1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN MỚI

14 218 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN MỚI gày nay các cụm từ “cải cách hành chính”, “cải cách chính phủ” hoặc “cải cách thể

Trang 1

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN MỚI

gày nay các cụm từ “cải cách hành chính”, “cải cách chính phủ” hoặc “cải cách thể chế quản lý hành chính” được đề cập như một xu thế tất yếu trong điều hành xã hội của nhà nước hiện đại Mục đích của cải cách hành chính là nâng cao hiệu suất hoạt động hành chính của chính phủ nhằm thích ứng với những thay đổi, đòi hỏi của môi trường trong nước và quốc tế ở các quốc gia

N

Ở nước ta, việc cải cách nền hành chính nhà nước được đề cập rất sớm, là hành động chính trị của tất cả các cơ quan trong hệ thống chính chính trị và được tiến hành với một quá trình liên tục của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi và cách mạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các hoạt động này không chỉ dừng lại với hoạt động thực thi quyền hành pháp mà được đạt trong sự đổi mới, cải cách đối với tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị nhằm làm cho hệ thống này thích ứng với đòi hỏi của sự vận động phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia một cách hiệu lực, hiệu quả

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng nhiều nghị quyết về đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là cải cách nền hành chính nhà nước, từ Nghị quyết Trung ương 8 (Khoá VII) năm 1995, Nghị quyết Trung ương 3, 7 (Khoá VIII), Đại hội IX, X và Đại hội XI tiếp tục khẳng định cải cách nền hành chính nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế

Công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam được tiến hành sâu sắc và toàn diện với mục tiêu chung được xác định là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của

Trang 2

Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

Mục tiêu tổng quát là cơ sở hình thành nội dung của cải cách nền hành chính bao gồm: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công

Như vậy, cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội dung cốt lõi của cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay Nội dung cụ thể của cải cách thể chế hành chính được xác định gồm: Đổi mới công tác xây dựng và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; Xây dựng và hoàn thiện các thể chế; Tiếp tục thực hiện và nâng cao chất lượng của cơ chế “một cửa”

Chi tiết nội dung cơ bản của cải cách thể chế hành chính nhà nước về những vấn đề đã đạt được trong những năm qua và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong những năm tiếp theo chúng tôi trân trọng giới thiệu bạn đọc với nội dung: “nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế hành chính nhà nước trong giai đoạn mới”

1 Văn bản quy phạm pháp luật với vai trò hình thành thể chế hành chính nhà nước.

Theo nghĩa tổng quát, “thể chế” thuật ngữ chỉ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan

hệ xã hội, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, buộc mọi người, mọi tổ chức phải tuân theo.[1] Theo đó, nội hàm và hình thái biểu hiện của thuật ngữ này được nhìn nhận ở các phương diện sau:

Về hình thức, thể chế phải được thể hiện dưới dạng các văn kiện, văn bản với những tên loại được xác định trong hệ thống văn bản quản lý (Hiến pháp, các đạo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định….);

1 Xem (Một số thuật ngữ Hành chính-NXB Thế giới-HN- 2000, trg 13)

Trang 3

Về nội dung, thể chế là sự biểu hiện của các quy phạm, các quy tắc hành vi, các chế độ, chính sách có giá trị là chuẩn tắc hành động cho các tổ chức và công dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội

Như vậy, ở phương diện chung nhất cho thấy, thể chế là ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đề, đặt ra hệ thống các chuẩn mực nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Để trở thành công cụ quản lý có hiệu lực và hiệu quả thì “ý chí, mệnh lệnh quản lý, điều hành” của các chủ thể quản lý phải được “vật chất hóa” bằng những hình thức văn bản quản lý nhất định Trong hệ thống văn bản quản lý nói chung thì văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

cả Chức năng pháp lý của loại văn bản này được thể hiện ở chỗ là chúng được sử dụng để ghi lại các quy phạm pháp luật, là chứng cứ pháp lý để "điều chỉnh các mối quan hệ xã hội”, trong đó có việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của công tác quản lý nhà nước Chính mục đích ban hành đó đã tạo nên chức năng và vai trò pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý xã hội của các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Từ những dẫn luận nêu trên có thể khẳng định, là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, cấu thành thể chế hành chính nhà nước hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được nhà nước đặt ra để quản lý sự phát triển kinh tế - xã hội trên mọi phương diện, bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, an toàn, bền vững; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của các cơ quan quyền lực nhà nước, chế độ công

vụ, quy chế công chức, v.v nhằm ghi nhận về mặt pháp lý trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội và cá nhân công dân Bất kỳ một sự quản lý nào cũng đều kèm theo những văn bản pháp lý nhất định, tuy vậy, quá trình này luôn trong trạng thái vận động, bởi vì mỗi một giai đoạn phát triển mới của xã hội cần có những văn bản pháp luật mới ra đời để phù hợp với nó

Bởi ý nghĩa nêu trên, trên cơ sở tiếp tục đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, đặt cơ sở cho việc hoàn thiện hệ

Trang 4

thống pháp luật Việt Nam trong những năm tới, nhằm mục đích xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy cao độ nội lực, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây chính là một trong những mục tiêu cơ bản, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tới

Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra kế hoạch và biện pháp tổ chức thực hiện việc cải cách tổng thể nền hành chính nhà nước là: “xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước Trong đó, việc đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung then chốt” [2]

Có thể khẳng định rằng, công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đã đáp ứng được một phần quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước; tạo ra một khuôn khổ pháp lý cơ bản để Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; từng bước hình thành và phát triển hệ thống quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều nêu trên là cơ sở để xác định vai trò và tầm quan trọng của văn bản quy phạm pháp luật trong hình thành thể chế quản lý Chi tiết hơn, có thể nhìn nhận vai trò này thông qua kết quả xây dựng và hoàn thiện thể chế trong cải cách hành chính trong những năm qua về các phương diện chủ yếu sau đây:

Một là, văn bản quy phạm pháp luật với vai trò chuẩn hóa các quy tắc đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật

Quy trình xây dựng và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật có nhiều đổi mới, trong đó đã làm rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và lấy ý kiến người dân, xã hội vào các văn bản dự kiến sẽ ban hành thực hiện kết hợp giữa cải cách hành chính với cải cách lập pháp… Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế, tổ chức và hoạt động của hệ thống hành

2 Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010

Trang 5

chính Trong nhiệm kỳ Quốc Hội khoá XI và khoá XII, tính đến tháng 10/2010, Chính phủ đã trình Quốc hội trên 100 dự án luật và trung bình mỗi năm Chính phủ ban hành gần 200 nghị định hướng dẫn do đó, đã tạo lập cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế Một loạt các luật được ban hành, như: Luật Doanh nghiệp, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật lao động, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Điện lực…

Nỗ lực nêu trên trong hoàn thiện thể chế một mặt kịp thời khắc phục tình trạng thiếu luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, dân sự và nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, người dân và các tổ chức đã an tâm và tin tưởng vào chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Mặt khác đáp ứng mục tiêu của cải cách thể chế là thể hiện rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, giảm sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân

sự, kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng, giảm thiểu cơ chế “xin - cho” trong các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành

Hai là, văn bản quy phạm pháp luật với vai trò xây dựng và hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính

Thể chế về tổ chức bộ máy của hệ thống hành chính được hoàn thiện, đổi mới thông qua Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật cán bộ, công chức và 30 Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các văn bản về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn của

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện… Các thể chế hành chính đã tiếp tục làm rõ về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, loại bỏ phần lớn sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ và phân biệt

rõ hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch vụ công

Ba là, văn bản quy phạm pháp luật với vai trò xây dựng và hoàn thiện thể chế

Trang 6

về mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân.

Hệ thống các quy tắc thể chế về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được cụ thể, được thực hiện trong thực tiễn, trong đó: yêu cầu lấy ý kiến dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng; giám sát của dân đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước; xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan và cán bộ, công chức trong thi hành công vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết khiếu nại của dân tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và nhiều văn bản đã được ban hành, như: Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, Luật Khiếu nại tố cáo, các quy định về cơ chế một cửa, công khai ngân sách, tài chính, đấu thầu, thanh tra nhân dân… Các thể chế này nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, và vì dân”, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và giám sát vào các hoạt động của chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức

Những thành công bước đầu của cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông là những biểu hiện sinh động nhất về đổi mới phong cách phục vụ của nhà nước đối với công dân đồng thời góp phần tăng cường năng lực, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước; kỹ năng, nghiệp vụ hành chính cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính được nâng lên góp phần từng bước xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả ở nước ta Mặt khác, cơ chế một cửa liên thông đã điều chỉnh mối quan

hệ giữa người dân và công chức, tạo cơ chế giám sát, quản lý của người dân đối với

cơ quan nhà nước, giữa lãnh đạo với cán bộ, công chức thuộc quyền, giảm bớt phiền

hà, tiêu cực, thể hiện rõ bản chất và mục tiêu của công tác cải cách thủ tục hành chính

Văn bản quy phạm pháp luật với vai trò hình thành thể chế hành chính nhà nước được luận giải như đã nêu có thể khẳng định, chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chi phối trực tiếp tính hiệu lực, hiệu quả và khoa học của hệ thống thể thế hành chính Phản ánh chi tiết các thành tựu nêu trên cho thấy sự nỗ lực vượt bậc của tất cả các cơ quan tổ chức trong hệ thống chính trị trong cải cách, đổi mới Nhưng

Trang 7

điều ấy không đồng nghĩa với sự né tránh những hạn chế, khiếm khuyết trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, đó là: “Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất; thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp; trật tự, kỷ cương chưa nghiêm”[3] Đó là những vấn đề đặt ra và hướng đến hoàn thiện nhằm “đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách”[4]

2 Những vấn đề đặt ra và những giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách thể chế hành chính

Như đã khẳng định, chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chi phối trực tiếp tính hiệu lực, hiệu quả và khoa học của hệ thống thể thế hành chính Theo đó, một hệ lụy dễ thấy và logich, khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kém chất lượng là bao hàm “hệ thống thể chế thiếu ổn định, bất cập, vướng mắc”[5] Có thể nhận biết logich này với các hiện trạng sau:

- Hệ thống pháp luật dù đang hoàn thiện với nỗ lực cao nhưng chưa thoát khỏi tình trạng chỉ dừng lại ở việc xác định những nguyên tắc chung Tình trạng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chờ nghị định của Chính phủ, nghị định của Chính phủ, quyết định, của Thủ tướng Chính phủ chờ thông tư đã làm cho các qui phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật nói trên chậm đi vào cuộc sống Không ít văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương chưa đảm bảo tính hợp pháp, tính khả thi, gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tình trạng dùng thông báo, công văn hành chính có chứa quy phạm pháp luật để điều hành diễn ra còn

3 Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010

4 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG- HN-2011, trg 250

5 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa X, ĐCSVN

Trang 8

khá phổ biến ở cả trung ương và địa phương, thậm chí, có không ít trường hợp thông báo, công văn hành chính còn sửa đổi, bổ sung cả văn bản quy phạm pháp luật

- Các quy định về thể chế, các quy tắc quản lý có nội dung khó thường bị gác lại hoặc giao cho các văn bản có vị trí pháp lý thấp hơn quy định Có những văn bản luật được ban hành trong đó có nhiều điều giao cho Chính phủ quy định (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Cựu chiến binh, Luật Thanh niên ) Tình hình này dẫn đến các quy định pháp luật trong các văn bản luật hoặc nghị định rất ngắn, nhưng các văn bản triển khai hướng dẫn lại rất nhiều và vì thế các văn bản pháp luật được xây dựng mất nhiều công sức, thời gian, theo nhiều quy trình, thủ tục mà vẫn khó đi vào đời sống

- Tình trạng chồng chéo, trùng lặp khá phổ biến của các văn bản quy phạm pháp luật Nhiều quy định của văn bản này mâu thuẫn với quy định của văn bản khác, thậm chí ngay trong một văn bản Bên cạnh đó, cộng với việc có nhiều nội dung của Luật, Pháp lệnh cần các văn bản dưới luật hướng dẫn, định chi tiết, quy định này đã làm cho loại văn bản triển khai, hướng dẫn xem ra có giá trị pháp lý "cao" hơn Luật, pháp lệnh, cần hơn Luật, Pháp lệnh

Vấn đề mang tính tổng quan nêu trên tuy không đi vào mô tả chi tiết, nhưng chắc rằng đủ để phản ánh hệ lụy kéo theo cho chất lượng của thể chế hành chính Những bất cập nêu trên được có thể được soát xét với nhiều nguyên nhân Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phản ánh những hạn chế đối với công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (hình thức vật chất chứa đựng thể chế) Theo đó, những hạn chế nêu trên được phản ánh cụ thể bởi những nguyên nhân sau:

Thứ nhất là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc đối với hoạt động xây dựng xây dựng văn bản quản lý nói chung chậm đổi mới, tản mạn chưa trở thành yếu tố chủ đạo cho việc nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật

Trang 9

Thứ hai là, đội ngũ chuyên gia thực hiện nhiệm vụ soạn thảo, thẩm định, rà soát văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu; kinh nghiệm, trình độ còn hạn chế; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định còn chưa hợp lý

Thứ ba là, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thiếu sự đầu tư thích đáng về thời gian, công sức cũng như kinh phí cho công tác tổ chức soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; chưa có cơ chế hữu hiệu thu hút sự tham gia của các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học và nhân dân vào quá trình xây dựng văn bản pháp luật; tiến độ xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở các cấp, các ngành còn chậm

Thứ tư là, chưa quan tâm đến công tác đánh giá và xây dựng các tiêu chí đánh gia sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật

Thứ năm là, giá trị của của công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật chưa được phát huy đầy đủ trong hoạt đông xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Những yếu kém và bất cập nêu trên là những vấn đề đặt ra cần khắc phục nhằm đưa công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật vào nề nếp đáp ứng thiết thực cho cải cách thể chế hành chính trong những năm tiếp theo Tổng hợp nhất cho công việc phải làm đó là, đổi mới toàn diện công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước trong giai đoạn mới cần tập trung thực hiện các nguyên tắc cùng những yêu cầu cụ thể như sau:

Những nguyên tắc do Luật định cần tuân thủ khi xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với các chủ thể, gồm:

“- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật

- Tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Trang 10

- Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật

- Bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật

- Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” [6]

Các nguyên tắc nêu trên của Luật phải được thể hiện và cụ thể hóa thống nhất trong thực tiễn, việc cụ thể hóa các nguyên tắc này được nhìn nhận và thông qua các hoạt động ở nhiều phương diện dưới đây để đổi mới và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật

Một là, khoa học trong nghiên cứu chính sách pháp luật khi xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Chính sách pháp luật là đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Nhiệm vụ cơ bản của chính sách pháp luật là xác định phương hướng và mục tiêu của hoạt động sáng tạo pháp luật

Nghiên cứu chính sách pháp luật là một hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng và Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, được tập trung ở khâu đầu tiên của quá trình sáng tạo pháp luật khi cần phải tiến hành việc phát hiện nhu cầu ban hành văn bản, lập kế hoạch và xác định nội dung cơ bản và hình thức thể hiện cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật Nói khác đi, đó là hoạt động nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để định hướng hành động trong nghiên cứu chính sách pháp luật để khẳng định (dự kiến) các giải pháp có thể lựa chọn nhằm định hướng nội dung của dự án, dự thảo văn bản như biện pháp quản lý, mức độ quản lý, các biện pháp và công cụ hỗ trợ khác

6 Điều 3, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008.

Ngày đăng: 26/12/2015, 02:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w