS290) (23/04/2003), Hoa Kỳ (DS174) (07/06/1999)
Bị kháng: EC
Bên thứ ba: Argentina, Australia (liên quan tới yêu cầu của Hoa Kỳ), Brazil, Canada, China, Colombia, Guatemala, India, Mexico, New Zealand, Chinese Taipei, Turkey và Hoa Kỳ (liên quantới yêu cầu của Australia)
Tóm tắt:
Úc cho rằng Quy định EC 2081/92 (quy định và áp dụng các nguyên tắc về việc bảo vệ các thiết
kế và chỉ dẫn địa lý đối với nông sản và thực phẩm, trừ rượu vang và rượu mạnh) đã không sử dụng đối
xử quốc gia liên quan tới chỉ dẫn địa lý và không bảo vệ hiệu quả đối với các thương hiệu đã có tương tựhoặc giống với các chỉ dẫn địa lý là trái với các điều khoản trong Hiệp định TRIPS Úc cũng cho rằng Quyđịnh EC là một quy chuẩn kỹ thuật trong phạm vi quy định của Phụ lục 1 Hiệp định TBT Theo Úc, biện pháp của EC không áp dụng đối với các sản phẩm tương tự có chung nguồn gốc và/hoặc các sản phẩm tương tự có nguồn gốc từ các nước khác, và/hoặc đã được xây dựng, chấp nhận và/hoặc áp dụng nhằmtạo ra các rào cản không cần thiết đối với thương mại, là cản trở thương mại hơn mức cần thiết để thực hiện mục tiêu pháp lý, có quan tâm tới rủi ro không thực hiện gây ra, trái với Điều 2.1 của Hiệp định TBT
Ban hội thẩm kết luận rằng Quy định GI của EC không sử dụng đối xử quốc gia cho các nhà sản xuất và sản phẩm của các nước thành viên WTO khác Mặt khác, Ban hội thẩm không nhận thấy có bất
kỳ điểm trái nguyên tắc với nghĩa vụ WTO liên quan tới hệ thống EC trong bảo hộ GI
Liên quan tới Điều 2.2 của Hiệp định TBT, Ban hội thẩm nhận thấy rằng yêu cầu kiểm tra trong Quy định không phải là một “quy chuẩn kỹ thuật” theo Phụ lục 1.1 của Hiệp định TBT Vì thế, Điều 2.2 là không thể áp dụng Tuy nhiên Ban hội thẩm thấy rằng yêu cầu ghi nhãn là một quy chuẩn kỹ thuật chiểu theo Phụ lục 1.1, nhưng Úc đã không chứng minh rằng việc đối xử đó thiếu ưu đãi như Điều 2.1
Điều khoản liên quan:
TRIPS: (2, 3, 4, 16, 22, 24, 41, 42, 63, 65); GATT: (III: 4, I); TBT: (2.1, 2.2)
Tình trạng:
Trang 30Báo cáo Ban hội thẩm đã được chấp nhận bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp vào 2/4/2005 Vàongày 9/6/2005, EC, Úc và Hoa Kỳ đã thông báo cho DSB rằng họ đã đạt được thống nhất liên quan tớithời gian áp dụng Báo cáo hội thẩm Thời gian áp dụng được quyết định là 11 tháng và 2 tuần, kết thúcvào 3/4/2006 Tại cuộc họp của Cơ quan giải quyết tranh chấp vào 21/4/2006, EC thông báo rằng mình
đã áp dụng đầy đủ khuyến nghị và quy định bằng cách chấp nhận quy định mới có hiệu lực vào31/3/2006 Úc và Mỹ đã không nhất trí và yêu cầu EC rà soát lại quy định theo góp ý của họ
3.3 DS72, EC - Biện pháp ảnh hưởng tới sản phẩm bơ
Nguyên kháng: New Zealand (03/04/1997)
Bị kháng: EC
Bên thứ ba: không có
Tóm tắt:
Vụ này liên quan tới đối xử về thuế của Ủy ban EC và Bộ thuế và hải quan của Anh đối với một
số sản phẩm bơ của New Zealand Cụ thể là, EC và Anh quyết định rằng sản phẩm bơ của New Zealandđược sản xuất bởi quy trình làm bơ Ammix và Spredable không đủ điều kiện để nhập khẩu, theo bản quyđịnh thuế đặc biệt đối với sản phẩm bơ áp dụng cho New Zealand trong Mục LXXX WTO của Ủy ban Châu Âu, do bơ sản xuất bởi các nhà sản xuất này không “được sản xuất trực tiếp từ sữa hoặc kem”, theo yêu cầu về hạn ngạch thuế
New Zealand phản đối việc đối xử về thuế này chiểu theo Điều II:1(b) và XI:1 GATT, Điều 2.2, 2.9, 2.11 và 2.12 của Hiệp định TBT và Điều 3.3 của Hiệp định cấp phép nhập khẩu New Zealand cũng phản đối việc hủy bỏ không vi phạm theo Điều XXIII:1(b) GATT
Điều khoản liên quan:
GATT: (II:1(b), X:1, XXIII:1(b)); TBT: 2.2, 2.9, 2.11, 2.12); Cấp phép: (3.3)
Tình trạng:
Ban hội thẩm ban hành báo cáo cuối cùng cho các bên vào 23/12/1998 Trước đây báo cáo cuốicùng đã được ban hành, tuy nhiên, New Zealand đã yêu cầu, theo Điều 12.12 DSU, rằng Ban hội thẩmkiểm tra công tác của mình trong vụ kiện này trong vòng một tháng Sau khi yêu cầu được nhất trí Banhội thẩm đã gia hạn thời gian, vào 11/11/1999, các bên đã thông báo cho DSB rằng họ đã đạt được Giảiquyết thống nhất chung Ban hội thẩm nhận thông báo về Giải quyết thống nhất chung, và theo Điều 12.7DSU, đã ban hành báo cáo bao gồm mô tả ngắn gọn về vụ này và chỉ ra rằng các bên đã đạt được Giảipháp thống nhất chung
3.4 DS7, DS12, DS14, EC – Mô tả thương mại sản phẩm sò
Nguyên kháng: Canada (DS7) (24/05/1995), Chile (DS12) (31/7/1995), Peru (DS14) (25/7/1995)
Bị kháng: EC
Bên thứ ba: Nhật Bản và Iceland
Tóm tắt:
Trang 31Vụ này liên quan tới tên chính thức và mô tả thương mại được phép cho sò ở Pháp Canada phản đối Lệnh của Pháp điều chỉnh vấn đề này theo Điều 2 của Hiệp định TBT và Điều I và III của Hiệp định GATT Tương tự như vậy, Chile và Peru phải đổi Lệnh này theo Điều 2 và 12 của Hiệp định TBT và Điều I và III của Hiệp định GATT
Điều khoản liên quan:
GATT: (I, III); TBT: (2, 12)
Tình trạng:
DSB thành lập Ban hội thẩm độc lập cho 3 nguyên kháng Ban hội thẩm ban hành báo cáo nội bộcho các bên vào 14/3/1996 Sau khi chấp nhận yêu cầu hoãn ban hành Báo cáo cuối cùng cho các bên,vào ngày 10/5/1996, theo Điều 12.12 của DSU, các bên đã yêu cầu Ban hội thẩm kiểm tra công tác củamình trong vụ kiện này do họ đã thông báo về Giải quyết thống nhất chung Giải pháp thống nhất chung.Sau đó, vào ngày 5/7/1996, theo Điều 3.6 của DSU, các bên đã thông báo cho DSB rằng họ đã đạt đượcGiải pháp thống nhất chung Ban hội thẩm nhận thông báo Giải pháp thống nhất chung và theo Điều 12.7của DSU, ban hành báo cáo bao gồm mô tả ngắn gọn về vụ này và chỉ ra rằng các bên đã đạt được Giảipháp thống nhất chung vào ngày 19/7/1996
4 04 vụ tranh chấp có báo cáo của Cơ quan phúc thẩm
4.1 DS135, EC – Các biện pháp ảnh hưởng tới amiăng và các sản phẩm chứa amiăng
Liên quan tới Hiệp định TBT, Canada cho rằng biện pháp của Pháp, xem như một quy chuẩn kỹ thuật, đã tạo ra rào cản không cần thiết cho thương mại quốc tế, trái với Điều 2.2 của Hiệp định TBT; không dựa trên tiêu chuẩn quốc tế phù hợp và hiệu quả, và cũng không phù hợp với chúng, trái với các quy định của Điều 2.4 trong Hiệp định TBT; không dựa trên các lệnh liên quan tới chrysotile và các sản phẩm có chứa chất này, trái với Điều 2.8 của Hiệp định TBT; và vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc của Điều 2.1 của Hiệp định TBT EC cho rằng biện pháp không có trong Hiệp định TBT và, trong bất kỳ trường hợp nào, phải phù hợp với các điều khoản liên quan của Hiệp định
đó
Canada cũng cho rằng biện pháp của Pháp không phù hợp với Điều XI và III: 4 của GATT Thêmvào đó, Canada yêu cầu rằng, khi Ban hội thẩm không thể tìm ra vi phạm về TBT và GATT, Ban hội thẩmquyết định rằng lợi ích của Canada theo các Hiệp định này bị hủy bỏ
Điều khoản liên quan:
TBT (1, 2); GATT (III, XI, XX, XXIII)
Tình trạng:
Trang 32Ban hội thẩm khẳng định rằng lệnh cấm được đưa ra dựa trên yếu tố sức khoẻ Cấm amiăng cóthể được duy trì vì lý do này Canada đã kháng cáo Báo cáo AB cho rằng lệnh cấm của Pháp không viphạm hiệp định WTO Ban hội thẩm và Báo cáo AB được chấp nhận
Kết luận chính:
- Định nghĩa “quy chuẩn kỹ thuật” trong Điều 1.1 TBT: Ban hội thẩm đã xem nghĩa gốc của thuậtngữ “quy chuẩn kỹ thuật” trong Điểm 1.1 của Hiệp định TBT, mục tiêu và mục đích của Hiệp địnhTBT, và văn bản liên quan và kết luận rằng một biện pháp được xem là một “quy chuẩn kỹ thuật”nếu (a) biện pháp đó ảnh hưởng tới một hoặc hơn một sản phẩm đưa ra; (b) biện pháp quy địnhđặc tính kỹ thuật của sản phẩm nhằm cho phép chúng lưu thông trên thị trường của nước Thànhviên sử dụng biện pháp đó; (c) phù hợp là bắt buộc Ban hội thẩm đã phân biệt giữa lệnh cấmchung trong quy định của Pháp và các miễn trừ, bao gồm cả cơ chế quản lý áp dụng các miễntrừ Ban hội thẩm đã thông báo rằng không có tham chiếu cụ thể trong Hiệp định TBT về lệnhcấm tổng thể, và rằng vẫn sẽ có lệnh cấm mặc dù mục đích của Hiệp định TBT là thông báo vềcác trường hợp phức tạp hơn một lệnh cấm vô điều kiện Ban hội thẩm vì thế thấy rằng không cóđiểm nào trong định nghĩa cho thấy rằng một lệnh cấm hoàn toàn tạo thành một “quy chuẩn kỹthuật” Trong điều kiện đó, thông báo rằng một biện pháp như lệnh cấm nêu trên vẫn phải điềuchỉnh theo các nguyên tắc của GATT Liên quan tới các miễn trừ, Ban hội thẩm thấy rằng nhữngmiễn trừ này liên quan tới đặc tính của một hoặc hơn một sản phẩm hoặc liên quan tới phươngthức xử lý hoặc sản xuất liên quan tới chúng và rằng việc phù hợp là bắt buộc Ban hội thẩm vìthế kết luận rằng việc miễn trừ đối với lệnh cấm amiăng nằm trong phạm vi của định nghĩa về
“quy chuẩn kỹ thuật” Tuy nhiên, do Canada không đưa ra yêu cầu cụ thể liên quan tới miễn trừđối với lệnh cấm, Ban hội thẩm kết luận rằng không cần thiết phải đưa ra kết luận về việc miễntrừ có phù hợp với các điều khoản của Hiệp định TBT Cơ quan phúc thẩm đảo ngược quyếtđịnh này và kết luận rằng biện pháp này là một “quy chuẩn kỹ thuật” Cơ quan phúc thẩm thôngbáo:
“ Đặc tính pháp lý của một biện pháp trong trường hợp này không thể được xác định trừ phi biệnpháp đó được kiểm tra hoàn toàn… phạm vi và tổng quát lệnh cấm này có thể được hiểu như là cácmiễn trừ, mặc dù trong một giai đoạn hạn chế, cho phép sử dụng các sản phẩm cụ thể có chứaamiăng và, theo nguyên tắc, các sản phẩm có chứa chrysotile asbestos fibres Vì thế, biện pháp nàykhông phải lệnh cấm hoàn toàn đối với asbestos fibres, vì nó cũng bao gồm cả các điều khoản chophép, trong một giai đoạn hạn chế, việc sử dụng amiăng trong những hoàn cảnh cụ thể Vì thế, đểđặc tính hoá biện pháp này thành một lệnh cấm chung, và kiểm tra nó như xem xét chung tính phứctạp của biện pháp này, bao gồm cả các yếu tố được phép và bị cấm Thêm vào đó, chúng tôi cũngxem xét rằng việc miễn trừ trong biện pháp này không có tầm quan trọng pháp lý khi thiếu các lệnhcấm Chúng tôi, vì thế, kết luận rằng biện pháp trong trường hợp này là để kiểm tra như một tổng thểhài hoà, có quan tâm tới, ở những nơi phù hợp, các yếu tố cấm và được phép trong đó” (đoạn 64) Xem xét xem liệu biện pháp của Pháp là một quy chuẩn kỹ thuật hay không, Cơ quan phúc thẩmkết luận 1) một biện pháp phải “quy định” tức là đưa ra quy định, đề ra nguyên tắc về “đặc tính sảnphẩm” “Đặc tính” của một sản phẩm bao gồm “mục tiêu có thể định nghĩa là ‘đặc điểm’, ‘chất lượng’,
‘thuộc tính’, hoặc ‘các dấu hiệu phân biệt khác’ như “cấu tạo, kích cỡ, hình dáng, màu sắc, cách dệt, độcứng, sức căng, tính chống cháy, dẫn suất, tính đậm đặc” của sản phẩm Thêm vào đó, dựa trên định
Trang 33nghĩa “thuật ngữ, biểu tượng, bao gói, ghi dấu hoặc ghi nhãn”, Cơ quan phúc thẩm cho rằng thuật ngữ
“đặc tính sản phẩm” bao gồm “các đặc tính liên quan” như cách xác định, cách trình bày sản phẩm (đoạn67); 2) rằng một biện pháp được xác định là “quy chuẩn kỹ thuật”, “phù hợp với” các đặc tính sản phẩmnày phải được xem là “bắt buộc” Vì thế, Cơ quan phúc thẩm cho rằng, “quy chuẩn kỹ thuật” phải có hiệuquả khi “quy định” một hoặc hơn một “đặc tính” Liên quan tới vấn đề này, Cơ quan phúc thẩm thông báorằng “đặc tính” có thể được hiểu theo cách “tích cực” và “tiêu cực” Đó là, các sản phẩm phải có các đặctính cụ thể, hoặc không được có các đặc tính cụ thể (đoạn 68-69); và 3) “quy chuẩn kỹ thuật” phải được
áp dụng cho sản phẩm “đồng nhất” hoặc một nhóm sản phẩm, trừ khi quy chuẩn không có hiệu lực (đoạn70) Cơ quan phúc thẩm kết luận rằng biện pháp của Pháp quy định các sản phẩm phải không chứaamiăng và bất kỳ sản phẩm nào có chứa chất này đều bị cấm Thêm vào đó, việc phù hợp với lệnh cấm
là bắt buộc Biện pháp vì thế đã trở thành “quy chuẩn kỹ thuật” theo như quy định của Điều 1.1 Hiệp địnhTBT Tuy nhiên, Cơ quan phúc thẩm cho rằng đã không có “cơ sở tương đương” dựa trên điều kiện hoànthành phân tích pháp lý của Ban hội thẩm và xác định xem liệu quy định của Hiệp định TBT có bị vi phạmhay không
- Vi phạm quy định đối xử quốc gia trong Điều II của GATT: Ban hội thẩm thấy rằng biện phápcủa Pháp được xem là “ít ưu đãi” cho amiăng và các sản phẩm có chứa chất này của Canadahơn “các sản phẩm tương tự” của Pháp và vì thế đã vi phạm Điều III:4 của GATT Cơ quan phúcthẩm bảo lưu quyết định của Ban hội thẩm rằng các sản phẩm đó là “tương tự” Vì thế kết luận viphạm Điều III:4 cũng được bảo lưu
- Điều XX GATT: Cả Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm thấy rằng việc vi phạm Điều III:4được quy định theo Điều XX của GATT do biện pháp của Pháp “cần thiết để bảo vệ … sức khoẻ
và đời sống con người” theo Điều XX(d), và biện pháp đó không vi phạm các quy định của ĐiềuXX
- Hủy bỏ: Trong cả hai ví dụ đều thấy rằng biện pháp của Pháp không tạo ra hủy bỏ không viphạm theo Điều XXIII:1(b) GATT, vì Canada có lý do để chặn trước lệnh cấm amiăng Tham vấn
Thời gian yêu cầu: 28/10/1998
Thời gian yêu cầu: 23/10/2000
Thời gian nộp báo cáo: 12/3/2001
Thời gian chấp nhận – Ban hội thẩm/báo cáo AB 05/04/2001
4.2 DS231, EC – Mô tả thương mại cá Sardines
Trang 34Nguyên kháng: Peru (23/04/201)
Bị kháng: EC
Bên thứ ba: Canada, Chile, Ecuador, Hoa Kỳ và Venezuela
Tóm tắt:
Quyết định của Ủy ban Châu Âu EC (EEC) số 2136/89 quy định rằng mô tả thương mại cá
“sardines” chỉ được sử dụng cho loại cá sardine có tên là Sardina pilchardus Walbaum và không dùng cho loại cá có tên là Sardinops sagax sagax Nói cách khác, chỉ những sản phẩm của loại này mới được ghi là “sardines” trên bao bì sản phẩm Sardina pilchardus được tìm thấy chủ yếu ở quanh vùng biển Đông bắc Atlantic, biển Địa Trung Hải và Biển Đen, và Sardinops sagax sinh sống chủ yếu ở vùng biển
Đông Thái Bình Dương dọc bờ biển Peru và Chile Tiêu chuẩn quốc tế cho cá sardine và các sản phẩm
từ sardine là Tiêu chuẩn Codex 94 được thông qua vào năm 1978 bởi Ủy ban Codex của Tổ chức nông lương Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế thế giới Tiêu chuẩn Codex 94 quy định rằng sardine đóng hộp hoặc các sản phẩm từ sardine đóng hộp phải được chế biến từ cá tươi hoặc đông lạnh trong danh mục
21 loại, bao gồm cả Sardina pilchardus và Sardinops sagax.
Peru yêu cầu Ban hội thẩm kết luận rằng biện pháp của EC là trái với: 1) Điều 2.4 của Hiệp định TBT vì EC đã không sử dụng tiêu chuẩn đặt tên được quy định trong đoạn 6.1.1(ii) của Tiêu chuẩn Codex 94 làm cơ sở cho Quy định của mình, mặc dầu rằng tiêu chuẩn là phương tiện phù hợp và hiệu quả để thực thi các mục tiêu pháp lý trong Quy định; 2) Điều 2.2 của Hiệp định TBT do hạn chế hơn mức cần thiết thương mại nhằm đạt được mục tiêu pháp lý là minh bạch thị trường mà EC theo đuổi; 3) Điều 2.1 của Hiệp định TBT vì đây là một quy chuẩn kỹ thuật mà theo đó các sản phẩm được chế biến từ cá
Sardinops sagax của Peru bị đối xử ít ưu đãi hơn các sản phẩm tương tự của Châu Âu chế biến từ Sardina pilchardus; và 4) Điều III:4 GATT vì đây là một yêu cầu ảnh hưởng tới việc chào hàng sardine
nhập khẩu của Peru chế biến từ Sardinops sagax và bị đối xử ít ưu đãi hơn các sản phẩm tương tự của
EC có nguồn gốc Sardina pilchardus
Điều khoản liên quan:
thương mại “sardine bảo quản” (sản phẩm chế biến từ Sardina pilchardus ) và “sản phẩm cùng loại
sardine” (sản phẩm được trình bày như sardine bảo quản và được chế biến từ loại cá đề cập cụ thể
trong Quy định, bao gồm cả Sardinops saga).
và Quy định EC bao gồm các điều khoản tương đương như những điều khoản trong Tiêu chuẩn Codex 94, Ban hội thẩm thấy rằng Tiêu chuẩn Codex 94 là một tiêu chuẩn quốc tế liên quan Banhội thẩm sau đó đã xem xét liệu tiêu chuẩn này có được sử dụng làm cơ sở cho Quy định EC hay không Ban hội thẩm kết luận rằng tiêu chuẩn quốc tế liên quan không được sử dụng làm cơ
sở cho Quy định EC vì quy định EC trái với tất cả 4 khả năng trong tiêu chuẩn đó Theo Ban hội thẩm, bất kỳ trích dẫn nào khác sẽ làm tiêu chuẩn quốc tế thành vô nghĩa Ban hội thẩm cũng thấy rằng tiêu chuẩn liên quan “không hiệu quả hoặc phù hợp” để thực thi các “mục tiêu pháp lý”
Trang 35trong Quy định EC (bảo vệ người tiêu dùng, minh bạch thị trường và cạnh tranh công bằng) Banhội thẩm thông báo rằng “không hiệu quả” có nghĩa là không có chức năng thực hiện mục tiêu pháp lý, trong khi đó “không phù hợp” nghĩa là không phù hợp để thực hiện mục tiêu pháp lý Ban hội thẩm cho rằng cụm từ “mục tiêu pháp lý theo đuổi” phải được trích dẫn trong phần văn bản của Điều 2.2, trong đó liệt kê ví dụ về các mục tiêu được xem là hợp pháp theo Hiệp định TBT Ban hội thẩm thông báo rằng ban không nhận được chứng minh người tiêu dùng ở “phần
lớn” các nước Thành viên EC đã quen với tên chung “sardines” dùng riêng cho Sardina
pilchardus và rằng việc sử dụng “X sardines” không cho phép người tiêu dùng Châu Âu phân biệt
giữa Sardina pilchardus và Sardinops sagax Vì thế không chứng minh được rằng Tiêu chuẩn
Codex 94 không hiệu quả và không phù hợp để thực hiện các mục tiêu pháp lý của Quy định EC.Ban hội thẩm cuối cùng đã quyết định rằng Quy định EC không phù hợp với Điều 2.4 của Hiệp định TBT Cơ quan phúc thẩm chấp nhận kết luận này
- Trách nhiệm dẫn chứng: Ban hội thẩm cũng đi đến kết luận rằng EC phải chứng minh rằng tiêu chuẩn quốc tế liên quan, Codex 94, là “không hiệu lực hoặc không hiệu quả” để thực hiện
“mục tiêu pháp lý” trong Quy định EC, vì nó là một phần của “xác nhận yêu cầu cụ thể hoặc chống đối” Ban hội thẩm thông báo rằng bên nguyên kháng đã phản đối như một cái cớ, và rằngbên nguyên kháng viện dẫn miễn trừ hoặc phản đối để chứng minh rằng họ đã đáp ứng được điều kiện đưa ra Theo Điều 2.4 của Hiệp định TBT, Ban hội thẩm cho rằng, Peru, là bên nguyên kháng, phải có trách nhiệm chỉ ra rằng tồn tại tiêu chuẩn quốc tế liên quan và rằng tiêu chuẩn này không được sử dụng làm cơ sở cho các quy chuẩn kỹ thuật trong trường hợp này Sau đó, nếu Ủy ban Châu Âu từ chối yêu cầu của Peru, thì Ủy ban phải khẳng định điều đó Ban hội thẩm
cho rằng bên nguyên kháng có thể không đứng trong vai trò xác định, các mục tiêu “pháp lý” của
bên kia theo đuổi là gì và đâu là yếu tố thể hiện tiêu chuẩn quốc tế không phù hợp Cơ quan phúc thẩm từ chối kết quả của Ban hội thẩm Cơ quan phúc thẩm lấy dẫn chứng từ quyết định trong vụ Hormones và kết luận rằng không có mối quan hệ “miễn trừ quy định chung” giữa các bên thứ nhất và thứ hai của Điều 2.4 Vì thế, với Peru, đây được xem như bên nguyên kháng tìmkiếm các quy định không phù hợp với Điều 2.4, để chứng minh cáo buộc của mình Việc này baogồm, thứ nhất, “khẳng định rằng Tiêu chuẩn Codex 4 không được sử dụng ‘làm cơ sở’ cho Quy định EC” và thứ hai, “khẳng định rằng Tiêu chuẩn Codex 94 hiệu quả và phù hợp để thực hiện
‘mục tiêu pháp lý’ của Ủy ban Châu Âu thông qua Quy định EC”
- Nghĩa vụ tiếp theo: Ban hội thẩm cũng kết luận rằng Điều 2.4 của Hiệp định TBT khẳng định rằng nghĩa vụ tiếp theo thuộc về các Thành viên để đánh giá lại các quy chuẩn kỹ thuật hiện hành của họ, liên quan tới việc chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế mới hoặc rà soát lại các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành Ban hội thẩm khẳng định rằng Điều 2.4 áp dụng đối với các quy định hiện hành
Thời gian nộp báo cáo: 29/05/2002
Thời gian chấp nhận – Ban hội thẩm/báo cáo AB: 23/10/2002.
Hạn thực thi: 01/07/2003
4.3 DS56, Argentina – Các biện pháp ảnh hưởng tới nhập khẩu giầy da, dệt may, quần áo
Nguyên kháng: Hoa Kỳ
Bị kháng: Argentina
Trang 36Bên thứ ba: Ủy ban Châu Âu; Hungary; Ấn Độ
Tóm tắt:
Ngày 4/10/1996, Hoa Kỳ đã yêu cầu một cuộc hội đàm với Argentina liên quan tới việc đánh thuếlên các mặt hàng vượt quá tỉ lệ giới hạn và các viện pháp khác của Argentina Hoa Kỳ cho rằng nhữngbiện pháp này đã vi phạm các khoản II, VIII và X của GATT 1994, khoản 2 của Hiệp định TBT, khoản 1đến 8 của Hiệp định về Thực thi điều khoản VII của GATT 1994, và khoản 7 của Hiệp định về hàng maymặc và Dệt may
Vào ngày 9/1/1997, Hoa Kỳ yêu cầu lập nên một Ban hội thẩm vào cuộc họp ngày 22/2/1997,DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban hội thẩm Với yêu cầu thành lập Ban hội thẩm lần thứ 2 của Hoa Kỳ,DSB đã thành lập một Ban hội thẩm vào ngày 25/2/1997 tại cuộc họp EC và Ấn Độ giành quyền bên thứ
3 Vào ngày 4/4/1997, Ban hội thẩm được thành lập Báo cáo của Ban hội thẩm được đưa ra vào ngày25/11/1997 Ban hội thẩm đã phát hiện ra mức thuế tối thiểu mà Argentina đánh vào hàng dệt may, quần
áo là trái với các yêu cấu của khoản II của GATT và mức thuế 3% theo giá hàng của Argentina đánh vàohàng nhập khẩu là trái với các yêu cầu của khoản VIII của GATT
Vào ngày 21/1/1998, Argentina thông báo ý định kháng án lại các vấn đề về luật và dịch thuậtcủa Ban hội thẩm đưa ra Bản báo cáo của bên nguyên được gửi tới các thành viên vào ngày 27/3/1998.Bên nguyên phản ứng lại với một số sửa đổi, phát hiện và kết luận của Ban hội thẩm
Báo cáo của bên nguyên và của Ban hội thẩm được sửa đổi và thông qua bởi DSB vào ngày22/4/1998
Điều khoản có liên quan:
GATT 1994 (II, VIII và X), TBT (2), Hiệp định về Thực thi điều khoản VII của GATT 1994 (1 đến 8)
và Hiệp định về hàng may mặc và Dệt may (7)
Tình trạng:
Tại cuộc họp của DSB vào ngày 22/6/1998 Argentina thông báo rằng họ đã đạt được một thoảthuận về việc thực thi với Hoa Kỳ, do đó Argentina giảm thuế tính theo số lượng xuống 0.5% vào ngày1/1/1999, và đưa ra mức thuế cho hàng dệt may và may mặc là 35% vào ngày 19/10/1998 Tại cuộc họpDSB vào ngày 26/5/1999 Argentina thông báo về Nghị định 108/99, theo đó không một giao dịch nhậpkhẩu nào mà phải chịu mức thuế tính theo số lượng sẽ bị đánh thuế khi vượt quá số lượng đã thoả thuậngiữa Argentina và Hoa Kỳ, và nó sẽ có hiệu lực vào ngày 30/5/1999
4.4 DS48, EC- Các biện pháp liên quan đến thịt và các sản phẩm thịt có chứa hoócmôn
Nguyên kháng: Canada
Bị kháng: Cộng đồng chung Châu Âu
Bên thứ ba: Úc; New Zealand, Na Uy, Hoa Kỳ
Tóm tắt
Vào ngày 28/6/1996, Canada yêu cầu tham vấn với EC về việc nhập khẩu động vật và thịt độngvật được xử lý bằng một số loại chất có chứa hormone theo Hiệp định GATT - Điều XXII và các điềukhoản tương ứng trong Hiệp định SPS, TBT và các Hiệp định Nông nghiệp Sự vi phạm Điều 2, 3, và 5
Trang 37Hiệp định SPS; Điều III hoặc XI Hiệp định GATT; Điều 2 Hiệp định TBT; và Điều 4 Hiệp định về Nôngnghiệp đã được viện dẫn Khiếu nại của Canada về bản chất cũng giống như khiếu nại của Mỹ(WT/DS26), trong vụ này Ban hội thẩm đã được thành lập sớm hơn
Vào ngày 16/9/1996, Canada đã đề nghị thành lập Ban hội thẩm Tại cuộc họp ngày 27/9/1996,DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban hội thẩm Ban hội thẩm đã được DSB thành lập sau lần yêu cầu thứhai của Canada vào cuộc họp ngày 16/10/1996 Ngày 4/11/1996, Ban hội thẩm đã được hình thành Báocáo của Ban hội thẩm được gửi đến các thành viên ngày 18/8/1997 Ban hội thẩm cho rằng, lệnh cấmcủa EC về nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt gia súc có chứa bất cứ một trong 6 loại hormones tăngtrưởng đã được quy định là không phù hợp với Điều 3.1, 5.1 và 5.5 của Hiệp định SPS
Ngày 24/9/1997, EC đã thông báo ý định kháng cáo về các vấn đề liên quan đến các lý lẽ vềpháp lý do Ban hội thẩm đưa ra Cơ quan Phúc thẩm đã xem xét kháng cáo với vụ WT/DS26 Báo cáocủa Cơ quan Phúc thẩm đã được chuyển đến các thành viên vào ngày 16/1/1998 Cơ quan Phúc thẩm
đã tán thành kết luận của Ban hội thẩm rằng lệnh cấm nhập khẩu của EC là không phù hợp với Điều 3.3
và 5.1 của Hiệp định SPS, nhưng thay đổi kết luận của Ban hội thẩm về việc lệnh cấm nhập khẩu của EC
là không phù hợp với Điều 3.1 và 5.5 của Hiệp định SPS Nhìn chung Cơ quan Phúc thẩm đã giữ nguyênbản tuyên án và kết luận của Ban hội thẩm, trừ các lý lẽ liên quan đến Hiệp định SPS
Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm và báo cáo của Ban hội thẩm được Cơ quan Phúc thẩm sửađổi, đã được DSB thông qua vào ngày 13/2/1998
Điều khoản có liên quan:
GATT (III, XI, XXII); SPS (2, 3, và 5); TBT (2) và Hiệp định về Nông nghiệp (4)
Tình trạng
Vào ngày 8/4/1998, bị cáo đã yêu cầu rằng “thời hạn hợp lý” để thực thi các khuyến nghị vàquyết định của DSB được xác định thông qua sự phân xử kết hợp, theo Điều 21.3(c) của DSU Trọng tàiphân xử đã cho rằng khoảng thời gian hợp lý để thực thi là 15 tháng kể từ thời điểm thông qua (nghĩa là
15 tháng kể từ ngày 13/2/1998) Báo cáo của trọng tài được chuyển cho các nước thành viên vào ngày29/5/1998
Thời gian thực thi được quy định là 15 tháng kể từ ngày thông qua báo cáo, nghĩa là nó sẽ hếthạn vào ngày 13/5/1999 EC cam kết tuân thủ các khuyến nghị của DSB trong khoảng thời gian trên Tạicuộc họp của DSB ngày 28/4/1999, EC đã thông báo với DSB rằng, nước này sẽ xem xét việc bồithường cho khả năng có thể họ không tuân thủ các khuyến nghị và quyết định của DSB tại thời điểmngày 13/5/1999
Ngày 3/6/1999, Hoa Kỳ và Canada yêu cầu DSB đòi EC bồi thường 202 triệu USD và tươngđương với 57 triệu đô Canada, tương ứng theo Điều 22.2 của DSU EC đã yêu cầu trọng tài vào cuộcxem xét mức phạt được đưa ra bởi Hoa Kỳ và Canada DSB đã chuyển vấn đề này cho Ban hội thẩm
Các trọng tài đã xác định mức thiệt hại của Hoa Kỳ tương ứng với 116.8 triệu USD, và củaCanada là 11.3 triệu đô Canada Báo cáo của trọng tài đã được lưu chuyển đến các nước thành viên vàongày 12/7/1999 Tại cuộc họp ngày 26/7/1999, DSB đã đồng ý mức bồi thường do trọng tài đưa ra tươngđương với mức thiệt hại mà họ phải gánh chịu
Trang 38Tại cuộc họp của DSB vào ngày 7/11/2003, EC đã tuyên bố rằng việc thực thi Chỉ thị mới(2003/74/EC) liên quan đến lệnh cấm sử dụng một số loại hormones trong chăn nuôi gia súc, không cóbất cứ một cơ sở hợp pháp nào cho việc tiếp tục áp đặt các biện pháp trả đũa của bởi Canada và HoaKỳ; một trong những lý do được Cơ quan Phúc thẩm đưa ra trong quyết định chống lại EC là việc thất bạitrong việc tiến hành đánh giá rủi ro theo Điều 5.1 và 5.2 của Hiệp định SPS; và đánh giá đó được tiếnhành bởi một ủy ban khoa học độc lập mà những kết luận của họ chỉ ra rằng hormones đang được đềcập có nguy hại đến người tiêu dùng, EC đã thực hiện nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ WTO và đượcquyền yêu cầu Canada và Hoa Kỳ dỡ bỏ ngay lập tức lệnh trừng phạt theo các Điều khoản 22.8 củaDSU Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng họ đã rà soát một cách kỹ lưỡng Chỉ thị mới của EC và không chia sẻ quanđiểm rằng EC đã thực thi các khuyến nghị và quyết định của DSB Biện pháp mới thiếu cơ sở khoa học
và như vậy không thể là phù hợp với Hiệp định SPS Trái ngược với khiếu nại của EC, một số các nghiêncứu đã chỉ ra rằng không tăng nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi tiêu dùng các sản phẩmthịt từ động vật có hormones kích thích tăng trưởng Trong trường hợp này, Hoa Kỳ không tán thành yêucầu của EC Canada nói rằng, trong khi nước này đã được chuẩn bị cho một cuộc tranh luận với EC vềvấn đề này, Canada nghi ngờ liệu các nghiên cứu mới có đưa ra bất cứ cơ sở khoa học nào không cholệnh cấm nhập khẩu thịt bò có chứa hormones, và cũng không tán thành yêu cầu của EC EC đã trả lờirằng trên cơ sở lập trường chống đối với Hoa Kỳ và Canada, nước này sẽ suy nghĩ về các hành độngthích hợp được cho là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của EC theo các Hiệp định của WTO
Tại cuộc họp DSB ngày 1/12/2003, EC cho rằng: do sự bất đồng ý kiến giữa các bên về vụ tranhchấp liên quan đến sự tuân thủ của EC đối với các khuyến nghị của DSB, nên vấn đề cần được chuyểnđến WTO để đưa ra quyết định mang tính nhiều bên; tình huống này giống với các vụ tranh chấp khác đãđược giải quyết trong quá khứ thông qua Điều 21.5 của DSU; Canada và Hoa Kỳ nên bắt đầu những thủtục nhằm xác định liệu EC có tuân thủ hay không; EC đã sẵn sàng để tranh luận về vấn đề này vớiCanada và Hoa Kỳ Canada cho rằng, mặc dù trong cuộc gặp mặt ngày 7 tháng 11 của DSB, Canada đãtrình bày đề xuất về việc trao đổi song phương liên quan đến tính hợp lý của quan điểm của EC trongviệc tuân thủ quyết định của WTO; EC đã không có phúc đáp cho đề xuất này; EC có trách nhiệm chứngminh rằng EC đã tuân thủ các quyết định của WTO; Canada tiếp tục đưa ra ý kiến kêu gọi EC trao đổi vềvấn đề này; tại thời điểm này, Canada không thấy có bất cứ lý do gì để dỡ bỏ các biện pháp trả đũa,cũng không mong muốn tiến hành bất cứ hành động nào khác Hoa Kỳ cho rằng: Hoa Kỳ đã không nhìnthấy khả năng biện pháp đã được sửa đổi của EC có thể được cân nhắc để thực thi các khuyến nghị củaDSB; liên quan đến khuyến nghị của EC rằng phiên tòa nhiều bên cần được mở ra để xác định liệu EC
có tuân thủ các phán quyết của WTO hay không, Hoa Kỳ cũng đã sẵn sàng để thảo luận vấn đề nàycùng với một số vấn đề nổi cộm khác liên quan đến lệnh cấm nhập khẩu thịt bò của Hoa Kỳ
III Trình tự giải quyết tranh chấp liên quan đến TBT đối với Việt Nam
Việc giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO nói chung và trong lĩnh vực TBT nóiriêng ở Việt Nam nhìn chung còn khá mới mẻ Trong thực tiễn, hiện nay việc giải quyết tranh chấp trongkhuôn khổ WTO ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và ápdụng các biện pháp tự vệ Việc giải quyết các vụ việc liên quan đến các lĩnh vực khác kể cả về TBT chưađược nghiên cứu và quy định cụ thể Tuy nhiên, Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg ngày 09/6/2005 của Thủtướng Chính phủ về việc chủ động phòng chống các vụ kiện thương mại nước ngoài đã đưa ra các
Trang 39nguyên tắc chung và các biện pháp cơ bản trong phòng ngừa và xử lý các tranh chấp phát sinh Dướiđây chúng ta xem xét cụ thể hơn các quy định này.
1 Giải quyết các tranh chấp liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ
Để giải quyết các tranh chấp liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ,Việt Nam đã có các văn bản pháp lý như:
- Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004;
- Pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27 tháng 4 năm 1999;
- Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam ngày 25 tháng 5 năm2002;
- Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngày 29 tháng 4 năm2004;
- Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngày 20 tháng 8 năm 2004;
- Nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điềucủa Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Quy trình và thủ tục giải quyết các tranh chấp liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng cácbiện pháp tự vệ được quy định trong Nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 quy định chitiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Cơ quanchịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp này là Cục Quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ Công Thương
Cục Quản lý cạnh tranh có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện quản lý nhànước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóanhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hộingành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợcấp và áp dụng các biện pháp tự vệ
a Quy trình xử lý vụ việc chống bán phá giá
Theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá 20/PL-UBTVQH11, một vụ việc điều tra và xử lýchống bán phá giá có thể được tiến hành qua bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thẩm định hồ sơ và ra quyết định điều tra;
Giai đoạn 2: Điều tra sơ bộ và ra kết luận điều tra sơ bộ;
Giai đoạn 3: Điều tra cuối cùng và ra kết luận cuối cùng;
Giai đoạn 4: Áp dụng biện pháp chống bán phá giá và tiến hành rà soát
Sau đây là sơ đồ giải quyết tranh chấp theo các giai đoạn nêu trên:
b Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Trang 40Khi cho rằng lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩuvào Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài, các cá nhân, tổ chức Việt Nam có thể nộp hồ sơ yêucầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá lên Cục Quản lý cạnh tranh Hồ sơ bao gồm:
- Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (Nội dung đơn được quy định chi tiết tạiĐiều 18 của Nghị định 90/2005/NĐ-CP)
- Các tài liệu, thông tin liên quan khác mà tổ chức, cá nhân yêu cầu áp dụng biện pháp chốngbán phá cho là cần thiết
Vụ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá do Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụviệc chống bán phá giá tiến hành Thời hạn và thủ tục chi tiết của từng giai đoạn được quy định cụ thểtrong Pháp lệnh chống bán phá giá và Nghị định 90/2005/NĐ-CP
Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá như sau: “Hội đồng xử lý
vụ việc chống bán phá giá gồm một số thành viên thường trực và một số thành viên khác làm việc theotừng vụ việc để xem xét các kết luận của cơ quan điều tra; thảo luận và quyết định theo đa số về việckhông có hoặc có bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể chongành sản xuất trong nước; kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định áp dụng thuế chống bánphá giá” (Điều 7 – khoản 2, điểm b – Pháp lệnh chống bán phá giá)
2 Giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến TBT
Căn cứ pháp lý của Việt Nam để giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến TBT hiện nay bao gồm:
- Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg ngày 09/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc chủ động phòngchống các vụ kiện thương mại nước ngoài;
- Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án triểnkhai thực hiện Hiệp định TBT;
- Quyết định số 07 ngày 20/3/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quy chế tổ chức
và hoạt động của Ban liên ngành về TBT
Mặc dù Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg nói trên có đưa ra các biện pháp và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại nước ngoài nói chung, kể cả về TBT, song vì vào thời điểm Việt Nam chưa phải là thành viên WTO nên các quy định này còn chung chung và chưa gắn kết với DSU của WTO Vì vậy, việcxây dựng một quy định của Việt Nam về quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến TBT là cần thiết Tuy nhiên, trong khuôn khổ tài liệu này một quy trình để tham khảo có thể như sau:
Giai đoạn 1: Các cơ quan, doanh nghiệp tiếp nhận thông tin về tranh chấp từ các đối tác thương
mại, từ các cơ quan chính phủ của các nước thành viên WTO hoặc các quy định của các nước thànhviên WTO khác và xác định mức độ ảnh hưởng đối với thương mại của Việt Nam
Giai đoạn 2: Các cơ quan, doanh nghiệp nghiên cứu và đề xuất ý kiến gửi Chính phủ, các Bộ,
địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp có liên quan và Ban liên ngành về TBT
Giai đoạn 3: Ban liên ngành về TBT tham mưu, tư vấn cho các cơ quan, hiệp hội, doanh nghiệp
có liên quan