tạo hướng thú để giờ luyện tập môn hóa học 8 đạt kết quả
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
“Cần phải làm gì để giờ Luyện tập môn Hóa học 8 đạt kết quả?”
Trong tiến trình đổi mới toàn diện về giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng đất nước theo hướng CNH-HĐH Đổi mới phương pháp dạy học là đòi hỏi tất yếu và được xem là khâu then chốt có ý nghĩa góp phần vào sự thắng lợi của sự nghiệp giáo dục, bởi phương pháp dạy học, kết quả dạy học phản ánh chất lượng giáo dục Chỉ có phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh, biết cách tự học với động cơ đúng đắn thì quá trình học tập của các em mới đạt kết quả cao về tri thức, kĩ năng và thái độ
Như vậy, định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được khẳng định: Cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS là giúp học sinh hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động đòi hỏi người thầy phải chuyên cần trong khâu soạn giảng, đặc biệt trong những giờ luyện tập thì lượng kiến thức các em chỉ mang tính chất ôn tập lại và vận dụng vào bài tập, cần tránh học sinh học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc, không vận dụng lí thuyết được vào bài tập,… tạo tiết học thiếu sinh động, nhàm chán Bên cạnh đó, việc kết hợp tốt các phương pháp và phương tiện dạy học giúp rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết với thực hành làm cho quá trình nhận thức của học sinh trở nên đơn giản hơn, mở rộng và khắc sâu những kiến thức cơ bản cần thiết cho các em Vì vậy mỗi giáo viên chúng ta không ngừng học hỏi nghiên cứu tìm ra phương pháp dạy hay giúp học sinh mình đạt được kết quả tốt nhất, với những nội dung đó tôi xin chia sẽ kinh nghiệm của mình trong đề tài này
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Dạy học là quá trình phối hợp chặt chẽ giữa người dạy và người học Người học muốn tiếp thu bài tốt cần nhiều yếu tố trong đó có phương pháp dạy học của người thầy Thật vậy, đối với những bài Luyện tập trong sách giáo khoa Hóa 8 chưa có sự thống nhất về phương pháp dạy học, chuẩn kiến thức cũng không đề cập đến những dạng bài dạy này vì thông thường các tiết Luyện tập lượng kiến thức mang tính chất tái hiện ( kiến thức cũ), mặt khác cấu trúc của các bài Luyện tập bao gồm 2 phần, phần I: Kiến thức cần nhớ và phần II: Bài tập vì vậy cần giúp học sinh hệ thống lại toàn chương đã học, có cách nhìn tổng quát nên mỗi giáo viên chúng ta cần tìm ra phương pháp dạy hay, gây hứng thú tránh nhàm chán trong khi học những giờ Luyện tập như thế, có vậy các em mới yêu thích môn học mình Như chúng ta đã biết hóa học là môn khoa học thực nghiệm, lí thuyết gắn liền bài tập, thí nghiệm thực hành giúp minh họa lí thuyết, nó
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cho nên không nhất thiết chúng ta phải thiết kế bài giảng theo cấu trúc sgk nghĩa là dạy hết lí thuyết sau đó làm bài tập hoặc tiết luyện tập thì không cần làm thí nghiệm vì quan niệm như thế là sai mà chúng ta cần kết hợp tốt các phương pháp trên thì tiết học mang lại hiệu quả cao Vì thế tôi tiến hành nghiên cứu, tìm ra phương pháp dạy học như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất trong những giờ dạy các bài Luyện tập Hóa 8, đó là lí do tôi chọn đề tài “ Cần phải làm gì
để giờ Luyện tập môn Hóa học 8 đạt kết quả?”
II Mục đích và phương pháp nghiên cứu.
Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm muốn trao đổi, chia sẽ kinh nghiệm của mình về phương pháp giảng dạy đối với những bài Luyện tập Hóa 8 với các bạn đọc nhằm tìm ra phương pháp dạy và học có hiệu quả nhất, đổi mới cách dạy học truyền thụ kiến thức một chiều, đồng thời có tính sáng tạo trong cách dạy bài Luyện tập, qua đó thu hút các em vào môn học, làm nổi bật được lý thuyết, khắc sâu lý thuyết và vận dụng vào bài tập tốt hơn
Trên cơ sở đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với những phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của học sinh: thông qua các lần kiểm tra để tìm hiểu mức độ lĩnh hội kiến thức và kĩ năng giải bài tập ở học sinh
Phương pháp phân tích so sánh, đối chiếu: dựa trên kết quả học tập của học sinh tôi phân tích, đối chiếu với chỉ tiêu nhằm điều chỉnh phương pháp dạy của mình
Phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề: trong khi nghiên cứu đề tài thì trên lớp tôi giả sử tình huống, áp dụng vào tiết dạy để thử giải quyết vấn đề đặt ra
Phương pháp quan sát: dùng phương pháp này để quan sát, nghiên cứu đối tượng là học sinh đồng thời nghiên cứu các hoạt động dạy và học
Trang 3Phương pháp đối thoại: trực tiếp trao đổi với bạn đồng nghiệp, học sinh để bổ sung cho phương pháp thực hiện đề tài
III Giới hạn của đề tài.
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi sách giáo khoa Hóa 8, tìm ra phương pháp dạy học có hiệu quả đối với một số bài luyện tập trong chương trình đang học, từ đó áp dụng trên đối tượng là học sinh khối 8 tại trường THCS Gáo Giồng Cách phối hợp giảng dạy giữa phần lý thuyết ( phần kiến thức cần nhớ) với bài tập nhằm làm rõ hơn cho phần lý thuyết đồng thời tránh học sinh có thói quen học vẹt, không biết vận dụng lý thuyết vào bài tập Vì trên thực tế giảng dạy nhiều năm thì phần lớn các em hiểu bài trên lớp về nhà học bài thuộc nhưng đến khi làm bài tập thì nhiều em vận dụng chưa thành thạo lý thuyết vào bài tập, kể cả một số học sinh không làm được Đây là điều làm cho mỗi nguời thầy cần phải suy nghĩ, cần tìm ra phương pháp dạy học như thế nào đạt hiệu quả vì “phương pháp tốt là làm đơn giản những phức tạp”nên cần khai thác tối đa kiến thức đặc biệt trong những giờ Luyện tập Vì vậy, giới hạn của đề tài dừng lại ở phương pháp giảng dạy một số bài Luyện tập Hóa 8
IV Kế hoạch thực hiện.
Đề tài bắt đầu nghiện cứu từ tháng 10/2011 kết hợp với những kinh nghiệm tích lũy của bản thân và học hỏi kinh nghiệm từ các bạn đồng nghiệp
Đến tháng 12/2011 đã nghiên cứu và viết sơ lược về cách thực hiện một số bài luyện tập Hóa 8 trong chương trình Có đối chiếu so sánh trên thực tế những bài đang dạy trên lớp và những tiết dự giờ từ bạn đồng nghiệp để đánh giá lại những mặt được và chưa được
Đến tháng 01/2012 tiếp tục suy nghĩ để khắc phục những mặt chưa được khi thực hiện thử trên thực tế, tìm hiểu thêm nhiều nguồn thông tin trong đó có chuẩn kiến thức kĩ năng, một số bài giảng trên violet
Đến tháng cuối tháng 02/2012 đã hoàn thành đề tài
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
Luật Giáo dục 2005 ( Điều 5) đã quy định: “Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên” Chương trình giáo dục phổ thông kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui và hứng thú cũng như trách nhiệm học tập cho học sinh Thật vậy, quan niệm về triết lí “Thầy giỏi có thể vừa dạy cho mọi người hiểu được,
Trang 4vừa tối ưu hóa năng lực cụ thể” nên chăng mỗi giáo viên chúng ta không ngừng tự học, tự phấn đấu bản thân, tìm ra phương pháp dạy hay, kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp nhằm đa dạng hóa các hình thức dạy học, biến kiến thức phức tạp từ sgk đến với học sinh là những kiến thức đơn giản, dễ hiểu có thế dạy học mới đem lại hiệu quả
II Cơ sở thực tiễn
Dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp,
trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những
cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học là một quá trình giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức, biến tri thức của người thầy đến bản thân mình nhằm tiếp thu và vận dụng một cách có hiệu quả Thật vậy, việc giảng dạy bộ môn Hóa học ở trường phổ thông nhằm mục đích trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức hóa học cơ bản, phổ thông góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, làm nền tảng vững chắc cho các em tiếp thu kiến thức ở các cấp học, bậc học tiếp theo
Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn Hóa học THCS điều nhất thiết là mỗi giáo viên phải suy nghĩ tìm ra phương pháp giảng dạy gây hứng thú học tập tích cực ở các em, làm cho học sinh yêu thích
bộ môn mình, đặc biệt các em bước đầu làm quen với hóa học 8, đây là kiến thức vở lòng đòi hỏi người thầy phải sáng tạo trong phương pháp dạy, hệ thống hóa được kiến thức trọng tâm, củng cố qua những giờ luyện tập, không để học sinh bị hỏng kiến thức để tạo hành trang cho các em bước vào học Hóa 9 và những năm học tiếp theo
III Thực trạng và những mâu thuẫn
Từ thực tế giảng dạy nhiều năm môn Hóa tại trường THCS, sự kết hợp với phương pháp dạy học tích cực, đa dạng hóa các hình thức dạy học, kết quả cho thấy học sinh có hướng tích cực, khả năng vận dụng lý thuyết vào bài tập tương đối tốt So với nhiều năm trước thì việc giảng dạy các bài luyện tập còn mang tính gập khuôn của sgk, vì thế giờ dạy trên lớp đối với các bài luyện tập chưa thực hiện được nhiều bài tập, còn mang nặng về lý thuyết Sau khi được dự giờ, trao đổi từ bạn đồng nghiệp thì cải tiến phương pháp dạy đối với các bài Luyện tập này mang lại hiệu quả hơn cũng như khi dự giờ ở các chuyên đề tổ chức thì một bộ phận giáo viên chưa thật sự đổi mới trong cách dạy các bài luyện tập.Qua trao đổi họ cho là dạy như thiết kế sgk nghĩa là giảng dạy và làm rõ phần lí thuyết sau đó mới vận dụng vào bài tập, họ quên rằng lượng kiến thức lí thuyết này các em đã được tìm hiểu ở từng bài vì thế giờ luyện tập tránh mang nặng lí thuyết mà cần vận dụng lí thuyết vào bài tập Quá trình vận dụng lí thuyết vào bài tập thành công mới phản ảnh được mức độ kiến thức mà học sinh lĩnh hội được
Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học cần có sự thống nhất
và kế thừa theo hướng thiết kế của sgk, vì thế một số nội dung kiến thức chưa thể thực hiện được Mặt khác, do sự hạn chế của bản thân nên vẩn
Trang 5còn đâu đó sự kết hợp các phương pháp chưa thật hay rất mong được chia
sẽ
IV Các biện pháp giải quyết vấn đề qua các tiết Luyện tập.
Từ những thực trạng và mâu thuẫn trên, kết hợp với những kinh nghiệm
áp dụng thành công của bản thân, tôi xin đề xuất một số giải pháp giảng dạy các bài Luyện tập trong sgk Hóa học 8 như sau:
*Bài 8: Bài luyện tập 1 ( trang 29)
-Khi dạy về mục I.2 “Tổng kết về chất, nguyên tử, phân tử”, do các khái niệm này học sinh được tìm hiểu ở các bài trước vì vậy tiết luyện tập này chỉ nhắc lại giúp học sinh nhớ các khái niệm Mặt khác, chúng là những khái niệm trừu tượng, khó nhớ, kênh chữ nhiều nên mục này tôi thiết kế dạng câu hỏi, tổ chức cho các em chơi trò chơi “ Giải ô chữ” ( ô chữ là những khái niệm và gợi ý là nội dung của khái niệm) Qua áp dụng thấy các em có nhiều hứng thú, sôi động trong giờ học, ghi nhớ và khắc sâu được nội dung khái niệm vả lại đây là tiết luyện tập đầu tiên của chương trình Hóa 8 nên các em thích và say sưa học tập bộ môn hơn Cụ thể như sau:
1 2 3 4 5 6 7 8
+Hàng ngang thứ nhất: (gồm 8 chữ cái) đó là từ chỉ: “ hạt vô cùng nhỏ và
trung hòa về điện”
Đáp án: Nguyên tử
+Hàng ngang thứ hai: ( gồm 6 chữ cái): chỉ khái niệm được định nghĩa
là: “ gồm nhiều chất trộn lẫn vào nhau”
Đáp án: Hổn hợp.
+Hàng ngang thứ ba: ( gồm 7 chữ cái): “ khối lượng nguyên tử tập trung
hầu hết ở phần này”
Đáp án: Hạt nhân
+Hàng ngang thứ tư: (gồm 8 chữ cái): “ hạt cấu tạo nên nguyên tử mang
điện tích âm”
Đáp án: Electron.
+Hàng ngang thứ năm: ( gồm 6 chữ cái): “ hạt cấu tạo nên hạt nhân
nguyên tử nhưng mang điện tích dương”
Đáp án: Proton.
Hàng ngang thứ nhất
Hàng ngang thứ hai
Hàng ngang thứ ba
Hàng ngang thứ tư
Hàng ngang thứ năm
Hàng ngang thứ sáu
Trang 6+Hàng ngang thứ sáu (gồm 8 chữ cái): đó là từ chỉ “ tập hợp những
nguyên tử cùng loại có cùng số proton trong hạt nhân”
Đáp án: Nguyên tố.
Từ chìa khóa: chỉ hạt đại diện cho chất và thể hiện đầy đủ tính chất
hóa học của chất ( hoặc các em có thể ráp lại thành cụm từ hoàn chỉnh).
Đáp án: PHÂN TỬ.
*Ở bài 11: Bài luyện tập 2 Tổ chức trò chơi “ Ai nhanh hơn” bằng cách lắp ráp CTHH theo hóa trị
Cách tổ chức: lớp chia làm 4 nhóm, các nhóm nhận 01 gói các tờ bìa gồm các nguyên tố, nhóm nguyên tử và các số yêu cầu ráp đúng 05 CTHH nhanh nhất nhận 1 phần thưởng (phần thưởng có thể là quà hoặc điểm cộng vào cột điểm hệ số 1)
Ví dụ: các CTHH ráp đúng như: KCl, K2SO4, BaCl2, FeSO4, Al2O3, -Để giảng dạy phần I.1 về đơn chất và hợp chất Có thể đưa bài tập: “
Trong các chất H 2 , H 2 O, HCl, Cl 2 , Al 2 (SO 4 ) 3 , SO 2 , S, O 2 , Chỉ ra chất nào
là đơn chất, hợp chất Giải thích?”
Đáp án: -Đơn chất: H2, Cl2, S, O2 vì chúng đều do một nguyên tố hóa học tạo nên
-Hợp chất: H2O, HCl, Al2(SO4)3, SO2 vì chúng đều có từ 2 nguyên tố hóa học trở lên tạo nên
Thông qua bài tập này giúp ta kiểm tra được mức độ tiếp thu kiến thức của HS về lí thuyết đơn chất chất và hợp chất Từ bài tập giáo viên giúp
HS khái quát lên công thức tổng quát của đơn chất và hợp chất
-Với phần I.2 – hóa trị: Áp dụng bài tập 1 sgk trang 41 để tính hóa trị của nguyên tố
Hướng giải:+Cu(OH)2 → Cu(II) có thể đặt công thức ở dạng Cu a (OH I )2 , khi đó áp dụng theo quy tắc hóa trị ta có a= I× =II
1
2
(trong đó a là hóa trị của Cu)
+PCl5 → P(V) do Cl(I) nên 5 nguyên tử Cl thì P có hóa trị là V
+SiO2 → Si(IV) do O(II) nên 2 nguyên tử O thì Si có hóa trị IV
+Fe(NO3)3 → Fe (III), có thể đặt công thức ở dạng
3
3 ) ( I
a
NO
Fe khi đó a = I× = III
1
3
Vậy Fe(III)
Sau bài tập cho HS nêu được khái niệm hóa trị và quy tắc hóa trị Tiếp theo là bài tập 4 hoặc 3 vì đây là dạng bài tập ngược lại BT1( là biết hóa trị yêu cầu lập CTHH) Cần giúp HS cách lập CTHH nhanh ( thay vì lập 4 bước theo sgk)
Ví dụ: Lập CTHH của hợp chất gồm: Al(III) và Cl(I); S(IV) và O(II)
Hướng dẫn:
Trang 7Al III Cl I → CTHH là: AlCl3 (vì theo quy tắc hóa tri
thì (III) và (I) là số tối giản).
SIVOII → CTHH là: SO2 (Do IV:II chưa tối giản) Qua cách làm như thế giúp người giáo viên hạn chế được thời gian trên lớp, cùng một thời gian vừa ôn được lí thuyết vừa vận dụng vào bài tập tốt hơn, giúp học sinh hiểu bài dễ dàng
*Ở bài luyện tập 3: theo tôi để giảng dạy phần I về hiện tượng hóa học
và phương trình hóa học, chúng ta có thể cho HS biểu diễn thí nghiệm cho mãnh Al vào ống nghiệm chứa dung dịch HCl, nêu hiện tượng
HS:mãnh Al tan dần ra, có bọt khí sủi lên
GV:thí nghiệm trên là hiện tượng gì? Vì sao em biết? HS: thí nghiệm trên xảy ra hiện tượng hóa học vì có sủi bọt
GV cung cấp thêm: dấu hiệu sủi bọt là có khí H2 thoát ra nghĩa là có chất mới tạo thành
Vậy quá trình biến đổi chất như thế gọi là phản ứng hóa học.
GV: Hướng dẫn HS viết phương trình, ngoài sản phẩm là H2 còn có AlCl3
HS: Al + HCl - AlCl3 + H2
GV: Để lập được phương trình trên, các em nhận xét về số nguyên
tử của từng nguyên tố ở 2 vế phương trình để tìm ra hệ số thích hợp HS: 2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2
GV: phương trình hóa học cho biết những gì?
HS: cho biết CTHH, hệ số
Dùng thí nghiệm ôn lại lý thuyết như thế gây được hứng thú ở các em, tránh nhàm chán, đồng thời thí nghiệm giúp các em hiểu rõ vấn đề hơn Sau khi hoàn thành lý thuyết có thể chiếu bài tập 1 sgk cho các em thực hiện dễ dàng Qua bài tập cần nhấn mạnh với HS trong phản ứng hóa
học chỉ có liên kết giữa các nguyên tử thay đổi làm cho phân tử biến
đổi Tiếp theo là tổ chức HS hoạt động nhóm thực hiện BT 3,4,5 sgk
*Ở bài luyện tập 4: Kinh nghiệm dạy các công thức tính toán, giúp HS tránh nhầm lẫn và khắc sâu kiến thức xin được chia sẽ như sau:
-Trước tiên cần giúp HS thấy được mối quan hệ giữa các đại lượng thông qua các công thức tính
-Cần chú ý HS thường gặp 2 công thức tính số mol: khi đề cho khối lượng (g) thì n = m/M mol, còn khi cho thể tích chất khí đktc (l) thì n=V/22,4 mol
-Sau đó áp dụng vào bài tập, hướng dẫn HS xác định chất cần đổi mol cho ở đơn vị khối lượng (g) hay thể tích (l) GV tóm lược ở bảng giúp
HS nhớ lại bằng cách
Nếu đề cho khối lượng (g): m n
n=m/M (mol)(1)
Trang 8
Nếu đề cho thể tích (l) : V n
n=V/22,4(mol)(2)
Từ dẫn dắt trên HS dễ dàng tìm đúng công thức số mol và thực hiện bài tập dễ dàng, tránh yêu cầu HS học thuộc lòng vì thuộc mà không biết áp dụng vào bài tập, như thế không mang lại hiệu quả
*Ở bài Luyện tập 5: Phần I Kiến thức cần nhớ: có 8 nội dung kiến thức cần ôn lại, sau đó vận dụng vào bài tập, nếu chúng ta dạy theo lối sgk thì giờ dạy 45 phút không đảm bảo, hiệu quả vận dụng lý thuyết vào bài tập không khả quan, hạn chế bài tập rất nhiều vì thế cần tìm ra phương pháp dạy học mà ở đó có sự phối hợp hài hòa giữa lý thuyết và bài tập giúp các em hiểu và vận dụng trực quan hơn Cụ thể như sau:
- GV: Khí oxi là 1 đơn chất phi kim hoạt động rất mạnh, đặc biệt ở nhiệt độ cao→ yêu cầu HS minh họa bằng phương trình hóa học
- HS: -Tác dụng với phi kim: S+O2 →t0 SO2
-Tác dụng với kim loại: 2Cu + O2 →t0 2CuO
-Tác dụng với hợp chất: CH4 + 2O2 →t0 CO2 + 2H2O
-GV cung cấp thêm: oxi có tính hóa rất mạnh Liên hệ ngay ở điều kiện thường oxi oxi hóa kim loại như sắt, đồng, thành oxit Vì vậy để bảo vệ kim loại như sắt thường phủ bên ngoài lớp sơn ngăn cách sắt tiếp xúc với oxi Mặc dù thế, oxi có rất nhiều ứng dụng, vậy trong lĩnh vực nào? Cho ví dụ:
-HS: Hô hấp và đốt nhiên liệu Lấy ví dụ? Từ đó cho HS thực hiện bài tập 1 sgk dễ dàng ( có thể không yêu cầu gọi tên oxit)
-GV: oxi có nhiều ứng dụng nên nguyên liệu điều chế oxi trong PTN
là gì? (HS: KMnO4 hoặc KClO3), cần cho HS phân tích đặc điểm của
chất ( vì KMnO4 và KClO 3 là những chất giàu oxi, dễ phân hủy ở nhiệt độ cao) GV đưa bài tập: Có các phản ứng sau:
a/ 2KMnO4 →t0 K2MnO4 + MnO2 + O2
b/ CaCO3 →t0 CaO + CO2
c/ 2H2 + O2 →t0 2H2O
d/ 2H2O →t0 2H2 + O2
e/ CaO + CO2 → CaCO3
f/ 2KClO3 →t0 2KCl + 3O2
g/ C+ O2 →t0 CO2
Hỏi: Qua 7 phương trình trên, phản ứng nào dùng để điều chế oxi trong
phòng thí nghiệm? ( HS: (a) và (f)) Phản ứng đó thuộc loại phản ứng gì? (HS: phản ứng phân hủy) Vì sao em biết? (HS: Vì có 1 chất tham
gia, tạo ra nhiều sản phẩm) GV: ngoài 2 phản ứng trên, có phản ứng
nào thuộc phản ứng phân hủy không? (HS: (b), (d) ) Vậy các phản ứng còn lại thuộc loại phản ứng gì? (HS: phản ứng hóa hợp) GV: Vậy, phản ứng phân hủy và phản ứng hóa hợp khác nhau điểm nào? (HS: Chúng
Trang 9ngược nhau hoàn toàn, với phản ứng hóa hợp có 01 chất tạo thành từ 2 hay nhiều chất tham gia, còn phản ứng phân hủy thì 1 chất tham gia sinh ra nhiều sản phẩm) Cũng bài tập trên khai thác thêm phản ứng nào
có xảy ra sự oxi hóa? Vì sao? (HS: (c) và (g) vì có sự tác dụng của oxi
với chất khác) Liên hệ, sự oxi hóa này có lợi hay hại? Tại sao phản ứng
(e) không xảy ra sự oxi hóa?
→Thông qua bài tập như thế, trong cùng một thời gian mà giải quyết được lĩnh vực kiến thức về 2 loại phản ứng hóa học, khái niệm về sự oxi hóa? Đồng thời làm sáng tỏ lí thuyết, gợi ý HS về nhà thực hiện được bài tập 6,7 cùng dạng trên
- Để giảng dạy mục I.5 khái niệm về oxit, phân loại, gọi tên GV cần minh họa bài tập 3 sgk vì đưa bài tập vào thời điểm này rất hay Thông qua bài tập các em rút ra kết luận chung về lí thuyết
-Với mục I.6, cần liên hệ lại sự cháy của P trong không khí và trong oxi có gì khác nhau? Tại sao có sự khác nhau đó? GV dẫn dắt để HS trả lời được câu hỏi và rút ra được thành phần theo thể tích của các chất trong không khí
Tóm lại: với loại bài luyện tập như thế, tôi thường áp dụng phương pháp đi từ bài tập, thí nghiệm để tóm lại lý thuyết, hình thành cho các
em chống lối học vẹt, học thuộc mà không vận dụng được vào bài tập Phương pháp này rất phù hợp với bộ môn vì Hóa học là môn khoa học
tự nhiên, gắn liền với thí nghiệm thực hành vì thí nghiệm hóa học có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học Nó giúp minh họa, kiểm chứng các quy luật lí thuyết, đồng thời giúp dự đoán, phát hiện các quy luật của Hóa học, từ đó giúp các em nắm vững kiến thức hóa học tốt hơn
*Đối với bài 34- Bài luyện tập 6
Việc phối hợp giảng dạy giữa lý thuyết và bài tập một cách phù hợp giúp bài dạy thêm phần sinh động hơn Ở phần I-Kiến thức cần nhớ: ngay từ đầu, có thể đưa bài tập:
Hoàn thành các phương trình sau:
1/ H2 + O2
2/ H2 + Fe2O3
3/ H2 + CuO
4/ Al + H2SO4 (dd)
HS:
1/ 2H2 + O 2 →t0 2H 2 O
2/ 3H 2 + Fe 2 O 3 →t0 2Fe + 3H 2 O
3/ H 2 + CuO →t0 Cu + H 2 O.
4/ 2Al + 3H 2 SO 4 (dd) → Al 2 (SO 4 ) 3 + 3H 2
Sau khi HS hoàn thành các phương trình, giáo viên có thể đặt câu hỏi xung quanh bài tập gắn liền với nội dung lí thuyết của phần I Vì như thế HS dễ vận dụng vào bài tập hơn Ví dụ:
Trang 10- Dựa vào các phản ứng trên, nhận xét về tính chất của H2? Khi đó HS nêu được H2 thể hiện tính khử, ở nhiệt độ thích hợp H2 vừa kết hợp với đơn chất O2, vừa kết hợp với oxi trong hợp chất oxit
-Phản ứng nào có xảy ra sự oxi hóa? Vì sao? (HS: phản ứng (1) vì có
mặt của O 2 tác dụng với chất khác) Đồng thời cho HS nhắc lại O2 chất oxi hóa mạnh Giáo viên cung cấp thêm, không những O2 mà những chất nhường oxi cho chất khác cũng là chất oxi hóa Còn H2 thể hiện tính khử, hoặc những chất chiếm oxi của chất khác gọi là chất khử -Trong các phản ứng trên, phản ứng nào dùng để điều chế H2 trong
PTN? (HS: phản ứng (4) ) Phản ứng đó thuộc phản ứng gì?(HS: phản
ứng thế) Vậy các phản ứng còn lại thuộc phản ứng hóa học nào? (HS: các phản ứng (1),(2),(3) là phản ứng oxi hóa –khử).Vì sao? (HS: vì có xảy ra đồng thời sự khử và sự oxi hóa).
- Ngoài nguyên liệu điều chế H2 từ Al và H2SO4, có thể thay thế hóa
chất nào khác? (HS: Có thể thay thế Al bằng Fe hoặc Mg hoặc Zn và dd
H 2 SO 4 thay bằng HCl) Nếu thu H2 thì có mấy cách thu và dựa trên
những tính chất nào?(HS: Có 2 cách thu H2 : đẩy nước vì H 2 rất ít tan trong nước và đẩy không khí vì H 2 nhẹ nhất trong tất cả các khí nên úp miệng ống nghiệm( bình) xuống) Thử làm thí nghiệm minh họa.(HS có
thể minh họa thí nghiệm)
- Sau khi thực hiện được lý thuyết cũng đã giải quyết một số bài tập có liên quan
*Ở bài luyện tập 7:
Phần I-Kiến thức cần nhớ có thể thực hiện như sau:
-Cho HS nhắc lại thành phần của nước, tỉ lệ về thể tích và khối lượng
(HS: thành phần của nước gồm hidro và oxi, trong đó tỉ lệ theo thể tích
là 2 phần hidro và 1 phần oxi; theo khối lượng là H-1 phần, O-8 phần).Sau đó cho HS làm bài tập: Hoàn thành các phương trình sau:
1/ Zn + HCl -
2/ K + H2O -
3/ BaO + H2O
4/ SO3 + H2O
HS:
1/ Zn + 2HCl → ZnCl 2 + H 2
2/ 2K + 2H 2 O → 2KOH + H 2
3/ BaO + H 2 O → Ba(OH) 2
4/ SO 3 + H 2 O → H 2 SO 4
Sau khi hoàn thành bài tập, nhận xét, đánh giá Khai thác thêm qua gợi
ý sau: Tương tự cho bài tập trên, lấy ví dụ chất khác thay thế cho K, BaO, SO3 đem tác dụng với nước, từ đó nêu tính chất hóa học của nước (yêu cầu như thế nhằm giúp HS viết được đa dạng phương trình, từ đó nêu được tính chất hóa học của nước đồng thời gợi ý thực hiện được BT1 sgk, cần khai thác thêm loại phản ứng hóa học)