1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

câu hỏi ôn tập về tiếp cận thị trường

15 3,6K 31

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 54,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có hàng rào phi thuế quan đối với tiếp cận hàng hóa cũng như dịchvụ, có thể một trong các hình thức:  Hàng rào kỹ thuật trong thương mại hàng hóa và các biện pháp kiểm dịc

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP VỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG

Câu 1: Tiếp cận thị trường là gì? Các loại biện pháp nào có thể cản trở hoặc hạn chế hàng hoá tiếp cận thị trường?

Tiếp cận thị trường là một trong các nguyên tắc pháp lý của WTO thể hiện tự do

hóa thương mại, trong đó:

Nguyên tắc tiếp cận thị trường (viết tắt là “MA”) là nguyên tắc cốt lõi của luật

WTO Thực vậy, như nêu tại đoạn 3 Lời nói đầu của Hiệp định WTO, “việc giảm đáng

kể thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại” là một trong hai biện pháp để đạt được các mục tiêu của WTO về mức sống cao hơn, có đầy đủ việc làm, tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Đoạn trong Lời nói đầu cũng xác định hai loại rào cản đối với thương mại quốc tế, đó là “thuế quan” và “rào cản phi thuế quan”(“NTBs”)

Nguyên tắc “mở cửa thị trường” hay còn gọi là “tiếp cận thị trường” (market access) thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài vào Trong thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu

mở cửa

Về mặt chính trị, “tiếp cận thị trường” thể hiện nguyên tắc tự do hóa thương mại của WTO, về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà nước này đã chấp thuận khi đàm phán gia nhập WTO

Các loại biện pháp nào có thể cản trở hoặc hạn chế hàng hoá tiếp cận thị

trường

Biện pháp có thể cản trở hoặc hạn chế hàng hóa tiếp cận thị trường có thể kể đến rào cản thuế quan, biện pháp hạn ngạch thuế quan - hạn chế số lượng và các hàng rào phi thuế quan khác:

1 Thuế quan là rào cản thông thường nhất đối với tiếp cận thị trường trong lĩnh vực hàng hóa

2 Hạn ngạch thuế quan (hạn chế số lượng hàng hóa nhập khẩu được hưởng mức thuế

quan nhất định) quy định này không bị cấm bởi quy định của GATT tại Điều XIII

có thể áp dụng đối với Hạn ngạch thuế quan

Hạn chế số lượng hàng hóa tiếp cận thị trường là biện pháp cản trở bị cấm theo

quy định Điều XI GATT 1994.

Trang 2

3 Ngoài ra, còn có hàng rào phi thuế quan đối với tiếp cận hàng hóa cũng như dịch

vụ, có thể một trong các hình thức:

 Hàng rào kỹ thuật trong thương mại hàng hóa và các biện pháp kiểm dịch động – thực vật;

 Tính thiếu minh bạch của các quy định trong nước

 Áp dụng các quy định thương mại trong nước không công bằng và thủ tục hải quan không tạo thuận lợi trong thương mại

Câu 2: GATT 1994 nhìn nhận như thế nào về thuế quan? Nguyên tắc của các đàm phán thuế quan? Nguyên tắc có đi có lại trong đàm phán thuế quan là gì?

GATT 1994 nhìn nhận về thuế quan:

Thuế quan là loại thuế được áp dụng tại cửa khẩu đối với hàng hóa dịch chuyển từ

lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác (Điều I GATT) Thường là thuế nhập

khẩu nhưng cũng có một số nước thành viên WTO áp dụng thuế xuất khẩu Mặc dù vậy thì mối quan tâm GATT/WTO vẫn là thuế nhập khẩu Thuế quan không là thuế nội địa cũng không là phí, lệ phí nhập khẩu

Thuế quan được tính theo ba cách cơ bản: tính theo giá trị (dựa trên cơ sở giá trị hàng hóa), tính theo lượng (số lượng, thể tích, trọng lượng hàng nhập khẩu), kết hợp cả lượng và giá trị Thông thường thuế quan được quy định dưới hình thức thuế suất giá trị hàng hóa Thuế quan sẽ tạo lợi thế về giá cho các sản phẩm nội địa cùng loại và là một nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước

GATT thừa nhận rằng thuế quan là rào cản đối với thương mại quốc tế

Nguyên tắc của các đàm phán thuế quan:

Các bên ký kết thừa nhận rằng thuế quan thường vẫn là trở ngại lớn với thương mại; do vậy các cuộc đàm phán nhằm giảm đáng kể mức chung của thuế quan và thuế hay khoản thu khác đánh vào hàng nhập khẩu hay xuất khẩu, đặc biệt nhằm giảm các khoản thuế quan có suất thuế cao đến triệt tiêu nhập khẩu dù số lượng nhỏ, và tiến hành

có tính toán đúng mức đến mục tiêu của Hiệp định này cũng như các nhu cầu khác nhau của mỗi bên ký kết, chúng sẽ có tầm quan trọng lớn với việc mở rộng thương mại quốc

tế Do vậy, Các Bên Ký Kết có thể tổ chức những đợt đàm phán như vậy theo từng thời kỳ

Các nguyên tắc điều chỉnh đàm phán thuế quan:

 Nguyên tắc có đi có lại và dành ưu đãi cho nhau;

Trang 3

Nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc theo Điều I GATT 1994.

Không phân biệt đối xử đối với tất cả các nước, đối xử với nước khác theo quy chế tối huệ quốc về mặt thuế quan; những trường hợp ngoại lệ rất hạn chế và được quy định chặt chẽ

Ổn định những quyền thuế quan, những biểu thuế hay những hạn chế tương tự; không được vượt mức quy định năm 1974, để giảm đến mức tối thiểu những sự hạn chế mậu dịch tự do

Nguyên tắc có đi có lại trong đàm phán thuế quan

Nguyên tắc “có đi có lại và cùng có lại” là nguyên tắc đầu tiên và cơ bản của việc đàm phán giảm thuế quan

Nội dung của nguyên tắc có đi có lại: Một nước quyết định mở cửa thị trường của mình (hạ thuế nhập khẩu, bỏ bớt các quy định đối với hàng nhập) có quyền đòi hỏi các thành viên khác có những nhượng bộ tương tự

Tuy nhiên, có ngoại lệ cho nguyên tắc “có đi có lại này” Ngoại lệ nảy sinh trong trường hợp đàm phán về thuế quan giữa một bên là thành viên DCs và bên kia là thành

viên phát triển Khoản 8 Điều XXXVI của Phần IV (Thương mại và phát triển) của

GATT quy định: “Các thành viên phát triển không chờ đợi sự đối xử có đi có lại khi cam kết trong đàm phán thương mại, bằng việc giảm hay loại bỏ thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại của các thành viên kém phát triển hơn”

Câu 3: Biểu Nhân nhượng thuế quan là gì? Quan hệ giữa biểu nhân nhượng thuế quan và GATT 1994? Cam kết mở cửa thị trường thuế quan cho xe tay ga (scooter) dung tích 150cc như thế nào?

Biểu Nhân nhượng Thuế quan

Biểu nhân nhượng thuế quan là kết quả thành công của cuộc đàm phán cắt giảm

thuế quan Theo quy định tại khoản 1a Điều II GATT 1994, Biểu Nhân nhượng Thuế

quan của một quốc gia thành viên là cam kết không áp dụng mức thuế quan (đối với một sản phẩm nhất định) cao hơn mức thuế được ghi nhận trong Biểu nhân nhượng của thành viên đó

Mỗi thành viên của WTO có một Biểu Nhân nhượng Thuế quan riêng trừ khi thành viên đó là thành viên của một liên minh thuế quan, trong trường hợp này, thành viên thuộc liên minh thuế quan sẽ có Biểu Nhân nhượng Thuế quan chung cùng với các thành viên khác của liên minh thuế quan đó

Trang 4

Quan hệ giữa biểu nhân nhượng thuế quan và GATT 1994

Theo quy định của khoản 7 Điều II GATT 1994 thì các Biểu Nhân nhượng Thuế

quan là một phụ lục được kèm theo Hiệp định này và là một bộ phận không thể tách rời của Phần I Hiệp định này Dựa vào Biểu nhân nhượng thuế quan này mà các thành viên mới có thể lập một Biểu Nhân nhượng Thuế quan riêng để áp dụng cho quốc gia của mình

 Biểu nhân nhượng thuế quan được xây dựng trên kết quả của vòng đàm phán Uruguay và được coi là phụ lục của GATT và là một phần không thể tách rời GATT

Cam kết mở cửa thị trường thuế quan cho xe tay ga (scooter) dung tích 150cc

Việt Nam đồng ý cho nhập khẩu các loại xe phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/5/2007 nhưng Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt

Đối với mức cam kết cụ thể, sẽ có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế suất trên 20% Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định

Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong vòng đàm phán gia nhập WTO đối với xe máy dưới 800cc trở xuống như sau:

 Thuế suất MFN là 100%

Cam kết với WTO

 Thuế suất khi gia nhập là 95%

 Thuế suất cuối cùng 70%

 Thời gian thực hiện 7 năm

Câu 4: Các yếu tố cần phải xác định để tìm ra nghĩa vụ thuế quan cụ thể mà một sản phẩm phải chịu?

Có 3 loại thuế quan cơ bản là thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tính theo lượng

và thuế quan kết hợp Tùy thuộc vào mỗi loại thuế quan mà có những yếu tố cần xác định

để tìm ra nghĩa vụ thuế quan cụ thể của một sản phẩm

Nhìn chung, Các yếu tố cần phải xác định gồm:

- Loại thuế quan thích hợp đối với sản phẩm (phân loại hàng hóa)

- Cách thức đánh giá hải quan đối với sản phẩm

Trang 5

 Giá trị hàng hóa (đối với thuế quan tính theo giá trị) hoặc

 Số lượng, trọng lượng hoặc thể tích của hàng hóa (đối với thuế quan tính theo lượng)

- Xuất xứ của sản phẩm

Câu 5: Phân loại thuế quan là gì và WTO quy định như thế nào về nó? Các nguyên tắc chủ chốt để phân loại thuế quan theo GRI? Các quy tắc đó có liên quan đến tranh chấp về quyền và nghĩa vụ từ WTO?

WTO không có quy định cụ thể về việc phân loại thuế quan Tuy nhiên, khi phân loại sản phẩm vì mục đích đánh thuế hải quan, các thành viên phải cân nhắc những nghĩa

vụ chung của mình theo các hiệp định của WTO Các quy tắc cụ thể về phân loại thuế quan được trình bày trong Công ước Quốc tế về Hệ thống Hài hòa Mô tả và Mã hàng hóa (International Convention on the Harmonised Commodity Description and Coding System) mà hầu hết thành viên WTO đều tham gia Vì vậy, các quy định về phân loại hải quan của Công ước cũng được áp dụng cho các nước thành viên WTO

Các nguyên tắc chủ chốt để phân loại thuế quan theo GRI (dùng phân loại hàng hóa để phân loại thuế quan) là:

Qui tắc phân loại hàng hoá 1:

Tên cuả các phần, các chương hoặc của phân chương được đưa ra chỉ nhằm mục đích dễ tra cứu Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hóa phải được xác định theo nội dung của từng nhóm và bất cứ chú giải của các phần, chương liên quan và theo các qui tắc dưới đây nếu các nhóm hoặc các chú giải đó không có yêu cầu nào khác

Qui tắc phân loại hàng hoá 2:

a) Một mặt hàng được phân loại trong một nhóm hàng, thì những mặt hàng đó ở dạng chưa hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn thiện nhưng đã có đặc trưng cơ bản của hàng

hóa đã hoàn chỉnh hoặc hoàn thiện cũng thuộc nhóm đó Cũng phân loại như vậy đối với hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện hoặc đã có đặc trưng cơ bản của hàng hóa ở dạng hoàn chỉnh hay hoàn thiện nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời

b) Nếu một nguyên liệu, một chất được phân loại trong một nhóm nào đó thì hỗn hợp hay hợp chất của nguyên liệu hoặc chất đó với những nguyên liệu hoặc chất khác

cũng thuộc nhóm đó Hàng hóa làm toàn bộ bằng một loại nguyên liệu hay một chất, hoặc làm một phần bằng nguyên liệu hay chất đó được loại trong cùng nhóm Việc phân loại những hàng hóa làm bằng hai loại nguyên liệu hay hai chất trở lên phải tuân theo qui tắc 3

Qui tắc phân loại hàng hoá 3:

Trang 6

Khi áp dụng qui tắc 2(b) hoặc vì bất cứ một lý do nào khác, hàng hóa thoạt nhìn có thể phân loại vào hai hay nhiều nhóm, thì sẽ phân loại như sau:

a) Hàng hóa được phân loại vào nhóm có mô tả cụ thể, mang tính đặc trưng

cơ bản nhất sẽ phù hợp hơn xếp vào nhóm có mô tả khái quát Tuy nhiên, khi hai hay

nhiều nhóm mà mỗi nhóm chỉ liên quan đến một phần của nguyên liệu hoặc chất chứa trong hàng hóa là hỗn hợp hay hợp chất, hoặc chỉ liên quan đến một phần của hàng hóa trong trường hợp hàng hóa đó ở dạng bộ được đóng gói để bán lẻ, thì những nhóm này được coi như thể hiện đặc trưng ngang nhau về những hàng hóa nói trên, ngay cả khi một trong số các nhóm đó có mô tả đầy đủ hơn hoặc chính xác hơn về những hàng hóa đó

b) Những hàng hóa hỗn hợp bao gồm nhiều nguyên liệu khác nhau hoặc những hàng hóa được làm từ nhiều bộ phận cấu thành khác nhau, và những hàng hóa ở dạng bộ

để bán lẻ, nếu không phân loại được theo qui tắc 3(a), thì phân loại theo nguyên liệu hoặc bộ phận cấu thành tạo ra đặc tính cơ bản của chúng.

c) Khi hàng hóa không thể phân loại theo qui tắc 3(a) hoặc 3(b) nêu trên thì phân loại vào nhóm cuối cùng theo thứ tự đánh số trong số các nhóm tương đương được xem

xét

Qui tắc phân loại hàng hoá 4:

Hàng hóa không thể phân loại theo đúng các qui tắc trên đây thì được phân loại vào nhóm phù hợp với loại hàng hóa giống chúng nhất

Qui tắc phân loại hàng hoá 5:

Những qui định sau được áp dụng cho những hàng hóa dưới đây

a) Bao máy tính, hộp đựng nhạc cụ, bao súng, hộp đựng dụng cụ vẽ, hộp tư trang

và các loại bao hộp tương tự, thích hợp hoặc có hình dạng đặc biệt để chứa hàng hóa hoặc

bộ hàng hóa xác định, có thể dùng trong thời gian dài và đi kèm với sản phẩm khi bán, được phân loại cùng với những sản phẩm này Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng đối với bao bì mang tính chất cơ bản nổi trội hơn so với hàng hóa mà nó chứa đựng b) Ngoài qui tắc 5(a) nêu trên, bao bì đựng hàng hóa được phân loại cùng với hàng hóa đó khi bao bì là loại thường được dùng cho loại hàng hóa đó Tuy nhiên, nguyên tắc này không áp dụng đối với các loại bao bì mà rõ ràng là phù hợp để dùng lặp lại

Qui tắc phân loại hàng hoá 6:

Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hóa vào các phân nhóm của một nhóm phải được xác định phù hợp theo nội dung của từng phân nhóm, các chú giải phân nhóm có liên quan, và các qui tắc trên với những sửa đổi về chi tiết cho thích hợp, trong điều kiện là chỉ có những phân nhóm cùng cấp độ mới so sánh được Theo qui tắc này thì

Trang 7

các chú giải phần và chương có liên quan cũng được áp dụng, trừ khi nội dung mô tả trong phân nhóm có những yêu cầu khác

Theo quy định của khoản 5, Điều II Hiệp định GATT 1994 thì các quy tắc trên có

thể có liên quan đến tranh chấp về quyền và nghĩa vụ từ WTO Bởi lẽ, WTO không yêu cầu các quốc gia thành viên tuân theo một hệ thống phân loại thuế quan cụ thể nào nên khi ban hành hệ thống phân loại thuế quan riêng của mình thì có thể sẽ vi phạm các cam kết cơ bản về nhân nhượng thuế quan và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia WTO Để giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên này thì cần phải tiến hành thủ tục tham vấn và đàm phán lại

Câu 6: Tại sao cơ quan hải quan phải xác định giá trị của hàng hóa xuất nhập khẩu? Phương pháp chủ yếu và phổ biến nhất để xác định trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu là gì?

Có 3 loại thuế quan cơ bản:

- Thuế quan tính theo giá trị (ad valorem)

- Thuế quan tính theo lượng (specific)

- Thuế quan kết hợp.

Trong đó, thuế quan theo giá trị là loại thuế quan phổ biến nhất trong các loại thuế quan kể trên do tính minh bạch và dễ dàng đánh giá mức độ bảo hộ và tác động tiêu cực lên giá cả hàng hóa nhập khẩu cũng như đảm bảo được mức độ bảo hộ trong các thời kỳ lạm phát Do đó, cơ quan hải quan phải xác định giá trị của hàng hóa xuất nhập khẩu Vì vậy, phương pháp xác định giá trị hàng hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiền thuế phải nộp Các hiệp định của WTO cung cấp các quy tắc về xác định trị giá hải quan được ghi nhận tại:

- Điều VII Hiệp định GATT 1994

- Các lưu ý bổ sung cho điều VII GATT 1994 (The Note Ad Article VII)

- Hiệp định thực thi điều VII của hiệp định GATT 1994 (Hiệp định xác định trị giá

tính thuế)

Trong đó, để xác định trị giá tính thuế hải quan gồm có:

 01 phương pháp chuẩn – phương pháp cơ bản, phổ biến nhất để xác định trị giá hải quan

Trang 8

5 phương pháp thay thế (sử dụng trong trường hợp không áp dụng phương pháp

chuẩn).1

Theo quy định tại khoản 1, điều 1 Hiệp định xác định trị giá tính thuế quy định rằng: Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu

có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8 (bao gồm các khoản chi phí quy định đã

phát sinh mà chưa phản ánh lên giá hàng hóa như tiền hoa hồng, chi phí đóng gói, tiền bản quyền, phí cấp giấy phép, )

Tuy nhiên, nếu giá trị giao dịch không thể xác định theo các trên( thường là do giao dịch được tiến hành giữa các bên có liên quan với nhau) thì sẽ áp dụng các phương pháp thay thế theo thứ tự ưu tiên sau, được quy định từ điều 2 đến điều 7 Hiệp định định xác định trị giá tính thuế

- Giá trị giao dịch của hàng hóa giống hệt (Điều II, Hiệp định Xác định trị giá tính

thuế)

- Giá trị giao dịch của hàng hóa tương tự (Điều III, Hiệp định Xác định trị giá tính

thuế)

- Giá trị suy diễn (Điều V, Hiệp định Xác định trị giá tính thuế)

- Giá trị tính toán (Điều VI, Hiệp định Xác định trị giá tính thuế)

Câu 7: Quy tắc xuất xứ là gì ? WTO quy định thế nào về quy tắc này ?

Theo Điều 1 Hiệp định về quy tắc xuất xứ, “qui tắc xuất xứ được định nghĩa là

những luật, qui định, quyết định hành chính chung do các Thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa với điều kiện là qui tắc xuất xứ này không liên quan đến thỏa thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài

phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều I của GATT 1994”.

Điều đó có nghĩa là, trong thương mại quốc tế, quy tắc xuất xứ hàng hóa là tập hợp các quy định nhằm xác định quốc gia nào được coi là đã sản xuất ra hàng hóa (nước xuất xứ của hàng hóa)

Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO quy định các nguyên tắc áp dụng chung

mà tất cả các nước thành viên khi ban hành và thực thi các quy định pháp luật hoặc hành chính liên quan đến việc xác định nước xuất xứ của hàng hóa đều phải tuân thủ Tuy

1

http://www.trungtamwto.vn/wto/hiep-dinh-xac-dinh-tri-gia-tinh-thue-hai-quan-thuc-thi-dieu-vii-cua-gatt-1994, Hiệp định Xác định trị giá tính thuế(thực thi điều VII của GATT 1994)

Trang 9

nhiên, các nguyên tắc của Hiệp định không áp dụng cho các trường hợp quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi

Hiệp định quy định 2 hệ thống các nguyên tắc liên quan đến xuất xứ bắt buộc áp dụng (trừ trường hợp quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi), để áp dụng trong hai giai đoạn:

Giai đoạn chuyển đổi (Áp dụng trong quá trình Ủy ban kỹ thuật của Hiệp

định hoàn thành việc hài hòa hóa các quy tắc xuất xứ)

Các nước thành viên WTO khi ban hành và thực thi các quy định về xuất xứ phải

đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu nêu tại Điều 2 Hiệp định Cụ thể, các quy tắc xuất

xứ của các nước thành viên WTO phải đảm bảo các yêu cầu:

1 Minh bạch

 Phải được định nghĩa rõ ràng

 Phải được công bố kịp thời

 Các quy tắc xuất xứ (kể cả quy tắc mới và quy tắc sửa đổi) không được có giá trị hồi tố

2 Không cản trở thương mại bất hợp lý

 Không được sử dụng làm công cụ chính sách thương mại;

 Không được tạo ra sự hạn chế hoặc làm gián đoạn thương mại quốc tế;

 Không được đòi hỏi đầy đủ các điều kiện không liên quan đến việc chế tạo hay gia công sản phẩm;

3 Thống nhất, không phân biệt đối xử

 Phải được áp dụng một cách nhất quán, thống nhất, không thiên vị và hợp lý;

 Quy tắc áp dụng cho nhập khẩu và xuất khẩu không được khó khăn hơn quy tắc áp dụng để xác định hàng hóa nào là hàng hóa nội địa;

 Không phân biệt đối xử giữa hàng hóa của các nước thành viên WTO

4 Các yêu cầu khác

 Tiêu chuẩn xác định xuất xứ phải là các tiêu chí tích cực (tức là loại tiêu chí xác định khi nào được xem là có xuất xứ); chỉ sử dụng tiêu chuẩn tiêu cực (là loại tiêu chí xác định trường hợp nào không được xem là có xuất xứ) khi

nó là một phần để làm rõ tiêu chí tích cực hoặc trong những trường hợp mà tiêu chí tích cực về xuất xứ là không cần thiết;

 Thủ tục xem xét xuất xứ không được kéo dài quá 150 ngày kể từ khi có đơn yêu cầu cấp xuất xứ của tổ chức, cá nhân;

Trang 10

 Thông tin do tổ chức, cá nhân cung cấp để xem xét xuất xứ phải được xem

là thông tin mật và không được công bố trừ khi có yêu cầu của cơ quan tư pháp trong một thủ tục tố tụng;

 Mọi quyết định về xuất xứ (ví dụ cấp/từ chối cấp chứng nhận xuất xứ) đều

có thể bị khiếu kiện ra tòa hoặc theo một thủ tục độc lập với cơ quan đã ra quyết định đó

Giai đoạn sau chuyển đổi (Khi đã đạt được các quy tắc xuất xứ thống

nhất/hài hòa)

Các nước thành viên WTO khi ban hành và thực thi các quy định về xuất xứ

phải đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu nêu tại Điều 3 Hiệp định, bao gồm:

1 Nguyên tắc cơ bản: Nước xuất xứ phải là nước nơi tiến hành sự thay đổi cơ bản cuối cùng đối với sản phẩm;

2 Thay đổi cơ bản về sản phẩm được xác định theo sự thay đổi mã số hải quan HS là chủ yếu;

3 Trường hợp thay đổi trong mã số hải quan HS không phản ánh sự thay đổi

cơ bản về sản phẩm thì áp dụng các tiêu chí bổ sung, chủ yếu là “tỷ lệ phần trăm trị giá và/hoặc công đoạn chế biến/gia công”

Câu 8: GATT 1994 có cấm các biện pháp hạn chế định lượng?

GATT 1994 cũng có những qui định cấm các biện pháp hạn chế định lương được

quy định tại Điều XI của Hiệp định GATT 1994 quy định về “Triệt tiêu chung các hạn chế định lượng”, Cụ thể là: Tại khoản 1 Điều XI, Không một sự cấm hay hạn chế nào

khác ngoại trừ thuế quan và các khoản thu khác, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các biện pháp khác sẽ được bất cứ một bên ký kết nào định ra hay duy trì nhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết nào hay nhằm vào việc xuất khẩu hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết nào Theo đó, ngoài trừ thuế quan và các khoản thu khác thì không có các biện pháp hạn chế định lượng

Tuy nhiên, Theo khoản 2, các quy định của khoản 1 trong điều khoản này sẽ

không được áp dụng với các trường hợp dưới đây:

a) Cấm hay hạn chế xuất khẩu tạm thời áp dụng nhằm ngăn ngừa hay khắc phục sự khan hiếm trầm trọng về lương thực hay các sản phẩm khác mang tính trọng yếu đối với với Bên ký kết đang xuất khẩu;

Ngày đăng: 27/12/2015, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w