Hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta, là cấp trực tiếp tổ chức, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống
và diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội một cách sinh động Hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta, là cấp trực tiếp tổ chức, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi ở nước ta có những đặc điểm riêng khác với ở phường, thị trấn và các xã vùng đồng bằng Bởi vì, nơi đây có vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng; trình độ phát triển kinh tế -
xã hội thấp; tính đa diện trong văn hóa tộc người; trình độ dân trí chưa cao; sự phức tạp, nhạy cảm trong vấn đề dân tộc, tôn giáo…Chính những đặc điểm ấy
đã làm cho vị trí, vai trò của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trở nên đặc biệt quan trọng trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của địa phương
Thời gian qua, với sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi ở nước ta đã từng bước được kiện toàn, đạt hiệu quả cao trong tổ chức và hoạt động Tuy vậy, hệ thống chính trị vùng này vẫn còn những yếu kém và hạn chế cần khắc phục như: chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống chính trị cấp xã; nội dung và phương thức hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi; trình độ văn hóa, quản lý và năng lực điều hành công việc thực tiễn của cán bộ cấp xã vùng dân tộc thiểu số miền núi còn nhiều hạn chế…Điều này càng bộc lộ rõ hơn trong giai đoạn dân chủ hóa hiện nay, nhất là từ khi thực hiện Quy chế
Trang 2thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (1998) và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (2007).
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam, đơn vị hành chính của tỉnh bao gồm 1 thành phố Lào Cai và 8 huyện, với 164 xã, phường, thị trấn, trong đó có 138 xã vùng sâu, vùng xa, biên giới Địa bàn tỉnh cũng là nơi sinh sống và cư trú của 13 dân tộc với 25 nhóm ngành khác nhau, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 64,09 % dân số Nhìn chung, các dân tộc anh em cùng chung sống hoà thuận, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển
Đặc thù trên đòi hỏi các cấp ủy đảng và chính quyền của tỉnh cần đặc biệt quan tâm đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới Mục tiêu là tăng cường khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của các xã để đưa đồng bào các dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng cuộc sống văn minh, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước
Để thực hiện nhiệm vụ đó, giải pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định nhất
là cần phải kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai, việc kiện toàn hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt là cấp xã đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực Hệ thống chính trị cấp xã đã được kiện toàn theo hướng gần dân,
vì dân hơn; phương pháp công tác và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ xã được đổi mới Năng lực chỉ đạo, điều hành và quản lý của chính quyền cấp cấp xã có nhiều tiến bộ, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên; cải cách thủ tục hành chính bước đầu có chuyển biến tích cực Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được
Trang 3đổi mới về nội dung và phương thức, bảo đảm thiết thực và hiệu quả hơn Nội bộ cấp uỷ đoàn kết, thống nhất, sự đồng thuận trong Đảng, chính quyền và nhân dân ngày càng tăng.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nói trên, hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai vẫn đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ: Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng Chức năng, nhiệm vụ của các
bộ phận trong hệ thống chính trị cơ sở chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới; đội ngũ cán bộ xã ít được đào tạo, bồi dưỡng… Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, những khó khăn trong đời sống của đồng bào và những hạn chế, yếu kém của hệ thống chính trị các cấp để nói xấu Đảng, Nhà nước, hòng làm mất lòng tin của đồng bào vào đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Chính vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt
ra đối với hệ thống chính trị ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai hiện nay là nhiệm vụ hết sức bức thiết Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề
tài: “Hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên ngành
chủ nghĩa xã hội khoa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của hệ thống chính trị trong đời sống xã hội, việc nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung, về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng trên từng khu vực, vùng, miền, địa phương và vai trò của chúng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên những bình diện khác nhau, qua đó hình thành nhiều ấn phẩm có giá trị ở cả tầm lý luận và thực tiễn Điển hình là:
Trang 4Công trình “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội, nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số” do Nguyễn Quốc Phẩm chủ biên
(2000), đã phân tích thực trạng hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta Công trình đã đánh giá các thành tựu, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của nó; đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới hệ thống chính trị của khu vực này
Bộ sách: "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" (2001), "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" (2003), “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay” (2005) do TS Nguyễn
Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên Các công trình này nhằm làm rõ về nông thôn Việt Nam hiện nay; làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đồng thời cũng định hình được mối quan hệ biện chứng giữa vai trò của
hệ thống chính trị cấp cơ sở với quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở nông thôn Việt Nam
Công trình “Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, do Phạm Hảo và Trương Minh Dục đồng chủ biên (2003), từ nghiên cứu hoạt động của hệ thống chính trị các cấp ở Tây Nguyên (nhất là cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số), các tác giả đã đề ra một số phương
hướng và giải pháp kiện toàn hệ thống này, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công trình “Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay” do
Hoàng Chí Bảo chủ biên (2004), đã làm rõ lịch sử và lý luận về làng xã và hệ thống chính trị ở cơ sở nước ta; nêu rõ cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay và đề ra một số phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của hệ thống này
Trang 5“Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Đức Ngọc (Luận án tiến sĩ triết học 2009), qua nghiên
cứu hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm, tác giả đã chỉ ra những thành tựu, hạn chế và yếu kém trong tổ chức và hoạt động của hệ thống này cũng như nguyên nhân của nó Từ đó, xác định quan điểm, phương hướng và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ
sở vùng dân tộc Chăm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
“Đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện xóa đói, giảm nghèo qua Chương trình 135 giai đoạn II” của Giàng Seo Phử (Tạp chí Cộng sản, số 816/2010),
bài viết khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (giai đoạn 2006 - 2010) được thực hiện trên địa bàn 50 tỉnh của đất nước Từ những con số cụ thể, tác giả đã có những đánh giá sát thực, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm hết sức quý giá nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo giai đoạn
II đạt kết quả cao hơn
“Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hoàn thành tốt các mục tiêu, kế hoạch đề ra” của Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí Cộng sản, số
829/2011), bài viết đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong thời gian tới Từ đó, định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính trị phải đồng tâm hiệp lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh Bên cạnh đó nhấn mạnh định hướng chính sách, biện pháp bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững ổn định chính trị,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Ngoài ra, một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng bàn về vấn đề náy dưới nhiều hình thức và mức
Trang 6độ khác nhau như: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân” của Văn phòng Quốc hội (Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001); “Hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng xa và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết” của
Hồ Minh Dức (Dân vận, số 1 và 2/2002); “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Hiền Oanh (Nxb Lý luận chính trị, H.2005); “Tồn tại và không nên tồn tại HĐND cấp nào?” của Trần Hữu Trí (Đại Đoàn kết, số 139/2007); “Giả pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn ở Đồng Nai hiện nay” của Nguyễn Khánh Mậu (Khoa học Chính trị, số 2/2007); “Đổi mới hệ thống chính trị để phát huy dân chủ” của Đoàn Minh Duệ (Triết học, số 9/2007)…
Như vậy, nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng từng khu vực, vùng dân tộc cụ thể đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, song chưa có
một công trình khoa học nào trực tiếp bàn về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai, trong khi đối tượng nghiên cứu này
đang đặt ra những vấn đề cần được giải quyết kể cả ở tầm lý luận và thực tiễn
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề trên trong khuôn khổ một Luận văn Thạc sỹ Triết học (chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học) với hy vọng góp phần nhất định vào việc luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã nói chung và hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng của tỉnh Lào Cai
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Từ việc nghiên cứu mặt mạnh, mặt yếu và những vấn đề đặt ra trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất
Trang 7lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống chính trị cấp xã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số (không bao gồm: các phường, thị trấn) của tỉnh Lào Cai trong những năm đầu thế kỷ XXI
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tỉnh Lào Cai về những vấn đề liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình giải quyết những nội dung trong
luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp của phép biện chứng duy vật (như phân tích và tổng hợp, lịch sử và lô gic, hệ thống và cấu trúc…), các phương pháp so sánh, điều tra, thống kê, nghiên cứu văn bản…
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trong mối quan hệ với sự phát triển của những vùng này ở tỉnh Lào Cai
Trang 8- Từ việc xác định rõ những vấn đề đang đặt ra trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, luận văn
đề ra quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở cho các cấp lãnh đạo, quản lý tỉnh Lào Cai tham khảo, vận dụng trong việc đề ra các chính sách riêng, phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn trong việc kiện toàn hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập về hệ thống chính trị cấp xã ở trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 9Chương 1 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ
VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 QUAN NIỆM VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
1.1.1 Khái niệm hệ thống chính trị cấp xã
Chính trị và hệ thống chính trị - với những quan hệ và hoạt động đặc thù của chúng - là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất, là con đẻ của giai đoạn lịch sử nhất định trong sự phát triển của nền văn minh loài người, hay nói chính xác hơn là thời gian xuất hiện các giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp Và như vậy, từ khi xuất hiện các giai cấp và đối kháng giai cấp cho tới khi nào mức năng suất lao động của con người còn chưa đạt tới ranh giới cho phép xóa bỏ những khác biệt giai cấp trong việc thừa hưởng phúc lợi vật chất, chưa xóa bỏ sự khác biệt giai cấp thì chính trị, hệ thống chính trị và tổ chức chính trị của xã hội, trước và sau này cũng vậy, vẫn sẽ là những thuộc tính của đời sống xã hội
Trong mọi xã hội có giai cấp, đối kháng giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị
nhất định Đó là hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, hệ thống chính trị gắn liền với sự phân chia giai cấp trong xã hội, nhưng giai cấp không phải là hiện tượng vĩnh hằng Loài người đã và sẽ trải qua các thời kỳ khác nhau của xã hội: xã hội chưa có giai cấp và đối
Trang 10kháng giai cấp; xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp; và cuối cùng, lại trở
về xã hội không có giai cấp và đối kháng giai cấp, nhưng ở một trình độ cao hơn Từ một xã hội này chuyển sang một xã hội khác phải trải qua những thời
kỳ quá độ khác nhau và để chuyển từ một xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp sang một xã hội không còn giai cấp và đối kháng giai cấp tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ chính trị lâu dài - thời kỳ chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản, thời kỳ tồn tại hệ thống chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Ở nước ta, mặc dù khái niệm hệ thống chính trị mới chỉ được đề cập, sử dụng trong các văn kiện chính trị và các tài liệu khoa học từ sau đổi mới (1986) Song, trên thực tế, hệ thống chính trị nước ta đã được hình thành và phát triển gần 70 năm, như một hệ thống quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI), tháng 3 năm 1989, Đảng ta lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm hệ thống chính trị trong thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội thay thế cho khái niệm hệ thống chuyên chính vô
sản được sử dụng trước đó Theo đó, hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ
đi lên CNXH ở nước ta là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Việc sử
dụng khái niệm HTCT trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH thay thế cho khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản vừa kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, vừa phù hợp với xu thế của thời đại
và điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đồng thời đáp ứng được nhu cầu đổi mới trên lĩnh vực chính trị của xã hội ta nói riêng, nhu cầu đổi mới toàn diện đất nước ta nói chung
Trang 11Như vậy, khái niệm HTCT xã hội chủ nghĩa ở nước ta được hiểu là một
hệ thống tổ chức bộ máy, hệ thống các thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam (vai trò lãnh đạo); Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân (vai trò quản lý); Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân (Công đoàn, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh), có vai trò tập hợp lực lượng, thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, hiệp trương chính trị, hợp tác
và phát triển xã hội Đây là các tổ chức hợp pháp theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật, được nhà nước bảo trợ, hoạt động công khai, nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Theo chiều dọc, cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các
tổ chức và các quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan
hệ về cấp độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống Cấp
độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể) được quy định theo từng cấp với vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền khác nhau, thể hiện mối quan hệ thứ bậc giữa cấp trên và cấp dưới trong phạm vi một tổ chức Hệ thống chính trị ở nước ta được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có các cấp
độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương
và cơ sở, phản ánh sự phân cấp về quyền lực trong HTCT
Theo chiều ngang, hệ thống chính trị được biểu hiện thông qua mối quan
hệ về vị trí, vai trò và quyền hạn giữa các tổ chức khác nhau trong tổng thể của hệ thống, bao gồm: Đảng chính trị, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội Nếu như ở cấp trung ương, đảng chính trị giữ vai trò lãnh đạo chung, nhà nước giữ vai trò quản lý chung thông qua các hoạt động đặc thù, Mặt trận và các tổ chức chính trị giữ vai trò tập hợp lực lượng, tạo lập khối đại đoàn kết, hiệp thương chính trị ; thì, ở cấp địa phương, mỗi chân rết của các tổ chức nói trên sẽ chịu trách nhiệm chính các nhiệm vụ tương ứng, song trong một địa bàn và không gian cụ thể
Trang 12Cơ sở là khái niệm để chỉ một cấp trong hệ thống quản lý hành chính của
Nhà nước chứ không phải là tất cả mọi loại hình cơ sở nói chung, đó chính là
xã, phường, thị trấn Ở nước ta hiện nay, do số lượng xã chiếm đa số, gắn với
sản xuất và dân cư nông nghiệp nên trong quản lý hành chính hiện hành gọi
chung xã, phường, thị trấn là cấp xã Đây là cấp cuối cùng trong hệ thống quản lý hành chính, là cấp gần và sát dân nhất nên còn được gọi là cấp cơ sở.
Hiện nay ở nước ta có 10.925 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn, trong đó
có 9.098 xã, 597 thị trấn và 1.230 phường Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội Đó vừa là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của người lao động, của các
hộ gia đình, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; vừa là nơi diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu mối của thị trường, là nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng Nói đến cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc sống của họ; là nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân cới cộng đồng Mỗi cơ
sở là một cộng đồng xã hội, ở đó có các hoạt động kinh tế, văn hóa và đồng thời tất yếu hình thành nên cộng đồng chính trị - xã hội Tại đây, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và tổ chức đời sống chính trị của công dân Tổng hợp của các tổ chức trên, đó chính là HTCT cấp cơ sở
Như vậy, HTCT cấp cơ sở là hệ thống chỉnh thể các tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn, được tổ chức
và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị trên địa bàn.
Trang 13HTCT cấp cơ sở ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở; chính quyền cơ sở (gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã); Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh ở cơ sở Mỗi bộ phận hợp thành HTCT cấp cơ sở có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Cụ thể:
- Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc ra các nghị quyết, chỉ thị định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản
lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của các đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên
- Chính quyền là trụ cột của HTCT cấp cơ sở, có vai trò quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp
và pháp luật Trong chính quyền cơ sở, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở
cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên đại bàn theo quy định của pháp luật Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở Ủy ban nhân dân thực hiện những nhiệm vụ theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, những nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương
- Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện đường lối, chủ
Trang 14trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương của chính quyền cơ sở; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo lợi ích và bên vực quyền lợi chính đáng của hội viên, đoàn viên; đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở và tham gia một số công việc quản lý xã hội ở cơ sở và từng thôn xóm.
Bên cạnh đó, ở cấp cơ sở hiện nay còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn do nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ pháp luật, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, liên kết cộng đồng, cùng nhau tổ chức đời sống trong cộng đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành HTCT cơ sở nhưng có mối quan hệ mật thiết với hệ thống này Vì vậy, nếu HTCT cấp cơ
sở biết cách tạo điều kiện, phát huy tác dụng của các tổ chức này thì sức mạnh đoàn kết - hợp tác - sáng tạo của cộng đồng xã hội ở cơ sở sẽ được nhân lên gấp bội Điều đó sẽ làm cho nền tảng xã hội của Đảng, Nhà nước và của
cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở Đó chính là sự kết hợp sức mạnh giữa các thiết chế chính trị quan phương và phi quan phương, giữa tính nhân dân và tính tự quản cộng đồng để tạo nên sự ổn định ở cơ sở, tạo sức bật cho cơ sở phát triển
1.1.2 Quan niệm về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Trong quá trình đổi mới, kiện toàn HTCT xã thời gian qua, dường như
chúng ta, cả ở cấp Trung ương lẫn địa phương, chưa chú ý đúng mức đến tính đặc thù của từng loại hình cơ sở xã, phường, thị trấn Từ việc ban hành các
văn bản pháp luật, các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong HTCT cấp xã đến chế độ chính sách với đội ngũ cán bộ này vẫn còn trong tình trạng cào bằng, rập khuôn giữa các loại hình xã khác nhau
Trang 15Các xã, phường, thị trấn ở nước ta hiện nay có độ chênh lệch rất lớn về diện tích và dân số, về số lượng thôn Xã ít dân nhất chỉ có vài trăm người; lại
có xã, phường, thị trấn có mấy chục nghìn người và cá biệt có phường lên đến hơn 100.000 người (phường 12 - quận Gò Vấp - Thành phố Hồ Chí Minh có đến 107.390 dân) Có xã chỉ có một vài thôn, lại có xã tới 15 - 20 thôn
Các xã, phường, thị trấn lại có sự khác nhau về thành phần dân cư; về tôn giáo, văn hóa; về kinh tế (nông nghiệp, thủ công, công nghiệp, thương mại, dịch vụ ); khác nhau về mức độ đô thị hóa, kết cấu hạ tầng, trình độ dân trí, mức sống, trình độ phát triển
Thậm chí, ngay trong cùng một loại hình cơ sở như ở xã cũng có sự khác nhau đáng kể Các xã và cùng với nó là các thôn, bản, làng, ấp, buôn, phum - sóc ở nước ta hết sức đa dạng, ở đồng bằng khác với ở trung du, miền núi, hải đảo; ở miền Bắc khác với miền Trung và miền Nam; ở thành thị khác với nông thôn; ở vùng đồng bào Kinh khác với vùng dân tộc thiểu số; ở vùng dân tộc thiểu số này khác với vùng dân tộc thiểu số khác
Các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là nơi cư trú
và sinh sống của hầu hết các tộc người thiểu số (> 50%) Trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội trên cả nước đã cho chúng ta thấy, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là vùng có sự phát triển chậm nhất so với sự phát triển chung của đất nước Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng trên là do sự yếu kém của HTCT cấp xã Bởi vậy, nghiên cứu về HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng
Nghiên cứu HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số không có nghĩa là tách biệt hệ thống này, mà ngược lại, cần được hiểu là một sự khu biệt hóa nhằm làm rõ những đặc điểm, vai trò cụ thể của hệ thống này Từ đó cung cấp cho chúng ta những cơ sở lý luận, thực tiễn để xây dựng mô hình tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của HTCT cấp xã, đồng
Trang 16thời giải quyết các vấn đề trong công tác cán bộ cho phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay là một bộ phận nằm trong HTCT cấp xã nói chung (xã, phường, thị trấn), do vậy, theo quy định, hệ thống này cũng gồm ba bộ phận: Tổ chức đảng ở xã (Đảng bộ hoặc chi bộ xã); chính quyền xã (Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân xã); Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tại xã
Như vậy, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là hệ thống các
tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở các xã có đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội và chính trị trên địa bàn xã vùng dân tộc thiểu số.
1.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1 Đặc điểm của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Là một bộ phận của HTCT cấp xã nói chung, do đó, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số vừa mang những đặc điểm chung của HTCT cấp
xã, vừa có những đặc điểm riêng, đặc thù của nó Cụ thể:
Một là, HTCT cấp xã là cấp thấp nhất trong HTCT ở Việt Nam, song lại
là cấp quan trọng, gần và sát dân nhất
Theo Điều 118, Hiến pháp 1992, HTCT ở nước ta được phân ra 4 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh (bao gồm các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương); cấp huyện (bao gồm các huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh); cấp xã (bao gồm các xã, phường và thị trấn) Như vậy, cấp xã nói chung và cấp xã vùng đồng bào dân tộc nói riêng là cấp thấp nhất, là cấp cuối cùng gần
và sát dân nhất
Trang 17Mặc dù các tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay đều mở rộng chân rết xuống tận buôn, làng, bản, ấp, phum - sóc thông qua các “cánh tay nối dài’’ là đội ngũ trưởng thôn bản, song thôn, bản không phải là một cấp hành chính độc lập; cấp thôn không có ngân sách, con dấu, không có tư cách pháp nhân Vì vậy, cấp xã vẫn là cấp cuối cùng trong hệ thống quản lý hành chính nói riêng và trong HTCT Việt Nam nói chung.
Hai là, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thiết chế,
phương tiện căn bản nhất để thực hiện dân chủ, nâng cao quyền làm chủ của nhân dân
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có mối quan hệ chặt chẽ với đồng bào các dân tộc, cho nên nó vừa là phương tiện căn bản nhất để đồng bào thực hiện quyền làm chủ của mình, vừa là yếu tố đóng vai trò quyết định quá trình thực thi dân chủ Điều này được quy định bởi:
- Đây là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Quy chế dân chủ ở cơ sở ra đời nhằm phát huy và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số trên những lĩnh vực này muốn được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống phải thông qua HTCT tại địa phương
- Là hệ thống quyền lực của nhân dân nói chung, của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã nói riêng, HTCT cấp xã là tổ chức hạt nhân, là thiết chế
tổ chức và thực hiện các quy định, các nguyên tắc theo mục tiêu dân chủ Mọi quy chế, chương trình, kế hoạch và hành động do HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng và thực hiện nên đều nhằm cụ thể hóa mục tiêu dân chủ; đồng thời tạo nên những điều kiện thuận tiện và phương thức hoạt động phù hợp để các dân tộc thiểu số thực hiện quyền làm chủ của mình tại
cơ sở
Trang 18- Đây là nơi trực tiếp giải quyết những vướng mắc của nhân dân các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước Qua đó, khơi dậy và phát huy ý thức dân chủ trong đồng bào các dân tộc thiểu số - nhân tố quan trọng để góp phần hiện thực hóa nền dân chủ XHCN.
Nhờ có HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà nhân tài, vật lực ở các địa phương được huy động để phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu
hạ tầng, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo nên những tiền đề cho dân chủ
Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho việc thực hiện dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở trong những năm qua chưa đạt được kết quả như mong muốn là do HTCT cấp cơ sở ở nước ta còn yếu kém, bất cập, đặc biệt là HTCT cấp xã vùng dân tộc thiểu số Vì vậy, quá trình thực hiện Quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải gắn liền với quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng của HTCT cấp cơ sở nói chung và HTCT cấp
xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta nói riêng
Ba là, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bộ máy đơn giản
nhất và có đội ngũ cán bộ biến động nhất hiện nay
Là cấp cuối cùng trong HTCT nước ta, bộ máy của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số đơn giản hơn so với HTCT cấp trên, với biên chế hưởng lương từ ngân sách ít nhất Theo khoản 1, điều 9, Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003, HĐND cấp xã tối đa không quá 35 đại biểu và không có các phòng, ban như HĐND cấp tỉnh, huyện UBND cấp xã cũng chỉ có từ 3 đến 5 thành viên Số lượng thành viên Ban Chấp hành của Đảng bộ (hay chi bộ) và của các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã cũng ít hơn nhiều so với cấp tỉnh, huyện Tổng số cán bộ chuyên trách và công chức trong HTCT cấp xã theo quy định không quá 25 người/xã 1
1 Xem: Điều 5 và khoản 3, Điều 122, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 19Cán bộ chuyên trách ở các xã là những người được bầu cử theo nhiệm kỳ nên thường xuyên biến động, lại không được ổn định trong suốt nhiệm kỳ do Đại hội Đảng bộ cấp cơ sở giữa nhiệm kỳ dẫn đến sự thay đổi cán bộ cơ sở khoảng 30% - 40%, thậm chí có nơi là 50%.
Tính biến động, vị trí công tác, vấn đề đãi ngộ, lợi ích không ổn định nên khó khăn cho việc thu hút những người có học vấn cao ở lại hoặc về làm cán bộ tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực tế hiện nay phần lớn đội ngũ cán bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta là những người trưởng thành từ các phong trào địa phương, số còn lại là những người đã trải qua thời gian quân ngũ trở về địa phương tham gia công tác Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội Họ không phải là những người được đào tạo chính quy, chuyên nghiệp để trở thành những người làm công tác quản lý, tổ chức và lãnh đạo Đây là lý do giải thích tại sao trong đội ngũ cán
bộ cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay vẫn còn cán bộ chưa biết chữ, số cán bộ có trình độ học vấn tiểu học, trung học cơ sở chiếm tỷ lệ tương đối cao
Bốn là, đây là nơi chịu sự tác động, ảnh hưởng rất lớn từ các thiết chế xã
hội cổ truyền cũng như phương thức tự quản của cộng đồng dân cư
Đây là nét đặc thù do đặc điểm dân tộc và truyền thống lịch sử nước ta
Ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn còn có những ảnh hưởng và tác động rất lớn đến đời sống của cộng đồng dân cư nói chung, đến tổ chức và hoạt động của HTCT cấp xã nói riêng
Ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thiết chế xã hội cổ truyền tồn tại hết sức đa dạng, tùy thuộc vào lịch sử và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở từng dân tộc khác nhau, đó là bản - mường - chiềng (ở các dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc), buôn - plei - bon (ở các dân tộc thiểu số Trường Sơn - Tây Nguyên), phum - sóc (ở dân tộc Khmer Nam Bộ)
Trang 20Nói đến các thiết chế xã hội cổ truyền là nói đến những cộng đồng có tính tự quản Tính tự quản ở đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện thông qua vai trò của các chủ làng, già làng, trưởng bản và sự tuân thủ một cách tự giác của các thành viên trong buôn, làng, bản theo hệ thống luật tục, quy ước, phong tục tập quán
Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để phát huy được những giá trị tích cực của các thiết chế này trong quá trình xây dựng đời sống mới ở cộng đồng, trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT cấp xã; đồng thời, ngăn chặn, hạn chế được những mặt tiêu cực của nó Các thiết chế này với phương thức tự quản và hoạt động mang tính dân chủ thuần phác, nếu được phát huy sẽ là những công cụ bổ trợ hữu ích cho các thiết chế quản lý chính thống của Nhà nước Xác lập vị trí, vai trò của các thiết chế quản lý chính thống của Nhà nước trong đời sống cộng đồng là điều cần thiết Nhưng bất cứ một sự cưỡng, áp đặt nào cũng sẽ dẫn đến những đứt gẫy về văn hóa và sự phản tác dụng mà lịch sử đã minh chứng Ở trình độ dân trí hiện nay ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì sự kết hợp hài hòa giữa các thiết chế quản lý chính thống với các thiết chế quản lý phi chính thống tích cực là một giải pháp hữu hiệu nhất Đó là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại
Năm là, hoạt động của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
nước ta hiện nay hầu hết đều trong những điều kiện đặc thù cả về địa lý, dân
cư và văn hóa, xã hội
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay phần lớn cư trú ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo trong các làng, bản, phum - sóc với những sắc thái văn hóa đa dạng, đời sống người dân và cán bộ còn nhiều khó khăn, trình
độ dân trí thấp, nhiều xã xếp vào diện “đặc biệt khó khăn” Tỷ lệ hộ đói nghèo cao, điều kiện sản xuất không thuận lợi, tình trạng di cư tự do vẫn xảy ra v.v Những khó khăn trên đã hạn chế hiệu quả của công tác tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với đồng
Trang 21bào các dân tộc, đồng thời nó cũng là nhân tố quan trọng chi phối hoạt động của HTCT các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Mặt khác, do địa bàn rộng, cư dân ở phân tán, nên các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động hết sức khó khăn; phải tốn nhiều thời gian và công sức hơn so với các xã vùng đồng bằng, vùng tộc người kinh, nếu xét cùng tiến hành một công việc cụ thể
1.2.2 Vai trò của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay
Trải qua gần 25 năm đổi mới đất nước, Đảng và nhân dân ta đã đạt được
những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy
nhiên, những kết quả đó không giống nhau giữa các vùng, tỉnh, giữa các dân tộc Đến nay, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn được coi là vùng chậm phát triển nhất so với sự phát triển chung của cả nước Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có một phần không nhỏ xuất phát từ sự yếu kém của HTCT nơi đây Điều này cho thấy, một mặt, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác củng cố, kiện toàn
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số; mặt khác, cũng cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện
nay Đó là:
Thứ nhất: Đây là cấp trực tiếp đưa đường lối, chủ trương và chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc trong vùng.HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chức năng, nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến đồng bào các dân tộc trên địa bàn; làm cho người dân hiểu
rõ chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và từ đó có ý thức tự giác thực hiện
Ngoài ra, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn là nơi cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thành các
Trang 22chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, đồng thời
tổ chức thực hiện thực tế, tạo những chuyển biến căn bản trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đổi mới và xây dựng đất nước Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều tùy thuộc vào năng lực tổ chức và thực hiện của HTCT cấp xã nói chung, vào hệ thống này nói riêng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Thứ hai: Là cấp trực tiếp lãnh chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc phát triển
kinh tế - xã hội, phát huy mọi nguồn lực, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc
HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chứng tỏ được tác dụng
và hiệu quả của mình nếu tập hợp được sức dân trong cộng đồng để phát triển sản xuất, giúp dân làm kinh tế, mau chóng xóa đói, giảm nghèo, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân các dân tộc, để cộng đồng được ổn định, ai cũng
có cuộc sống ấm no, gìn giữ trật tự trị an và sự bình yên trên địa bàn Đó chính là an sinh và an ninh cho dân chúng Được như vậy, nhân dân sẽ củng
cố lòng tin vào Đảng, vào chế độ và sẽ đem hết nhiệt tình, khả năng sáng tạo, sáng kiến của mình vào thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ích nước lợi nhà
Do đó, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nếu biết dựa vào dân, biết đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hành phúc cho dân, thì đó sẽ là HTCT thực sự của dân, làm đúng sự ủy quyền của dân, nhờ
đó thực hiện được dân chủ, tránh được quan liêu, tham nhũng Đó là gốc rễ bền chặt của sự ổn định và phát triển
Thứ ba: Là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ nhân
dân, phát huy truyền thống trong xây dựng tình đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc; tạo khí thế thi đua trong phát triển sản xuất, xây dựng thôn bản và gia đình văn hóa, bài trừ hủ tục lạc hậu, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
Trang 23Ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường có ít nhất từ hai dân tộc trở lên cùng chung sống Sự cư trú đan xen giữa các dân tộc có thể dẫn đến hai khuynh hướng đối lập nhau
Một là, đoàn kết, đùm bọc, che chở lẫn nhau được hình thành do phải
chung sức chống chọi thiên tai, phát triển sản xuất, chống giặc ngoại xâm, bảo
vệ quê hương, làng bản Vì vậy, đoàn kết là ý thức thường trực và là khuynh hướng chủ đạo, mang tính phổ biến, xuyên suốt trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta
Hai là, do các dân tộc sống đan xen nhau, có nhiều điểm khác nhau về
văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tâm lý tộc người, về lợi ích cụ thể nên xét ở khả năng nào đó, lại dễ đưa đến việc mất đoàn kết dân tộc Đặc biệt, trước sức ép về dân số ngày một tăng, đất canh tác giảm dần, những nguồn lợi thu được từ tự nhiên bị thu hẹp và ngày càng cạn kiệt, thì mầm mống xung đột dân tộc vẫn là yếu tố tiềm ẩn Trong điều kiện nêu trên, nếu HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số không vững mạnh, không kịp thời giải quyết dứt điểm các vướng mắc trong nội bộ nhân dân thì tình trạng mâu thuẫn dân tộc dễ nảy sinh, nhất là khi các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn lợi dụng điều này nhằm kích động gây chia rẽ dân tộc Đây là vấn đề đã từng xảy
ra ở một số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta
Do vậy, nếu HTCT cấp xã vùng đồng bào các dân tộc giải quyết tốt những vấn đề trên ngay từ địa bàn của mình, sẽ góp phần củng cố mối quan
hệ vững chắc giữa quần chúng nhân dân với Đảng và chính quyền, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo lập sự ổn định tích cực, vững chắc
để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và phát triển ở địa phương
Thứ tư: Đây là cấp trực tiếp tuyên truyền, phổ biến và thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc tham gia quản lý nhà nước và xã hội
Trang 24Dưới sự lãnh đạo của HTCT cấp xã, việc thực hiện quy chế dân chủ ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số là điều kiện quan trọng nhất để mỗi thành viên của cộng đồng phát huy được tính tích cực xã hội, thực hiện nghĩa vụ của người công dân trực tiếp và rộng rãi nhất nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cuộc sống văn minh, phát huy thuần phong mỹ tục của cộng đồng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Do đó, việc thực hiện quy chế dân chủ ở
xã được xem là khâu quan trọng nhất trong điều kiện hiện nay, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn liền với xây dựng, kiện toàn HTCT cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng
Thứ năm: Cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn, phát hiện, kiến nghị
với Đảng và Nhà nước những điều bất hợp lý trong đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật để kịp thời có những điều chỉnh, bổ sung, mang lại hiệu quả cao hơn
Hiện thực đời sống ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ là thước
đo để đánh giá tính đúng đắn, mức độ phù hợp của những đường lối, chính sách và pháp luật Các tiêu chí cụ thể để đánh giá đó là: hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội; mức độ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc; sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; niềm tin của đồng bào đối với Đảng và chính quyền Cũng chính từ đây, những gì chưa hợp lý, những điều bất cập sẽ bộc lộ và nhiệm vụ của HTCT ở đây là phát hiện và kiến nghị với cấp trên để kịp thời điều chỉnh, bổ sung làm cho đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta ngày càng hoàn thiện hơn
Thứ sáu: Đây là môi trường rèn luyện cán bộ, làm cho cán bộ trưởng
thành, phát huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước trong quần chúng nhân dân Đồng thời cung cấp nguồn cán bộ đã được trải nghiệm qua thực tiễn cho HTCT cấp trên
Trang 25HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là cấp tổ chức và quản lý trên địa bàn có đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, mang tính đặc thù cao Thông qua công tác tổ chức thực tiễn, năng lực của cán bộ sẽ được lượng hóa một cách cụ thể qua hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mặc dù công tác tại đây đội ngũ cán bộ sẽ gặp nhiều khó khăn, thử thách hơn các vùng khác, song cũng chính nơi đây lại giúp cho cán bộ có thêm nhiều kinh nghiệm thực tiễn, dần hoàn thiện năng lực và kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành Những kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động, từ sự góp ý, phản biện của nhân dân sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ ngày càng trưởng thành nhanh chóng
về mọi mặt
Thứ bảy, HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010
- 2020 là chương trình lớn và toàn diện lần đầu tiên được thực hiện tại nước ta trên quy mô cả nước Đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết “tam nông” (Nông nghiệp, nông dân, nông thôn) của Đảng trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và quốc phòng - an ninh thông qua các chỉ tiêu phát triển cụ thể cho từng lĩnh vực
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, phải xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện mục tiêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Trang 26bao gồm 19 tiêu chí, được chia thành 5 nhóm cụ thể (nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã hội; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về văn hóa -
xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị) với 39 chỉ tiêu cụ thể Hiện nay
các tiêu chí đều đã được hướng dẫn tới tận xã qua Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới để phổ biến tới từng người dân Khi xã đạt đủ 19 tiêu chí đó thì
được công nhận là xã nông thôn mới
Thực tế qua quá trình triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới đã nảy sinh nhiều vấn đề như: làm thế nào để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa trong khi trình độ sản xuất của bà con còn lạc hậu; khả năng tiếp cận thị trường, nhận thức của người dân, một bộ phận cán bộ cấp xã còn hạn chế Hơn nữa, việc phân bố dân cư ở các thôn, bản còn rải rác, công tác quy hoạch chưa được thống nhất, lâu dài,
vị trí trung tâm của các xã còn hạn hẹp, hết quỹ đất Hạ tầng nông thôn còn nhiều yếu kém Công tác vệ sinh làng, bản, vệ sinh môi trường còn nhiều hạn chế Điều này lại càng khó khăn hơn ở các vùng dân tộc Tuy nhiên, với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và vai trò của HTCT cấp xã thì chương trình trên vẫn có thể thực hiện được Song, để làm được điều này, đòi hỏi HTCT cấp xã phải:
- Xây dựng quy hoạch sản xuất, triển khai công tác dồn điền đổi thửa một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn sản xuất của từng địa phương, không làm theo phong trào,
- Tìm mọi giải pháp để thu hút doanh nghiệp về nông thôn, làm sao để doanh nghiệp là cầu nối giữa nông dân, nông nghiệp với thị trường, hướng dẫn, trợ giúp nông dân ra thị trường
- Tăng cường và đổi mới hoạt động của công tác khuyến nông theo hình thức dạy nghề, rèn việc, đào tạo trực tiếp cho nông dân làm nông nghiệp, để nông dân có đủ sức tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới
- Cần hướng dẫn mô hình cụ thể cho người dân thấy, bởi trăm nghe không bằng một thấy, phải làm rất cụ thể Ví dụ, muốn hướng dẫn nông dân
Trang 27làm sạch làng, sạch cho nhà mình, thì phải làm hầm biogaz, biết thu gom, xử
lý rác thải, v.v
- Cung cấp thông tin cho dân bằng nhiều hình thức, tuyên truyền cho nhân dân hiểu những công việc chúng ta đang làm hôm nay, cũng như trách nhiệm và lợi ích họ đạt được tham gia chương trình này
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY
2.1 ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CÁC XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU
SỐ TỈNH LÀO CAI TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở XÃ.
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai.
2.1.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu (ngày 01/01/2004), diện tích tự nhiên của tỉnh Lào Cai là 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước), là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/64 tỉnh, thành phố trên cả nước
Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp tỉnh Lai Châu, phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc với 203 km đường biên giới
Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi cùng có hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa hai dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn Ngoài ra còn rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ 300m - 1.000m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn
có độ cao 3.143m so với mặt nước biển, Tả Giàng Phình: 3.090m
Trang 29Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai - Cam Đường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước rộng, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng.
Lào Cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chia phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện ở dạng nhiệt độ trong ngày lên cao hoặc xuống quá thấp (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi)
Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng cao từ 150C - 200C (riêng Sa Pa từ 140C - 160C và không có tháng nào lên quá 200C), lượng mưa trung bình từ 1.800mm - >2.000mm Nhiệt độ trung bình nằm ở vùng thấp từ 230C - 290C, lượng mưa trung bình
từ 1.400mm - 1.700mm
Với đặc điểm khí hậu này, đất đai Lào Cai rất thích hợp với các loại cây
ôn đới, vì vậy Lào Cai có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: hoa, quả, thảo dược và cá nước lạnh Đất có độ phì nhiêu cao, màu mỡ, đa dạng bao gồm 10 nhóm, 30 loại đất, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau
Thành phần dân tộc
Tổng dân số toàn tỉnh năm 2008 là 613.075 người, trong đó, số người
trong độ tuổi lao động chiếm 52% Mật độ dân số bình quân là 96 người/km2 Tỉnh có 25 nhóm ngành dân tộc cùng chung sống hoà thuận, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 64,09% dân số toàn tỉnh Dân tộc Kinh chiếm 35,9%, dân tộc Hmông chiếm 22,21%, tiếp đến là dân tộc Tày 15,84%, Dao 4,05%, Giáy
Trang 304,7%, Nùng 4,4%, còn lại là các dân tộc đặc biệt ít người khác như: Phù Lá, Sán Chay, Hà Nhì, La Chí,
Đơn vị hành chính
Tỉnh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố (1 thành phố Lào Cai
và 8 huyện là Sa Pa, Bát Xát, Bảo Yên, Bảo Thắng, Si Ma Cai, Văn Bàn, Mường Khương, Bắc Hà), với 164 xã, phường, thị trấn, trong đó có 138 xã vùng sâu, vùng xa, biên giới Tỉnh Lào Cai được chia làm 3 khu vực:
- Khu vực I: gồm 16 xã, phường có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
thuận lợi Chủ yếu là các xã ở vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố, giao thông và các dịch vụ xã hội thuận lợi
- Khu vực II: gồm 40 xã, thị trấn có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
khó khăn, phần lớn các xã này nằm ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại còn tương đối khó khăn; các dịch vụ xã hội cơ bản đã được đáp ứng tương đối tốt
- Khu vực III: gồm 108 xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn, các xã ở vùng sâu vùng biên giới, xa các trung tâm huyện, thành phố; địa hình bị chia cắt mạnh, giao thông đi lại còn rất nhiều khó khăn; các dịch
vụ xã hội còn hạn chế
2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Là nơi tuyến đầu của Tổ quốc, Lào Cai là một trong những tỉnh có vị trí địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước Vị trí chiến lược đó cũng
đã tạo điều kiện để Lào Cai trở thành đầu mối thông thương kinh tế, giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc nói riêng và quốc tế nói chung Trong những năm qua, mặc dù phải đối mặt với những khó khăn, thách thức của cuộc khủng hoảng kinh tế, song với chủ trương, quan điểm, định hướng đúng đắn cùng với sự năng động, linh hoạt trong công tác chỉ đạo, điều hành, sự quyết tâm phấn đấu của các cấp, các ngành và nhân dân các dân tộc, kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
Trang 31Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân (5 năm 2005 - 2010) là 13% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, năm 2010 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP chiếm 27,9%; công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 34,2% Sản xuất lương thực liên tục được mùa, năm 2010 tổng sản lượng lương thực đạt 220.000 tấn Với lợi thế về cửa khẩu, lĩnh vực công nghiệp, du lịch, dịch vụ được khai thác có hiệu quả đã và đang tạo bước phát triển mạnh
mẽ cho Lào Cai Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực,
tỷ lệ đói nghèo hàng năm giảm 5%, đời sống nhân dân được cải thiện một cách rõ rệt, bộ mặt nông thôn, vùng cao ngày càng đổi mới Quốc phòng an ninh được tăng cường, hoạt động đối ngoại thu được nhiều kết quả, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác phát triển Công tác xây dựng Đảng, chính quyền và các đoàn thể có nhiều tiến bộ, hệ thống chính trị các cấp được củng cố và tăng cường, trở thành nền tảng vững chắc cho tỉnh phát triển trong giai đoạn mới [3, tr 21]
Được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất đai và khí hậu với nền nhiệt tương đối thấp tạo thuận lợi cho tỉnh đẩy mạnh phát triển các loại cây ôn đới,
cá biệt có những vùng nhiệt độ quanh năm không lên quá 20oC như Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai tạo lợi thế để những vùng này phát triển các loại đặc sản
xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: rau, hoa, quả, thảo dược, cá hồi, cá tầm nước lạnh,… Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với trên 150 mỏ và điểm mỏ, trong đó có những loại khoáng sản quý với trữ lượng lớn, là cơ sở để Lào Cai phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản - một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh Bên cạnh đó,
du lịch - ngành công nghiệp không khói, chính là điểm nhấn khi nhắc đến Lào Cai Nằm ở độ cao lý tưởng, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh sơn thủy hữu tình với rừng cây, núi đá, thác nước với nhiều địa danh lịch sử, hang động tự nhiên và các vùng sinh thái nông nghiệp đặc sản như: mận Bắc Hà,
Trang 32rau ôn đới, cây dược liệu quý, cá hồi (Phần Lan), cá tầm (Nga),… và là nơi hội tụ của nhiều hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa,… Thị trấn Sa Pa là một trong 21 trọng điểm du lịch của Việt Nam nói chung, trọng điểm du lịch quan trọng của tỉnh Lào Cai nói riêng Ngoài ra, Cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Hà Khẩu) cũng là một điểm du lịch thú vị cho mỗi du khách khi đến với Lào Cai Đặc biệt, là tỉnh miền núi cao, đang phát triển nên Lào Cai còn giữ được cảnh quan môi trường da dạng và trong sạch, đây sẽ là một cơ sở để tạo nên một điểm du lịch
lý tưởng đối với du khách trong và ngoài nước
Tuy nhiên, tỉnh Lào Cai còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đó là:
- Kết cấu hạ tầng kinh tế vẫn còn thiếu đồng bộ, nhất là khu vực nông thôn, vùng cao, vùng xa
- Do tác động suy thoái kinh tế, nên nhiều công trình, dự án đầu tư khó khăn, chững lại, đặc biệt là các công trình thủy điện, các dự án thu hút đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, du lịch, công nghiệp
- Hệ thống trường lớp học, nhà ở giáo viên và học sinh bán trú, trạm y tế
xã, trụ sở cơ quan hành chính cấp xã còn nhiều khó khăn
- Mạng lưới y tế cơ sở, nhất là thôn bản còn khó khăn, thiếu những chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực y tế
- Lào Cai hiện còn 03 huyện và 95 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, trình
độ dân trí còn thấp, nguồn lao động tại chỗ chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, thiếu đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
2.1.2 Đặc điểm, tình hình các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai tác động đến hệ thống chính trị nơi đây.
2.1.2.1 Địa - Môi trường
Hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lào Cai đều cư trú trên các sơn nguyên hoặc các thung lũng hẹp của hai dãy núi cổ Hoàng Liên và Con Voi Các dãy núi này có nhiều đèo hiểm trở, khu vực đồng bào sinh sống thuộc
Trang 33khối nông kiến tạo có độ chia cắt sâu từ lớn đến rất lớn Bao gồm các cấp từ 120m đến 350m/km2 hoặc từ 200m đến 500m/km2 Địa hình vùng cao còn có mức độ chia cắt ngang trung bình từ 0.5 đến 1.5 km/km2 ở các huyện Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát, Văn Bàn, Si Ma Cai đến độ chia cắt rất lớn từ 2km2
đến 2,5 km2 ở Sa Pa… Độ dốc địa hình cao, nhiều nơi trên 250 Do ảnh hưởng của địa hình nên việc phát triển kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc ở các xã tỉnh Lào Cai gặp rất nhiều khó khăn
Tỉnh Lào Cai có mạng lưới sông suối khá dày với mật độ sông suối trung bình đạt 1km/km2 Khu vực có mật độ sông suối dày nhất là khu vực Hoàng Liên Sơn đạt chỉ số từ 1,5 km/km2 - 1,7 km/km2 Hệ thống sông suối dày vừa
có điều kiện thuận lợi, lại vừa gây khó khăn cho giao thông, thông tin liên lạc Dòng chảy chính của các sông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (tiêu biểu là sông Hồng) tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy Nhưng mật độ sông suối dày đặc cũng hạn chế khả năng truyền tin cũng như hữu tuyến, vô tuyến hiện nay
Quy mô một xã ở Lào Cai rất lớn, diện tích nhiều xã bằng diện tích của một huyện đồng bằng nhưng mật độ dân cư lại thấp Các làng, bản trong xã thường rất phân tán, cách xa nhau, có bản cách trung tâm xã bằng cả ngày đường đi bộ Giao thông kém phát triển, quy mô địa bàn lại rộng, địa hình phức tạp đã làm cho việc quản lý điều hành, tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị xã đến các thôn bản đã khó khăn lại càng khó khăn hơn
Tình trạng du canh, du cư của đồng bào tuy đã giảm nhưng vẫn còn tồn tại ở một số nơi, tỷ lệ mù chữ còn khá cao ở một số tộc người Bên cạnh đó, các thế lực thù địch với nhiều âm mưu, thủ đoạn đang lợi dụng vấn đề dân tộc
và tôn giáo để kích động một bộ phận nhân dân các dân tộc, tập hợp lực lượng gây mất trật tự an ninh trên địa bàn Tất cả những đặc điểm trên làm cho hệ thống chính trị các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai vốn có những khó khăn đặc thù, nay lại chịu thêm nhiều tác động mới mẻ, nhạy cảm và phức tạp
Trang 342.1.2.2 Đặc điểm kinh tế
Kinh tế của cư dân các xã Lào Cai là kinh tế nương rẫy, sản xuất một vụ
là chủ yếu Phương thức canh tác là đốt rừng làm nương dẫn đến tình trạng diện tích rừng bị cạn kiệt nhanh chóng Một số tộc người như Dao, Phù Lá,
La Ha, Khơ Mú… du canh theo đường tròn Nhưng đồng bào H’Mông lại du canh treo đường thẳng Du canh, du cư làm biến động cộng đồng dân cư, khó quản lý dân số, đất đai và lao động
Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lào Cai vẫn còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm Sản phẩm của các ngành này chỉ đủ phục vụ tiêu dùng trong sinh hoạt, chưa trở thành hàng hóa Sản xuất hàng hóa tuy đã bước đầu xuất hiện ở các xã vùng thấp do sự tác động của kinh tế thị trường đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, song chưa thật mạnh mẽ Còn lại hầu hết các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn là môi trường khép kín, biệt lập
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã chú trọng phát triển kinh tế theo hướng có trọng tâm, trọng điểm nhằm khai thác tốt lợi thế của địa phương trên cơ sở bảo đảm tính bền vững của sự phát triển Xuất phát
từ thực trạng Lào Cai, với 70% - 80% là nông dân, nông thôn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng bộ Lào Cai đã tập trung nghiên cứu chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích; đầu tư để tạo bước chuyển mạnh mẽ
từ kinh tế tự túc, tực cấp sang sản xuất hàng hóa
Đến nay, sản xuất nông nghiệp vượt qua giai đoạn nhiều khó khăn, duy trì tốc độ tăng trưởng khá Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đạt trên
1000 tỷ đồng/ năm Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác tăng từ
8 triệu đồng (năm 2000) lên 14 triệu đồng (năm 2005) Công tác quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa được quan tâm triển khai thực hiện, đã và đang hình
Trang 35thành các vùng thâm canh lúa, ngô, đậu tương, rau, quả hàng hóa Trên 80% diện tích được cấy bằng giống lúa mới có năng suất cao Nhiều giống cây, con
có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất như giống hoa cao cấp, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu…
Chăn nuôi phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nhất là chăn nuôi đại gia súc, bình quân hàng năm đàn trâu tăng 4,5 %, đàn bò tăng 5,3%, đàn lợn tăng 6,5 %, gia cầm tăng 5,5,% Công tác tuyển chọn những con giống có năng suất, chất lượng cao được chú trọng như sin hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn, phục tráng con giống địa phương có tính vượt trội như đàn bò vàng ở huyện Si Ma Cai, trâu ở huyện Bảo Yên…
Những năm gần đây, diện mạo nông thôn Lào Cai có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh được cải thiện đáng kể; thu nhập hộ gia đình tăng 2,2 lần Hoạt động dịch
vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn có bước phát triển, một
số nghề truyền thống được khôi phục Bước đầu thực hiện cơ giới hóa trong một số khâu sản xuất và bảo quản sau thu hoạch
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu trên cũng tác động mạnh mẽ đến hệ thống chính trị các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lào Cai Điều này đòi hỏi hệ thống chính trị, đặc biệt là chính quyền các xã phải giỏi về quản lý kinh
tế, quản lý tài nguyên rừng, nguồn đất… Việc quản lý theo mô hình kinh tế nương rẫy truyền thống đã khó, nay chuyển dịch sang kinh tế hàng hóa lại càng khó khăn hơn rất nhiều
2.1.2.3 Đặc điểm văn hóa tộc người
Tỉnh Lào Cai có 13 dân tộc với 25 nhóm ngành khác nhau, sử dụng 6 nhóm ngôn ngữ trong tổng số 8 nhóm của cả nước Đồng bào các dân tộc ở Lào Cai cư trú xen kẽ với nhau Điều này làm cho Lào Cai trở thành tỉnh có
sự đa dạng về văn hóa, đa sắc thái trong văn hóa tạo nên sự phong phú của
Trang 36nhiều loại hình văn hóa dân gian, nhưng mặt khác nó cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở Cụ thể:
a Ảnh hưởng của thiết chế xã hội truyền thống
Các thiết chế trong xã hội truyền thống ở làng, bản, có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến việc củng cố và xây dựng hệ thống chính trị ở các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đáng chú ý là thiết chế cộng đồng dòng họ và thiết chế cộng đồng làng bản
Đối với tộc người H’Mông, Dao, vấn đề cộng đồng dòng họ được đề cao Những người cùng dòng họ, cùng tổ tiên có trách nhiệm giúp đỡ nhau, coi nhau là anh em, bảo vệ lẫn nhau trong cuộc đua tranh với người ngoài Bất
cứ người H’Mông ở đâu tới, địa vị và hành vi ra sao, nhưng nếu là cùng dòng
họ đều được sự che chở, giúp đỡ nhiệt tình của người trong họ Quan hệ dòng
họ ít nhiều chi phối trong bầu cử, trong điều hành công việc của hệ thống chính trị ở các xã
Trong quan hệ dòng họ, nổi bật là vai trò trưởng họ Điển hình là ở tộc người H’Mông, trưởng họ được đề cao gọi là gốc họ (hổ pấu) Họ là những người hiểu biết về phong tục tập quán, có uy tín, giỏi lý lẽ và có điều kiện kinh tế khá giả Trưởng họ trực tiếp quyết định việc di cư, giải quyết những
vụ xích mích trong nội bộ dòng họ, hướng dẫn các gia đình thực hiện quy ước dòng họ, thay mặt dòng họ giao thiệp với các dòng họ khác, đồng thời là người tổ chức các vụ kiện… Hiện nay, vai trò của người trưởng họ H’Mông vẫn còn rất lớn, vẫn là người có ý kiến quan trọng đối với các thành viên, là người có nhiều ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của hệ thống chính trị ở xã
Ở vùng người Thái, quan hệ dòng họ chi phối mạnh mẽ hệ thống chức dịch Mọi chức vụ quan trọng trong một mường từ chủ mường đến các tạo bản đều là thành viên trong một dòng họ quý tộc người Thái Dòng họ quý tộc này có tính chất đẳng cấp, chỉ họ mới nắm quyền hành trong một mường
Trang 37Bóng dáng của già làng được ghi dấu ấn vào bộ máy hành chính cổ truyền ở các mường cũ là hội đồng bô lão Tùy theo mường mà thành viên của hội đồng này ít nhiều có khác nhau Nhưng họ phải là những người ngoài dòng họ quý tộc nhằm giám sát các chủ mường Hiện nay, vai trò các bô lão ở các bản,
xã vùng người Thái vẫn còn đậm nét, họ là những người có uy tín với nhân dân Các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trước khi triển khai đến dân mà được già làng ủng hộ thì nhân dân sẽ tin theo, đạt hiệu quả cao hơn Ngược lại, nếu không được già làng ủng hộ thì mọi việc trở lên khó thực hiện
Các thôn, bản, làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lào Cai, tuy không phải là đơn vị hành chính, nhưng lại có các thiết chế văn hóa chặt chẽ Người trong thôn, bản có tính cộng đồng, giúp đỡ nhau trong kinh tế, sản xuất, trong ngày cưới, làm nhà, ma chay… Trong làng, bản mỗi cá nhân như chìm trong cộng đồng; lợi ích cá nhân, đặc biệt là lợi ích kinh tế không được đề cao mà hòa vào lợi ích cộng đồng, ẩn sâu vào lợi ích cộng đồng qua quan hệ “cái tôi” đứng sau “cái ta” Tâm lý này đã góp phần hạn chế tính quyết đoán của cán
bộ lãnh đạo chính quyền, trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng bị hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu Đặc điểm này còn làm cho tính cục bộ của làng, bản được đề cao Mỗi bản, làng sống theo quy ước riêng, tôn trọng quy ước, nếp sống của bản, làng Vì vậy, vai trò điều hành của HTCT cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai gặp rất nhiều khó khăn
b Đặc trưng cư trú xen kẽ tộc người
Trên địa bàn một xã của tỉnh Lào Cai có ít nhất là 2 dân tộc, một số xã đan xen từ 3 đến 5 dân tộc cùng sinh sống Cư trú đan xen thường dẫn đến hai khuynh hướng đối lập nhau: khuynh hướng đoàn kết, đùm bọc, che chở và khuynh hướng hiềm khích, xích mích, xung đột, trong đó khuynh hướng đoàn kết đùm bọc các dân tộc là khuynh hướng truyền thống
Trang 38Tuy nhiên, do có nhiều điểm khác nhau về ngôn ngữ, về phong tục tập quán, tâm lý tộc người… nên khuynh hướng hiềm khích, xích mích dân tộc luôn có nguy cơ bùng nổ Đặc biệt, với sức ép về tăng dân số, tỷ lệ đất canh tác giảm, thì mầng mống mất đoàn kết dân tộc luôn tồn tại, tiềm tàng.
Nếu đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở xã có tư tưởng cục bộ, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp theo lợi ích của dân tộc mình, dòng họ mình, thì tình trạng xích mích dân tộc dễ xảy ra, thậm chí có khi trở thành vấn đề lớn, đe dọa an ninh quốc gia
c Trình độ dân trí thấp
Do những yếu tố khách quan và chủ quan, nên mặt bằng dân trí của đồng bào vùng cao Lào Cai còn thấp Nền kinh tế tự cấp, tự túc, sản xuất theo tập quán, mang nặng yếu tố kinh nghiệm Kinh tế nương rẫy biến hộ gia đình thành đơn vị khép kín, trẻ em cũng được phân công công việc, thậm chí còn phải lao động nặng nhọc, nên còn khá nhiều trẻ em không được đến trường, công tác phổ cập giáo dục tiểu học còn gặp nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục song số người không biết chữ trong đồng bào dân tộc thiểu số còn chiếm tỷ lệ cao, tình trạng tái mù vẫn diễn ra, tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi còn thấp Những yếu tố trên ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng, đến công tác xây dựng chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở các xã, đồng thời cũng ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ xã và cũng là yêu cầu đặt ra cho từng cán bộ phải trực tiếp giải quyết
d Quản lý xã hội bằng pháp luật và luật tục
Ở một số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lào Cai hiện nay, hai hình thức quản lý xã hội là luật tục và pháp luật đang tồn tại song trùng, đan xen với nhau Quản lý xã hội bằng luật tục nảy sinh từ xã hội chưa có giai cấp, nhưng hiện nay khi một số đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa của Lào Cai vẫn chủ yếu sống dựa trên cơ sở kinh tế tự cung, tự cấp,
Trang 39tính cộng đồng sâu đậm thì những luật tục vẫn tồn tại chi phối các quan hệ xã hội.
Ở các làng, mỗi cá nhân đều có bổn phận phải tuân thủ những nghĩa vụ
và quyền lợi mà luật tục đã quy định Luật tục đã tạo ra sự cưỡng chế của cả cộng đồng với cá nhân thông qua dư luận Dư luận góp phần quản lý từng con người cụ thể, ràng buộc mọi thành viên vào cơ chế vận hành của bản, làng Mỗi cá nhân không chỉ chịu sự giám sát của gia đình, dòng họ mà còn chịu sự kiểm tra đánh giá của cả cộng đồng thông qua dư luận Nhờ tác động của dư luận mà mỗi người dân tự điều chỉnh hành vi tuân theo luật tục của làng, bản Một mặt, những dư luận làng, bản có nhiều tác động tiêu cực đối với các thành viên, buộc các cá nhân phải phục tùng luật tục tiêu cực, như quan niệm phải dựng vợ, gả chồng sớm; cưới xin chỉ cần hai họ đồng ý, không cần đăng
ký kết hôn; tư tưởng trọng nam khinh nữ…
Bên cạnh đó, luật tục cũng có những tác dụng tích cực nếu đấy là các nguyên tắc đạo đức, các quan niệm tín ngưỡng truyền thống lâu đời còn mang những giá trị phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội, phù hợp với
sự phát triển của đất nước Vì hiệu lực của luật tục được toàn thể đồng bào tôn trọng và tuân theo, tác dụng xử lý của luật tục cũng nhanh gọn
Vì vậy, bên cạnh vấn đề quản lý xã hội bằng pháp luật, hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn phải nắm rõ luật tục của các tộc người sinh sống trên địa bàn, sử dụng luật tục, hoặc luật tục hóa pháp luật để quản lý xã hội một cách thích hợp
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TỈNH LÀO CAI
2.2.1 Những thành tựu đạt được trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai hiện nay
2.2.1.1 Tổ chức và hoạt động của Đảng bộ xã
a Về tổ chức, bộ máy của Đảng bộ xã
+ Về tổ chức:
Trang 40Số lượng đảng viên: Hiện nay, Đảng bộ tỉnh có 638 tổ chức cơ sở đảng,
với 29992 đảng viên Toàn tỉnh có 164 tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn với 18644 đảng viên Trong đó, 144 xã với 1509 chi bộ trực thuộc, có
13999 đảng viên
Đa số đảng viên ở các đảng bộ xã có tuổi đời trẻ (bình quân là 29,34), hăng hái trong lao động sản xuất và nhiệt tình trong công tác, tuổi đời đảng viên mới kết nạp ngày càng trẻ Tuổi bình quân năm 2009 là 29,46, năm 2010
là 29,34 Đây là điều kiện thuận lợi để đảng viên ở đảng bộ xã đi đầu trong tiếp nhận tiến bộ khoa học, kỹ thuật và hướng dẫn nông dân áp dụng vào phát triển sản xuất Lứa tuổi này cũng là đỉnh cao của thể lực và trí tuệ cống hiến tốt nhất, là điều kiện thuận lợi đẩy mạnh nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Nhìn chung, trình độ học vấn của đảng viên ở đảng bộ các xã thấp so với trình độ học vấn của đảng viên ở các loại hình tổ chức cơ sở đảng khác, trình
độ, năng lực của đội ngũ đảng viên xã còn hụt hẫng so với nhu cầu phát triển của xã hội; một số bộ phận đảng viên, đặt biệt là đảng viên là người dân tộc thiểu số đời sống còn nhiều khó khăn
Chất lượng đảng viên: Đảng bộ các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh Lào Cai đã trải qua hơn 60 năm lịch sử, được tôi luyện trong cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trên một vùng đất có vị trí địa - chính trị quan trọng, nên các thế hệ đảng viên nhanh chóng trưởng thành về ý thức chính trị, luôn vững vàng, kiên định trước mọi khó khăn thử thách; giữ vững được phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống trung thực, giản dị, gắn bó mật thiết với nhân dân; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Theo kết quả đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng năm 2010, trong tổng số 144 đảng bộ xã vùng dân tộc thiểu số Lào Cai có 88 đảng bộ xã đạt trong sạch vững mạnh (18 đảng bộ xã đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu), 50 đảng bộ xã đạt hoàn thành tốt nhiệm vụ và 6 đảng bộ xã hoàn thành nhiệm vụ