Tiếp theo hơn 50 nước tham gia đàm phán về việc thành lập một tổ chức, gọi là Tổ chức Thương mại Quốc tế ITO.. Ngày 30/10/ 1947, bên cạnh việc đàm phán thành lập ITO, 23 nước đã tiến hàn
Trang 1BÀI 1&2 TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ VÀ TỔNG QUAN WTO Câu 1: Nêu ngắn gọn quá trình hình thành của GATT, hệ thống các tổ chức kinh tế thê giới theo kế hoạch Bretton Wood có được hoàn thành vào năm 1946, vì sao ?
Quá trình hình thành GATT:
Vào thời điểm sắp kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ II, các quốc gia chủ chốt trên thế giới đã có những nỗ lực nhằm thiết lập những định chế đa phương để giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu (duy trì hòa bình thế giới và giải trừ quân bị, thúc đẩy thương mại quốc tế ) -> Sự ra đời của một loạt các tổ chức quốc tế còn hoạt động đến ngày nay như Liên hiệp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) Về vấn đề thương mại quốc tế, xu hướng đẩy mạnh tự do hóa thương mại đã nổi lên mạnh mẽ ngay khi chiến tranh vừa kết thúc
Tháng 12/1945, đã có 15 nước bắt đầu bàn thảo về giảm thuế quan và đặt ràng buộc thuế quan (binding) Tiếp theo hơn 50 nước tham gia đàm phán về việc thành lập một tổ chức, gọi là Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) ITO dự kiến hoạt động với tư cách là một cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc
Ngày 21/11/1947, Bản Hiến chương về việc thành lập ITO, Hiến chương Havana, đã được soạn thảo tại Hội nghị Havana (Cuba) Tháng 03/1948 hoàn tất cũng tại Havana Tuy nhiên Hiến chương Havana đã không được nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, không thông qua -> ITO đã không thể hình thành với tư cách là một tổ chức thương mại quốc tế
Ngày 30/10/ 1947, bên cạnh việc đàm phán thành lập ITO, 23 nước đã tiến hành đàm phán về thương mại quốc tế và vào, đã đi đến ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)
Ngày 01/01/1948 GATT chính thức có hiệu lực với việc 8 trong số 23 Bên ký kết, trong Nghị định thư về việc thực hiện tạm thời Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương
mại đã đồng ý tạm thời thực hiện GATT Các bên ký kết khác sau đó cũng đã sớm cam kết
thực hiện GATT -> GATT vẫn được coi là một Hiệp định tạm thời, nhưng thực tế đã tồn tại gần nửa thế kỷ (từ năm 1948 đến khi WTO ra đời vào năm 1995), về thương mại và thuế quan trong khi chờ đợi một tổ chức quốc tế về thương mại thay thế nó
Hệ thống các tổ chức kinh tế thế giới theo kế hoạch Bretton Woods đã không
được hoàn thành vào năm 1946 Vì:
Hệ thống Bretton Woods được dự định sẽ là một hệ thống các định chế kinh tế quốc tế trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc với ba trục cơ bản là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới ( World Bank – WB) và tổ chức thương mại thế giới (ITO)
Tuy nhiên, chỉ có IMF và WB được thành lập (1945) Riêng việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới đã vấp phải trở ngại chính trị đáng kể từ các nhóm lợi ích kinh tế của
Trang 2nhiều quốc gia, đặc biệt là tại Hoa Kỳ Mặc dù Hiến chương ITO đã được thông qua tại Havana (Cuba) tháng 3/1948, nhưng việc Quốc hội Hoa Kỳ trì hoãn không phê chuẩn Hiến chương làm cho các nước khác cũng không phê chuẩn, dẫn đến ITO không trở thành hiện thực Vì vậy, việc thiếu đi một trục cơ bản là ITO đã khiến cho kế hoạch Bretton Woods không được hoàn thiện
Câu 2: Hãy giải thích vì sao Luật hiến pháp của Hoa Kỳ và các quốc gia khác có liên quan lại đóng vai trò quyết định trong suốt quá trình GATT được thực thi với vai trò là một tổ chức quốc tế de facto ?
Thứ nhất, GATT được thực thi với vai trò là một tổ chức quốc tế de facto nghĩa là gì?
• De facto là thực quyền, quyền lực trên thực tế, tức là một điều gì đó được tìm thấy trong thực tiễn của cộng đồng tạo ra hay phát triển lên mà không có các quy định của pháp luật điều chỉnh Từ này, sử dụng ngược với từ de jure Khi thảo luận về các trạng
thái pháp lý thì de jure đề cập tới điều mà luật ghi nhận, trong khi de facto đề cập tới
điều xảy ra trong thực tế, và chúng có thể khác nhau
• GATT là một hiệp định thương mại đa phương chứ không phải là một tổ chức quốc tế
Từ đó, ta hiểu, GATT được thực thi với vai trò là một tổ chức quốc tế de facto nghĩa là GATT - một hiệp định thương mại đa phương lại được thực thi trên thực tế với vai trò của một tổ chức quốc tế là do các bên đàm phán ngầm định và để cho GATT vận hành như một tổ chức quốc tế cùng với các bên vận hành hệ thống thương mại đa phương
Thứ hai, Luật Hiến pháp Hoa Kỳ và các quốc gia khác lại đóng vai trò quan trọng
trong suốt quá trình GATT được thực thi với vai trò của một tổ chức quốc tế de facto là vì:
• Luật Hiến pháp Hoa Kỳ quy định trao cho Quốc hội Hoa Kỳ quyền quản lí ngoại thương Tức là, mọi hoạt động ngoại thương của Hoa Kỳ bao gồm cả việc ký kết các hiệp định liên quan đến hoạt động ngoại thương sẽ do Quốc hội Hoa Kỳ quyết định Đồng thời, Hiến pháp của các quốc gia khác cũng trao quyền này cho Quốc hội của mỗi nước
• Tuy nhiên, trong quá trình thành lập ITO- tổ chức thương mại thế giới với vai trò tổ chức điều phối và xúc tiến thương mại quốc tế, Quốc hội Hoa Kỳ lại phủ quyết điều ước quốc tế liên quan đến việc thành lập ITO Đồng thời, các Quốc hội các quốc gia còn lại cũng chưa phê chuẩn việc thành lập ITO mà chờ động thái của Hoa Kỳ
Do đó, ITO không được thành lập nên việc điều phối và xúc tiến các hoạt động thương mại quốc tế không được thực hiện như ý định của các bên đàm phán
Vì vậy, để cứu vãn tình hình trên, các bên đàm phán mới sử dụng GATT như một công cụ để điều phối hoạt động thương mại quốc tế
Trang 3Câu 3: Trình bày ngắn gọn các sự kiện diễn ra từ năm 1990 đến 1995 dẫn đến sự hình thành của WTO vào ngày 01 tháng 01 năm 1995? Những quốc gia nào chủ trương thúc đẩy sự thành lập WTO? Những quốc gia nào lại phản đối? Vì sao?
Các sự kiện diễn ra từ năm 1990 đến 1995 dẫn đến sự hình thành của WTO vào
ngày 01 tháng 01 năm 1995
• Tới năm 1995, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan
• Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ sau vòng Uruguay(1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với phạm vi của hệ thống thương mại đa biên được
mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một thỏa thuận có nội dung hạn chế và tập trung ở thương mại hàng hóa đã tỏ ra không còn thích hợp
• Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT
• WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động
từ 1/1/1995
Những quốc gia chủ trương thúc đẩy sự thành lập WTO
Những quốc gia chủ trương thúc đẩy sự thành lập WTO:Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các cường quốc trong phe đồng minh đã xúc tiến đàm phán xây dựng một mô hình trật tự kinh tế thế giới trong khuôn khổ các định chế kinh tế quốc tế có khả năng gắn kết các nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh hợp tác kinh tế toàn diện về các mặt tài chính, tiền tệ và thương mại Tại hội nghị các nước đồng minh thắng trận được tổ chức vào năm 1944 tại Bretton Woods, New Hampshire nước Anh, các cường quốc kinh tế đã thống nhất thành lập các định chế kinh tế trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc với 3 trục cơ bản là Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng thế giới WB, và Tổ chức thương mại thế giới ITO
Lý do những quốc gia lại phản đối
Tuy nhiên, việc thành lập ITO để xúc tiến tự do hóa thương mại và loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ đã vấp phải những trở ngại chính trị đáng kể từ các nhóm lợi ích kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ Quốc Hội Hoa Kỳ do quan ngại về ảnh hưởng của quá trình tự do hóa thương mại có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất trong nước nên đã không phê chuẩn bản nội dung của Hiến chương ITO Trong khi đó, các quốc gia không
Trang 4muốn một tổ chức thương mại quốc tế mà thiếu sự góp mặt của cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới Vì lý do này mà việc thành lập ITO thất bại
Câu 4: Các mục tiêu thành lập của WTO là gì? Vấn đề pháp lý nổi bật trong lời mở đầu Hiệp định thành lập WTO là gì? Những công cụ chủ yếu để WTO có thể hoàn thành những mục tiêu của nó là gì?
Mục tiêu thành lập WTO:
• Tất cả những mối quan hệ của các bên ký kết thành lập ra WTO trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau
• Nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó;
• Mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuân tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biện đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế;
• Quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn; quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt
ra cho cơ chế thương mại đa biên này
Vấn đề pháp lý nổi bật trong lời mở đầu Hiệp định thành lập WTO là gì?
Lời mở đầu Hiệp định thành lập WTO nêu rõ định hướng và phương pháp để đạt được các mục tiêu đề ra là các thành viên WTO sẽ tham gia vào những thỏa thuận tương
hỗ và cùng có lợi theo hướng: cắt giảm đáng kể thuế các hàng rào thương mại (thuế quan
và phi thuế quan) và loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế
Những công cụ chủ yếu để WTO có thể hoàn thành những mục tiêu của nó là
gì?
− Những nguyên tắc cơ bản của WTO:
+ Không phân biệt đối xử
+ Tự do hóa thương mại
+ Tính có thể dự đoán (thông qua các cam kết ràng buộc và minh bạch)
+ Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
+ Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế
Trang 5− Các hiệp định đa biên, hiệp định chung
− Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên
− Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại giữa các nước thành viên
Câu 5: WTO cho đến thời điểm hiện tại có thành công trong việc là một diễn đàn đàm phán các hiệp định thương mại đa phương mới không? Tính từ thời điểm thành lập GATT tới nay đã có bao nhiêu vòng đàm phán thương mại? Hiện tại các vòng đàm phán nào đang diễn ra, những nội dung chính của đàm phán là gì và vì sao nó
bế tắc?
WTO cho đến thời điểm hiện tại có thành công trong việc là một diễn đàn đàm
phán các hiệp định thương mại đa phương mới không?
Hiện tại WTO chưa thật sự thành công trong việc là diễn đàn đàm phán các hiệp định thương mại đa phương mới Song, không thể phủ định vai trò là một diễn đàn đàm phán thương mại quốc tế đã đạt được một số thành công nhất định của WTO Do hiện tại, WTO đang tiếp tục Vòng đàm phán mới – Đàm phán Doha, khởi động từ năm 2001 và đến nay vẫn đang bế tắc, chưa đạt được kết quả cuối cùng
Tính từ thời điểm thành lập GATT tới nay đã có bao nhiêu vòng đàm phán
thương mại?
Trong 48 năm tồn tại, GATT đã tổ chức 8 vòng đàm phán + Cho đến thời điểm thành lập WTO, đã có 8 vòng đàm phán được thực hiện = 16 vòng đàm phán
1960-1961 Geneva
1964-1967 Geneva
(Vòng Kenedy) Thuế quan và các biện pháp chống bán phá giá 62 1973-1979 Geneva
(Vòng Tokyo) Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế, các hiệp định "khung" 102 1986-1994 Geneva
(Vòng Uruguay)
Thuế quan, các biện pháp phi quan thuế, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, hàng dệt, nông nghiệp, thành lập WTO, v.v
123
Trang 6 Hiện tại các vòng đàm phán nào đang diễn ra, những nội dung chính của đàm
phán là gì và vì sao nó bế tắc?
• Hiện tại, vòng đàm phán DoHa vẫn đang diễn ra
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư tại Doha, Qatar, vào 11/2001, các chính phủ là thành viên của WTO đã đồng ý để khởi động các cuộc đàm phán mới Các nước cũng đã đồng ý thảo luận cả về những vấn đề khác, đặc biệt là việc thực thi đầy đủ các hiệp định hiện tại
Toàn bộ gói các vấn đề được gọi là Chương trình Nghị sự Phát triển Doha (Doha Development Agenda) Các cuộc đàm phán diễn ra tại Uỷ ban đàm phán thương mại
Trade Negotiations Committee và các Tiểu ban của nó Đây là những địa điểm mà thường được, hoặc là hội đồng thường trực và uỷ ban nhóm họp trong "những phiên đặc biệt", hoặc là địa điểm các nhóm đàm phán đặc biệt được tạo ra Những công việc khác trong chương trình nghị sự diễn ra trong các hội đồng và các ủy ban khác của WTO
Nội dung đàm phán Doha: Vòng Do-ha có nhiệm vụ đàm phán trong những lĩnh vực
sau: (i) tiếp cận thị trường hàng phi nông nghiệp (NAMA); (ii) nông nghiệp; (iii) dịch vụ; (iv) các vấn đề về quy tắc (rules); (v) sở hữu trí tuệ; (vi) thuận lợi hóa thương mại; (vii) thương mại – môi trường và (viii) thương mại phát triển Mục tiêu đàm phán là gói cam kết tổng thể tất cả các lĩnh vực trên (“single undertaking”)
Tuyên bố Doha nêu ra 19 chủ đề, hay 21, tùy theo quan niệm cho rằng vấn đề “quy tắc” cấu thành 1 hay 3 chủ đề Phần lớn các nội dung này đòi hỏi phải tiến hành đàm phán; số còn lại thì đòi hỏi các biện pháp “thực thi”, phân tích và theo dõi đánh giá
Lịch trình vòng đàm phán Doha
Tháng 11, năm 2001, đàm phán tại Doha Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư của
WTO, các bộ trưởng nhất trí khởi động một vòng đàm phán thương mại mới, trong đó lấy các nhu cầu phát triển làm nòng cốt
Tháng 9, năm 2003, đàm phán tại Cancún Kết thúc Hội nghị Bộ trưởng lần thứ
năm mà không đạt được sự đồng thuận về cách thức để xúc tiến các vòng đàm phán
Tháng 7, năm 2004, đàm phán tại Geneva Các thành viên thông qua chương
trình khung cho các cuộc đàm phán về nông nghiệp, dịch vụ và mở cửa thị trường hàng phi nông sản (NAMA) (gói hỗ trợ tháng 7) mà từ đó đã trở thành cơ sở làm việc về các vấn đề này
Tháng 1 năm 2005 Vòng đàm phán không kết thúc đúng thời hạn.
Tháng 12, năm 2005, đàm phán tại Hồng Kông Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ
sáu, các bộ trưởng đẩy nhanh tiến độ các cuộc đàm phán để vòng đàm phán kết thúc vào cuối năm 2006 Gói hỗ trợ đạt được ở Hồng Kông thúc đẩy cam kết về nông nghiệp và
mở cửa thị trường hàng phi nông sản (.NAMA), đồng thời lập kế hoạch đàm phán cho các
Trang 7lĩnh vực khác Chính phủ các nước nhất trí cam kết hỗ trợ hàng tỉ đô la cho gói Hỗ trợ Thương mại bổ sung cho vòng đàm phán Doha
Tháng 7, năm 2006 Các cuộc đàm phán bị tạm hoãn.
Tháng 1 năm 2007 Nối lại các cuộc đàm phán.
Tháng 7, năm 2008, đàm phán tại Geneva Các nước thành viên thảo luận về gói
hỗ trợ tháng 7 năm 2008: thành lập các thể thức về nông nghiệp và tiếp cận thị trường phi nông nghiệp Lộ trình cho tất cả các chủ đề nhằm kết thúc hoàn thành năm 2008
Năm 2009 – Nay Các cuộc đàm phán rơi vào bế tắc và không đạt được kết quả gì.
Nguyên nhân:
• Khoảng cách giữa các bên trong đàm phán còn quá lớn về một loạt lĩnh vực nên không thể
ra được dự thảo văn bản đàm phán vào cuối tháng Tư tới như các nước thành viên đã nhất trí
• Sự bế tắc trong đàm phán ở lĩnh vực tiếp cận thị trường hàng phi nông nghiệp, thường được gọi tắt là NAMA, là cản trở lớn nhất đối với tiến trình Lĩnh vực này đề cập đến các cam kết của các nền kinh tế lớn, trong đó có cả các nền kinh tế mới nổi, về cắt giảm thuế nhập khẩu khi mở cửa thị trường hàng phi nông sản
• Các bên đàm phán cho biết khoảng cách giữa Mỹ và Trung Quốc trong đàm phán không những lớn mà còn ngày càng khó, nếu không nói là không thể lấp được Mỹ muốn Trung Quốc phải cắt giảm thuế phần lớn các mặt hàng ở các ngành như hóa chất, máy công nghiệp, hàng điện và điện tử, trong khi phải chịu giảm giảm thuế ở hầu hết các mặt hàng khác áp theo dự thảo văn bản đàm phán NAMA hiện nay kể từ tháng 12/2008 Chỉ có một phần nhỏ là được miễn không phải cắt thuế
• Phía Trung Quốc không những cho rằng các yêu cầu của Mỹ là quá nhiều mà còn không tham gia vào các ngành mà Brazil và Ấn Độ không cùng tham gia Ngoài ra, Trung Quốc còn từ chối đàm phán với Mỹ để quyết định việc cắt giảm áp dụng cho từng dòng thuế Thay vào đó, Trung Quốc sẽ linh hoạt tự quyết định dòng thuế nào được cắt giảm Trung Quốc cũng đưa ra các yêu cầu mà theo Mỹ, Mỹ sẽ bị mất nhiều mà không nhận lại được gì
Câu 6: Mục tiêu của việc rà soát các chính sách thương mại là gì (Trade policy review mechanism) ? Hiện tại Việt Nam đã thực hiện tất cả bao nhiêu cuộc rà soát ?
Mục tiêu của việc rà soát các chính sách thương mại TPRM là nhằm làm cho các Thành viên tuân thủ triệt để các quy tắc, nguyên tắc và cam kết được ghi nhận trong các Hiệp định Thương mại Đa biên và các Hiệp định Thương mại Nhiều bên khi các Hiệp định này có thể được áp dụng, nhờ đó hệ thống thương mại đa biên vận hành suôn sẻ hơn, đạt được sự minh bạch hơn và hiểu biết nhiều hơn về các chính sách và thực tiễn thương mại của các Thành viên Theo đó, cơ chế rà soát cho phép đánh giá và thẩm định tập thể
Trang 8thường xuyên toàn bộ phạm vi chính sách và thực tiễn thương mại của từng thành viên và tác động của chúng đối với sự vận hành của hệ thống thương mại đa biên Chức năng của
cơ chế rà soát là xem xét tác động của các chính sách và thực tiễn thương mại của một Thành viên đối với hệ thống thương mại đa biên
Việc đánh giá theo cơ chế rà soát sẽ được tiến hành, trong phạm vi thích hợp, trong bối cảnh chung của các nhu cầu, chính sách và mục tiêu kinh tế và phát triển của Thành viên liên quan, cũng như môi trường bên ngoài của nước Thành viên này Tuy nhiên, chức năng của cơ chế rà soát là xem xét tác động của các chính sách và thực tiễn thương mại của một Thành viên đối với hệ thống thương mại đa biên
Theo quy định hiện hành, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành rà soát chính sách thương mại và hành vi thương mại một cách định kỳ dựa theo tỷ trọng của nước đó trong thương mại thế giới, cụ thể như sau:
- Nhóm 4 nước và khu vực có tỷ trọng thương mại lớn nhất: (hiện nay là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc) sẽ có tần suất rà soát 2 năm 1 lần;
- Nhóm 16 nước tiếp theo sẽ có tần suất 4 năm 1 lần;
- Các thành viên khác có tần suất 6 năm 1 lần;
- Các thành viên kém phát triển nhất (LCDs) có thể được áp dụng một giai đoạn rà soát dài hơn
TPRB cũng có thể yêu cầu rà soát chính sách của một nước thành viên sớm hơn quy định nếu như những thay đổi trong chính sách thương mại của nước đó có ảnh hưởng mạnh tới quyền lợi của các thành viên khác trong WTO
Việt Nam trở thành thành viên của WTO vào năm 2007 và theo quy định của Hiệp định về TPRM cũng như căn cứ tỷ trọng thương mại hiện hành, Việt Nam được xếp vào nhóm các nước thành viên có tần suất rà soát 6 năm một lần Việt Nam đã tiến hành rà soát chính sách thương mại đầu tiên vào cuối năm 2012
Câu 7: Làm thế nào để có thể trở thành thành viên của WTO ? Một chủ thể không phải là ‘quốc gia’ có thể là thành viên ? Cơ chế đại diện phiếu bầu (số phiếu bầu/một quốc gia) của WTO hiện nay như thế nào ? Cơ chế đó có thật sự công bằng?
Để có thể tham gia vào tổ chức này thì các quốc gia phải thoả mãn các điều kiện như: độc lập về chính sách thương mại quốc tế, công khai rõ ràng các số liệu kinh tế, quốc gia đó phải có nền kinh tế thị trường và có nguyện vọng tham gia trở thành thành viên và có khả năng đáp ứng yêu cầu trong việc thực hiện các hiệp định trong WTO
+ Thủ tục gia nhập WTO:
• Hội đồng nội các lập uỷ ban xét duyệt giao cho nước muốn tham gia dự một danh mục các câu hỏi và dự thảo nghị định gia nhập WTO
Trang 9• Trên cơ sở báo cáo trả lời câu hỏi, chủ tịch uỷ ban sẽ triệu tập các thành viên và nước muốn tham dự để bàn bạc, tìm hiểu và đặt thêm các câu hỏi (nếu có)
• Nước muốn tham gia đàm phán về điều kiện gia nhập và ưu đãi thuế quan với các nước thành viên Các nước muốn tham gia nộp đơn lên tổng giám đốc WTO Uỷ ban xét duyệt đệ trình lên hội đồng chung để phê duyệt Quốc gia nộp đơn trở thành thành viên khi được sụ đồng ý của ít nhất 2/3 số thành viên hiện có và được quốc hội nước đó thông qua
Tuy là một tổ chức quốc tế liên chính phủ nhưng thành viên của WTO không chỉ có các
quốc gia có chủ quyền (Hoa Kỳ, Việt Nam…) mà cả những lãnh thổ riêng biệt, các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương (EU, Hồng Công, Macao, Đài Loan…)
Cơ chế đại diện phiếu bầu: 1 phiếu bầu/thành viên
Về cơ bản, các quyết định trong WTO được thông qua bằng cơ chế đồng thuận Có
nghĩa là chỉ khi không một nước nào bỏ phiếu chống thì một quyết định hay quy định mới được xem là “được thông qua”
Tuy nhiên, trong các trường hợp sau quyết định của WTO được thông qua theo các cơ chế bỏ phiếu đặc biệt (không áp dụng nguyên tắc đồng thuận):
• Giải thích các điều khoản của các Hiệp định: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ;
• Dừng tạm thời nghĩa vụ WTO cho một thành viên: Được thông qua nếu có 3/4
số phiếu ủng hộ;
• Sửa đổi các Hiệp định (trừ việc sửa đổi các điều khoản về quy chế tối huệ quốc
trong GATT, GATS và TRIPS): Được thông qua nếu có 2/3 số phiếu ủng hộ.
Về cơ bản, cơ chế bầu 1 phiếu/thành viên mang tính công bằng giữa các thành viên trong tổ chức quốc tế Mỗi phiếu bầu đều có giá trị như nhau, do đó, địa vị của các thành viên trong tổ chức là như nhau Tuy nhiên, vì thành viên của WTO không chỉ có quốc gia mà còn có cả những vùng lãnh thổ đặc biệt Do đó, có thể có quốc gia có trên
1 phiếu bầu Như vậy, cơ chế công bằng giữa các quốc gia trong tổ chức không được đảm bảo
Câu 8: Vì sao việc đàm phán gia nhập WTO lại rất khó khăn và trải qua thời gian dài?
WTO không đưa ra các tiêu chí cụ thể để các quốc gia có thể gia nhập WTO mà việc gia nhập này thực chất là một cuộc đàm phán giữa quốc gia xin gia nhập và các thành viên WTO để xây dựng các điều khoản cam kết
- Việc một quốc gia xin gia nhập vào WTO và các thành viên cho phép một quốc gia gia nhập WTO hoàn toàn dựa vào sự tự nguyện của các bên Do đó, xuất hiện rất nhiểu rào cản, nhiều vấn đề kỹ thuật trong quá trình đàm phán mà quốc gia xin gia nhập phải đáp ứng Vì vậy, việc gia nhập WTO tưởng chừng như đơn giản nhưng thực chất lại rất khó
Trang 10khăn do phải đáp ứng được yêu cầu với ít nhất 2/3 số thành viên thì họ mới đồng ý cho gia nhập Đơn giản là, để một thành viên gia nhập WTO thì phải đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chí thỏa thuận khác nhau của từng quốc gia thành viên để họ đồng ý cho gia nhập WTO nên việc gia nhập rất khó khăn
- Quy trình gia nhập WTO trải qua 4 giai đoạn
• Giai đoạn 1: trình bày chính sách thương mại
• Giai đoạn 2: đàm phán mở cửa thị trường
• Giai đoạn 3: dự thảo hồ sơ gia nhập
• Giai đoạn 4: ra quyết định
Trong 4 giai đoạn trên, giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường là khó khăn, phức tạp và lâu dài nhất Tại giai đoạn này, quốc gia gia nhập phải đưa ra những cam kết mở cửa thị trường khi gia nhập WTO để đổi lấy các quyền mà WTO mang lại Khi đó, các quốc gia xin gia nhập phải đối mặt với vấn đề thay đổi chính sách thương mại phù hợp với các quy định của WTO nhưng vẫn phải bảo vệ nền kinh tế trong nước Để đạt được điều đó, quốc gia xin gia nhập cần phải có thời gian để hoàn thiện hệ thống pháp luật, điều chỉnh nền kinh tế trong nước một cách hợp lí để nền kinh tế trong nước có sự chuẩn bị trước khi tham gia vào sân chơi toàn cầu
Hơn nữa, khi tiến hành đàm phán song phương, mỗi quốc gia thành viên lại có những yêu cầu thương mại và những lợi ích khác nhau đối với quốc gia xin gia nhập và họ thường có xu hướng đòi hỏi các quốc gia xin gia nhập sau phải thực hiện các cam kết cao tương tự mình hoặc cao hơn Bởi vì lợi ích của hai bên không tương đồng và nhiều khi là mâu thuẫn nhau nên để đạt được thỏa thuận giữa 2 bên thì cần phải tốn nhiều thời gian
Câu 9: Một thành viên có thể quyết định rời khỏi WTO được không? bằng cách nào? Một quốc gia có những vi phạm nhân quyền nặng nề hoặc xâm hại quyền tự quyết của các quốc gia khác liệu có bị trục xuất khỏi WTO?
Theo điều 15 Hiệp định thành lập WTO quy định về việc rút khỏi WTO rằng: Bât kì thành viên nào cũng có thể rút khỏi WTO và sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày Tổng giám đốc WTO nhận được thông báo bằng văn bản về việc rút khỏi văn bản đó do đó, việc rút khỏi WTO phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định riêng của từng nước Để rút khỏi WTO, thành viên đó chỉ cần gửi văn bản thông báo về việc rút khỏi WTO lên Tổng giám đốc WTO
Hiệp định thành lập WTO không dự liệu điều khoản nào về việc khai trừ tư cách thành viên của các thành viên Cho đến nay, WTO cũng chưa khai trừ thành viên nào Do đó, nếu một quốc gia vi phạm nhân quyền nặng nề hoặc xâm hại quyền tự quyết của các quốc gia khác thì quốc gia thành viên này chỉ có thể bị kiện ra WTO, bồi thường thiệt hại hoặc bị trả đũa thương mại, chứ không có bất kì chủ thể nào có thể loại bỏ tư cách thành viên của quốc gia đó