Đồng thời thiết bị dạy học là một dụng cụ cực kỳ quan trọng, giúp cho học sinh hình dung được, nhìn thấy được các chi tiết nhỏ mà mắt thường không thể quan sát được như: Dùng tranh ảnh,
Trang 1
MỤC LỤC
Trang A PHẦN MỞ ĐẦU : 1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 3
3 Giới hạn của đề tài 3
4 Kế hoạch thực hiện 3
B PHẦN NỘI DUNG 1 Cơ sở lý luận 3
2 Cơ sở thực tiễn 4
3 Thực trạng 4
4 Các biện pháp giải quyết vấn đề 5
5 Hiệu quả áp dụng 13
C KẾT LUẬN
1 Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 13
2 Khả năng áp dụng 14
3 Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển 14
4 Đề xuất, kiến nghị 15
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Trang 2MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ THIẾT BỊ DẠY HỌC CỦA MÔN SINH HỌC
A PHẦN MỞ ĐẦU:
I Lí do chọn đề tài:
Cùng với các nước khác trên thế giới, Việt Nam đã và đang phát triển theo hướng Công nghiệp hoá Hiện đại hoá Muốn Công nghiệp hoá Hiện đại hoá đất nước thì điều không thể thiếu là phải nhanh chóng tiếp thu những thành tựu khoa học và kĩ thuật hiện đại của thế giới
Một đất nước phát triển đòi hỏi người lao động phải có phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu xã hội: có tinh thần trách nhiệm, phải năng động sáng tạo, có kĩ năng giao tiếp, đây cũng là vấn đề Đảng và nhà nước ta rất quan tâm Như Bộ trưởng Bộ giáo dục đã nói “quá trình đổi mới giáo dục gắn liền với sự phát triển của đất nước”
Vậy đổi mới giáo dục là gì? Đổi mới giáo dục tức là đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới theo phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Với phương pháp dạy học mới sẽ góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào thế
kỉ XXI, sống và làm việc trong một xã hội công nghiệp hiện đại
Chính vì vậy, đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi học hỏi đề ra những biện pháp tích cực trong quá trình giảng dạy nhằm đổi mới phương pháp dạy và học Giáo viên trở thành người tổ chức, thiết kế hoạt động, hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu nhằm phát huy tính tích cực, tư duy sáng tạo ở người học Bên cạnh nhiệm vụ trang bị những kiến thức và hiểu biết cần thiết, mỗi bộ môn ở trường phổ thông còn phải rèn luyện cho học sinh những kĩ năng trình bày một vấn đề nào đó trước nhiều người
Qua quá trình công tác giảng dạy trong những năm qua tôi nhận thấy rằng việc trực tiếp truyền thụ kiến thức thực cho học sinh, nhưng truyền đạt như thế nào cho các em dễ hiểu, dễ nhớ và tiếp thu bài một cách nhanh chóng và tự giác Nhất là bộ môn sinh học ở trường trung học cơ sở
là môn khoa học thực nghiệm, cho nên trong việc giảng dạy bộ môn sinh học thì nhất thiết đòi hỏi giáo viên phải sử dụng thiết bị dạy học để minh họa cho học sinh, từ đó học sinh chú ý làm việc một cách cao độ, mạnh dạn đưa ra nhiều vấn đề để tư duy, trao đổi, thảo luận về một khái niệm nào đó, làm cho học sinh linh hoạt hơn, khắc sâu kiến thức hơn và có ý thức tìm tòi sáng tạo Đồng thời thiết bị dạy học là một dụng cụ cực kỳ quan trọng, giúp cho học sinh hình dung được, nhìn thấy được các chi tiết nhỏ mà mắt thường không thể quan sát được như: (Dùng tranh ảnh, kính hiển vi, mô hình … để quan sát về tế bào thực vật, hạt phấn…) Do đó làm thế nào để cho các em yêu thích môn học này hơn? Muốn vậy theo phương pháp mới, giảng dạy bộ môn sinh học, người giáo viên nên hạn chế giải thích bằng lời, giảng suông trong giảng dạy, người giáo viên phải tạo ra cơ hội cho
Trang 3học sinh tiếp cận, gần gũi với thiết bị dạy học trong mỗi giờ học và sử dụng như thế nào, vào lúc nào là hợp lý
Người giáo viên sử dụng tốt thiết bị dạy học thì sẽ có tác động rất lớn đối với các em trong quá trình học tập và tự tìm tòi học hỏi, khắc sâu kiến thức, mở rộng hiểu biết về khoa học, từ đó hình thành cho học sinh quan điểm duy vật biện chứng và để theo kịp sự phát triển giáo dục như hiện nay
Là giáo viên môn sinh học tôi rất quan tâm đến vấn đề này Vì thế tôi
đi vào tìm hiểu đề tài: “Một số giải pháp sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học của môn sinh học”.
II Mục đích và phương pháp nghiên cứu:
1 Mục đích nghiên cứu
Trong đề tài này chúng ta sẽ cùng nhau tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng thiết bị dạy học Giúp giáo viên thấy được vai trò của việc sử dụng thiết bị dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
2 Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp điều tra thực tiễn
-Phương pháp nghiên cứu học sinh
-Phương pháp quan sát, tổng hợp, phân tích,
-Phương pháp thống kê
III Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
-Đề tài này nghiên cứu một số giải pháp sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học môn sinh học
-Học sinh khối 6, 7 và 9.
-Giáo viên giảng dạy bộ môn sinh ở trường trung học cơ sở Nguyễn Văn Đừng
IV Kế hoạch thực hiện:
Từ 15/08/2011 đến 01/03/2012
B PHẦN NỘI DUNG:
I Cơ sở lý luận :
Giáo dục ngày nay được xem là Quốc sách, nên đã được sự quan tâm của toàn xã hội Do đó việc đổi mới phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn giáo dục hiện nay Muốn làm được điều đó đòi hỏi mỗi tiết dạy phải có thiết bị dạy học phù hợp nhằm giúp học sinh tiếp cận nhanh kiến thức mới, giúp các em khắc sâu kiến thức hơn và bản thân học sinh cũng thích tìm tòi, khám phá kiến thức mới thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học một cách có hiệu quả mà giáo viên thể hiện
Trang 4Sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả thiết bị dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trí dục đã được sự quan tâm của ngành, do đó gần đây các trường đã được trang bị rất nhiều thiết bị dạy học Tuy nhiên việc
sử dụng những thiết bị dạy học ấy như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất còn phụ thuộc vào giáo viên đứng lớp
II Cơ sở thực tiễn :
Trường THCS Nguyễn Văn Đừng nằm ở ấp 2, xã Phong Mỹ, một xã
mà phần lớn học sinh thuộc vùng sâu (ấp 5, ấp 6, ấp 7), những học sinh vùng ven đã theo học các trường ở Thành Phố Cao Lãnh Phần lớn học sinh
là con em gia đình nông dân, nghề nghiệp sống chủ yếu là làm ruộng, một
số học sinh vừa đi học vừa đi làm tiếp gia đình nên việc nghỉ học thường xuyên là vấn đề khó tránh, nhất là tới vụ mùa các em nghỉ học nhiều nên khó theo kịp bạn dẫn đến lười học, hỏng kiến thức cơ bản Do đó đòi hỏi giáo viên phải có những phương pháp giáo dục phù hợp nhằm giúp các em thích thú hơn trong học tập; đồng thời dễ tiếp nhận kiến thức hơn Muốn có được điều đó thì việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học là một trong những giải pháp quan trọng
III Thực trạng :
1 Thuận lợi :
Như chúng ta đã biết, Sinh học là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tế đời sống, gần gũi với kinh nghiệm, hiểu biết của học sinh
Từ đó tạo ra sự kích thích trí tò mò khoa học và hứng thú học tập của học sinh Đặc biệt môn học này giúp các em mô tả được hình thái, cấu tạo cơ thể sinh vật thông qua các đại diện của các nhóm sinh vật trong mối quan
hệ với môi trường sống Vì thế, đây là thuận lợi rất tích cực trong việc thực hiện đề tài này
Ngày nay, với phương pháp dạy học mới Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã trang bị cho các trường nhiều thiết bị dạy học Nếu chúng ta không khai thác hết thì sẽ lảng phí tiền của và hy vọng của nhân dân
Một trong những thuận lợi khi thực hiện đề tài này là hầu như các tiết dạy môn sinh học đều có thiết bị dạy học; học sinh rất hăng hái, say mê môn học này Bên cạnh đó, là vùng nông thôn nên giáo viên cũng như học sinh dễ dàng tìm kiếm mẫu vật để phục vụ cho tiết dạy và học
2 Khó khăn :
Với phương pháp dạy học mới đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều, đặc biệt vơí những bài có thiết bị dạy học: Mẫu vật, mô hình hoặc tranh ảnh đòi hỏi học sinh tự nghiên cứu thảo luận nhóm để trình bày Nếu giáo viên thường xuyên tạo cho các em một thói quen làm việc thì sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở đây hầu như các giáo viên không phải tiết nào cũng thực hiện được Không làm được điều đó có nhiều lí do:
+Phương tiện, thiết bị dạy học không đầy đủ cho mọi tiết học, chỉ có một số bài có mẫu vật, mô hình, tranh ảnh
Trang 5+Nhiều bài dạy đòi hỏi phải có kinh phí.
Ví dụ: Muốn dạy những bài có mẫu vật: Cá, ếch, thỏ, hoặc chim,… Phải mua hoặc một số bài dạy không có mẫu vật , không có mô hình hoặc cũng không có tranh ảnh thì giáo viên phải tự vẽ hoặc in phim trong
+Một số giáo viên quen cách dạy chay nên sử dụng thiết bị dạy học còn lúng túng nên hiệu quả dạy chưa cao
+Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa triển khai triệt để các thiết bị dạy học
+Vì vậy, vẫn còn hạn chế ở một số bài không có thiết bị dạy học thì giáo viên phải đầu tư rất nhiều
IV Các biện pháp giải quyết vấn đề:
Sử dụng thiết bị day học đạt được các giá trị giáo dục sau:
+Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, do đó giúp học sinh học tập có hiệu quả
+Giúp học sinh tăng cường trí nhớ, làm cho việc học tập lâu bền +Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn xã hội và môi trường sống
+Giúp khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không thể tiếp cận được thành cái có thể tiếp cận được, khi sử dụng phim ảnh mô phỏng và các phương tiện tương tự
+Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh có thể phát triển các hoạt động học tập khác
+Giúp phát triển mối quan tâm về lĩnh vực học tập khác và khuyến khích học sinh tham gia chủ động vào quá trình học tập
Để sử dụng thiết bị có hiệu quả ta cũng cần phải lập kế hoạch sử
dụng thiết bị một cách khoa học logic.
Lựa chọn phương pháp sử dụng thiết bị dạy học:
+ Thiết bị dạy học đóng vai trò là nguồn cung cấp tri thức mới
+ Thiết bị dạy học đóng vai trò minh hoạ nội dung kiến thức mới + Thiết bị dạy học đóng vai trò kiểm tra kiến thức đã học
Người giáo viên phải biết lựa chọn những thiết bị dạy học phù
hợp cho mỗi tiết dạy:
Lựa chọn thiết bị dạy học: Căn cứ vào mục tiêu dạy học, nội dung
kiến thức trong sách giáo khoa, căn cứ vào điều kiện thời gian cho pháp, căn cứ vào điều kiện địa phương (cơ sở vật chất của nhà trường) và đặc biệt phải căn cứ vào chính loại thiết bị dạy học định chọn
Để phát huy tính năng động và hiếu kỳ của học sinh, người giáo viên đứng trên bục giảng phải thể hiện hết khả năng của mình về lối diễn đạt nội dung bài, có nghệ thuật thu hút học sinh đặc biệt là phải tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn học sinh bằng một phương pháp thủ thuật riêng của chuyên môn trong giảng dạy, chúng ta không thể giả thuyết ngay vào đầu học sinh mà phải đưa vấn đề vào tình huống, đi từ gần đến xa, từ dễ đến khó, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Đây chính là yếu tố quan trọng có liên
Trang 6quan đến việc giảng dạy bộ môn sinh học Do đó thiết bị dạy học không thể thiếu đối với người thầy khi lên lớp và đối với học sinh khi nghiên cứu vấn
đề Vì thế thiết bị dạy học chính là điều kiện, phương tiện để dạy và học môn sinh học ở các lớp trung học cơ sở, theo thực tế thiết bị dạy học có nhiều hình thức khác nhau
Chẳng hạn như: vật thể sống, loại hình tượng này luôn mang những đặc điểm thật sự, sống động về mọi hoạt động bình thường, màu sắc hình dáng, cách vận động riêng của nó, cho nên các hiện tượng và sự vật sống
có giá trị rất lớn trong công tác giảng dạy, nói chung là rất sinh động làm hứng thú việc học tập của học sinh, vì ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở nhất là đối với các em đầu cấp rất thích thú tìm tòi học hỏi, khi cần nhận biết vấn đề gì đó lúc nào cũng muốn rằng chính tận mắt mình chứng kiến
sự vật, hiện tượng xảy ra, hơn nữa đối với đối tượng của bộ môn sinh học thường là vật thể sống thể hiện rõ nét mọi hoạt động của chúng, nhất thiết trong giảng dạy bộ môn sinh học cần phải cho học sinh tiến hành quan sát thực hành nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh Ngược lại giáo viên chỉ
mô tả bài giảng bằng lời để dạy môn sinh học là rất khó, khó lĩnh hội kiến thức dù học sinh có hiểu bài nhưng cũng rất hạn chế Do đó thiết bị dạy học rất cần cho người giáo viên khi lên lớp và là một dụng cụ giảng dạy cực kì quan trọng, bởi vì thiết bị dạy học là một người bạn hỗ trợ đắc lực giúp giáo viên hoàn thành bài giảng một cách khoa học, hợp logic
Bộ môn sinh là môn khoa học chưa tiến đến sự chính xác như:
Toán học, Lý học mà thường là những kiến thức Sinh học đã được các nhà sinh học trải qua thời gian dài để nghiên cứu và khảo sát, sau đó đưa ra thực nghiệm, chứng minh, để từ đó rút ra được một vấn đề chung nhất Do
đó khi giảng dạy môn sinh học ở các lớp trung học cơ sở phải tiến hành thực nghiệm mới có khả năng thuyết phục được tính tưởng tượng của học sinh về vấn đề đó, đồng thời còn rèn luyện cho học sinh có thái độ đúng đắn về thao tác thực hành, chính vì vậy đối với học sinh thiết bị dạy học là một hình tượng sống động giúp các em có tinh thần thoải mái để tiếp thu tri thức, ngoài ra thiết bị dạy học là đối tượng tri giác thật hấp dẫn buộc các
em phải động não, suy nghĩ để giải đáp thắc mắc mà bản thân các em đặt
ra, thiết bị dạy học đã dẫn các em vào hoạt động học tập với sự tập trung cao độ, thậm chí đầu óc các em làm việc liên tục, căn thẳng mà các em không hề hay biết Như vậy các em đã đáp ứng được nhu cầu của giáo viên đối với việc tiếp thu bài của các em
Rõ ràng qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã thấy được tầm quan trọng của thiết bị dạy học, nhất là trong việc hình thành cho các em thao tác thực hành, đem hình ảnh sống động vào thực tế và có thể nói thiết bị dạy học là nhịp cầu bắt qua ngôn ngữ, giúp học sinh trung học cơ sở cảm thấy gần gũi và yêu thích bộ môn hơn
Tóm lại: Nội dung kiến thức của bộ môn sinh học bao giờ cũng đặt
quan sát, phân tích và tiến hành thí nghiệm lên hàng đầu, do đó thiết bị dạy học là một dụng cụ không thể thiếu đối với hoạt động dạy và học môn sinh học
Trang 7Môn sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, nên đồ thiết bị học
là những hình tượng, dụng cụ mà học sinh có thể nhìn thấy được, vì vậy nó rất đa dạng với nghiều hình thức khác nhau, thiết bị dạy học có thể được dùng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong tiết học, chủ yếu phải trình bày hợp
lí nội dung muốn truyền đạt cho học sinh và đòi hỏi sự thu hút được đối tượng cần truyền đạt Vì vậy thiết bị dạy học có rất nhiều loại được thể hiện
qua từng loại thiết bị dạy học như sau:
1 Mẫu vật:
1.1 Mẫu vật tươi sống:
Loại thiết bị dạy học này có giá trị sư phạm cao nhất, nó đảm bảo hình dạng, kích thước, màu sắc tự nhiên Trong thực tế không phải bao giờ củng
có sẵn các mẫu vật sống, mẫu vật tươi mà trong trường hợp này ta phải thay thế mẫu vật thật sống, tươi bằng các mẫu vật ngâm, ép…Tuy các mẫu vật này không có giá trị bằng các mẫu vật tươi sống, không giữ được các màu sắc tự nhiên, song đây vẫn là mẫu vật thật
Ví dụ: Khi dạy về cấu tạo của hoa, nếu có bông hoa thật thì chúng ta thấy rõ sự ảnh hưởng rất lớn về đồ dùng đối với việc tiếp thu bài của học sinh như: Các em biết được các bộ phận của bông hoa (Đài, tràng, nhị và nhuỵ Đài và tràng làm thành bao hoa bảo vệ nhị và nhuỵ Tràng gồm nhiều cánh hoa, màu sắc của cánh hoa khác nhau tuỳ loại Nhị có nhiều hạt phấn Nhuỵ có bầu chứa noãn…) Khi dạy về lá đơn, lá kép giáo viên cho học sinh tìm hiểu trên vật thật các em hiểu và phân biệt ngay từ đó giúp học sinh tinh tưởng vào kiến thức đã nghiên cứu… Khi dạy về cấu tạo của tim người giáo viên dùng quả tim lợn để gới thiệu các em sẻ nhận ra ngay về hình dáng, các ngăn tim, thấy được thành của tâm nào dày, tâm nào mỏng, van tim ở đâu, các ngăn tim thông với từng loại mạch nào?
1.2 Mẫu vật tự nhiên:
Đối với mẫu vật quá nhỏ có kích thước hiển vi, ngoài việc tổ chức cho học sinh xem kính ta phải dùng máy chiếu kính hiển vi để tăng độ phóng đại, tạo điều kiện cho cả lớp có thể quan sát cùng một lúc
Ví dụ: Quan sát cấu tạo của tế bào thực vật, quan sát lát cắt hay quan
sát các nguyên sinh vật hoặc các bộ phận của côn trùng, quan sát tế bào, các loại mô của động vật …
Tóm lại: Đối với những bài dạy có mẫu vật:
-Để dạy bài này giáo viên phải chuẩn bị mẫu vật cho tốt, phải nghiên
cứu tìm hiểu đặc điểm, cấu tạo, hình thái của sinh vật thật kết hợp hình sách giáo khoa cần dạy trước ở nhà
-Đối với bài dạy có mẫu vật nếu học sinh không tự chuẩn bị trước giáo viên có thể hướng dẫn hoặc chuẩn bị luôn cho các em (theo nhóm) -Dạy những bài này giáo viên nên sử dụng phương pháp quan sát và thảo luận nhóm
-Giáo viên lên kế hoạch tổ chức, thiết kế các hoạt động cụ thể cho học sinh:
Trang 8+Để giúp các em xác định rõ hoặc trình bày được đặc điểm mẫu vật
giáo viên nên kết hợp treo tranh hình sách giáo khoa (hoặc chiếu phim)
cho học sinh quan sát
+Sau khi yêu học sinh quan sát mẫu vật kết hợp hình vẽ giáo viên nêu câu hỏi : Yêu cầu học sinh thảo luận nhóm
+Giáo viên: Gọi một học sinh đại diện nhóm lên bảng vừa trả lời câu
hỏi vừa trình bày trên mẫu vật
+Giáo viên: Mời học sinh khác nhận xét Sau đó giáo viên nhận
xét, chốt lại
Lưu ý: Nếu học sinh trả lời tốt (đúng ý) thì giáo viên không cần nhắc
lại, giáo viên chỉ bổ sung chỗ còn thiếu và nhấn mạnh đặc điểm trọng
tâm, chốt lại đáp án câu hỏi.
Ví dụ:
Bài 13: CẤU TẠO NGOÀI CỦA THÂN ( Sinh học 6)
Mục I: Tìm hiểu cấu tạo ngoài của thân.
Ở bài này giáo viên yêu cầu mỗi nhóm (mỗi bàn) chuẩn bị mẫu vật
Có thể là một thân cây vú sữa
Để rèn luyện cho học sinh lớp 6 kĩ năng trình bày trên mẫu vật giáo
viên nhất thiết phải tổ chức, thiết kế hoạt động cụ thể cho học sinh làm
việc Hoạt động này có thể tiến hành như sau:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Yêu cầu học sinh đem mẫu thân cây lên
bàn để quan sát
- Treo tranh H.13.1 Yêu cầu học sinh
quan sát mẫu vật học sinh thảo luận nhóm
nhỏ Trả lời các câu hỏi sau:
? Thân mang những bộ phận nào ?
? Những điểm giống nhau giữa thân và
cành?
? Vị trí của chồi ngọn trên thân và cành ?
? Vị trí của chồi nách ?
? Chồi ngọn sẽ phát triển thành bộ phận
nào của cây ?
- Gọi đại diện một học sinh lên trình bày
trước lớp
- Nhận xét, chốt lại
- Đặt cây, cành lên bàn quan sát đối chiếu với hình 13.1 sách giáo khoa
-Quan sát
-Thảo luận câu hỏi Thống nhất ý kiến
-Học sinh mang cành của mình
đã quan sát lên trước lớp trình bày
Chỉ các bộ phận của thân -Học sinh khác theo dõi, nhận xét
2 Mô hình:
Dùng để thay thế hay bổ sung các mẫu vật tự nhiên đôi khi không có sẵn, hoặc lớn quá, nhỏ quá khó quan sát, mô hình có tác dụng phản ánh được
Trang 9cấu tạo, khái quát và hình dung được rõ ràng các cấu trúc không gian, so với kích thước của mẫu vật thật, sẽ khắc sâu được kiến thức cho các em
Ví dụ: Mô hình cấu trúc của “nhà máy” lá cây, các bộ phận của hoa Mô hình các loài động vật có xương sống như: cá chép, tôm, ếch nhái, gà, thỏ,
…Mô hình, cơ thể người, các giác quan,…Khi dạy về cấu tạo cơ thể người
ta dùng mô hình nữa cơ thể người để hướng dẫn các em nghiên cứu các hệ
cơ quan và vị trí của chúng trong cơ thể, giáo viên trình bày đến hệ cơ quan nào thì yêu cầu học sinh chỉ đến hệ cơ quan đó và vị trí của nó lúc đó học sinh củng nắm sơ lược về hình dáng, cấu tạo của từng cơ quan như: phổi, tim, dạ dày, thận,…
Tóm lại: Đối với những bài dạy có mô hình:
Nguyên tắc: Đảm bảo các nguyên tắc dạy học, phù hợp với nội dung
kiến thức, mô hình được đưa ra đúng lúc đúng cách; được đặt ở vị trí thuận lợi cho cả lớp quan sát
Với bài sử dụng mô hình giáo viên thiết kế, tổ chức tiết dạy theo các bước sau:
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên mô hình, nêu rõ mục tiêu của việc
quan sát hay thao tác với mô hình
Bước 2: Khai thác nội dung mô hình.
Đầu tiên nên yêu cầu học sinh quan sát kĩ mô hình ( Ra câu hỏi cho học sinh làm việc; làm sao để học sinh biết rõ họ phải làm gì? Họ phải làm như thế nào? Nên có câu hỏi định hướng cho học sinh mô tả hoặc thao tác với mô hình) Sau đó nhấn mạnh vào nội dung nào trên mô hình cần quan tâm để có câu hỏi tập trung chú ý hay giải thích cấu trúc mô hình; có thể yêu cầu học sinh tháo lắp từng bộ phận của mô hình để quan sát
Bước 3: Học sinh rút ra kết luận từ việc quan sát hay thao tác với mô
hình Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng trình bày trên mô hình
Chú ý: các loại mô hình dùng trong dạy học sinh học chỉ là mô phỏng lại có cấu trúc sinh học nên không hoàn toàn tuyệt đối đúng với kích thước thật, khi dạy học, giáo viên cần chỉ rõ để học sinh không hiểu sai kiến thức sinh học.
Ví dụ:
Tiết 15 – BÀI 15: ADN ( sinh học 9)
Mục I : Cấu trúc không gian của phân tử ADN
Mục tiêu: Học sinh mô tả được cấu trúc không gian của phân tử ADN.
Giáo viên: chuẩn bị mô hình phân tử ADN và tranh phóng to H.15 ( hoặc phim)
Qua bài học này giáo viên cũng góp phần rèn luyện cho học sinh kĩ năng trình bày trên mô hình bằng ngôn ngữ sinh học
Giáo viên tổ chức cho học sinh ho t đ ng nhóm.ạt động nhóm ộng nhóm
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-Giao cho mỗi nhóm một mô hình phân tử
ADN, Giới thiệu mô hình cấu trúc không
gian của phân tử ADN
-Treo hình vẽ 15 ( hoặc phim) Yêu cầu
-HS: nhận mô hình giáo viên giao
-Quan sát mô hình đối chiếu
Trang 10học sinh quan sát mô hình + kết hợp hình
vẽ SGK
? Mô tả cấu trúc không gian của phân tử
ADN?
- Gọi một học sinh lên bảng trình bày
trước lớp cấu trúc không gian của phân tử
ADN trên mô hình
-Nhận xét, chốt lại
-Yêu cầu học sinh tiếp tục quan sát mô
hình thực hiện lệnh
? Các loại nuclêôtíc nào giữa 2 mạch liên
kết với nhau thành cặp?
? Giả sử trình tự các đơn phân trên một
mạch ADN như sau:
-A-T-G-X-T-A-G-T-X-Trình tự các đơn phân trên đoạn mạch
tương ứng sẽ như thế nào?
- Gọi HS trả lời
- Nhận xét, chốt lại
hình vẽ Thảo luận nhóm, mô
tả được cấu trúc không gian phân tử ADN
-Lên bảng trình bày trên mô hình
Học sinh khác theo dõi Nhận xét, bổ sung
- Tiếp tục quan sát mâ hình+ hình
vẽ Trả lời câu hỏi
-Trả lời Học sinh khác nhận xét, bổ sung
3 Tranh vẽ - hình ảnh – phim chiếu:
Ở đây mô hình không cho phép đi sâu vào cấu tạo chi tiết, trong trường hợp này tranh vẽ, hình vẽ, phim chiếu tạo ra ưu thế hơn, mà lại có tranh phân tích cho phép đi sâu vào các chi tiết cần thiết, giúp cho học sinh có thể hiểu sâu sắc hơn về cấu tạo bên trong của đối tượng đang nghiên cứu, ngoài ra nó còn thay thế mẫu vật thật mà không tìm kiếm được
Ví dụ: Đối với cấu tạo và kích thước của tế bào, sự lớn lên và phân chia của tế bào, cấu tạo miền hút của rễ, các dạng của rễ, các dạng thân Đối với các loại mô của động vật, các cơ quan, các hệ cơ quan… Muốn học sinh hiểu bài được tốt thì giáo viên phải sử dụng hình ảnh, tranh vẽ hoặc phim chiếu cho học sinh quan sát, đồng thời rèn luyện cho học sinh kĩ năng vẽ mẫu vật thật hoặc tranh vẽ giống thật thì rất tốt, đôi khi cũng có nhiều phức tạp, có những chi tiết không cần thiết hay bài giảng không đề cặp đến, cần được lướt bỏ, mà chỉ tập trung vào cấu trúc và dấu hiệu cơ bản thì lúc này
ta có thể sử dụng các dụng cụ khác để kết hợp, đó là sơ đồ
Tóm lại: Đối với những bài dạy có tranh ảnh ( không có mẫu vật và
mô hình):
-Một số bài dạy không có mẫu vật không có mô hình nhưng có tranh ảnh thì giáo viên sử dụng tranh ảnh Nếu trong sách có hình vẽ mà thiết bị không có thì giáo viên có thể tự vẽ tranh hoặc photo phim trong
-Gíao viên yêu cầu học sinh về nhà tìm hiểu, quan sát trước hình vẽ
-Ở những bài này giáo viên cũng sử dụng kết hợp hai phương pháp : quan sát và hợp tác nhóm nhỏ Học sinh tự quan sát, thu thập thông tin để trình bày trên tranh ảnh
Trang