1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phân loại nợ, phòng ngừa rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế

25 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 195,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ hiện nay đang xảy ra trên quy mô toàn thếgiới thì việc phát hiện sớm để ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý dứt điểmcác khoản nợ xấu của các n

Trang 1

BỘ NỘI VỤ

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

TIỂU LUẬN

Giải pháp phân loại nợ, phòng ngừa rủi ro tại các ngân hàng

thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế

Học viên:

Lớp :

§¬n vÞ :

Hµ Néi, th¸ng 6/2011

Trang 2

MỞ ĐẦU

Tín dụng là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của các ngân hàngthương mại, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của các ngân hàng Tíndụng đã và đang là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu cho các ngân hàngthương mại Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngânhàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất Tác động củarủi ro tín dụng đối với hoạt động ngân hàng thương mại thường rất nặng nề:làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùngvới sự thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng làm tổnhại đến uy tín và vị thế của ngân hàng

Rủi ro trong hoạt động tín dụng là điều không tránh khỏi, nó tồn tạikhách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng Thực tiễn hoạt độngtín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian qua cũng cho thấyhoạt động tín dụng luôn song hành với rủi ro Vì vậy việc tìm ra những giảipháp phát hiện, phòng ngừa nợ xấu để hạn chế rủi ro tín dụng luôn là mốiquan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như của các nhà điều hànhngân hàng

Với xu hướng toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế và đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay khi nước ta đã hội nhập AFTA, ra nhập WTO, hộinhập với cộng đồng tài chính khu vực và quốc tế Đặc biệt trong cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ hiện nay đang xảy ra trên quy mô toàn thếgiới thì việc phát hiện sớm để ngăn chặn, phòng ngừa và xử lý dứt điểmcác khoản nợ xấu của các ngân hàng là đòi hỏi cấp bách để tạo điều kiệnphát triển nền kinh tế, đổi mới và cơ cấu lại doanh nghiệp, tiết kiệm chiphí cho nhà nước, có cơ hội để các ngân hàng đổi mới hoạt động tạo đàphát triển

Nhận thức tầm quan trọng của việc làm trong sạch bảng tổng kếttài sản, các hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và cácngân hàng thương mại nhà nước nói riêng đã xây dựng đề án xử lý nợxấu tồn đọng, lành mạnh hoá tình hình tài chính của mình và hướng cáchoạt động theo các chuẩn mực quốc tế, xây dựng ngân hàng theo hướngtập đoàn tài chính hiện đại trong tương lai

Trang 3

Tuy nhiên, việc phát hiện, phòng ngừa và xử lý nợ xấu trong hoạtđộng ngân hàng là công việc thực sự khó khăn từ trước tới nay chưađược làm triệt để, dứt điểm Vì vậy, muốn làm tốt cần phải thay đổi tưduy từ trong cách nghĩ đến cách làm, từ cấp ra văn bản chỉ đạo, hướngdẫn đến cấp thực hiện Việc quản lý và xử lý nợ xấu trong hoạt độngngân hàng phải được thực hiện một cách thực sự cầu thị, linh hoạt và cóhiệu quả.

Các ngân hàng thương mại Việt Nam, trong những năm qua đã cónhững đóng góp to lớn đối với sự phát triển của đất nước Tuy nhiên bên cạnhnhững kết quả đó các ngân hàng thương mại cũng gặp phải không ít khó khăntrong hoạt động xử lý nợ xấu Đối với hoạt động phân loại, xử lý nợ xấu cònchưa đồng bộ, chưa có chiến lược rõ ràng Nội dung chủ yếu trong xử lý nợxấu hạn chế ở phạm vi từng khoản vay đã phát sinh mà chưa có chiến lượcphát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro tín dụng, quản lý danh mục cấp tín

dụng Từ các góc độ trên mà tiểu luận “Giải pháp phân loại nợ, phòng ngừa rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam theo thông lệ quốc tế”

được lựa chọn nghiên cứu

Trang 4

NỘI DUNG

I Nội dung tình huống

Từ năm 2002, thực hiện các dự án hỗ trợ kỹ thuật do Ngân hàng Thếgiới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Châu Á và một số nước pháttriển tài trợ, một số NHTM nhà nước và NHTM cổ phần đã thực hiện kiểmtoán quốc tế theo cả hai chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toánquốc tế từ năm 2000 đến 2005

Theo đánh giá của một số tổ chức kiểm toán quốc tế (Ernst & Young,Price Whaterhouse Coopers, KPMG) đã thực hiện kiểm toán tại một sốNHTM nhà nước và NHTM cổ phần trong giai đoạn từ năm 2000-2010, đềukhuyến cáo tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng này đang ở mức rất cao, đặc biệt ởmột vài NHTM nhà nước Tuy nhiên, các phương pháp cũng như kết quảkiểm toán quốc tế tại các NHTM cho đến nay vẫn chưa được công bố rõ ràng

và đầy đủ, ngoại trừ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam công bố số liệu

nợ xấu theo đánh giá của kiểm toán quốc tế năm 2004 - 2005 lên đến vài chụcphần trăm

Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế có những đánh giá thận trọnghơn, ước đoán tình hình nợ xấu bình quân của các NHTM Việt Nam vàokhoảng 30% ở giai đoạn 2000-2002, khoảng 15% ở giai đoạn 2004-2005 vànăm 2010 vào khoảng dưới 10%

Đánh giá về các ngân hàng Việt Nam, một trong 3 tổ chức định mức tínnhiệm lớn nhất thế giới là Công ty Standard and Poor’s cho rằng: Các NHTMViệt Nam đang hoạt động với nhiều rủi ro như công khai tài chính kém, thiếuminh bạch; chất lượng tài sản kém; trình độ quản lý rủi ro thấp; trình độ thẩmđịnh dự án và cho vay của các ngân hàng còn yếu kém… Các NHTM nhànước cho vay vẫn còn tập trung nhiều vào các doanh nghiệp nhà nước trongkhi các doanh nghiệp này hoạt động kém hiệu quả, khiến các NHTM nhànước luôn đứng trước rủi ro lớn, Các NHTM cổ phần tuy không bị gánh nặnghành chính cồng kềnh như các NHTM nhà nước nhưng vốn điều lệ lại quánhỏ, khoảng 5 triệu USD một ngân hàng, nên không thể tập trung cho cáckhoản vay lớn Các NHTM nhà nước và cổ phần đều không thể thoát khỏi

Trang 5

tình trạng nợ khê đọng và quá hạn thực tế chiếm tỷ lệ cao Việc đánh giá chấtlượng tín dụng bị ảnh hưởng do báo cáo kém và tình trạng thiếu minh bạch.

Vµo giữa năm 2004 và năm 2009, Ng©n hµng Nhµ níc thùc hiÖn kh¶os¸t về tình hình nợ xấu t¹i mét sè NHTM nhµ níc, với nội dung tập trung vàocác khách hàng là doanh nghiệp có dư nợ cho vay và bảo lãnh từ 3 tỷ đồng trởlên, với c¸c tiªu chÝ đánh giá dựa trên: kết quả hoạt động kinh doanh; tỷ lệ nợtrung dài hạn trên vốn chủ sở hữu; lịch sử cho vay, trả nợ và tình hình công

nợ (nợ khoanh, nợ chờ xử lý, nợ khó đòi, nợ đã bị xử lý bằng dự phòng rủi ro)tại các tổ chức tín dụng… Kết quả đợt khảo sát này cũng cho thấy tỷ lệ nợ xấutại các NHTM ở mức khá cao, gần với kết quả của kiểm toán quốc tế Trong

đó, dư nợ của những khách hàng thua lỗ đến mức âm vốn chủ sở hữu, hoặc đãngừng hoạt động, hoặc đang bị khởi kiện lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng; cáckhoản vay không có tài sản bảo đảm vẫn còn chiếm số lượng khá lớn; nguồnvốn hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp nhà nước là vốn vay ngân hàng…

Tỷ lệ nợ xấu ở mức cao phản ánh chất lượng hoạt động, năng lực tàichính yếu kém của ngân hàng; hạn chế khả năng mở rộng quy mô kinh doanh;làm giảm uy tín của ngân hàng, là nguyên nhân có thể gây ra sự đổ vỡ cục bộtại một ngân hàng và có khả năng gây phản ứng lan truyền đến an toàn hoạtđộng của toàn hệ thống, ảnh hưởng đến nền kinh tế và tiềm ẩn nguy cơ khủnghoảng kinh tế

Để nâng cao chất lượng hoạt động, tăng cường năng lực tài chính, bảođảm an toàn trong hoạt động ngân hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của

hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn mở cửa dịch vụ tàichính ngân hàng và hội nhập kinh tế quốc tế, việc phõn loại nợ và xử lý nợxấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam theo thông lệ quốc tế để đề xuất cácgiải pháp xử lý là thiết thực và cấp bách

II Ph©n tÝch t×nh huèng

1 Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa đánh giá của Việt Nam

và các tổ chức quốc tế về nợ xấu của NHTM

Số liệu nợ xấu theo công bố của các NHTM Việt Nam và đánh giá củacác tổ chức tài chính ngân hàng, kiểm toán quốc tế đã trình bày ở trên có sựkhác biệt rất lớn Nguyên nhân của sự khác biệt này, một phần do các tiêu chí

và phương pháp phân loại nợ xấu giữa Việt Nam và quốc tế khác nhau; phần

Trang 6

nữa do trình độ của hệ thống thông tin thống kê, kế toán khác nhau; do môitrường kinh tế, cách thức tiếp cận nợ xấu và văn hoá hành xử khác nhau Trong đó, nguyên nhân cốt lõi là do các NHTM Việt Nam mới thực hiện phânloại nợ theo từng khoản nợ riêng lẻ, trong khi đó thông lệ quốc tế chủ yếuthực hiện phân loại nợ theo từng khách hàng.

1.1 Về mặt tiêu chí và phương pháp phân loại nợ

Xét về mặt hình thức và quy định trên các văn bản pháp lý, nợ xấu theođịnh nghĩa của Việt Nam và thông lệ quốc tế về cơ bản đều được xác địnhdựa trên 2 yếu tố: (i) thời gian quá hạn trên 90 ngày và/hoặc (ii) có bằngchứng để nghi ngờ về khả năng trả nợ Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữaViệt Nam và thông lệ quốc tế về phân loại nợ, đó là cách thức lựa chọn, ápdụng các tiêu chí, chuẩn mực và sử dụng các công cụ hỗ trợ để thực hiện, cụthể: Tiêu chí áp dụng phân loại nợ của Việt Nam hiện nay thiên về định lượng(chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn của khoản nợ cụ thể) mà chưa có sự kếthợp hợp lý giữa tiêu chí định lượng và định tính (đánh giá đầy đủ về tình hìnhtài chính và khả năng trả nợ của khách hàng dựa trên cơ sở kết quả đánh giácủa Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng theo thông lệ quốctế) Do đó thực tế nhiều trường hợp khách hàng có kết quả kinh doanh thua lỗ,

âm vốn chủ sở hữu, nhưng chưa đến kỳ hạn trả nợ hoặc liên tục được gia hạnnên vẫn được một số Ngân hàng Việt Nam phân loại vào nợ nhóm 1 hoặcnhóm 2 (nhóm nợ tốt), trong khi đó nếu phân loại nợ theo thông lệ quốc tế vớicác tiêu chí định tính thì các khoản nợ này phải bị xếp vào nợ nhóm 3, nhóm

4, hoặc nhóm 5 (nhóm nợ xấu)

1.2 Về trình độ của hệ thống thông tin, kế toán

So với hầu hết các quốc gia phát triển trong khu vực và quốc tế, hệthống thông tin của Việt Nam chưa đạt mức độ đầy đủ và minh bạch, trong đóđặc biệt là các thông tin về tình hình tài chính của các doanh nghiệp, nhất làcác doanh nghiệp nhà nước Hệ thống công nghệ thông tin lạc hậu, hệ thốngkiểm tra, giám sát của nhà nước, hệ thống dịch vụ tư vấn tài chính, kiểm toáncủa thị trường còn non yếu và chưa đầy đủ Hầu hết báo cáo tài chính hoàntoàn do các doanh nghiệp tự lập và kê khai với cơ quan thuế, mà không có ýkiến đánh giá của các cơ quan kiểm toán độc lập Vì vậy, nhiều số liệu trên sổsách tài chính kế toán doanh nghiệp chưa phản ánh đúng và đầy đủ tình hình

Trang 7

tài chính của khách hàng, thậm chí đã bị sai lệnh do bị che dấu, do chậm hoặckhông công bố công khai.

Khi đánh giá về tính công khai minh bạch về thông tin, thông thườngkiểm toán quốc tế sẽ xác định các khoản vay của những khách hàng này thuộccác nhóm nợ nghi ngờ, dưới tiêu chuẩn

1.3 Về văn hoá hành xử và rủi ro đạo đức

Là một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, Việt Nam vẫn còn ítnhiều sự can thiệp, ràng buộc về mặt chính sách đối với các doanh nghiệp,đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước; các ngành nghề, vùng miền với cácmức độ ưu đãi khác nhau Một khách hàng, một doanh nghiệp nhà nước cóthể vay vốn tại nhiều ngân hàng với nhiều cơ chế vay khác nhau, có khoảnvay theo chỉ định, kế hoạch nhà nước, vay không có tài sản bảo đảm hoặc sửdụng bảo đảm bằng tài sản tình thành từ vốn vay; có khoản vay cơ chế thươngmại thông thường Theo đó, không ít khách hàng kinh doanh thua lỗ, không

có khả năng trả nợ, được Nhà nước hỗ trợ nguồn để xoá nợ hoặc Ngân hàngphải sử dụng dự phòng để xử lý nhưng vẫn tiếp tục nhận được các khoản vaymới từ ngân hàng đã xoá nợ hoặc từ các ngân hàng khác, và các khoản vaynày vẫn được xếp loại vào nhóm nợ tốt Trường hợp này, kiểm toán quốc tế

có thể sẽ phân loại tất cả các khoản vay của khách hàng này vào nhóm nợxấu, căn cứ vào một hoặc một số khoản nợ của không được hoàn trả, trongkhi các ngân hàng Việt Nam không làm như vậy

Một lý do khá quan trọng ảnh hưởng đến kết quả phân loại nợ của cácngân hàng Việt Nam thấp hơn so với đánh giá của các tổ chức quốc tế phải kểđến tình trạng che dấu nợ xấu ở các ngân hàng do nhiều mục tiêu khác nhau.Đối với các NHTM nhà nước có thể là do sức ép về thành tích, về chế độlương, thưởng… trong khi đối với các NHTM cổ phần lại là muốn thổi phồngthương hiệu nhằm tạo uy tín để thu hút cổ đông và dễ dàng huy động vốn chohoạt động kinh doanh…

2 Nh÷ng rủi ro tiÒm Èn gia tăng nî xÊu xác định theo thông lệ quốc

tế cña c¸c NHTM Việt Nam

2.1 Năng lực quản trị ngân hàng nói chung và quản lý rủi ro của các NHTM còn yếu

Trang 8

Mặc dù đã có sự cố gắng nỗ lực trong việc triển khai thực hiện Đề ántái cơ cấu ngân hàng, tuy nhiên đến nay năng lực tài chính và hoạt động của

hệ thống NHTM Việt Nam vẫn chưa đạt được mức trung bình trong khu vực

và thế giới Vốn điều lệ nhỏ bé, công nghệ dịch vụ ngân hàng còn lạc hậu;năng lực quản trị ngân hàng còn thấp; năng lực, trình độ cán bộ ngân hàngcòn nhiều hạn chế Hầu như các NHTM vẫn chưa thiết lập được Hệ thốngkiểm soát nội bộ hiệu quả để kịp thời phát hiên, ngăn chặn và phòng ngừa rủi

ro Nhiều NHTM chưa xây dựng được Chính sách quản lý rủi ro tín dụng,chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, chínhsách khách hàng và Sổ tay tín dụng; một vài NHTM đã bước đầu xây dựng,ban hành các chính sách này nhưng quá trình áp dụng vẫn còn nhiều bất cập

do năng lực cán bộ và công nghệ thông tin lạc hậu Do đó, nhiều rủi ro tronghoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng chưa được kịpthời phát hiện và phòng ngừa hiệu quả

Quy mô tài sản nhỏ bé, nhưng bộ máy hoạt động cồng kềnh làm tăngnhiều chi phí, hoạt động chưa hiệu quả Bộ máy kiểm toán nội bộ vẫn cònthiếu và yếu, chưa được coi trọng đúng mức

2.2 Cơ cấu tín dụng của hệ thống NHTM chậm chuyển dịch

Trong những năm gần đây, cơ cấu tín dụng của hệ thống NHTM đang

có những chuyển dịch nhất định, tuy nhiên chưa tạo được những thay đổi cơbản

Tính đến cuối năm 2010, cơ cấu tín dụng của hệ thống ngân hàng nhưsau: gần 35% tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, 5% tín dụng cho kinh

tế tập thể, 60% tín dụng cho các thành phần kinh tế khác Tín dụng của khuvực kinh tế nhà nước tăng bình quân 15%; khu vực kinh tế tập thể, tư nhân, cáthể tăng 25%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 18%

Như vậy, khách hàng chủ yếu của các NHTM Việt Nam vẫn là cácdoanh nghiệp nhà nước, trong đó tập trung chủ yếu ở các NHTM nhà nước.Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến năm 2010, số nợ phải trả của khốidoanh nghiệp nhà nước lên tới vài trăm nghìn tỷ đồng, trong khi vốn tự có chỉđạt từ 5- 10% tổng vốn hoạt động, phần còn lại là vốn vay ngân hàng và nợcác doanh nghiệp khác, hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng tàisản đều rất thấp, khó có khả năng trả nợ ngân hàng Đây thực sự là điều đáng

lo ngại cho chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống ngân hàng

Trang 9

Một lượng vốn khá lớn của ngân hàng đang được đầu tư vào bất độngsản lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng Trong đó, khối NHTM nhà nước chiếmkhoảng 50% thị phần cho vay bất động sản Khi thị trường bất động sản trầmlắng, cùng với một loạt các vấn đề về thông tin, thủ tục đăng ký và xử lý tàisản bảo đảm chưa hoàn thiện và minh bạch sẽ làm gia tăng rủi ro cho cácNHTM.

Hiện tượng cho vay đầu tư chứng khoán đang khá phổ biến Hiện chưa

có số liệu đầy đủ về tổng dư nợ cho vay cầm cố cổ phiếu và sử dụng vốn vay

để đầu tư trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, trong giai đoạn khủnghoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, nhiều chuyên gia ngân hàng và các phươngtiện thông tin đại chúng đã cảnh báo về hiện tượng một số lượng vốn vayngân hàng khá lớn đang được đầu tư trên thị trường chứng khoán Thực tế đã

có không ít con nợ bị thua lỗ, mất vốn không có khả năng trả nợ ngân hàng

2.3 Tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng

Nền kinh tế đang tăng trưởng cao, đòi hỏi nhu cầu vốn rất lớn, trongkhi đó, kênh huy động vốn của nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệthống ngân hàng Tính bình quân giai đoạn 2000-2010, tốc độ tăng trưởng tíndụng của hệ thống NHTM luôn ở mức trên 25%, trong đó các NHTM nhànước khoảng 20% và các NHTM cổ phần trên 30% Cùng với tốc độ tăngtrưởng tín dụng, số lượng chi nhánh của các NHTM cũng gia tăng rất nhanh,trong đó các chi nhánh NHTM nhà nước được trao quyền lớn trong việc huyđộng vốn và cấp tín dụng, có biểu hiện gần như một ngân hàng độc lập Sựgia tăng nhanh của hệ thống chi nhánh, trong khi trình độ, công nghệ quản lýngân hàng còn yếu kém, là một yếu tố tiềm ẩn rủi ro và gia tăng nợ xấu ngoàitầm kiểm soát của từng NHTM và cả Ngân hàng Nhà nước

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh trong hoạt độngkinh doanh rất cao và chứa đựng nhiều rủi ro Nhiều doanh nghiệp Việt Namchưa xây dựng được thương hiệu, tiềm lực tài chính nhỏ và phân tán, chi phísản xuất cao và thiếu hiểu biết trong hoạt động thương mại quốc tế Hiệu quảkinh doanh không ổn định và rủi ro của khách hàng cũng dẫn tới rủi ro tronghoạt động ngân hàng

2.4 Cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng

Trang 10

Thời gian qua, các NHTM hoạt động trong môi trường cạnh tranh khágay gắt, đặc biệt trong lĩnh vực cấp tín dụng là lĩnh vực mang lại nhiều lợinhuận cho các ngân hàng Các giải pháp cạnh tranh của các ngân hàng thường

là cạnh tranh về cơ chế lãi suất và loại hình dịch vụ phù hợp với nhiều nhómkhách hàng, tuy nhiên cũng không ít ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận trướcmắt, đã hạ thấp các điều kiện cho vay để thu hút khách hàng vay vốn, dẫn đếnviệc buông lỏng khâu thẩm định hiệu quả sản xuất kinh doanh, một số trườnghợp cho vay chỉ căn cứ vào giá trị của tài sản bảo đảm

Việc hạ thấp các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay cũng đồng nghĩa vớiviệc hạ thấp chất lượng tín dụng Đây là điều hết sức đáng lo ngại đối với antoàn tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay

2.5 Tình trạng “đánh bóng” ngân hàng trong ngắn hạn để thu hút các nhà đầu tư

Trong điều kiện nền kinh tế đang tăng trưởng cao và quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế, việc thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược vàocác ngân hàng đang là một xu thế tất yếu để cải cách công nghệ quản trị ngânhàng và làm tăng vị thế của các ngân hàng cả ở trong nước và quốc tế Mặtkhác, một bảng cân đối kế toán “lành mạnh” sẽ nâng cao uy tín của ngânhàng, tạo thuận lợi trong việc thu hút các nguồn vốn trên thị trường chứngkhoán, làm lợi trực tiếp cho các cổ đông và những người đang sở hữu ngânhàng

Vì vậy, hầu hết các ngân hàng đều có xu hướng tranh thủ cơ hội hiệnnay để đánh bóng vị thế và thương hiệu của mình bằng một bảng cân đối kếtoán “lành mạnh” với chất lượng tín dụng cao và tỷ lệ nợ xấu đang bị khốngchế ở mức thấp Hậu quả là các số liệu về nợ xấu thường bị che dấu bằng cácbiện pháp điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, giãn nợ, thậm chí cho vay đảo

nợ Cùng với cách “xử lý” nợ xấu mang tính “kỹ thuật” này, các ngân hàngtiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng với khách hàng mới, do đó tỷ

lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam đều ở mức rất thấp, tương đương vớinhững ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất trong khu vực và quốc tế

Với cách thức xử lý như trên, nợ xấu của các ngân hàng có thể chưabộc lộ trong ngắn hạn khi nền kinh tế đang tăng trưởng tốt, nhưng khi nềnkinh tế có biến động xấu, tăng trưởng chậm lại, doanh nghiệp lâm vào tình

Trang 11

trạng khó khăn về tài chính thì nợ xấu tại các ngân hàng sẽ cao đột biến màngân hàng không có nguồn dự phòng để kịp thời bù đắp.

2.6 Môi trường kinh tế kém minh bạch

Môi trường kinh tế Việt Nam nhìn chung còn kém minh bạch và côngkhai thể hiện qua: hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, ý thức chấp hành pháp luậtyếu kém, việc xử lý vi phạm chưa nghiêm và triệt để; nhiều thông tin khôngđược công bố, chậm công bố, thậm chí sai lệch; vẫn còn sự can thiệp của Nhànước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; công nghệ thông tin lạchậu, hệ thống kiểm tra, giám sát của nhà nước chưa hiệu quả, dịch vụ tư vấn,xếp hạng, kiểm toán độc lập còn non yếu

Luật Doanh nghiệp được ban hành đã góp phần tạo điều kiện để nhiềudoanh nghiệp thành lập mới và hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên, cơ chế xử lýdoanh nghiệp yếu kém còn nhiều bất cập Trong số hàng trăm nghìn doanhnghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân được thành lập từ trước đếnnay, có không ít doanh nghiệp thua lỗ, không hiệu quả, chây ỳ trả nợ kháchhàng và tiền lương của người lao động, nhưng tính đến năm 2010, số doanhnghiệp bị xử lý theo thủ tục phá sản chỉ vào khoảng hàng trăm, số doanhnghiệp bị tuyên bố phá sản từ năm 2010 cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay Hoạtđộng thu hồi nợ và xử lý tài sản của con nợ theo thoả thuận và kể cả theophán quyết của các cơ quan tài phán vẫn là nỗi ám ảnh và trăn trở của các chủ

nợ, trong đó có NHTM

Việc công bố công khai kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp chưa được coi trọng Hầu hết báo cáo tài chính hoàn toàn docác doanh nghiệp tự lập và kê khai với cơ quan thuế, mà không có ý kiếnđánh giá của các cơ quan kiểm toán độc lập Vì vậy, nhiều số liệu trên sổ sáchtài chính kế toán doanh nghiệp chưa phản ánh đúng và đầy đủ tình hình tàichính của khách hàng, thậm chí đã bị sai lệnh do bị che dấu, hoặc không côngbố

Hoạt động tín dụng đối với khách hàng vẫn còn sự can thiệp của một số

cơ quan nhà nước; duy trì nhiều cơ chế tín dụng khác nhau đối với kháchhàng, ngay trong một khách hàng là doanh nghiệp nhà nước cũng tồn tạinhiều khoản vay tại nhiều ngân hàng, có khoản vay theo chỉ định, kế hoạchnhà nước, có khoản vay theo cơ chế ưu đãi, không có tài sản bảo đảm, cókhoản vay theo cơ chế thương mại, thị trường

Trang 12

Quá trình cải cách, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước luôn chậm sovới kế hoạch và chịu sự can thiệp của nhiều cơ quan nhà nước, vai trò của cácchủ nợ và NHTM còn rất hạn chế.

Ngoài ra, nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước và ngay trong bảnthân các NHTM, các doanh nghiệp dẫn đến không ít khoản vay mang tính ápđặt, ưu đãi sai nguyên tắc, không có tài sản bảo đảm gây ra nợ xấu của hệthống ngân hàng

Môi trường kinh tế pháp lý kém minh bạch, tham nhũng gây ra nhiềukhó khăn trong hoạt động của các doanh nghiệp và ngân hàng, làm gia tăngmức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng

2.7 Nợ mất vốn theo dõi ngoại bảng còn chiếm số lượng lớn

Cơ chế xử lý nợ tồn đọng và nợ xấu của NHTM trong thời gian quamới chỉ tập trung vào việc xử lý trên sổ sách, chuyển từ nội bảng sang theodõi ngoại bảng, mà chưa được xử lý triệt để từ phía khách hàng Các NHTMvẫn tiếp tục theo dõi đôn đốc để tận thu hồi nợ của khách hàng

Tổng số nợ xấu nội bảng và các khoản nợ mất vốn đang theo dõi ngoạibảng của các NHTM Việt Nam hiện lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, chiếmtới tỷ lệ không nhỏ tổng dư nợ cho vay, đang thực sự là một gánh nặng củacác doanh nghiệp và nền kinh tế Sẽ có không ít doanh nghiệp không có khảnăng trả nợ ngân hàng nếu không có một cơ chế tổng thể để cơ cấu lại khoản

nợ và xoá số nợ cũ

Mặt khác, theo thông lệ quốc tế về phân loại nợ đối với khách hàng,những khách hàng có tình hình tài chính yếu kém với những khoản nợ không

có khả năng thanh toán tại một ngân hàng, thì toàn bộ dư nợ của khách hàng

đó tại ngân hàng đó và các tổ chức tín dụng khác đều có thể bị phân vào nhóm

nợ xấu có rủi ro cao, làm gia tăng các khoản nợ xấu mới cho NHTM

2.8 Cơ chế phân loại nợ hiện hành chưa phát huy tác dụng buộc các NHTM phải bộc lộ đúng nợ xấu

Mặc dù về mặt pháp lý các NHTM được phép thực hiện phân loại nợtheo 2 phương pháp: định lượng và định tính, bước đầu tiếp cận các thông lệquốc tế về phân loại nợ Tuy nhiên, do quy định của Nhà nước không có điềukhoản ràng buộc các ngân hàng phải thực hiện phân loại nợ theo các tiêu chíthống nhất, nên thực tế hiện nay các ngân hàng mới chỉ tập trung vào việc

Ngày đăng: 25/12/2015, 23:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w