1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 -2007

5 1,2K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Tác giả Phạm Thế Vũ
Người hướng dẫn Ths. Dương Thị Hằng
Trường học Đại học Ngoại ngữ
Chuyên ngành Quốc tế học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2008
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 275,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài:Nghiên cứu về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 -2007

Trang 1

NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU

CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2007

A RESEARCH ON THE IMPORT-EXPORT BUSINESS OF VIETNAM IN THE STAGE OF 2001-2007

SVTH: PHẠM THẾ VŨ

Lớp 06CNQT01, khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại ngữ

GVHD: THS DƯƠNG THỊ HẰNG

Khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN

TÓM TẮT

Xuất nhập khẩu là một ngành kinh tế quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam Tuy nhiên, những thông tin về hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam được công bố vẫn còn rời rạc, thiếu chi tiết, thiếu cập nhật Bài báo sẽ cố gắng giải quyết những vấn đề trên bằng cách: khái quát tương đối họat

động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007 một cách cập nhật và đầy đủ nhất SUMMARY

Import-export business is an important and determining factor in the success of the industrialization and modernization of the whole country However, the information made public

on this field is still desultory, insufficient and out-of-date The article is in an effort to solve the above matter by providing an updated and detailed description of the import-export business of Viet Nam in the stage of 2001 – 2007

1 Mở đầu

Mục đích của nghiên cứu là: hệ thống hóa các vấn đề chung về xuất nhập khẩu, trình bày tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2007 một cách cập nhật và đầy đủ nhất có thể

Phạm vi nghiên cứu là lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, không đề cập đến lĩnh vực xuất nhập khẩu dịch vụ Trong xuất nhập khẩu hàng hóa, nghiên cứu cũng chỉ đi sâu vào phân tích một số vấn đề chủ yếu: tốc độ tăng trưởng và qui mô xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu, cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu, các thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực xuất nhập khẩu, các điều kiện ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân tích, thống kê

Nghiên cứu sử dụng rất nhiều số liệu từ các nguồn khác nhau Các số liệu dùng để phân tích tình hình xuất nhập khẩu được tổng hợp từ nguồn đã được Tổng cục thống kê, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao công bố Các số liệu phục vụ cho các lập luận được tổng hợp từ những tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo, các trang web chính thức của WTO, IMF

Trong phạm vi cho phép hạn hẹp, bài báo này chỉ có thể nêu lên các vấn đề được nghiên cứu; những kết quả khái quát nhất từ việc phân tích, thống kê số liệu; hạn chế tối đa số lượng các bảng, biểu đồ

2 Nội dung

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2007

2.1.1 Nhân tố khách quan:

Những biến động kinh tế, chính trị trên thế giới, Trung Quốc gia nhập WTO

2.1.2 Nhân tố chủ quan:

Trang 2

Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định Thương mại, kết quả họat động xuất nhập khẩu giai đoạn 1986-2000, định hướng chiến lược phát triển Ngoại thương Việt Nam, mục tiêu chung của xuất khẩu Việt Nam thời kì 2006-2010

2.2 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007

2.2.1 Giá trị và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu

Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu không ổn định Năm 2001, tăng trưởng xuất nhập khẩu chỉ đạt 3,7% do tình tình kinh tế - chính trị thế giới biến động Chỉ

số này đã được cải thiện vào năm 2002, và bứt phá trong hai năm 2004-2005 Sau khi suy giảm nhẹ vào năm 2005, tốc độ tăng trưởng tiếp tục giữ ở mức cao, đặc biệt năm 2007 là 28,9%, cao nhất trong 7 năm của giai đoạn 2001–2007 Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 20,5%

Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 109.217 triệu USD, gấp 3,5 lần so với 31.247 triệu USD của năm 2001

2.2.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

a Nhóm hàng khoáng sản, nhiên liệu:

Năm 2007 chỉ riêng hai mặt hàng dầu thô và than đá đã chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Sản lượng xuất khẩu dầu thô và than đá tăng trưởng không ổn định Khối lượng xuất khẩu dầu thô chỉ tăng nhẹ trong những năm đầu của giai đoạn 2001-2007 rồi giảm dần Sở dĩ có sự sụt giảm này là do các mỏ dầu cũ dần cạn kiệt trong khi công tác thăm

dò và mua lại mỏ dầu mới của các nước khác không đạt nhiều tiến triển

Để tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, trong những năm tới kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng này sẽ giảm dần Trong đề án xuất khẩu 2006-2010, Bộ thương mại đã điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu khoáng sản, nhiên liệu xuống còn 9,6% vào năm 2010, trong đó giá trị xuất khẩu dầu thô còn 6,1 tỷ USD và than đá còn 325 triệu USD

b Nhóm hàng nông lâm thủy sản

Trong vòng 7 năm 2001-2007, giá trị xuất khẩu các mặt hàng này đã tăng lên gần gấp 3 lần Đây là những mặt hàng chịu nhiều tác động của thị trường thế giới Trong những năm 2001-2003, do ảnh hưởng của kinh tế thế giới suy giảm, nhu cầu về nông sản, thủy sản giảm làm giảm giá hàng loạt mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu tăng rất chậm trong giai đoạn này Những năm còn lại của giai đoạn 2001-2007, do tình hình kinh

tế thế giới phục hồi và chi phí sản xuất gia tăng; giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã tăng nhanh

Trong năm 2007, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản có phần giảm hoặc tăng không nhiều Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu lại tăng rất cao so với năm 2006 Nguyên nhân là giá nông sản thế giới đang trên đà lên giá Đầu năm 2008, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực khi giá hầu hết các nông sản chính như: bắp, lúa mì, gạo đều tăng gấp 2-3 lần trong vòng chưa đầy hai năm

*Tóm lại, do đã có quá trình phát triển lâu dài, đã khai thác phần lớn tiềm năng nên hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam những năm qua có xu hướng tăng trưởng chậm lại về khối lượng, nhưng vẫn gia tăng nhanh về giá trị do giá cả thế giới có xu hướng tăng lên

Việc gia nhập WTO đã đặt ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trước những thời cơ

và thách thức mới

Để các mặt hàng này thực sự trở thành thế mạnh của xuất khẩu Việt Nam, về lâu dài cần phát triển theo hướng: nâng cao dần chất lượng sản phẩm, gia tăng hàm lượng chế biến, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu, phát triển hạ tầng pháp lý

c Nhóm hàng chế biến:

Trang 3

Đây là nhóm hàng gồm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: dệt may, giày dép, sản phẩm cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, điện tử, thủ công mỹ nghệ… Có thể phân chia các mặt hàng này thành hai nhóm

+ Hàng chế biến chính: thủ công mỹ nghệ, dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm cơ khí – điện, vật liệu xây dựng, sản phẩm gỗ

+ Hàng chế biến cao: điện tử và linh kiện máy tính, phần mềm

(1) Dệt may, da giày:

Tình hình xuất khẩu dệt may, da giày của Việt Nam 7 năm qua luôn ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành dệt may là 23%, da giày là 15,3% Hai ngành này có chung đặc điểm là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với lợi thế lao động giá rẻ ở Việt Nam Những hạn chế của các ngành này là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (60%-70%), hao phí điện năng lớn

(2) Sản phẩm gỗ

Các sản phẩm gỗ gia tăng giá trị xuất khẩu một cách đều đặn trong giai đoạn

2001-2007 Trong vòng 7 năm, giá trị xuất khẩu tăng gấp 7 lần Năm 2004 có tốc độ tăng trưởng kỉ lục 81%, qua đó đưa gỗ vào nhóm hàng có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD Gia nhập WTO mở

ra những thuận lợi và cả khó khăn cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu

(3) Máy tính và linh kiện điện tử:

Ngành xuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy tính đang ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam Nếu như không tính năm 2002 xuất khẩu mặt hàng này giảm đi do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân của mặt hàng này giai đoạn 2003-2007 đạt 29,4%, cao nhất trong số các mặt hàng chủ lực

*Tóm lại, vấn đề nan giải đối với các sản phẩm chế biến: dệt may, da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa… là nguồn nguyên, phụ liệu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài Do vậy, giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu chưa cao, các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động trong việc kí kết các hợp đồng Nhiều sản phẩm chế biến còn mang tính chất gia công

2.2.3 Các thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu

a Các thị trường xuất khẩu chủ yếu

Các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là: Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia Trong giai đoạn 2001-2007, Kim ngạch xuất khẩu vào tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2,8 lần, vào Nhật tăng 2,3 lần và vào ASEAN tăng 2,8 lần Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ Nếu như năm 2001, giá trị xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệu USD, thì đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 10,54 tỷ USD, xấp xỉ 10 lần năm 2001 Kết quả này có được là nhờ Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ kí kết vào năm 2000

và có hiệu lực vào cuối năm 2001

Định hướng xuất khẩu của Việt Nam là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước châu Á

b Các thị trường nhập khẩu chủ yếu

Các đối tác Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều thuộc khu vực Đông Á: Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông Năm 2001, Việt Nam nhập khẩu đến 73,7% hàng hóa từ các nước trên; đến 11 tháng đầu năm 2007, con số này

là 76,3% Trong chính sách về cơ cấu thị trường nhập khẩu, định hướng đưa ra là giảm tỷ

Trang 4

nhập khẩu thời kì 2001-2010 còn đề cập tới việc gia tăng nhập khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như Mỹ, EU, Nhật Bản lên 40% vào năm 2010 Tuy nhiên, đến thời điểm này có thể thấy mục tiêu này hoàn toàn không khả thi

*Tuy hàng hóa của chúng ta xuất khẩu sang khoảng 200 nước và vùng lãnh thổ nhưng kim ngạch xuất khẩu sang 40 thị trường lớn nhất đã chiếm đến 97% giá trị xuất khẩu, 20 thị trường lớn nhất chiếm đến 90% giá trị xuất khẩu Trong nhập khẩu, Việt Nam mua đến 76,3% hàng hóa từ 8 đối tác lớn nhất

Các đối tác xuất khẩu chủ yếu là các thị trường có công nghệ nguồn, trong khi các đối tác nhập khẩu chủ yếu lại là các thị trường không có công nghệ nguồn

2.2.4 Xuất nhập khẩu theo khu vực kinh tế và theo nhóm hàng

a Theo khu vực kinh tế

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có giá trị xuất khẩu thấp hơn khu vực kinh

tế trong nước vào những năm 2001-2002, xấp xỉ trong năm 2003 và vượt lên trong những năm sau của giai đoạn 2001-2007 Điều này cho thấy khu vực sử dụng vốn FDI có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng năm cao hơn khu vực trong nước

Giai đoạn này còn chứng kiến sự xuất siêu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước Năm 2007, khu vực kinh tế trong nước đã nhập siêu gần 19 tỷ USD và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu hơn 6 tỷ USD

b Theo nhóm hàng

(1) Xuất khẩu

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2001-2006 nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông, lâm, thủy sản lần lượt là 18,4%; 22,2% và 15,2% Như vậy, nhóm hàng Công nghiệp nhẹ và Tiểu thủ công nghiệp gia tăng nhanh về giá trị và chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu quốc gia Vai trò của nhóm hàng nông, lâm thủy sản giảm đáng kể

(2) Nhập khẩu

Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân của ba nhóm hàng: máy móc, thiết bị, dụng

cụ, phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng trong giai đoạn 2001-2006 lần lượt là 17,4%; 25,9% và 19,3% Sau 5 năm 2001-2006, cơ cấu nhập khẩu đã có thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng nhóm hàng nguyên, nhiên vật liệu, giảm tỉ trọng hai nhóm hàng máy móc, thiết bị và hàng tiêu dùng

2.2.5 Tình trạng nhập siêu:

Nhập siêu xảy ra liên tục trong cả giai đoạn 2001-2007 Ngoại trừ năm 2005 có giá trị nhập siêu giảm nhẹ, các năm còn lại giá trị nhập siêu tăng liên tục, đặc biệt năm 2007 vừa qua tăng gần 2,5 lần Đây là mức tăng kỉ lục trong thời gian qua Tỉ lệ nhập siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 cũng cao kỉ lục: 25,82%, cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tình hình 2 tháng đầu năm 2008 đã cho thấy nhập siêu đến gần 4,3 tỷ USD, bằng 49,2% kim ngạch xuất khẩu

3 Kết luận

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2007 dù gặp không ít khó khăn nhưng vẫn đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều mặt Ngay cả những nhà

hoạch định chính sách khi công bố “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu 2001-2010” có lẽ

cũng không thể ngờ được nhiều mục tiêu họ đề ra cho năm 2010 đã được hoàn thành, thậm chí vượt xa trong năm 2007

Trang 5

Bên cạnh thành công, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tồn tại một số hạn chế, thậm chí rất gay gắt và cần được khắc phục kịp thời Những hạn chế như: thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, cơ cấu xuất nhập khẩu chậm biến đổi, khu vực kinh tế trong nước hoạt động chưa hiệu quả như kì vọng, hiện tượng nhập siêu… là những thách thức to lớn đối với ngành Ngoại thương Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Đỗ Đức Bình (2002), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội [2] Đỗ Đức Minh (2006), Tài chính Việt Nam 2001-2010, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội [3] Bùi Xuân Lưu (2002), Giáo trình Kinh tế Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội [4] Nguyễn Thị Kim Thúy (2006), Nguyên lý Thống kê, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, TP

Hồ Chí Minh

[5] Bộ Thương mại (2000) Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kì 2001 – 2010

[6] Bộ Thương mại (2005), Đề án phát triển xuất khẩu 2006 – 2010

Ngày đăng: 26/04/2013, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w