Đây là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từtuổi thơ sang người lớn, giai đoạn đặc biệt, duy nhất của cuộc sống vì xảy rađồng thời một loạt những thay đổi, bao gồm : Sự chín muồ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CẢM ƠNTiểu luận này được hoàn thành với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình củacác thầy cô giáo trong khoa sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội và sự giúp đỡcủa các bạn trong tập thể lớp K48 - Sư phạm Sử Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâusắc tới các thầy cô trong khoa Sư phạm và các bạn sinh viên đã giúp đỡ em hoànthành tiểu luận này.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Văn Tính, người đã hướngdẫn em hoàn thành tiểu luận này
Do trình độ còn hạn chế, thời gian ngắn, và tài liệu ít, tiểu luận này khótránh khỏi những hạn chế Em mong sẽ nhận được sự đóng góp của thầy cô vàcác bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Bùi Thị Thúy
Trang 3PHẦN I : MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vị thành niên : là nhóm người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là
công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ ( theo Từ điển Tiếng Việt, 1994 NXBGD)
-Hầu hết học sinh THCS và THPT được xếp vào nhóm vị thành niên(VTN), từ 14 - 18 tuổi Đây là một giai đoạn chuyển tiếp của sự phát triển từtuổi thơ sang người lớn, giai đoạn đặc biệt, duy nhất của cuộc sống vì xảy rađồng thời một loạt những thay đổi, bao gồm : Sự chín muồi về thể chất ; Sự biếnđổi điều chỉnh tâm lý ; Và sự biến đổi các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng các yêucầu và nhiệm vụ phát triển Đây cũng là giai đoạn phát triển có nhiều khó khăn,thậm chí khủng hoảng, so với các lứa tuổi khác do những biến đổi dữ dội về tâm
lý về cả phạm vi và mức độ, đến mức nhiều người xem đó như một “giai đoạnkhủng hoảng” của đầu đời
Những công trình nghiên cứu sự phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi VTNgần đây quan niệm : Lứa tuổi này như là một giai đoạn phát triển đi qua một loạtnhững lớp sự kiện, những kinh nghiệm, sự trải nghiệm, hay những nhiệm vụphát triển được xác định về mặt xã hội Những diễn biến phức tạp về tâm lý làmột trong những nguyên nhân lôi cuốn trẻ VTN vào những hành vi bất thường,hành vi xấu trong xã hội : rượu, cờ bạc, nghiện hút, quan hệ tình dục (gọi là :rối nhiễu tâm lý VTN) Các hiện tượng này gây nhiều lo ngại cho các bậc cha
mẹ, nhà giáo dục và xã hội
II MỤC ĐÍCH
Do những thay đổi quan trọng và phức tạp trên, đề tài này đi phân tíchdiễn biến sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi VTN, trình bày một số rối nhiễu cơbản giúp nhà giáo dục nắm bắt được những đặc trưng tâm lý và diễn biến tâm lýcủa tuổi VTN Từ đó, có những ứng xử sư phạm phù hợp với những hành vi vàbiểu hiện tâm lý khác thường ở học sinh Đồng thời đưa ra một số góp ý đối vớinhà giáo dục, đảm bảo cho việc giáo dục học sinh lứa tuổi vị thành niên đạt hiệuquả tốt nhất
Trang 4PHẦN II : NỘI DUNG
I Những biến đổi tâm sinh lý của trẻ vị thành niên.
1.Thay đổi về mặt sinh lý
Dù chủ động hay bị động về tâm lý, trẻ em giai đoạn này đều phải đối mặtvới vấn đề dậy thì Tuổi dậy thì được coi là dấu hiệu quan trọng nhất cho sự bắtđầu thời VTN
Dậy thì : Là giai đoạn trưởng thành nhanh chóng về thể xác liên quan đến
hoóc - môn và những thay đổi về cơ thể thường xảy ra ở đầu VTN, với sự biếnđổi cơ thể (hệ cơ, xương, cơ quan sinh dục và các đặc tính sinh dụcphụ ).Được đánh dấu bằng kỳ kinh đầu tiên ở các em gáivà lần xuất tinh đầutiên ở em trai, báo hiệu sự trưởng thành về mặt thể chất, sự chín muồi của quátrình phát triển Trẻ có khả năng sinh sản
+ Thay đổi về hooc môn.
Kết qủa của sự thay đổi hình thể giữa bé trai và bé gái được quyết địnhbằng tăng lượng hooc môn: “ những chất hoá học cực mạnh do những tuyến nộitiết âm thầm tiết ra và được máu đưa đi khắp cơ thể” Vai trò của hệ thống nộitiết ở tuổi dạy thì liên quan đến sự hoạt động của cấu tạo dưới đôi, tuyến yên vàcác tuyến sinh dục
- Cấu tạo dưới đồi: là một cấu trúc nằm ở phần não trước có chức năngkiểm soát sự đói, khát và tình dục
- Tuyến yên: là tuyến nội tiết quan trọng điều khiển sự tăng trưởng và ổnđịnh của các tuyến khác
- Tuyến sinh dục: Là tuyến chỉ giới tính- tinh hoàn ở nam và buồng trứng
ở nữ
Hai loại hooc môn chính quan trong cho sự phát triển trong thời dạy thì làandrogen( kích thích tố nam) và estrogen( kích thích tố nữ) cả hai loại kích tốnày đều có ở cả nam và nữ nhưng androgen mạnh hơn ở nam và estrogen mạnhhơn ở nữ Các nhà khoa học cho biết: trong thời dạy thì lượng kích tố nam caođột biến ở nam, kéo theo: bộ phận sinh duc ngoài phát triển tăng trưởng cao vàgiọng nói thay đổi- “ vỡ tiếng” Và kích thích tố nữ ở nữ cao đột biến kéo theo
Trang 5sự phát triển ở vú, xương chậu và tử cung ( John W Santrock, “ tìm hiểu thếgiới tâm lý tuổi vị thành niên”).
Hoạt động của các tuyến nội tiết thời kì này có vai trò quyết định đến sựhoàn thiện về mặt sinh lý cảu cơ thể, đến cuối giai đoạn VTN cơ thể bé trai và
bé gái đã hình thành đầy đủ về các cơ quan sinh dục và dặc tính giới tính Một
cơ thể đã trưởng thành ( mặt sinh học)
+ Sự tăng trưởng chiều cao, trọng lượng:
Đây là giai đoạn “ nhảy vọt tầm vóc ở cả hai giới Thời bắt đầu phát triểnbùng phát về chiều cao ở nữ là khoảng 13-14 tuổi và nam 14-15 tuổi ( trẻ châuá) và 11-12 tuổi ở nữ và 13-14 tuổi ở nam( trẻ phương tây) Trong suốt quá trìnhphổng phao này, trẻ gái phát triển chiều cao TB mỗi năm chừng 4-5cm ( phươngđông) và 7-9 cm( phương tây); bé trai là 5-7 cm phương đông và 8-10 cm( phương tây) Vào giai đoạn đầu bé gái thường cao hơn bạn trai cùng tuổinhưng càng về cuối độ tuổi VTN thì các em trai lại vượt qua các em gái
Cùng với phát triển chiều cao là sự phát triển mạnh của cơ bắp làm cơ thểkhông ngừng tăng trọng lượng Cuối tuổi vị thành niên có thể đạt trọng lượngtrung bình cho người trưởng thành Trọng lượng các em nam vượt qua trọnglượng các em nữ
+ Đặc điểm hệ thần kinh:
Đầu giai đoạn vị thành niên ( tương đương học sinh THCS ) do hoạt độngmạnh của tuyến nội tiết, hệ thần kinh có sự hưng phấn mạnh và lan toả Việcthành lập phản xạ có điều kiện với tín hiệu thứ 2 thường kém và chậm chạp hơn
so với phản ứng hệ thống tín hiệu thứ 1
Bước sang giai đoạn giữa và cuối VTN ( tương đương học sinh THPT),cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh phức tạp là linh hoạt hơn số lượng cácdây thần kinh liên hợp được tăng lên, liên kết các phàn khác của vỏ não lại Do
đó phản ứng tâm lý thường linh hoạt, nhanh chóng, khả năng tư duy phát triểncao
Tuối VTN là giai đoạn phát triển và hoàn thiện về thể lực Tuy nhiên sựhoàn thiện này còn phụ thuộc vào chế độ ăn uống và luyện tập thể dục đúng đắn
Trang 6Vì vậy để trẻ VTN đạt tới sức khoe, sức mạnh và năng lượng dồi dào cần quantâm tới vấn đề dinh dưỡng và luyện tập thể dục thường xuyên
2 Những thay đổi mặt xã hội:
Cách nhìn nhận đánh giá, kì vọng của gia đình, thầy cô và xã hội chính
là nhân tố quyết định đến sự đánh giá vị trí của trẻ trong môi trường tương ứng.Hầu hết trẻ VTN đều coi mình là trung tâm, là “ cái rốn của vũ trụ”
Trong gia đình: vị thế các em được nâng lên, được xem như một thànhviên tích cực, được giao cho những nhiệm vụ cụ thể, thậm chí trở thành lao độngchính trong gia đình Vai trò và ý thức của trẻ được nâng cao
Trong nhà trường: với một khối lượng kiến thức lớn buộc trẻ phải tiếp thuhơn nữa sự kéo dài của thiết chế gia đình với sự bao bọc, quan tâm, chăm sócchu đáo của giáo viên cấp tiểu học bị phá bỏ Bước vào cấp THCS và cao hơn ởbậc THPT yêu cầu tính tự giác, tự lập và chủ động trong học tập Học thụ độngchuyển sang giai đoạn cao hơn- chủ động Động cơ học tập được xác định mộtcách rõ ràng trở thành đông lực kích thích tính chủ động của hoạt động học
Trong xã hội: trẻ bắt đầu được thừa nhận như một thành viên tích cực của
xã hội Vì vậy, hầu hết có khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội,muốn mang lại lợi ích cho người khác
Nhìn chung địa vị của trẻ VTN được nâng cao trong xã hội chúng đượctôn trọng, được lắng nghe ý kiến Sự thay đổi này có thay đổi lớn đến tâm lý trẻVTN Trẻ VTN tự ý thức mình là người lớn thực thụ, có quyền chủ động quyếtđịnh và đối phó với mọi vấn đề xảy ra quanh mình Cho dù người lớn nhìn nhậnnhững vấn đề đó theo một cách khác
3 Những biến đổi tâm lý trẻ VTN:
Những thay đổi thời kì dậy thì, đưa trẻ vào trạng thái không ổn định vềtâm lý Đây là nguyên nhân phát sinh ra hành vi bất thường ở các em
Sự phát triển không cân đối của hệ tuần hoàn, thể tích tim tăng nhanhnhưng đường kính của các mạch máu phát triển chậm gây rối loạn tạm thời củatuần hoàn máu Các em thường có cảm giác mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, dễcáu gắt và bực tức
Trang 7Sự hưng phấn mạnh chiếm ưu thế, các ức chế kém đi, vì vậy trẻ VTN dễ
bị kích động, nóng nảy, hung hăng
Khả năng tư duy chuyển đổi tư duy trực quan hình tượng sang tư duy cụthể và phát triển mức cao của tư duy trừu tượng, kết hợp hành động nhanhmạnh của hệ thần kinh hình thành nên đặc tính nổi bật trong tâm lý giai đoạnVTN: tò mò và thích kkhám phá Đặc tính tâm lý là rất tốt cho quá trình học tập
và tìm hiểu xã hội Nhưng nó cũng là lý do chính lôi cuốn trẻ VTN vào tệ nạn xãhội
Một khía cạnh tâm lý do thể xác thay đổi ở tuổi dậy thì là : trẻ VTN luôn
bị ám ảnh về cơ thể mình và luôn tưởng tượng ra những hình ảnh cơ thể mình sẽnhư thế nào Đầu giai đoạn này các em thấy có cảm giác “ bị đánh mấtmình”,bản sắc như “ bị nhoè đi” ( Erickson-1964), và đi kèm theo nó là “ sựgiảm sút của việc tự đánh giá bản thân” ( Harter-1990; Wigfild và đồng nghiệp,1991) Có thể nói chính sự thay đổi đột ngột về thân thể khiến cho các em khôngtìm thấy lại được chính mình Điều này giải thích tại sao chúng có thể đứngngắm gương hàng giờ đồng hồ Bên cạnh đó những thay đổi lớn của lứa tuổi nàykéo theo khoong ít những thay đổi lớn vè tâm tư tình cảm, ước mơ, nguyện vọngcàng làm cho các em thêm lạ lẫm với chính mình
Trong hoàn cảnh này nếu không được quan tâm, chăm sóc có chủ định vàđầy đủ, trẻ dễ có hành động lệch lạc, dễ có những đặc điểm tâm lý khác với conngười trước kia của các em
“ Cảm giác là người lớn” là cấu thành mới của quá trình tự ý thức của trẻVTN Cảm giác về sự trưởng thành này nảy sinh do các em ý thức được và đánhgiá được những tiến triển về thể chất và sự phát dục trên cơ thể Trẻ hình thành “cảm giác là người lớn” chủ yếu thông qua sự phát triển cơ quan bề ngoài( cơquan sinh dục; khối lượng cơ thể) Sự phat triển này làm hcúng thấy mình đãtrưởng thành giống bố hoặc mẹ
Nguồn gốc làm nẩy sinh cảm giác này còn nằm ở quan niệm xã hội Đó
là lòng tin, sự tôn trọng, coi trọng và kì vọng ( như đã nói ở trên) vào trẻ Cùngvới “ tấm gương” của người lớn, của bạn bè xung quanh đã gây tác động tâm lý
Trang 8quyết định lập trường sống mới, nguyện vong và rung động mới của VTN với xãhội
Giai đoạn này tre thường năng nổ hoạt động để tự khẳng định mình vớigia đình, bạn bè và xã hội Song cũng ở đó trẻ còn tồn tại hai đặc tính “tính trẻcon” và “ tính người lớn” “Tính người lớn “ thôi thúc trẻ làm mọi việc ù khókhăn để đạt mục đích : khẳng định mình Nhưng năng lực bị hạn chế, “tính trẻcon” cản trở Hai đặc thính này trái ngược cản trở sự trưởng thành của trẻ, cũng
là nguồn gốc sinh ra xung đột trong mối quan hệ của người lớn và trẻ vị thànhniên ( mâu thuẫn này nói rõ ở phần sau )
3.1 hoạt động học tập :
Đối với nhiều em sự hấp dẫn của nhà trường tăng lên rõ rệt
Thái độ học tập : có trách nhiệm, ý thức tự giác cao, chủ động trong họctập, thích khám phá mở rộng tin tức
Phương pháp học : có khả năng tự học tự nắm bắt tài liệu theo sở thích vànhu cầu riêng của cá nhân Đây là một kiểu của hoạt động học tập cao, mới vềchất ở lứa tuổi này
Hứng thú bền vững với môn học liên quan đến một ngành tương ứng, mộtsản phẩm cụ thể được xác lập nhưng kết quả học tập cao tập trung phần lớn vàolứa tuổi cuối VTN ( PTTH )
Nhưng đây cũng là thời kỳ trẻ bắt đầu “trượt dốc” trong học tập Học tập
có thể bị xem nhẹ nếu có hứng thú mạnh mẽ với lĩnh vực khác Coi học tập làphụ, việc lĩnh hội tri thức không đứng vị trí quan trọng nữa Đây là thời điểm trẻVTN dễ bị lôi kéo sa đà nhất :Trẻ có thể đứng đầu một nhóm bạn ; thích chú ýđến thời trang ; vui chơi
Nguyên nhân của hiện tượng “ trượt dốc” là :
- Không xác định đúng nhiệm vụ học tập là chủ đạo
- Phương pháp lĩnh hội tài liệu không đúng đắn, làm kiến thức giảm dần,giảm sút, dãn đến mất hứng thú học tập trẻ chuyển sang hứng thú với lĩnh vựckhác, thậm chí bỏ học
Trang 9- Không được giáo dục thường xuyên và kịp thời của gia đình và nhàtrường trong giai đoạn “ khủng hoảng tâm lý” này
3.2 hoạt động giao tiếp :
Hoạt động giao tiếp là hoạt động quan trọng của tuổi VTN Ta đi xem xéthai mối quan hệ của trẻ VTN với bạn bè và cha mẹ
-Bạn bè : là loại giao tiếp đứng thứ nhất Hoạt động giao tiếp với bạn cùnglứa tuổi là hoạt động nổi trội Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Hạnh Phúc về nhucầu kêt bạn thân của lứa tuổi đầu và giữa VTN ( THCS ) : 74,61% cảm thấy rấtcần ; 17,66% thấy cần Như vậy chúng coi bạn thân giống “cái tôi thứ 2 củamình”, để tìm sự bình đẳng tôn trọng và khẳng định giá trị của bản thân
Cuối tuổi VTN, tình bạn khác giới càng phát triển những rung động tâm
lý trong chúng xuất hiện một tình cảm đặc biệt : tình yêu Tình yêu học tròthường trong sáng, thuần khiết, lý tưởng, giàu cảm xúc, ước mơ, nhưng lại thiếubền vững và dễ đổ vỡ
Trẻ VTN không thể sống thiếu tình bạn, sự bất hoà trong quan hệ bạn bè,bạn thân và đổ vỡ trong tình yêu đầu đời đều đem lại những cảm xúc và tổnthương tâm lý nặng nề cho trẻ - các nhà tâm lý gọi là “bi kịch cá nhân” Sự tảychay và đơn độc là trải nghiệm nặng nề nhất với cá nhân Hoàn cảnh này dễ dẫntới việc thực những hành vi sai trái, lệch chuẩn mực xã hội
- Bố mẹ : giao tiếp này đứng vị trí thứ hai sau quan hệ bạn bè Giai đoạnnày trẻ VTN có khuynh hướng độc lập thích khẳng định, chúng thường muốntham dự vào sự việc trong gia đình muốn góp ý kiến giải pháp hay hành động.Nếu cha mẹ nắm bắt và ứng xử phù hợp với đặc điểm tâm lý này của VTN, quan
gệ giữa cha mẹ và con cái là cùng chiều, hoà hợp và ổn định Nếu cha mẹ thiếutin tưởng ngăn cản hành động khẳng định tất yếu sẽ kéo theo quan hệ ngượcchiều, gây ra xung đột Điều này lý giải vì sao dưới cái nhìn của cha mẹ, các em
là đứa “cứng đầu”, “ bất trị”
Việc nắm bắt đặc điểm tâm lý VTN và có ứng xử phù hợp của cha mẹ,nhà giáo dục là yêu cầu quan trọng cho việc dạy bảo trẻ ở giai đoạn này
3.3 sự phát triển nhân cách :
Trang 10- Tự ý thức và đánh giá bản thân :
Tự ý thức phát triển cao, chúng coi mình nhân cách độc lập, có quyềnđược tin cậy, tôn trọng như người lớn Chúng tự ý thức được Cái tôi bản thân ;Cái tôi hiện thực ; Cái tôi động lực ; Cái tôi lý tưởng và cái tôi viễn tưởng
Nhìn chung chúng đánh giá mình cao hơn hiện thực, thổi phồng khả năngcủa bản thân, luôn cho mình là đúng và hành động theo suy nghĩ với ý kiếnriêng
- Phát triển ý chí :
Ý chí : Là khả năng tự xác định cho hành động và hướng hành động củamình khắc phục khó khăn nhằm đạt mục đích đó (Từ điển Tiếng Việt, 1994 -NXBGD)
Trẻ VTN thường vươn lên theo các hình mẫu lý tưởng (Nhân vật trongphim, truyện, lịch sử ), từ đó hình thành nên các phẩm chất : Sức mạnh, lòngcan đảm , chịu đựng, chung thuỷ Vì ý chí này chúng có thể bắt chấp mọi nguyhiểm, hành động liều lĩnh táo tợn Nam VTN thường thích đọ sức gây gổ đểchứng minh ưu thế và thoả mãn sự tương đồng của bản thân với hình mẫu củamình Nữ VTN thích thể hiện tài năng, khéo léo, phô chương hình thức đườngnét Nhằm quyến rũ và lôi cuốn sự chú ý từ bạn khác giới
Vấn đề đặt ra cho việc định hướng hình mẫu lý tưởng của trẻ VTN nhưthế nào thì thích hợp ? Thực tế đã cho thấy nếu xây dưng được một hình mẫuđúng đắn, hợp chuẩn mực xã hội thì sự phát triển ý chí, phẩm chất và lối sống
Trang 11của trẻ trở nên tích cực, lành mạnh Ngược lại, những hình mẫu lệch chuẩn lại lànguyên nhân chủ yếu đưa các em vào guồng quay của lề thói xấu lối sống lệchchuẩn, những hành vi bị pháp luật ngăn cấm
Lứa tuổi VTN như các cụ ta đã từng nói “có lớn mà không có khôn” Có
“lớn” vì về mặt cơ thể trẻ lớn nhanh chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng chưa
có “khôn” vì VTN chưa trưởng thành về mặt tâm lý, xã hội, chưa hiểu biết sâusắc về các vấn đề liên quan đến gia đình, xã hội, nghề nghiệp Khi gặp nhữnghoàn cảnh hoặc sự cố không thuận lợi trong cuộc sống hằng ngày, VTN dễ bịkhủng hoảng tâm lý, mất cân bằng Trong những hoàn cảnh khó khăn như thế,không ít em đã tìm đến giải pháp như : Sa đà, nghiện ngập, buông thả trongquan hệ tình dục
Phần tiếp theo xin trình bày nguyên nhân và một số hành vi bất thường(hay rối nhiễu tâm lý ) mà trẻ VTN hay mắc phải
II Những rối nhiễu tâm lý VTN :
Rối nhiễu tâm lý VTN : Là trạng thái tâm lý chứa những hành vi bất
thường ;Là hành vi về đạo đức, kém hay bất thích nghi, đau buồn trầm uất.Những hành vi này cản trở sự phát triển bình thường, hoàn chỉnh, suy mãn củatrẻ VTN, và ảnh hưởng đến người khác Chúng có thể biến tướng thành nhiềudạng - nghiện ma tuý, mại dâm, các hành vi phạm tội, bạo lực, phiền muộn và tự
tử
1 Nguyên nhân của rối nhiễu tâm lý :
Nguyên nhân khiến trẻ VTN có những hành vi về đạo đức, kém hay bấtthích nghi và đau buồn Bao gồm các yếu tố sinh lý, tâm lý, văn hoá xã hội,giáo dục
-Về yếu tố sinh lý : người ta tin rằng sự trục trặc chức năng của cơ thể
chịu trách nhiệm cho các rối loạn tâm thần của cá nhân Ngày nay các nhà khoahọc tập trung vào quá trình hoạt động của não - như sự dẫn truyền cuả các nhómnơron, các yếu tố di truyền ; Lượng hoócmôn là nguyên nhân gây ra những hành
vi bất thường Từ góc độ y học, những rối loạn tâm lý này có thể chữa đượcbằng thuốc
Trang 12-Về yếu tố tâm lý : Là nguyên nhân quan trọng nhất sinh ra các hành vi
bất thường Những suy nghĩ méo mó, xáo trộn cảm xúc, khó khăn trong học tập
và rắc rối trong mối quan hệ khiến VTN rơi vào trạng thái Stress đã góp phầnnảy sinh hành vi bất thường
Căn nguyên của sự rối loạn tâm lý thường bắt nguồn từ những kinhnghiệm xã hội - do căng thẳng với cha mẹ hoặc bất đồng với người khác ; Xungđột và tan vỡ hạnh phúc gia đình ; Khai trừ ra khỏi nhom bạ
-Về yếu tố văn hoá xã hội : Đây cũng là yếu tố tác động đến tâm lý
VTN, nói cách khácđó là tác động của môi trường xã hội Một môi trường xãhội có chất lượng cuộc sống tốt, nhu cầu sống của trẻ được thoả mãn, văn hoálành mạnh sẽ hạn chế rất nhiều những rối nhiễu tâm lý Một môi trường xã hộinghèo khó, điều kiện thiếu thốn, tệ nạn xấu hoành hoành là mảnh đát màu mỡdẫn trẻ VTN bước lệch khỏi chuẩn mực xã hội phát sinh nhiều hành vi bấtthường
-Về yếu tố giáo dục : Đây được coi là yếu tố quyết định trong mọi nền
văn hoá Trẻ VTN được giáo dục đạo đức, tri thức một cách có hệ thống và toànvẹn sẽ tự ý thức và điều khiển được hành vi của bản thân trong đa số các trườnghợp Một số nhà tâm lý nghiên cứu thấy rằng : Đại đa số trẻ VTN có hành vi bấtthường, phạm pháp, là do chúng không được giáo dục về hậu quả của nhữnghành vi mình làm
Các yếu tố sinh lý, tâm lý, văn hoá xã hội và giáo dục có tác động qua lại,phối hợp với nhau tạo nên hành vi cá nhân, dù là bình thường hay bất bìnhthường Vì vậy trong quá trình giáo dục tâm lý trẻ VTN cần tác động riêng rẽ vàtổng thể vào từng yếu tố mới hy vọng đạt được kết qủa tốt
2 Các rối nhiễu tâm lý : 2.1 Thuốc lá, rượu, ma tuý :
Kể từ thủa ban sơ, loài người luôn tìm kiếm các chất có thể duy trì cuộcsống bảo vệ họ, đồng thời tạo ra những cảm giác dễ chịu nhằm vuốt êm thânkinh họ trong hoàn cảnh bức bối gian khó Người ta bị hấp dẫn bởi các chất kíchthích vì nó giúp ta thích nghi được với môi trường đang thay đổi
Trang 13Hút thuốc, uống rượu và sử dụng ma tuý làm giảm những căng thẳngchán nản, giả phóng sự buồn tẻ và mệt mỏi Ma tuý tạo cảm giác dễ chịu, yên
ổn, niềm vui, thư giãn, những ảo giác đầy màu sắc, niềm phấn kích trào dâng.Trẻ VTN có thể thấy cuộc sống của mình tốt đẹp hơn, ở đó chúng không bị xungđọt tâm lý dằng xé
Trẻ VTN sử dụng rượu, thuốc lá và ma tuý làm thoả mãn tính tò mò, hiếuđộng Một số bị cám dỗ lôi kéo qua bạn bè xấu, qua phương tiện truyền thông(sách, báo, internet )
Việc sử dụng nhóm các chất kích thích làm thoả mãn cá nhân và cảm giácthăng hoa tức thời phải trả một cái giá đắt : Lệ thuộc vào chúng ; Huỷ hoại bảnthân ; Phá rối xã hội, mắc căn bệnh chết người (viêm phổi, ADIS ) Cùng với
sự lệ thuộc thể chất là lệ thuộc về tâm lý Đó là dựa vào thuốc cá nhân mới thấykhoẻ khoắn, tự tin, bớt căng thẳng Rượu là một chất kích thích cực mạnh Nótác động lên cơ thể như một loại thuốc giảm đau và làm chậm hoạt động củanão Nếu sử dụng với liều lượng nhất định nó sẽ phá hoại, thậm chí giết chết các
mô mạch bao gồm cả các tế bào và cơ bắp Rượu làm giảm sự kiềm chế và suyyếu khả năng phán đoán Cuối cùng người uống trở nên uể oải, hôn mê và dầnrơi vào trạng thái không làm chủ được hành vi của mình
Tình trạng trẻ VTN sử dụng thuốc lá, ma tuý trên thế giới liên tục tăng.Trong thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX, xu hướng lạm dụng m a tuý bùng nổrộng khắp, nhất là trong giới trẻ Nước Mỹ vào thập niên 90, trẻ VTN lạm dụng
ma tuý cao nhất trong số nước công nghiệp
Ở nước ta, tỉ lệ người nghiện ma tuý trong độ tuổi VTN càng trở nên phổbiến hơn trong gần một thập kỷ qua Số lượng VTN sử dụng các chất kích thíchthường tập trung ở nơi trung tâm về phát triển du lịch, kinh tế, văn hoá : Tỉ lệnày cao nhất ở Hà Nội, thứ hai là Sài Gòn, Quảng Ninh, Hải Phòng
Vậy chúng ta cần phải làm gì để ngăn ngừa trẻ VTN lạm dụng chất kíchthích ? Cha mẹ, bạn cùng trang lứa và sự ủng hộ của xã hội đóng một vai trò rấtquan trọng trong việc ngăn ngừa trẻ VTN lạm dụng ma tuý Những mối quan hệ