1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn một số GIẢI PHÁP GIÚP học SINH lớp 6 KHẮC PHỤC lỗi CHÍNH tả

17 792 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 130 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CAO LÃNH TRƯỜNG THCS NGUYỄN MINH TRÍ *******  ******* ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI : MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6 KHẮC PHỤC LỖI

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CAO LÃNH

TRƯỜNG THCS NGUYỄN MINH TRÍ

*******  *******

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI :

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 6

KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ

A/ PHẦN MỞ ĐẦU :

I/ Lí do chọn đề tài:

Chữ quốc ngữ là một nét đẹp trong văn hóa của người Việt Nam, gìn giữ và viết

đúng chính tả là giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc và còn là trách nhiệm của mỗi người Việt yêu nước, yêu sự trong sáng của tiếng Việt

Thực trạng viết sai chính tả đang là mối quan tâm của nhiều người, của cộng

đồng xã hội trong việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

Trong nhà trường hiện nay, nhiều học sinh viết sai chính tả Một bài văn của học sinh trung bình cũng như học sinh giỏi đều mắc lỗi chính tả Thậm chí một số học sinh không chú ý gì về lỗi chính tả khi làm bài, lâu ngày thành thói quen có hại khó sửa chữa được

Là một giáo viên dạy Ngữ văn nên tôi rất quan tâm đến việc phát hiện lỗi chính

tả trong nói và viết của học sinh và tìm nhiều giải pháp giúp các em khắc phục

Trang 2

Sau nhiều năm nghiên cứu, thực hiện, tôi đã tích lũy được một số giải pháp giúp học sinh lớp 6 khắc phục lỗi chính tả và đạt được những kết quả khả quan, muốn được chia sẻ với đồng nghiệp Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài này

II/ Mục đích và phương pháp nghiên cứu:

Từ thực trạng học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả , tôi đã thống kê, tìm hiểu

nguyên nhân Sau khi đã xác định nguyên nhân, tôi tìm những giải pháp tốt nhất nhằm giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả

Theo tôi, nguyên nhân có nhiều nhưng tập trung một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Do cách phát âm theo phương ngữ vì thông thường tiếng Việt phát âm như thế nào thì viết chữ thế ấy

- Do thường lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu như: S/X, D/V/GI

- Do không phân biệt các phụ âm cuối vì phát âm sai, nhầm lẫn như: N/NG, C/T, ĂN/ĂNG, ĂT/ĂC, ÂT/ÂC

- Do nhầm lẫn không phân biệt rõ hai thanh HỎI, NGÃ

- Do ít đọc sách, báo, tạp chí

- Do một số giáo viên chưa chú trọng đến việc chữa lỗi chính tả cho học sinh

Từ việc tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã thực hiện “ Một số giải pháp giúp học sinh lớp 6 khắc phục lỗi chính tà”, một trong những biện pháp tích cực giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn và các môn khác trong chương trình

Việc nghiên cứu của tôi dựa trên những lỗi chính tả phổ biến của học sinh lớp 6, sau đó thống kê, tham khảo, tìm một số mẹo chính tả cho từng loại lỗi để giúp học sinh cách khắc phục Mẹo chính tả mà tôi cung cấp cho học sinh là thành tựu của nhiều công trình nghiên cứu về chữa lỗi chính tả của các nhà ngôn ngữ học Đó là những mẹo vừa dễ nhớ lại vừa dễ làm phù hợp cho tất cả các đối tượng học sinh

III/ Giới hạn của đề tài:

Trang 3

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, mặc dù các thầy cô đã cố gắng khắc phục lỗi chính tả cho học sinh nhưng do thời lượng chương trình có hạn và ý thức rèn luyện chính tả trong học sinh chưa cao nên tình trạng viết sai chính tả của các em vẫn không giảm

Lỗi chính tả phổ biến trong học sinh hiện nay là: Lỗi về phụ âm đầu; lỗi về dấu thanh; lỗi về nguyên âm chính; lỗi về các âm cuối vần

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi chỉ giới hạn trong việc giúp học sinh lớp 6 một số giải pháp khắc phục lỗi chính tả phổ biến Cụ thể là:

- Cách phân biệt dấu hỏi và dấu ngã trong từ láy và từ Hán Việt.

- Cách phân biệt phụ âm đầu S và X.

Riêng việc hướng dẫn học sinh một số mẹo chính tả để viết đúng những phụ

âm đầu khác, viết đúng âm chính và âm cuối dễ mắc lỗi thì tôi không đưa vào nội dung

đề tài này vì chưa thống kê kết quả cụ thể

IV/ Kế hoạch thực hiện :

- Thống kê số bài viết tập làm văn, số lần kiểm tra các phân môn (Văn, tiếng Việt), số lần trả bài viết tập làm văn, số lần trả bài kiểm tra, số tiết học có bài tập viết chính tả ở lớp 6 để có kế hoạch, biện pháp giúp học sinh cách viết đúng tiếng Việt, khắc phục lỗi chính tả phổ biến thông qua các tiết trả bài, các tiết rèn chính tả từng học kỳ theo phân phối chương trình

- Cụ thể, số lần trả bài viết TLV, bài kiểm tra 1 tiết ( Văn, Tiếng Việt), số bài học rèn chính tả ( Theo PPCT) và số bài tập rèn chính tả ở các tiết Tiếng Việt - phần luyện tập (Theo SGK) Ngữ văn 6 như sau:

* Học kỳ I :

Phân môn Số lần trả bài

K.tra 1-2 tiết

Số tiết học Rèn chính tả

Số bài tập Rèn chính tả

Ghi chú

Trang 4

Tiếng Việt 1 02 07

* Học kỳ II :

Phân môn Số lần trả bài

K.tra 1-2 tiết

Số tiết học Rèn chính tả

Số bài tập Rèn chính tả

Ghi chú

- Thống kê các loại lỗi phổ biến của học sinh, cung cấp cho các em những kiến thức về chính tả, những mẹo về chính tả qua những tiết trả bài, các tiết rèn chính tả, các tiết học tự chọn từ đầu đến cuối năm học

- Thường xuyên theo dõi kết quả rèn luyện, khắc phục lỗi chính tả ở học sinh , kịp thời giúp đỡ học sinh khắc phục những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện

B/ PHẦN NỘI DUNG :

I/ Cơ sở lý luận :

- Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi mỗi khác Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung nhưng việc viết đúng chính tả trong học sinh hiện nay còn nhiều khó khăn, tồn tại mà mỗi giáo viên và học sinh cần phải nỗ lực để khắc phục

- Cái gọi là lỗi chính tả chẳng qua chỉ đụng chạm đến cái vỏ âm thanh ở một vài

điểm cá biệt mà thôi Còn toàn bộ các quan hệ về mọi mặt, quan hệ ngữ âm, quan hệ láy

âm, quan hệ ngữ nghĩa có thể nói là nguyên vẹn Chính vì vậy con đường chữa chính tả bằng mẹo là đóng góp thiết thực vào việc tiêu chuẩn hóa tiếng Việt và cải tiến giảng dạy theo phương châm khoa học, dân tộc và đại chúng Vận dụng mẹo chính tả là tiếp thu những thành tựu do khoa học ngôn ngữ đưa đến, chứ không phải do tài năng, sáng tạo cá

Trang 5

nhân Điều quan trọng là giáo viên dạy Ngữ văn có quan tâm đến thành tựu này hay không

và cách hướng dẫn học sinh biết, vận dụng mẹo luật này như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất khi nội dung này không được đưa vào chương trình

II/ Cơ sở thực tiễn:

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chữa lỗi chính tả của các nhà ngôn ngữ học Cách chữa lỗi thường nói đến là:

- Tập phát âm cho đúng

- Phân tích chính tả bằng phân tích, so sánh

- Cách học, cách “ nhớ từng chữ một”

- Cách sử dụng các mẹo luật chính tả

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh được học nhiều môn nhưng hầu như chỉ có giáo viên dạy Ngữ văn mới quan tâm đến việc chữa lỗi chính tả cho học sinh và trong đáp án các bài kiểm tra đều có yêu cầu về viết đúng chính tả

Nhìn chung, đa số giáo viên hiện nay thường vận dụng nhiều cách khác nhau nhằm khắc phục lỗi chính tả cho học sinh Tuy nhiên trên thực tế ít có giáo viên có kế hoạch cụ thể để giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách khoa học, thường xuyên, có

hệ thống Do đó hiệu quả đạt được không cao

Là giáo viên Ngữ văn đứng trước thực trạng học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân, tìm những giải pháp giúp học sinh khắc phục và đã thu được những kết quả nhất định

III/ Thực trạng và những mâu thuẫn :

- Tình trạng học sinh viết sai chính tả tại các trường phổ thông hiện nay là khá nhiều Nhiều em viết sai vì “ không biết viết thế nào cho đúng” Phần lớn các em viết sai chính tả nhiều là những học sinh có học lực yếu, kém

Trang 6

- Qua kiểm tra chất lượng vào đầu năm học, nhiều học sinh viết sai quá nhiều lổi chính tả do mất kiến thức chính tả từ tiểu học Thiếu kiến thức, thiếu sự rèn luyện, thiếu phương pháp để khắc phục nên các em viết sai chính tả là điều khó có thể tránh khỏi Thậm chí có em còn viết sai chính tả ngay cả họ và tên mình, viết sai chính tả tên văn bản trong giao tiếp như :

ĐƠN XIN NGHỈ HỌC thành : ĐƠN XINH NGHĨ HỌC

- Hiện nay, chương trình cấp I khá nặng, thời lượng dành cho môn chính tả lại ít, các em thường quan tâm đến các môn khác nhiều hơn Thầy cô cũng không có nhiều thời gian cho các em rèn chính tả Nhiều phụ huynh còn xem việc con mình có viết đúng chính

tả hay không là chuyện nhỏ Hoặc có người cho rằng “ Có nhiều môn học quan trọng hơn, viết đúng hay sai chính tả không nhằm nhò gì”

- Hiện nay thực trạng học sinh viết sai chính tả nhiều là phổ biến Nhiều học sinh viết chữ rõ ràng, sạch đẹp nhưng vẫn sai chính tả ở những từ đơn giản

- Đối với học sinh tiểu học, phân môn chính tả giúp các em hình thành năng lực

và thói quen viết đúng chính tả , nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt Thực trạng, học sinh tiểu học nói chung thường viết sai chính tả, nhất là lỗi dấu thanh, lỗi phụ âm đầu và âm cuối Hậu quả là lên lớp 6 vẫn còn một số học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả

- Giúp học sinh lớp đầu cấp THCS viết đúng chính tả là một thách thức, cũng là một nhiệm vụ không thể xem nhẹ của giáo viên Ngữ văn lớp 6 nói riêng, giáo viên bậc THCS, nói chung

- Thực tế, thời gian dành cho việc rèn luyện chính tả cho học sinh ở lớp 6 là rất ít ( chỉ có 3 tiết/ cả năm học) Do đó đòi hỏi giáo viên phải cố gắng, sáng tạo, tận dụng mọi thời giờ, mọi giải pháp để giúp học sinh khắc phục lỗi chính tả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

IV/ Các biện pháp giải quyết vấn đề :

Trang 7

Qua thống kê về lỗi chính tả của học sinh đầu năm lớp 6, tôi nhận thấy có ba loại lỗi phổ biến nhất trong bài làm của học sinh đó là:

1/ Lỗi về phụ âm đầu

2/ Lỗi về thanh điệu

3/ Lỗi về phụ âm cuối

Từ những lỗi phổ biến trên, tôi đã cố gắng cung cấp cho học sinh một số mẹo chính tả thông qua các tiết học như sau:

- Các tiết trả bài viết tập làm văn ( tổng cộng : 8 tiết )

- Các tiết trả bài kiểm tra Văn, Tiếng Việt ( tổng cộng : 4 tiết)

- Các tiết rèn chính tả theo PPCT ( tổng cộng : 3 tiết)

- Các tiết có bài luyện tập viết chính tả ( 13 tiết)

- Các tiết học tự chọn môn Ngữ văn 6 (20 tiết)

Trong các tiết học nói trên, đặc biệt là các tiết trả bài viết tập làm văn, trả bài kiểm tra Văn, kiểm tra tiếng Việt đầu tiên của năm học theo phân phối chương trình, tôi đã cung cấp cho học sinh những mẹo chính tả về lỗi mà nhiều em mắc phải Tôi cho các em ghi chép vắn tắt các mẹo chính tả, luyện tập vận dụng mẹo luật để viết đúng chính tả từng loại lỗi Tôi luôn theo dõi sự tiến bộ của học sinh, khuyến khích, biểu dương những cá nhân có sự tiến bộ trong rèn chính tả, luôn viết đúng, viết tốt, không sai chính tả; đồng thời nhắc nhở, động viên các em thường xuyên trau dồi chữ viết của mình Nhiều học sinh thích thú khi biết cách viết đúng chính tả, các em đã thực hiện các mẹo luật và thành công ngay lập tức

Trong những lần trả bài kiểm tra, sau khi hướng dẫn học sinh sửa chữa bài theo kiến thức phân môn, tôi đều dành thời gian cho học sinh sửa chữa lỗi chính tả Từ kết quả

ở bài làm của học sinh, tôi ghi lên bảng những từ mà các em viết sai chính tả phổ biến trong bài làm, sau đó tôi cho các em nêu cách chữa lỗi từ mẹo chính tả Mỗi lần như vậy là dịp giúp học sinh nhớ mẹo chính tả và vận dụng mẹo chính tả trong suốt năm học Lúc đầu

Trang 8

các em chưa quen, vận dụng chậm nhưng về sau các em vận dụng khá thành thạo Tôi khích lệ các em lập sổ tay chính tả để tiện sử dụng

Sau đây là những mẹo chính tả mà tôi đã hướng dẫn học sinh, giúp các em vận dụng để khắc phục lỗi chính tả khi viết

 Mẹo về dấu: Cách phân biệt hỏi và ngã:

Trong các lỗi chính tả thì phổ biến nhất là sự nhầm lẫn giữa dấu hỏi và dấu

ngã Đó là vì những người không phân biệt hỏi và ngã chiếm 2/3 dân số

Trong vốn từ vựng tiếng Việt, số lượng từ có dấu hỏi và ngã chiếm một bộ phận

to lớn Theo thống kê, tiếng Việt có khoảng 1900 từ mang thanh hỏi, 900 từ mang thanh ngã, tổng cộng có khoảng 2800 từ Đa số học sinh có sự nhầm lẫn qua lại giữa hai thanh này rất nhiều Vì thế việc cung cấp cho học sinh cách viết đúng chính tả về dấu hỏi và dấu ngã là một việc rất cần thiết đối với giáo viên, đặc biêt là giáo viên Ngữ văn

1/ Mẹo viết đúng dấu hỏi, dấu ngã đối với từ lá y :

Trong các từ láy tiếng Việt có quy luật bổng trầm Quy luật này có nghĩa là trong từ láy hai tiếng thì hai chữ này đều là bổng hay đều là trầm, chứ không có một chữ

thuộc hệ bổng hoặc thuộc hệ trầm

- Hệ bổng gồm : Hỏi - Sắc - Không ( không dấu- thanh ngang)

- Hệ trầm gồm : Huyền - Ngã - Nặng

Mẹo:

“ Chị Huyền mang Nặng Ngã đau

Anh Ngang Sắc thuốc Hỏi đau chỗ nào ”.

Mẹo này có nghĩa là gặp một chữ mà ta không biết nó là dấu hỏi hay dấu ngã

thì hãy tạo một từ láy âm Nếu chữ láy âm với nó là dấu sắc, dấu không hay dấu hỏi thì

nó sẽ là dấu hỏi Trái lại, nếu chữ kia là dấu huyền, dấu nặng, hay dấu ngã thì nó sẽ là dấu ngã.

Ví dụ : Về hệ bổng

- Huyền – Ngã : sẵn sàng, lững lờ, não nùng, dỗ dành, dễ dàng

Trang 9

- Nặng – Ngã : rộng rãi, rộn rã, nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ

- Ngã – Ngã : dễ dãi, nhõng nhẽo, lỗ lã, lõa xõa, nhũng nhiễu

Ví dụ : Về hệ trầm

- Ngang – Hỏi : nho nhỏ, vui vẻ, trong trẻo, ngơ ngẩn, đảm đang

- Sắc – Hỏi : nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ, sáng sủa

- Hỏi – Hỏi : lỏng lẻo, đủng đỉnh, thỏ thẻ, hổn hển, lửng thửng

Có một số ngoại lệ thực sự là : se sẽ, ngoan ngoãn, vỏn vẹn, khe khẽ.

2/ Các từ thuần Việt khởi đầu bằng nguyên âm thì viết dấu hỏi :

Ví dụ : ủ phân, ở nhà, ửng hồng, ẩm ướt, ẩu tả

3/ Các từ gộp âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu ngả:

Ví dụ :

Ảnh ( anh+ấy) Cổ (cô+ấy)

Bả (bà+ấy) Chỉ(chị+ấy)

(bữa) hổm (ở) trỏng, trển, bển

Chửa (chưa+có)

4/ Đối với từ Hán Việt:

*MẸO :

“ Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã ”

( Chú ý các phụ âm đầu là : M – N – Nh – V – L – D - Ng )

* LUẬT :

Với các từ Hán Việt, những từ có âm đầu là : M – N – Nh – V – L -D - Ng thì

viết là dấu ngã

Ví dụ:

- M (mình) : mĩ mãm, mã lực, mãnh hổ, mẫu số, mãn khóa .

- N(nên) : truy nã, trí não, nỗ lực, nữ giới, nam nữ .

- Nh (nhớ) : nhẫn nại, nhũng nhiễu, thạch nhũ, nhiễm độc, nhãn hiệu

- V(viết) : vũ lực, vĩnh viễn, vĩ tuyến, vãng lai, hùng vĩ .

Trang 10

- L(là) : phụ lão, nguyệt liễm, kết liễu, lữ khách, lẫm liệt .

- D(dấu) : dã man, hướng dẫn, dũng cảm, dưỡng sinh, dĩ nhiên .

- Ng (ngã) : ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghĩa vụ, hàng ngũ, ngũ sắc .

Ngoại lệ: ngải ( ngải cứu – tên một cây thuốc )

* Ngoài bảy âm đầu trên, các từ Hán Việt còn lại đều viết dấu hỏi.

Ví dụ:

- ảo ảnh, ảm đạm, ẩm thực, ẩu đả, ẩn hiện

- chủ trương, chủ nhật, chủng tộc, chẩn bệnh

- học giả, giảng giải, giản dị, gia giảm, gia phả

- khả ái, khởi nghĩa, khảng khái, khử trùng, khởi xướng

- kỉ niệm, ích kỉ, kết quả, phản bội, phát triển

- thủ đô, thưởng thức, thải hồi, thử thách

- ỷ lại, yên ổn, ủng hộ, ủy ban, ủy lạo

- xả thân, xử sự, xử trảm

* Ngoại lệ:

- bãi : (bỏ) bãi khóa - bĩ : (đen) bĩ cực

- cữu: (hòm) linh cữu - cưỡng : (ép) cưỡng ép

- đãng: (buông) phóng đãng - tiễu: (diệt) tiễu phỉ

- đãng: (đường thênh thang) quang đãng

- hãm : (hại) giam hãm - hoãn : ( chậm) trì hoãn

- hỗ: (cùng) hỗ tương - hỗn : (loạn) hỗn hợp

- huyễn : (mê) huyễn hoặc - hữu : (có), hữu : (bạn)

- kĩ : (tài) kĩ thuật, kĩ xảo, - kĩ : (hát) kĩ nữ

- phẫu : (mổ) giải phẫu - hoãn: (chậm) trì hoãn

- tiễn : (đưa) tiễn biệt - tuẫn : (chết) tuẫn nạn

- tiễn : ( làm) thực tiễn - trĩ : ( trẻ) ấu trĩ

Ngày đăng: 27/12/2015, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w