Để giải quyết tình huống này, nhóm chúng em đã tìm hiểu và thấy có thể vận dụng nhiều kiến thức môn đã học trong nhà trường để giải quyết thấu đáo, căn kẽ tình huống mà cô giáo đã đưa ra. Cụ thể môn Địa lí, Ngữ văn, Lịch sử, môn Mĩ thuật.... Với bộ môn Ngữ văn: Chúng em vận dụng kiến thức về văn thuyết minh, văn miêu tả, kiến thức về thiết lập văn bản để tổng hợp viết bài. Với môn Lịch sử: Chúng em vận dụng kiến thức đã được học bài 15 và bài 20 SGK Lịch sử 7 kết hợp với nguồn tư liệu hiện vật, tư liệu viết, tư liệu truyền miệng để khai thác kiến thức. Môn Mĩ thuật: Vận dụng kiến thức về màu sắc, đường nét ...để tìm hiểu về công trình kiến trúc.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIM THÀNH
TRƯỜNG THCS KIM ANH
BÀI DỰ THI
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ, DANH NHÂN
VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG
THÔNG TIN NHÓM HỌC SINH
- Họ và tên: Dương Thị Quỳnh Hân
Sinh ngày 24-10-2002 Lớp 7B
- Họ và tên: Dương Thu Ngân
Sinh ngày 27-10-2002 Lớp 7B
- Họ và tên: Nguyễn Minh Hiếu
Sinh ngày: 2003 Lớp 6B
Năm học 2014-2015
Trang 2VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN LỊCH SỬ - NGỮ VĂN
ĐỂ GIỚI THIỆU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - DANH NHÂN VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG
1 Mô tả tình huống.
Trong giờ học lịch sử lớp 7B, cô giáo hỏi:
- Quê em có di tích lịch sử, danh nhân văn hóa nào không?
Bạn Ngân trả lời:
- Hải Dương quê em, có rất nhiều di tích lịch sử, danh nhân văn hóa
Cô giáo lại hỏi:
- Nếu bây giờ cô đóng vai là một khách du lịch đến thăm quê em, em sẽ giới thiệu những gì về di tích lịch sử và danh nhân văn hóa
Cả lớp đều đồng thanh trả lời:
- Có ạ!
Thế là cô giáo yêu cầu học sinh về nhà sưu tầm tư liệu liên quan đến các di tích lịch sử, danh nhân văn hóa thời Trần, Lê sơ để phục vụ cho tiết học bài 15 phần II, bài 20 phần IV tại lớp Các em sẽ đóng đóng vai là hướng dẫn viên du lịch, cô giáo
là một khách du lịch đến Hải Dương để giới thiệu về di tích lịch sử, danh nhân văn hóa Hải Dương
2 Mục tiêu giải quyết tình huống.
Thông qua kiến thức lịch sử đã sưu tầm về di tích lịch sử, danh nhân văn hóa ở địa phương, chúng em viết thành một đoạn văn hoặc một bài văn giới thiệu trước lớp Với việc vận dụng kiến thức văn học vào giải quyết tình huống trên sẽ giúp kiến thức lịch sử đó sẽ hay hơn, tạo sức hấp dẫn hơn Khiến bộ môn lịch sử không
còn khô – khó – khổ nữa
3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến giải quyết tình huống.
Để giải quyết tình huống này, nhóm chúng em đã tìm hiểu và thấy có thể vận dụng nhiều kiến thức môn đã học trong nhà trường để giải quyết thấu đáo, căn kẽ tình huống mà cô giáo đã đưa ra Cụ thể môn Địa lí, Ngữ văn, Lịch sử, môn Mĩ thuật
Trang 3- Với bộ môn Ngữ văn: Chúng em vận dụng kiến thức về văn thuyết minh, văn miêu tả, kiến thức về thiết lập văn bản để tổng hợp viết bài
- Với môn Lịch sử: Chúng em vận dụng kiến thức đã được học bài 15 và bài 20 SGK Lịch sử 7 kết hợp với nguồn tư liệu hiện vật, tư liệu viết, tư liệu truyền miệng
để khai thác kiến thức
- Môn Mĩ thuật: Vận dụng kiến thức về màu sắc, đường nét để tìm hiểu về công trình kiến trúc
4 Giải pháp giải quyết tình huống.
Để giải quyết tình huống này, chúng em tiến hành theo các bước như sau:
- Bước 1: Tìm hiểu một số thuật ngữ có liên quan như: danh lam thắng cảnh, địa phương, thuyết minh…
- Bước 2: Chọn di tích lịch sử, danh nhân văn hóa địa phương
- Bước 3: Tìm tư liệu lịch sử liên quan: Tư liệu viết, tư liệu ảnh, phim…
- Bước 4: Đến thực địa tìm hiểu công trình kiến trúc lịch sử, di tích lịch sử định giời thiệu
- Bước 5: Viết bài
5 Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống.
Bước 1 Làm quen với thuật ngữ
- Muốn vận dụng kiến thức liên môn để thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, danh nhân địa phương chúng em đi nghiên cứu kĩ các thuật
ngữ như danh lam thắng cảnh,di tích lịch sử, địa phương, thuyết minh, danh nhân
văn hóa…Cụ thể, qua tìm hiểu chúng em biết được:
- Danh lam thắng cảnh: Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
- Di tích lịch sử: Dấu vết của thời xưa
- Địa phương: Phần đất trong một nước ở về phương nào đó.
- Thuyết minh: Giải thích bằng lời những sự việc diễn ra trên màn ảnh
Trang 4- Danh nhân: Người có danh tiếng
Bước 2: Chọn địa danh, nhân vật thuyết minh.
Lịch sử đã để lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích được xếp hạng cấp quốc gia Bên cạnh bề dày văn hóa, lịch sử, Hải Dương cũng là miền đất sinh ra và gắn liền nhiều danh nhân tên tuổi Như danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, danh sư Chu Văn
An, Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, đại danh y Tuệ Tĩnh… Đó là lý do
mà gần như đến với bất kỳ xã, huyện nào của tỉnh được mệnh danh là xứ Đông của miền Bắc, bạn sẽ có cơ hội tham quan hàng loạt các di tích lịch sử lớn nhỏ, nghe hàng trăm huyền thoại về các danh nhân lớn hay được chạm tay vào các đồ vật chế tác từ ngàn xưa Dựa vào những dữ kiện trên, có thể chia các danh thắng của Hải Dương thành 3 cụm khác nhau:
+ Cụm thứ nhất là hàng loạt di tích lịch sử: đền Kiếp Bạc thờ Đức thánh Trần; đền Đoan và đền Tranh thờ Quan lớn Tuần Tranh; chùa Côn Sơn gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi; đền Cao, văn miếu Mao Điền, di tích gốm sứ Chu Đậu-Mỹ Xá, di tích lịch sử chùa Bạch Hào, khu di tích Kính Chủ - An Phụ + Cụm thứ hai là các làng nghề: làng gốm Chu Đậu (Nam Sách – Hải Dương), làng hương Phúc Thành (Kim Thành- Hải Dương), bánh đậu xanh (TP Hải Dương), bánh gai (Ninh Giang)…
+ Cụm thứ ba là các thắng cảnh thiên nhiên: đảo Cò Chi Lăng Nam (thuộc địa bàn xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện)…
Có thể nói Hải Dương là vùng đất địa linh nhân kiệt, với nhiều danh thắng, danh nhân được ghi nhận Tất cả các danh thắng trên địa danh nào cũng đẹp, cũng nên thơ và cũng in đậm dấu ấn lịch sử Nhưng chùa Muống (Quang Khánh tự) trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương khiến chúng em thích nhât Đồng thời danh nhân Nguyễn Trãi, danh sư Chu Văn An cũng là một nhân vật lịch sử tài ba nỗi lạc
Vì vậy, cả nhóm chúng em quyết định chọn chùa Muống (Quang Khánh tự) làm địa
Trang 5danh thuyết minh và danh nhân Nguyễn Trãi, danh sư Chu Văn An để giải quyết tình huống của mình
Bước 2 Sưu tầm tư liệu lịch sử.
a Về chùa Muống.
Để có được một bài thuyết minh về chùa Muống, chúng em đã đến tận chùa để tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của Quang Khánh tự Đồng thời qua trò chuyện với sư thầy trụ trì ngôi chùa cổ kính này, chúng em đã nhận ra nhiều kiến thức bổ ích và lí thú Sau thời gian tìm hiểu chúng em đã thu thập được các tư liệu viết và tư liệu hình ảnh cụ thể như sau:
- Phim tư liệu: Chùa Muống ẩn sâu một huyền thoại do Đài truyền hình tỉnh
Hải Dương thực hiện
- Tranh, ảnh:
Ảnh lễ hội chùa Muống
Trang 6Ảnh khuôn viên, hệ thống tháp được bảo tồn đến ngày nay
Trang 7b Về danh nhân Nguyễn Trãi.
- Tư liệu ảnh:
- Tư liệu viết: Tạp chí Côn Sơn; Đại cương Lịch sử Việt nam quyển 2; Lịch
sử Việt Nam từ cội nguồn đến năm 1858; Những mẩu chuyện về Nguyễn Trãi
Trang 8c Về danh sư Chu Văn An
- Tư liệu ảnh:
Đền thờ thầy giáo Chu Văn An
Trang 9- Tư liệu viết: tạp chí Quê hương; Đại cương Lịch sử Việt nam quyển 2; Lịch
sử Việt Nam từ cội nguồn đến năm 1858
Bước 3 Giải quyết tình huống
- Sắp xếp lại các tư liệu đã sưu tầm
- Bàn bạc thống nhất các tự liệu lịch sử sẽ đưa vào bài viết (Hình ảnh, phim,
……)
- Viết bài thuyết minh
Bước 4 Hoàn thành sản phẩm.
a Giới thiệu về chùa Muống.
Xin chào các du khách gần xa!
Thay mặt cho đoàn hướng dẫn viên du lịch tỉnh nhà, tôi xin mời du khách đến với một ngôi chùa nổi tiếng của Hải Dương - Chùa Muống
Chùa Muống xã Ngũ phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương là di tích Lịch
sử - văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng theo Quyết định số 97/QĐ ngày 21 tháng
1 năm 1992 Chùa có tên tự là Quang Khánh tự, di tích đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước, hiện nay là trung tâm tôn giáo lớn của huyện Kim Thành Lễ hội chùa Muống gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhà sư Tuệ Nhẫn - có công chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh Tông và là môn đệ trung thành của vị tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- vua Trần Nhân Tông
Trang 10Căn cứ vào dấu tích hiện còn, những di tích lịch sử- văn hoá thì vùng đất này vốn là vùng đất phù sa cổ, do dòng sông Văn úc bồi đắp từ hàng nghìn năm trước Tương truyền, vào thời Lý Công Uẩn đã có nhiều dòng họ đến đây khai khẩn, đất đai lúc đầu chua phèn, chưa thuần thục Rau muống là thức ăn chính, cây lương thực khó trồng, cây rau muống được mọi người chú trọng, cái tên Dưỡng Mông (tức "nuôi muống") cũng được bắt nguồn từ đó Thời gian trôi đi, số người đến đây lập nghiệp ngày một nhiều thêm, những cánh đồng hoang dần được đẩy lùi, ruộng đất chua phèn dần được cải tạo Hiện nay, tại thôn Dưỡng Mông còn khá nhiều địa danh gắn với sự tích khai phá đất hoang như đồng Công đầu cầu, Đống Rúi, Đống Ông, Rộc Cò, Rộc Ma, Rộc Mét, Rộc Sâu, Rộc Ghếch, Rộc Súng, Đầm Đông, Đầm Am
Cùng với việc khai hoang lập ấp, bao thế hệ người làng Muống(tên gọi nôm của làng Dưỡng Mông)đã xây dựng nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng mang đậm tính bản địa Mặc dù trải bao biến cố của lịch sử, làng Muống vẫn còn một số
di tích như miếu Mã Bến, miếu Thiên Lâu, đình thờ Thành hoàng làng và đặc biệt
là chùa Quang Khánh Chùa Muống có tên tự là Quang Khánh, được xây dựng vào năm nào? ai là người khởi công xây dựng? đến nay vẫn chưa xác định được, nhưng đến thời Trần, chùa có quy mô lớn, di tích tồn tại vào thời Lê và thời Nguyễn Trải qua chiến tranh tàn phá, chùa còn hệ thống tháp thời Lê và thời Nguyễn khá đồ sộ,
di tích đang được khôi phục với quy mô lớn, từng bước trả lại dáng vẻ ban đầu của
di tích
Chùa Quang Khánh là nơi thờ phật theo thiền phái Trúc Lâm, đồng thời là nơi thờ nhà sư Tuệ Nhẫn, là môn đệ trung thành của thiền phái Trúc Lâm, do vua Trần Nhân Tông sáng lập Đồng thời, nhà sư còn có công truyền giáo lý và xây dựng 72 ngôi chùa lớn nhỏ Đối với nhân dân làng Muống, nhà sư không chỉ là người có công xây dựng chùa, mà ông còn là người đầu tiên khai khẩn đất đai, lập nên làng Muống ngày nay, vì vậy ông lại là một vị thành hoàng được nhân dân địa phương thờ phụng
Trang 11Lễ hội chùa Muống được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của nhà sư Tuệ Nhẫn, ông là người tu hành có công chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh Tông
và là môn đệ trung thành xây dựng nên thiền phái Trúc Lâm Việt Nam Theo sách
"Đại Nam nhất thống chí" NXB KHXH, HN năm 1971; tr 411- 412 viết: "Chùa
Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, sư ông Mộng trụ trì ở đây, tu luyện đắc đạo, phép thuật tinh thông Vua Trần Minh Tông đau mắt, các thầy thuốc điều trị không khỏi, đêm mộng thấy một thầy thuốc tự xưng là ông Mộng, khi tỉnh dậy, không cần thuốc thang mà mắt tự khỏi, bèn lấy tên người trong mộng hỏi khắp châu huyện, khi đến chùa này mới thấy, nhà vua sắc phong là Từ Giác Quốc
Sư, lại phát tiền kho tu bổ chùa quán, cho tên là chùa Quang Khánh, Lê Thánh Tông có đề thơ khắc vào đá nay vẫn còn”
Vào thời Trần chùa đã được tu tạo nhiều lần, có lần vua sai Nguyễn Công Củng là quan trong triều về chỉ đạo thi công, hoàng hậu Nguyễn Thị Lương cấp tiền, bạc Chùa có quy mô tới 120 gian lớn nhỏ, xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc" trên khuôn viên rộng 15.000m2, bao gồm tam quan, tiền đường, thượng điện, nhà tổ, nhà tăng, hành lang, gác chuông, gác khánh Chùa có 32 tháp
sư và hàng trăm pho tượng lớn nhỏ
Trải qua thời gian, chùa Muống có khá nhiều nhà sư nổi tiếng trụ trì như sư Như Nhàn, quê ở Kim Lũy (Đông Triều),có cha là người họ Phạm, mẹ là người họ
Lê, sinh vào năm Thuận Đức tam niên (1655) Năm 24 tuổi đi tu tại Yên Tử, cầu đạo với Chân Hiền thiền sư, sau khi đắc pháp, chu du nhiều nơi, rồi trụ trì tại chùa
Tư Phúc ở Côn Sơn, sau đó về chùa Quang Khánh Năm Tân Sửu (1721) Uy tổ Nhân Vương (Trịnh Cương) mời về kinh, cầu đảo ở tháp Báo Thiên, được chúa ban thưởng Tử y Kim Lũ cà sa, phong chức tăng phó Năm 1724 sư viên tịch Do loạn
ly và đói kém, đến năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), môn nhân, phật tử mới xây được tháp, nay tháp vẫn còn
Đương thời, chùa Muống là một ngôi chùa đẹp nổi tiếng, có nhiều nhà thơ đã xúc cảm làm thơ ca ngợi, đáng chú ý nhất là 2 bài thơ của Lê Thánh Tông khắc trên
Trang 12bia hiện nay còn lưu giữ tại chùa Bài thứ nhất khắc vào năm Quang Thuận thứ 6 (1465), đây là bài thơ chữ Hán thất ngôn bát cú ca ngợi cảnh đẹp của chùa Bài thứ hai khắc vào năm Bính Ngọ (1486), đây là một bài thơ nôm với những lời thơ thật xúc cảm:
"Dắng dõi chào ai tiếng phép chung,
Ngang đây thoắt lộ trạnh bên lòng,
Trừng thanh leo lẻo trần hiệu cách,
Gác thẳm làu làu ngọc giá đông.
Sực nức đưa hoa hương mượn gió,
Lúi lô chào khách vẹt thay đồng.
Nhủ đoàn tự đắc ngao du đấy,
Cho biết cơ mẫu vẫn chẳng dong”.
Lễ hội chùa Muống được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của sư tổ Tuệ Nhẫn (tức Vương Thiên Huệ - sư ông Mộng)đã tồn tại nhiều thế kỷ và nay vẫn duy trì và phát triển Khác với những ngôi chùa khác trong vùng, lễ hội ở đây không chỉ đơn thuần là lễ hội kỷ niệm ngày mất của nhà sư Tuệ Nhẫn, mà lễ hội được gắn kết giữa hai yếu tố "Thần và Phật", vì đối với phật tử gần xa - ông là một nhà sư, là sư
tổ cao tăng rất đáng kính trọng, nhưng đối với quê hương, ông lại là một vị thành hoàng làng có công khai khẩn đất đai, lập nên xóm ấp Do đó lễ hội ở đây là một lễ hội đặc biệt, thời gian kéo dài 4 ngày từ ngày 24 đến ngày 27 tháng giêng hàng năm
Lễ hội chùa Muống được tổ chức bắt đầu từ ngày 24, nhưng thực chất đã được chuẩn bị từ trước đó khá lâu Trong ngày 24 quan trọng nhất là lễ"nhập tịch", mục đích của lễ này là làm lễ yết kiến với Thánh tổ xin phép để dân làng được mở
lễ hội Các lễ vật chỉ là lễ chay gồm hương hoa, nải quả, bánh dầy, bánh nếp Các
sư thay nhau tụng kinh niệm Phật suốt ngày đêm, không khí lễ hội khá sôi nổi
Ngày 25 có nghi lễ rước bánh dầy: Theo tập tục của người dân nơi đây là dùng những sản vật do chính họ làm ra trên mảnh đất này, để dâng lên Thánh tổ,
Trang 13sản vật của họ là những hạt gạo nếp thơm ngon tròn trịa, đồ thành sôi, thơm nức, giã mịn tạo thành những chiếc bánh to nhỏ đủ cỡ đặt lên mâm, có những chiếc bánh dầy lớn đặt trên mâm gỗ, đây là tín ngưỡng phồn thực của cư dân trồng lúa nước thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng
Những chiếc bánh dầy đưa lên kiệu, rước quanh chùa, trong tiếng nhạc âm vang và dòng người trang nghiêm, kính cẩn đi theo các kiệu sơn son thếp vàng Sau
đó, những chiếc bánh dầy được đưa vào tiền đường, tam bảo, nhà tổ để làm lễ Tại đây các sư trụ trì và phật tử đọc nhiều bài kinh ca ngợi công lao của đức Phật và mong muốn có mùa màng bội thu
Ngoài nghi thức rước bánh dầy, ngày 25 còn có lễ "Tập ngơi", thực chất lễ này là tập dượt để chuẩn bị cho ngày đại lễ Trong ngày này, có tổ chức rước kiệu thử và chuẩn bị chu đáo các dụng cụ rước
Ngày 26 là ngày chính hội, từ sáng sớm nhân dân địa phương và các Phật tử gần xa đã tấp nập tập kết ở chùa, xếp thành đội ngũ để chuẩn bị rước Cũng giống như các lễ hội ở đình làng, các dụng cụ như kiệu bát cống, bát bửu, long đình, tàn, tán, lọng được chuẩn bị kỹ càng và là dụng cụ rước truyền thống ở đây Đây là một điểm khác biệt của chùa Muống so với các ngôi chùa khác Đi đầu đoàn rước
là phường bát âm, rồi đến bát bửu, đến tàn lọng, kiệu hoa lễ, kiệu bát cống rước tượng Thánh tổ Từ Giác Quốc Sư, sau cùng các Phật tử và nhân dân Trước đây, có
3 kiệu bát cống trên có tượng Thánh Phụ, Thánh Mẫu và tượng Từ Giác Quốc Sư, 3 pho tượng này thường được rước đến tam quan chùa để làm lễ, sau đó lại rước về
an vị trong điện tổ Lễ rước kiệu ở di tích giống như lễ rước kiệu ở các đình đền Việt Nam
Buổi tối ngày 26 có lễ "Mộc dục" (Lễ tắm tượng): sau khi đọc kinh, các sư cùng các Phật tử tiến hành nghi lễ tắm tượng Tất cả các pho tượng đều được tắm rửa bằng nước sạch, có pha nước ngũ vị thơm lừng, nghi lễ này chỉ diễn ra một lần trong năm và vào đúng tối 26 tháng giêng