1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời vua Lê Thánh Tông và bài học để lại đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay

63 849 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 369,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “ Chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời vua Lê Thánh Tông và bài học để lại đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chứ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội là sự ra đời của Nhà nước.Nhà nước ra đời nhằm giải quyết những mâu thuẫn của xã hội đồng thời thựchiện các chức năng khác mà xã hội giao phó Để duy trì hoạt động của mình,thì Nhà nước phải xây dựng một bộ máy riêng, đại diện cho Nhà nước, nắmquyền lực để điều hành xã hội Trong bộ máy đó, có các con người chính trị,những con người này chính là chủ thể đại diện cho Nhà nước nắm giữ quyềnlực chính trị Thực tế thì Nhà nước có quản lý tốt xã hội hay không? Thịnhhay suy? thì suy cho cùng cũng là do con người chính trị mà ra

Bất kỳ Nhà nước nào cũng muốn quản lý xã hội sao cho thật tốt, giữvững ổn định chính trị, đảm bảo quyền lực chính trị về tay giai cấp cầmquyền Để quản lý xã hội tốt cần có những con người chính trị tài giỏi và đàotạo, bồi dưỡng chính là con đường, cách thức để tạo ra những con người chínhtrị đáp ứng tiêu chuẩn Nhà nước đề ra

Năm 1484, Tiến sĩ triều Lê Thân Nhân Trung đã soạn bài ký cho tấm biavăn miếu tại Quốc Tử Giám với nội dung: “Hiền tài là nguyên khí của quốcgia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thìthế nước yếu mà càng xuống thấp Bởi vậy, các bậc Vua tài giỏi đời xưa,chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắpthêm nguyên khí” Đó là tư tưởng hết sức tiến bộ và luôn đúng trong mọi thờiđại

Vào nửa cuối thế kỷ XV, vương triều Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đãđạt được những thành tựu rực rỡ trong xây dựng và phát triển đất nước, đượcxem là đỉnh cao sự phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Trong thờigian trị vì 38 năm, Lê Thánh Tông đã đưa nước Đại Việt trở thành một quốcgia hùng cường trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ cả về mặt kinh tế,chính trị và văn hóa – xã hội Gắn liền với việc xây dựng củng cố thể chếchính trị quân chủ trung ương tập quyền tuyệt đối theo hệ tư tưởng Nho giáo,

Trang 2

Lê Thánh Tông đặc biệt quan tâm xây dựng con người chính trị, trọng tâm làvấn đề đào tạo, bồi dưỡng quan lại Chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lạidưới thời vua Lê Thánh Tông được xem là mẫu mực để xây dựng và tổ chức

chức ngày nay Chính vì vậy, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “ Chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời vua Lê Thánh Tông và bài học để lại đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay” làm

khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 3

Từ trước tới nay, nhiều công trình nghiên cứu về sử học, văn học, triếthọc, chính trị học, lịch sử tư tưởng, văn hoá, giáo dục Việt Nam của nhiều tácgiả trong nước được công bố Trong đó một số tác giả đề cập đến vấn đề đàotạo, bồi dưỡng quan lại của các nhà nước phong kiến Việt Nam trong lịch sử.

Có thể dẫn ra một số công trình nghiên cứu của các tác giả sau đây

Bàn về con người chính trị Việt Nam, nổi bật là công trình nghiên cứu

Con người chính trị Việt Nam - Truyền thống và hiện đại của một nhóm tác

giả của Viện Chính trị học thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh do GS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia, năm 2009 Tác phẩm đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản vềcon người chính trị cũng như thực tiễn con người chính trị Việt Nam trongtruyền thống và thời hiện đại, đồng thời xác định những yêu cầu mới đối vớicon người chính trị Việt Nam hiện nay

Trong cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 - 1945

do Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1996, các tácgiả đã phân tích cụ thể về nội dung, phương pháp và kết quả đạt được tronglĩnh vực giáo dục, đào tạo ở nước ta từ thế kỷ X đến năm 1945, trong đó nhấnmạnh những đóng góp tích cực của nền giáo dục Nho học vào việc đào tạođội ngũ quan lại cho các triều đại phong kiến dân tộc

Năm 2002, trong cuốn Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ

Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, PGS.TS Nguyễn Hoài Văn đã đi sâu phân

tích những đóng góp của Lê Thánh Tông trong việc vận dụng, phát triển Nhogiáo thành hệ tư tưởng chính trị chính thống, sử dụng nó trong việc cai trị đấtnước, đào tạo và xây dựng đội ngũ quan lại đáp ứng yêu cầu của sự phát triểnđất nước nửa cuối thế kỷ XV

Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập I do PGS.TS Nguyễn Tài Thư chủ

biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1993, đã dành riêng một chươngbàn về thế giới quan, tư tưởng chính trị - xã hội và đường lối trị nước của LêThánh Tông

Trang 4

Năm 2011, trong cuốn Những bài học từ hai cuộc cải cách hành chính

dưới triều vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh, TS Bùi Huy Khiên, Nhà

xuất bản Lao động, đã đi sâu phân tích về vấn đề cải cách hành chính củatriều đại vua Lê Thánh Tông trong đó có vấn đề cải cách quan chế, đào tạoquan lại thời kỳ này

Trong những năm gần đây, trên các tạp chí nghiên cứu cũng đã công bốmột số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đào tạo, tuyển chọn

và sử dụng quan lại như Tuyển chọn quan lại dưới triều vua Lê Thánh Tông và

vua Minh Mệnh: Di sản kế thừa và tham khảo của Bùi Huy Khiên trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 144 năm 2008 ; Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta thời kỳ trung đại của TS Đỗ Minh Cương trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9

năm 2006; Ông cha ta sử dụng hiền tài của Lê Văn Huân trên Tạp chí Xây dựng

Đảng, số 2+3 năm 2008; Tuyển chọn và sử dụng quan chức: Cách làm của ông cha ta của Bùi Xuân Đính trên Báo Tiền phong số 40 năm 2009 …

Các công trình ấn phẩm trên đây đề cập tới vấn đề con người chính trị ViệtNam hoăc vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ quan lại trong lịch sử phong kiếnViệt Nam nói chung trên một vài khía cạnh nhất định Tuy nhiên việc nghiêncứu chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời vua Lê Thánh Tông dưới gócnhìn chính trị học và toàn diện nhất thì vẫn là một khoảng trống cần tìm hiểu

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 3.1 Mục đích nghiên cứu.

Khóa luận tập trung làm rõ chính sách đào tạo và bồi dưỡng quan lạidưới thời vua Lê Thánh Tông Từ đó rút ra ý nghĩa và bài học lịch sử thôngqua việc liên hệ thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngàynay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụsau

Trang 5

- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở hình thành chính sách đào tạo, bồi dưỡngquan lại thời Lê Thánh Tông.

- Nghiên cứu và làm rõ nội dung chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lạithời Lê Thánh Tông thông qua việc làm rõ các chính sách, biện pháp thựchiện, những kết quả thu được trong việc đào tạo và bồi dưỡng quan lại thời LêThánh Tông

- Rút ra ý nghĩa thực tiến, mối quan hệ biện chứng và bài học để lại đốivới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 4.1 Đối tượng nghiên cứu.

- Khóa luận tập trung nghiên cứu chính sách đào tạo và bồi dưỡng quanlại thời vua Lê Thánh Tông

- Công tác đào tạo cán bộ, công chức ngày nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Khóa luận tập trung nghiên cứu giai đoạn lịch sử Việt Nam thế kỷ XVdưới triều Lê Sơ, trong đó đi sâu vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XV – thời kỳtrị vì của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497)

- Công tác đào đạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngày nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận.

Cơ sở lý luận của khóa luận là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đồngthời, khóa luận cũng dựa trên cơ sở các quan điểm của Đảng cộng sản ViệtNam, tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ côngchức

Trong quá trình nghiên cứu em sử dụng phương pháp phân tích và sosánh chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại trước và sau triều đại của vua LêThánh Tông, phân tích để thấy những mặt đã làm được và chưa làm đượctrong chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại của vua Lê Thánh Tông Đồngthời khóa luận cũng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác như:

Trang 6

phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa; phương phápkhái quát hóa.

6 Đóng góp mới của đề tài

Là khóa luận nghiên cứu về chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thờivua Lê Thánh Tông, khóa luận góp phần trình bày một cách có hệ thống, đầy

đủ trên nhiều phương diện về chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời LêThánh Tông đồng thời nêu lên những bài học để lại đối với chính sách đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngày nay

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài các phần: Lời cảm ơn, Phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Khóa luậnđược kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về chính sách đào tạo, bồi dưỡng và vấn

đề đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước.

Chương 2: Chính sách đào tạo bồi dưỡng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông.

Chương 3: Bài học để lại từ chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức ngày nay.

Trang 7

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ, CÔNG CHỨC.

1.1 Các khái niệm cơ bản.

1.1.1 Khái niệm đào tạo

Đào tạo, theo từ điển tiếng việt, được hiểu là: “làm cho trở thành người

có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”

Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa “Đào tạo

là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.

Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao”[4]

Tại trang web của Amherst college ( Massachusetts) có định nghĩa: Đàotạo là quá trình giáo dục Con người có thể học được những thông tin mới;học lại; nâng cao kiến thức và kỹ năng đang có; và đặc biệt có thời gian đểsuy nghĩ và tập trung vào những cách thức, biện pháp mới có thể giúp họhoàn thiện một cách hiệu quả công việc của họ

Theo khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồidưỡng công chức, khái niệm đào tạo được hiểu là “quá trình truyền thụ, tiếpnhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học bậchọc” [5]

Trang 8

Đào tạo thường gắn với việc chuẩn bị cho người lao động những kỹnăng, trình độ mới để đáp ứng với những yêu cầu công việc đề Bên cạnh kháiniệm đào tạo, trong nhiều trường hợp, người ta cũng có thể sử dụng một vàikhái niệm như: đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn, đàotạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo.

1.1.2 Khái niệm bồi dưỡng

Trong từ điển Việt Nam không định nghĩa cum từ “bồi dưỡng”, nhưng cóhai từ được sử dụng là “bổ túc và nâng cao” Xét trên một nghĩa nào đó, hoạtđộng này gọi là bồi dưỡng được thiết lập trên nền tảng một hệ thống thôngtin, kiến thức nhất định mà người lao động đã có Vấn đề còn lại chính là

“thêm, bổ túc, nâng cao”

Bồi dưỡng có thể được hiểu là một tập hợp các hoạt động nhằm “nângcao khả năng tư duy, tay nghề” làm việc cho người lao động nói chung và cán

bộ, công chức nói riêng nhằm làm cho họ đáp ứng được đòi hỏi của côngviệc Nếu hiểu theo nghĩa này, bồi dưỡng có thể được hiểu là quá trình trong

đó sự hệ thống, bổ sung, cập nhật và nâng cao năng lực cảu người lao độngtrở thành nền tảng cơ bản Như vậy có thể nhận ra, bồi dưỡng được sử dụngtrong trường hợp mong muốn phát triển những nền tảng sẵn có trong ngườilao động, phát triển nó lên những nấc thang mới để đáp ứng yêu cầu về độkhó của công việc

Tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồidưỡng công chức, Khái niệm bồi dưỡng được hiểu được hiểu như sau: “làhoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [5]

Bên cạnh khái niệm bồi dưỡng, trên thực tế người ta còn sử dụng một sốkhái niệm như:

- Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt

động theo chương trình quy định cho ngạch công chức

Trang 9

- Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang

bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định chotừng chức vụ lãnh đạo, quản lý

- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng,

phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao

Bồi dưỡng là quá trình nhằm đổi mới, nâng cao kiến thức và kỹ năngnghề nghiệp, trang bị thêm cho con người những tri thức mới và cập nhật vớithực tiễn

Trên thực tế, nếu coi quá trình đào tạo cơ bản là quá trình thứ nhất thì bồidưỡng có thể hiểu là quá trình tiếp theo của quá trình thứ nhất đó Thực tế thìsau quá trình đào tạo cơ bản, người lao động nói chung và đội ngũ cán bộ,công chức nói riêng phải thường xuyên cập nhật những kiến thức kỹ năngkinh nghiệm mới để đáp ứng được những yêu cầu mới và những nhiệm vụmới trong công việc mà mình đảm nhận Do vậy mà bồi dưỡng là hoạt độngkhông thể thiếu để nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, kỹ năng nghềnghiệp của đội ngũ cán bộ ,công chức

1.1.3 Khái niệm chính sách đào tạo bồi dưỡng.

Chính sách được hiểu là tập hợp các chủ trương và hành động về phươngdiện nào đó của Đảng và Nhà nước, nó bao gồm các mục tiêu mà Đảng vàNhà nước mong muốn đạt được và cách thức thực hiện để đạt được nhữngmục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên cáclĩnh vực kinh tế, Văn hóa, Xã hội…

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng được hiểu là chủ trương, biện pháp củaĐảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát triển phẩm chất và năng lực chomỗi công dân Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cũng có thể được xem là nhữngmục tiêu, mong muốn của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo,

nó bao hàm mục tiêu đào tạo, kế hoạch để thực hiện sao cho đạt được mụctiêu đó

1.1.4 Khái niệm quan lại.

Trang 10

Khái niệm “quan lại” là do hai thuật ngữ “quan” và “ lại” hợp thành.Trong thời kỳ quân chủ phong kiến, “quan” dùng để chỉ những người giữ mộtchức vụ ít nhiều quan trọng của Nhà nước, có trách nhiệm quản lý một địaphương hay một hoạt động nhất định, lớn hay nhỏ Còn “lại” là thuật ngữdùng để chỉ các nhân viên phục dịch trong các cơ quan nhà nước như thư ký,

kế toán, giữ sổ sách, thu thuế, ghi chép…Như vậy, “quan lại” là thuật ngữdùng để chỉ những người làm việc công trong bộ máy chính quyền nhà nước

từ trung ương tới các địa phương ngày xưa và là những cán bộ, công chứcngày nay [6,tr.17]

Đề cập tới thuật ngữ “quan lại” người ta thường nhắc đến một số thuậtngữ khác như chức quan, phẩm hàm, tước vị Chức quan được hiểu là chức vụcủa người làm quan, đi kèm với nó là nhiệm vụ, quyền hạn mà người đó thiđược phép thi hành Thuật ngữ chức vụ ngày nay cũng có thể hiểu giống thuậtngữ chức quan ngày xưa, đi kèm với chức vụ của người cán bộ, công chứcngày nay là những nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm mà người cán bộ, côngchức có trong quá trình thực thi công vụ Tước vị là danh hiệu khen thưởngcủa triều đình, thường tương đương với chức quan nhưng cũng có khi tướccao mà chức thấp hoặc ngược lại Phẩm là cấp bậc để phân biệt triều ban đượcxếp theo chín bậc từ nhất phẩm đến cửu phẩm, mỗi phẩm lại chia ra làm trậtchánh và trật tòng, cộng thành 18 trật Hàm thì có hàm Tản quan là loại chứcdanh thời cổ được các triều đại sau sử dụng phong cho các quan làm danhhiệu vinh dự, thực chất không có nhiệm vụ hay quyền gì, còn Huân hàm làdanh hiệu để phong cho những người có công lớn

1.1.5 Khái niệm cán bộ, công chức.

1.1.5.1 Khái niệm cán bộ.

Theo từ điển Tiếng Việt, cán bộ được hiểu theo hai nghĩa là:

- Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nướcnhư: cán bộ chính trị, cán bộ khoa học, cán bộ Nhà nước

Trang 11

- Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phânbiệt với người thường không có chức vụ.

Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung vào các năm

2000 và 2003 quy định, đội ngũ cán bộ công chức là công dân Việt Nam,trong biên chế, bao gồm:

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơquan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ởtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở quận, huyện, thị xã, thành phố trựcthuộc tỉnh;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ởtrung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

- Những người được tuyển dụng bổ nhiệm vào một ngạch công chứchoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trungương, tỉnh, huyện;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chứchoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhànước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội;

- Thẩm phán Tòa án Nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân màkhông phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làmviệc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan,

hạ sỹ quan chuyên nghiệp;

- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳtrong thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, phó Bí thưĐảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã,phường, thị trấn;

Trang 12

- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên mônnghiệp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Như vậy pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung vào cácnăm 2000 và 2003 đã không bóc tách hai thuật ngữ cán bộ và công chức ra

mà gộp thành một thuật ngữ chung đó là: Đội ngũ cán bộ, công chức Hạn chếnày đã được khắc phục trong luật cán bộ công chức năm 2008, theo đó tạikhoản 1, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Cán bộ là côngdân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,

ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước

Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định:

Cán bộ xã, phường, thị trấn: là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ

chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhândân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danhchuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước

Khoản 3, Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng,một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn vànhững người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, quy định:

Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

Trang 13

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn

có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân ViệtNam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

1.1.5.2 Khái niệm công chức.

Khoản 2, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức

là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chínhtrị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, côngnhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà khôngphải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trongbiên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộmáy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Khoản 2, Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng,một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn vànhững người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, quy định:

Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn phòng - thống kê;

- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)

hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);

- Tài chính - kế toán;

- Tư pháp - hộ tịch;

Trang 14

- Văn hoá - xã hội.

1.2 Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng.

Theo Naukurhu.com, đào tạo có tầm quan trọng trên một số lĩnh vựcnhư:

- “ Tối ưu hóa việc sử dụng nguồn nhân lực;

- Phát triển nguồn nhân lực;

- Phát triển lỹ năng của người lao động trong tổ chức;

- Tạo năng suất lao động;

- Tạo ra một tập thể lao động có “linh hồn chung”;

- Tạo ra văn hóa học tập tạo ra không khí làm việc hướng tới tương lai;

- Hoàn thiện chất lượng lao động cũng như chất lượng cuộc sống người

lao động;

- Tạo ra môi trường làm việc tốt thông qua liên kết mục tiêu;

- Tạo ra điều kiện an toàn lao động;

- Đạo đức nghề nghiệp;

- Sáng tạo

- Cuối cùng là gia tăng lợi nhuận” [7, Tr.190].

Trong thời đại của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức, cộng vớiquá trình toàn cầu hòa đang diễn ra nhanh chóng, việc học tập để nắm vữngnhững tri thức tiến tiến của nhân loại trở thành chìa khóa để đi tới thành côngcho mỗi người vì lẽ đó, công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chungluôn được các quốc gia chú ý quan tâm phát triển

Thực tế đã chỉ ra rằng, tri thức là vô hạn mà tầm hiểu biết của con ngườithì có hạn, do đó giáo dục, đào tạo sẽ giúp chúng ta lấp được những lỗ hổngkiến thức để từ đó nắm vững, vận dụng tri thức vào lao động sản xuất và sángtạo

Mặt khác, đối với những nước đang phát triển mà điển hình là ViệtNam thì công tác đào tạo, bồi dưỡng đóng một vai trò vô cùng quan trọngtrong sự phát triển đất nước, vai trò đó đã được thực tiễn ở nước ta chứng

Trang 15

minh Trên thực tế, vai trò của đào tạo bồi dưỡng được thể hiện ở một số khíacạnh như sau:

Thứ nhất, đào tạo, bồi dưỡng giúp các quốc gia nâng cao trình độ dântrí của người dân nước mình, tránh nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia kháctrên thế giới Đồng thời giúp cho công tác quản lý xã hội của Nhà nước đượcthuận lơị hơn, pháp luật vì thế mà được thực thi một cách rộng rãi và nghiêmchỉnh

Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng giúp cho đội ngũ nguồn nhân lực của mỗiquốc gia có thể tiếp cận được những tri thức tiên tiến của nhân loại, từ đó vậndụng nó vào hoạt động lao động sản xuất và sáng tạo, tạo ra nhiều của cải đápứng đời sống vật chất, nâng cao đời sống tinh thần của xã hội

Thứ ba, công tác đào tạo bồi dưỡng giúp kích thích, phát huy trí sángtạo của con người qua đó củng cố và tạo thêm nhiều tri thức mới Những trithức này sẽ quay trở lại giúp các quốc gia có thể phát triển kinh tế, văn hóa và

xã hội

Thứ tư, đào tạo bồi dưỡng bên cạnh việc trang bị những kiến thức kỹnăng nghề nghiệp cho mỗi người lao động nói riêng và nguồn nhân lực nóichung thì nó còn giúp hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi conngười từ đó hình thành nên những nét văn hóa tốt đẹp của mỗi quốc gia

Thứ năm, thông qua vai trò kích thích sự sáng tạo của con người, đàotạo bồi dưỡng giúp các quốc gia tiết kiệm nguồn lực như tài nguyên thiênnhiên, vốn, nguyên vật liệu bởi hoạt động sáng tạo sẽ giúp phát hiện và khaithác những nguồn năng lượng, vật liệu mới cho xã hội

Thứ sáu, trong thời đại của nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới thì đào tạo, bồi dưỡng còn giúp các quốc gia giao lưu văn hóa,trao đổi học hỏi tri thức, nâng cao tình đoàn kết hữu nghị thông qua các hoạtđộng du học, giao lưu trao đổi văn hóa, hội thảo khoa học v v

1.3 Vai trò của đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức.

Trang 16

Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của quản lý, hiệu lực, hiệuquả của quản lý nhà nước có đạt được hay không và đạt được ở mức độ nàosuy cho cùng cũng mộ phần là do yếu tố con người mà ra Trong thời đại củanền kinh tế tri thức cộng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệthì công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức càng đóng một vai trò vôcùng quan trọng nhằm hình thành nên một nền công vụ phát triển phục vụ tốthơn nhu cầu của người dân.

Nhìn chung, vai trò của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức được thểhiện ở hai phương diện cơ bản sau đây:

Thứ nhất, là vai trò đối với bản thân người cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng có một số vai trò như sau:

Một là, giúp hiểu biết thêm được nhiều kiến thức, kỹ năng làm việc, nângcao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, giúp quá trình giải quyết công việc đượchiệu quả, nâng cao năng suất lao động

Hai là, giúp thỏa mãn nhu cầu phát triển nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ,công chức Trong một nền hành chính dựa trên mô hình chức nghiệp thì việcphát triển nghề nghiệp hay còn gọi là phát triển chức nghiệp đối với mỗi cán

bộ, công chức thực sự có ý nghĩa vô cùng lớn lao bởi đào tạo, bồi dưỡngkhông chỉ trang bị cho cán bộ, công chức những kỹ năng, trình độ chuyênmôn mà còn giúp họ có được những văn bằng, chứng chỉ phù hợp và đáp ứngyêu cầu của ngạch, bậc họ công tác, từ đó mà con đường chức nghiệp có thểphát triển thuận lợi hơn

Ba là, đào tạo, bồi dưỡng còn làm tăng cao mức độ hài lòng của ngườicán bộ, công chức trong hoạt động thực thi công vụ, giúp họ gắn bó nhiều hơnvới công việc đang làm từ đó mà hiệu quả quản lý Nhà nước được đảm bảo.Bốn là, giúp kích thích khả năng sáng tạo, thích ứng linh hoạt của cán bộ,công chức với những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ quan hành chínhNhà nước

Trang 17

Năm là, đào tạo, bồi dưỡng cũng có vai trò quan trọng hình thành phẩmchất đạo đức người cán bộ, công chức, giữ vững đạo đức trách nhiệm của họtrong công việc, góp phần hình thành nếp sống, kỷ luật làm việc.

Thứ hai, đối với các tổ chức hành chính Nhà nước, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có một số vai trò như sau:

Một là, góp phần thực hiện một nền hành chính dân chủ, trong sạch,vững mạnh, đáp ứng nguyện vọng của người dân Cung cấp tốt hơn các dịch

vụ công

Hai là, tạo cơ hội để các tổ chức hành chính Nhà nước ứng dụng khoahọc công nghệ tiên tiến vào giải quyết các công việc, từ đó hiện đại hóa nềnhành chính nước nhà

Ba là, giúp tiết kiệm nguồn lực trong quá trình hoạt động

Bốn là, xây dựng văn hóa tổ chức, tạo cho tổ chức nét văn hóa học tập,cạnh tranh cùng tiến bộ giữa các thành viên

Như vậy, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức đóng một vai trò hết sứcquan trọng, không chỉ đối với bản thân người cán bộ, công chức mà còn có ýnghĩa trong sự phát triển tổ chức hành chính Nhà nước Đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chínhdân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu quảđồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất đạo đức, có lốisống lành mạnh, có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đáp ứng những yêu cầucông việc, và sự tiến bộ không ngừng của thời đại

Trang 18

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG QUAN LẠI DƯỚI THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG.

2.1 Khái quát về triều đại của vua Lê Thánh tông.

2.1.1 Bối cảnh Việt Nam thế kỷ XV.

Về kinh tế xã hội:

Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của Nhà Hồ nhanh chóng

bị thất bại, Đại Việt rơi vào ách đô hộ của quân Minh, đời sống nhân dân vôcùng khổ cực, kinh tế đang gặp nhiều khó khăn nay càng trở nên kiệt quệnghiêm trọng, thiên tai, mất mùa liên tiếp sảy ra Năm 1428, Lê Lợi đã đánhthắng giặc Minh, lập lên vương triều Nhà Lê Sơ, từ dó Lê Thái Tổ - tức LêLợi đã bắt tay ngay vào công cuộc tái thiết đất nước, vực dậy nền kinh tế và

đã đạt được những thành công nhất định Đến đời vua Lê Thánh Tông và vua

Lê Nhân Tông vẫn tiếp tục phát triển những chính sách vực dậy nền kinh tếĐại việt, cuộc sống của người dân được thanh bình, ấm no Chẳng thế mà dângian ngày ấy truyền tụng nhau rằng: “Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúađầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” [8, tr.215]

Nông nghiệp, với vai trò nền tảng kinh tế của xã hội phong kiến, Nhà

nước Lê Sơ chủ trương “trọng nông”, nhất là thời Lê Thánh Tông với nhiềubiện pháp như khôi phục và mở rộng diện tích đất nông nghiệp, chăm lo đêđiều, xây dựng các công trình thuỷ lợi, bảo vệ mùa màng, bảo vệ sức lao độngnông nghiệp, khai khẩn ruộng hoang vùng ven biển và đất trung du, lập đồnđiền, phát triển các nghề trồng dâu nuôi tằm… Điểm nổi bật trên lĩnh vực kinh tế

là thi hành chính sách mới về ruộng đất với chế độ lộc điền và chế độ quân điềnđược Nhà nước xây dựng thành quy chế pháp lý chặt chẽ đã có tác dụng tíchcực làm phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy sức sản xuất của

xã hội, kích thích sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp

Mặt khác Nhà Lê còn thực hiện chính sách lộc điền và chế độ quân điềnkhá tiến bộ giúp hạn chế và đi đến thủ tiêu nền kinh tế điền trang thái ấp, thúcđẩy phát triển giai cấp địa chủ, đánh dấu một bước tiến trong quá trình hình

Trang 19

thành và xác lập chế độ phong kiến Việt Nam đồng thời góp phần củng cốnền kinh tế tiểu nông, khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp Đây làyếu tố tương đối tiến bộ của chính sách kinh tế dưới thời Lê Sơ, góp phần giảiquyết những mâu thuẫn giữa các lợi ích trong xã hội, đáp ứng yêu cầu pháttriển của đất nước Nội dung chính sách lộc điền và chế độ quân điền như sau:

- Chính sách lộc điền: Đem ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước

ban cấp cho tầng lớp quan lại cao cấp Theo đó, người được cấp là “nhữngquan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm và những người thân thuộcgần gũi nhà Vua, các nữ quan thân cận trong triều” và “quan lại từ tứ phẩmtrở lên thường nắm giữ các trọng chức trong triều hay đứng đầu các khu vựchành chính” [9, tr.20] Chế độ lộc điền là đặc quyền của tầng lớp cao nhấttrong giai cấp thống trị, bao gồm hai phần: một phần nhỏ là Nhà nước cấpvĩnh viễn, người được cấp có toàn quyền sở hữu gọi là ruộng đất thế nghiệp;còn phần lớn lộc điền thuộc loại ban cấp tạm thời, người được cấp chỉ cóquyền chiếm hữu và sử dụng trong một đời, trong đó có quyền phát canh thu

tô, sau khi người được cấp lộc điền chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước

- Chế độ quân điền: Đây là chế độ chia cấp định kỳ ruộng đất công của

làng xã cho các hộ nông dân cứ sáu năm một lần Đối tượng được cấp quânđiền là “tất cả mọi người trong xã từ quan viên cho đến hạng thấp nhất củabậc thang xã hội phong kiến như người cô quả, tàn tật, vợ con người bị tộilưu, tội đồ đều được chia ruộng đất” [9, tr.35] Phần ruộng đất chia cho mỗingười nhiều hay ít phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ và phụ thuộc vào sốruộng đất công của mỗi xã Người được cấp quân điền phải nộp tô cho Nhànước với mức nhẹ hơn các loại ruộng đất khác

Thủ công nghiệp: Đại Việt thế kỷ XV có nhiều nghề thủ công truyền

thống như dệt vải, tơ lụa, làm giấy, làm gốm, đan lát,… khá phổ biến trongcác gia đình nông dân Trong các làng xã ngày càng có nhiều làng thủ côngnổi tiếng như nghề gốm (Bát Tràng), nhuộm (Huê Cầu), nung vôi (Yên Thế)

… Ở thành thị, thợ thủ công được tổ chức thành từng phường chuyên môn

Trang 20

như Thăng Long có 36 phố phường với những cơ sở sản xuất thủ công nổitiếng (phường Yên Thái làm giấy, Nghi Tàm, Thụy Chương dệt lụa, HàngĐào nhuộm điều…) Bộ phận thủ công của Nhà nước bao gồm những xưởngthủ công chuyên đúc tiền, đóng thuyền, sản xuất vũ khí, làm đồ dùng cho cácvua quan Các hoạt động khai thác mỏ sắt, đồng, vàng, bạc cũng được mởrộng

Thương nghiệp: cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công

nghiệp, thương nghiệp thời kỳ này cũng có những bước phát triển rực rỡ.Các chợ địa phương phát triển, đặc biệt nhà Lê Sơ còn cho ban hành “lệhọp chợ”, quy định việc chia chợ cũ thành các chợ mới và thống nhất cácđơn vị đo lường để tiện việc trao đổi hàng hóa trong vùng

Ngoại thương: Thời Nhà Lê sơ, do thực hiện chính sách “bế quan tỏa

cảng” do sợ những âm mưu xâm lược từ các lực lượng thù địch, nên ngoạithương thời kỳ này kém phát triển, hoạt động giao lưu buôn bán trên biểndiễn ra không nhiều

Về văn hoá, tư tưởng:

Cùng với những bước phát triển về kinh tế - xã hội, nền văn hóa, tưtưởng của nước Đại Việt thế kỷ XV cũng phát triển mạnh mẽ và giành đượcnhiều thành tựu rực rỡ

Nho giáo có vị trí quan trọng ngay từ thời Lý với việc bắt đầu thi cử Nho

học, lập Văn Miếu, và đến thời Lê Sơ thì phát triển đến đỉnh cao Các triềuđại phong kiến sử dụng triệt để Nho giáo với tư cách là một học thuyết chínhtrị có nội dung đề cao vai trò, quyền lực của vua, tuyệt đối hóa “trung quân”,chủ trương “lễ trị” làm vũ khí tư tưởng quan trọng nhất để thực hiện sựthống trị giai cấp của mình

Phật giáo và Đạo giáo: xâm nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc và cùng

tồn tại từ thế kỷ X đến thế kỷ XV được gọi là hiện tượng “tam giáo đồngnguyên” Thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáonhưng đến thế kỷ XV thì suy yếu Sở dĩ Lê Thánh Tông hạn chế Phật giáo,

Trang 21

Đạo giáo vì ông cho rằng giáo lý của hai đạo này hết thảy đều “mê lừa dân”,

“che lấp nhân nghĩa”, cái hại của nó không thể kể xiết mà lòng người rất ham,rất tin, trong khi đạo của Thánh nhân (tức Nho giáo), lớn thì tam cương, ngũthường, nhỏ thì tiết văn độ số đều thiết dụng trong cuộc sống thường ngày.Mặc dù bị hạn chế, nhưng Phật giáo và Đạo giáo vẫn tồn tại ở mức đáng kể,

có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá tinh thần, không chỉ trong dân gian

mà cả trong một bộ phận quan lại, thậm chí cả trong đời sống cung đình

Giáo dục Nho học do Nhà nước phong kiến quản lý bắt đầu xuất hiện từ

cuối thế kỷ XI khác hẳn nền giáo dục của nhà chùa đã tác động trực tiếp đến sinhhoạt văn hóa, tư tưởng của nhân dân, đến sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc

và quan lại cũng như ảnh hưởng đến thế giới quan, phong cách tư duy và nhữngquy phạm chính trị và đạo đức của con người Trong thế kỷ XV, giáo dục và thi

cử Nho học tiếp tục được mở rộng và không ngừng phát triển

Văn hóa - nghệ thuật: Văn học thời kỳ này rất phong phú về thể loại với

nội dung xoay quanh những vấn đề của đạo Nho và đề cập đến đời sống hiệnthực, phản ánh tinh thần dân tộc Các ngành nghệ thuật sân khấu ca vũ nhạccũng có nhiều bước tiến bộ, đã xuất hiện những loại hình ca kịch như hát ảđào, hát chèo, hát tuồng, Bên cạnh nền văn hóa cung đình còn tồn tại mộtnền văn hóa dân gian rất đa dạng và phong phú, phục vụ đời sống tinh thầncủa tầng lớp lao động Ở các địa phương, các lễ hội truyền thống thể hiện tinhthần thượng võ như bơi thuyền, đánh vật, đấu gậy, cướp cù rất thịnh hành.Các lễ hội thường xuyên gắn liền với việc nêu cao truyền thống đánh giặc giữnước và suy tôn các vị anh hùng dân tộc, những người đã hy sinh vì sựnghiệp chống ngoại xâm

Những thành tựu văn hóa rực rỡ luôn gắn liền với sự vận động và phát

triển của tư tưởng Việt Nam, nhất là tư tưởng chính trị Thông qua hai đại

diện tiêu biểu là Nguyễn Trãi và Lê Thánh Tông, tư tưởng chính trị Việt Namthế kỷ XV đã tỏ ra phong phú và đạt tới một trình độ cao; nó không vượt rangoài giới hạn của những vấn đề mà thực tiễn đất nước đòi hỏi và là một tấm

Trang 22

gương phản ánh khá rõ những nét cơ bản của sinh hoạt chính trị - xã hội trongthời kỳ này

2.1.2 Lê Thánh Tông lên ngôi.

Vào năm 1428, sau khi cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhàMinh thắng lợi,vương triều nhà Lê được thiết lập Thời kỳ này, nhà Lê ra sứckhắc phục những hậu quả mà chiến tranh để lại đồng thời ra sức củng cố, giữvững ổn định chính trị, xã hội Sau khi Lê Thái Tổ qua đời, Lê Thái Tông và

Lê Nhân Tông lần lượt kế nghiệp đều lên ngôi khi còn rất ít tuổi (10 và 2 tuổi)nên mọi quyết sách trong triều đều nằm trong tay các đại thần và hoàng tháihậu nhiếp chính Tình hình chính trị - xã hội ngày càng rối ren, trong nướcliên tục đối mặt với thiên tai, nhiều nơi mất mùa, nạn đói kém xảy ra liênmiên Tình trạng tham ô, tham nhũng, nhận hối lộ, hạch sách nhân dân ngàycàng diễn ra phổ biến, pháp luật không được thực thi nghiêm minh, nhân dân

bị nhiều oan sai, điêu đứng, tất cả những điều đó đã làm cho đất nước lâm vàokhủng hoảng nghiêm trọng

Năm 1459, Lê Nghi Dân - con trưởng của vua Lê Thái Tông - tập hợpbăng đảng giết hại Lê Nhân Tông - người em cùng cha của mình và tự lập làmvua, “tin dùng bọn gian nịnh, giết hại bề tôi cũ, pháp chế của tổ tông thay đổihết thảy, người oán trời giận” [10, tr.388] Cuộc chính biến cung đình cànglàm cho những bất cập của chế độ bộc lộ sâu sắc Triều đình nhà Lê tỏ ra lúngtúng, bất lực trước đòi hỏi của đời sống chính trị - xã hội đã có những chuyểnbiến tích cực về nhiều mặt sau hơn 30 năm phát triển đất nước trong hoà bình.Trước tình hình thực tiễn đó, năm 1460 một số quan đại thần trung thànhvới nhà Lê, đứng đầu là Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã tiến hành một cuộc đảochính nổi binh giết bọn tay chân của Nghi Dân rồi “giáng Nghi Dân xuốngtước hầu” [4, tr.388] Con thứ tư của Thái Tông là Bình Nguyên Vương Lê

Tư Thành được quần thần đưa lên làm vua tức vua Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông húy là Tư Thành sinh ngày 20 tháng 7 năm 1442, là conthứ tư của vua Lê Thái Tông Lê Thánh Tông lên ngôi khi vừa tròn mười tám

Trang 23

tuổi, ở ngôi được 38 năm với hai niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) vàHồng Đức (1470 – 1497) Vua Lê Thánh Tông mất lúc 56 tuổi và là một trongnhững vị vua trị vì lâu nhất trong số các vị vua nước Việt.

Lê Thánh Tông là vị vua đã góp phần quan trọng nhất trong việc củng cốchế độ quân chủ quan liêu tập quyền trung ương Trong thời Lê Thánh Tông,

bộ máy nhà nước quân chủ trung ương đã phát triển tới mức cao nhất của nó,các chế độ, qui chế về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục đều đượchoàn chỉnh, làm mẫu mực cho các triều đại phong kiến sau này Lê ThánhTông đã được các nhà sử gia phong kiến khen là “vua sáng lập chế độ, vănvật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua anh hùng tàilược, dẫu Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được”[10, tr.387]

Không chỉ là một nhà chính trị tài ba, vua Lê Thánh Tông còn đượcngười đời biết đến là một nhà văn hoá, nhà tư tưởng lỗi lạc Ngoài việc hiểuđường lối và phương pháp trị nước, ông còn am hiểu thiên văn, địa lý, lịch sử,văn học Một số tác phẩm của vua Lê Thánh Tông được tập hợp lại trong các

bộ Thiên nam dư hạ tập, Hồng Đức quốc âm thi tập…

Tóm lại, với sự đức độ, tài ba của Vua Lê Thánh Tông, Đại Việt dưới thờiÔng trị vì đã có những bưới phát triển rực rỡ cả vể kinh tế - xã hội, văn hóa tưtưỡng lẫn chính trị

2.2 Khái quát về chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông.

Đại Việt dưới thời vua Lê Thánh Tông đã đạt được những thành tựu hếtsức rực rỡ cả về kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng Quan niệm về sự cầnthiết phải có một đội ngũ quan lại chuyên nghiệp, trung thành với triều đạicủa mình thể hiện rất rất rõ trong các chiếu dụ của vua Lê Thánh Tông Ông

đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết của mình để tạo dựng một đội ngũ quanlại giúp việc đáp ứng được những tiêu chuẩn “hiền – tài” Để hình thành độingũ quan lại đáp ứng những yêu cầu đề ra, vua Lê Thánh Tông đã ban bố một

Trang 24

số các văn bản có tính chất làm cơ sở pháp lý như: Bản dụ Hiệu đính quan chế(Hoàng triều quan chế); Lệ khỏa khóa (năm 1470); Sắc chỉ (năm 1480); Điềulệnh (năm 1485); Chiếu chỉ (năm 1487); đặc biệt là Bộ luật hồng đức đượcban bố năm 1483, trong đó có nhiều điều khoản quy định về nhiệm vụ, quyềnhạn, trách nhiệm của quan lại.

Những chính sách mà vua Lê Thánh Tông ban hành nhằm tạo ra một độingũ quan lại trung thành, đáp ứng tiêu chuẩn “hiền – tài” được đánh giá là rấttiến bộ so với các chính sách ở các triều đại trước đó, trong đó phải kể đếnchính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại Hơn ai hết, vua Lê Thánh Tông hiểu

rõ và kiên trì thực hiện quan điểm: “trăm quan là nguồn gốc của trị, loạn.Người có đức, có tài nhậm chức thì trị Người vô tài, thất đức nắm giữ quyềnhành thì loạn” Chẳng thế mà vào tháng 12 năm 1463, sau 3 năm ở ngôi vua,

Lê Thánh Tông khi ấy mới 21 tuổi đã nói với thượng thư các bộ: “ Ta nghe

Tư Mã Quang có nói: “người quân tử là cội gốc để tiến lên trị, bình, kẻ tiểunhân là thềm bậc để đi đến họa, loạn” Ta và các ngươi đã thề với trời đấtdùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi, cácngươi chớ có quên đấy” [10, Tr.237]

Mục đích của chính sách đào tạo, bồi dưỡng quan lại thời vua Lê ThánhTông là để chuẩn hóa đội ngũ quan lại về mặt tri thức, văn hóa và bằng cấpbao gồm cả việc bổ sung bộ phận quan lại mới được đào tạo cơ bản và tri thứchóa (Bồi dưỡng) những người đang giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước cáccấp nhưng chưa đảm bảo yêu cầu về mặt học vấn và bằng cấp Ngoài ra, nócũng giúp triều đình thu hút, một đội ngũ nhân tài vào làm việc cho triều đìnhthông qua con đường khoa cử

2.3 Nội dung chính sách đào tạo bồi dưỡng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông.

2.3.1 Đề ra tiêu chuẩn cụ thể đối với đội ngũ quan lại trong triều 2.3.1.1 Thứ nhất, quan lại phải tuyệt đối đáp ứng tiêu chuẩn “hiền – tài”.

Trang 25

Hai tiêu chuẩn “hiền” và “tài” được vua Lê Thánh Tông cụ thể hóa thành

những yêu cầu bắt buộc đỗi với người làm quan Hiền là tiêu chuẩn về đạo

đức Người muốn ra làm quan phải luôn học tập trau dồi về mặt đạo đức, theovua Lê Thánh Tông thì đạo đức của người lamd quan phải được thể hiện vàkiểm chứng trên ba phương diện:

- Một là, người làm quan phải tận trung với vua.

Không chỉ riêng vua Lê Thánh Tông mà các đời vua khác trong lịch sửNhà nước phong kiến Việt Nam cũng đều mong muốn và làm mọi cách đểxây dựng một đội ngũ quan lại tận trung với vua, tận tụy với công việc vuagiao Là người sùng bái tư tưởng Nho giáo với thuyết “tam cương – ngũthường” vua Lê Thánh Tông cho rằng là bề tôi, quan lại phải tận trung vớivua, tận trung với triều đình trong mối quan hệ hàng đầu là “vua - tôi” Vì thế,ngay sau khi lên ngôi, nhằm “răn đe kẻ bất trung”, Lê Thánh Tông đã định tộinặng đối với Lê Đắc Ninh vì “giữ cấm binh không biết bảo vệ xã tắc” lại giúp

kẻ phản nghịch giết vua Nhân Tông và Thái hậu; ba năm sau giết Thái uý LêLăng vì tội “ngầm mưu làm phản” và đến năm 1485, Trần Phong bị kết tội

“mang lòng bất trung”, “phản quốc” [10, tr.389, 397, 498]

Trong Quốc triều hình luật đã thể hiện rõ nét nguyên tắc bảo vệ và củng

cố vương quyền, chế độ quân chủ quan liêu, trật tự “đẳng cấp” phong kiến,mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích, sự an toàn và sự “bình yên” của vua vàhoàng tộc, của thể chế đều bị trừng trị nghiêm khắc Trong “thập ác” (mườitội nặng phải chết) thì có 5 tội xâm phạm đến vua và hoàng tộc Nguyên tắcnày cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ Bộ luật nhất là ở các chương

Vi chế, Vệ cấm

Đối với quan lại, trung với vua không chỉ là “một lòng tôn kính thờ vua”,không được bất kính, xâm phạm đến danh dự, quyền lợi của Triều đình, màcòn thể hiện ở việc trung thành với đường lối trị nước của nhà vua, một lòngmột dạ dốc sức phò vua, giúp vua trị nước bằng những hành động cụ thể, thểhiện ở sự chuyên cần, trung thực, “hết lòng trung tín, hết sức tận tâm” khi

Trang 26

thực thi nhiệm vụ của mình Năm 1465, Quốc Tử Giám tế tửu kiêm Văn minhđiện đại học sĩ Nguyễn Bá Ký được Lê Thánh Tông khen ngợi là “giữ mìnhchính trực”, “lúc thoi thóp rồi mà lòng trung vẫn mãi chưa thôi” [10, tr.407].Trước đó, năm 1464, nhà Vua có sắc dụ Hình Bộ tả thị lang Nguyễn Mậu

“ngươi chăm lo việc nước… thực đáng khen ngợi lắm” và biểu dương Thiêm

đô ngự sử Nguyễn Thiện “hết lòng thành lo việc nước, kính cẩn chăm lo chứcnhiệm, nhiều lần dâng lời hay” [10, tr.402-403] Vua muốn quan lại là trungquân, còn bản thân thì đối xử công bằng, chân tình, không vì tình riêng mà lẫnlộn, sao nhãng công việc Lê Thánh Tông nói với Nguyễn Cự Đạo (Thượng thư

Bộ Hộ): “Về mặt thần hạ, ngươi với ta là người tri kỷ, là bạn học thức Về mặtvua tôi, ta với ngươi là duyên cá nước, là hội gió mây Ngươi hãy hết lòng hợpsức, gắng gỏi lo báo đền ơn nước, chí công vô tư, để cho dứt hẳn tệ hối lộ” [10,tr.435] Lê Thánh Tông ưa dùng người thẳng thắn, tâm huyết, trung thành nên đãkhen ngợi, dặn dò Lê Cảnh Huy: “Ngươi đã hết lòng can ngăn nói thẳng, chỉ ralỗi lầm của trẫm, dẫu nửa được nửa hỏng, nhưng phương cứu tệ, giúp đời xuấtphát từ lòng trung quân ái quốc, đã liền dòng liền trang rồi Từ nay về sau,… bànluận ở triều đình cho trắng đen sáng tỏ” [10, tr.401]

- Hai là, người làm quan phải thương yêu, chăm lo cho đến quyền lợi của dân.

Theo “ Lịch triều hiến chương loại chí” có viết: “Thánh Tông năm Hồng

Đức thứ nhất (1470) định lệnh khỏa khóa quan viên dưới quyền cai quản.Phàm trưởng quan các nha môn trong ngoài xét công các quan viên dướiquyền cai quản, phải xét kỹ các công việc đã từng làm, như có lòng thươngdân, được dân yêu mến …” Như vậy, vua Lê Thánh Tông nêu tiêu chuẩnhàng đầu để xét quan lại có xứng chức hay không là “ có để lòng thương dân,được nhân dân yêu mến hay không”

Đương thời Vua Lê Thánh Tông luôn nhấn mạnh tinh thần trách nhiệmcủa quan lại đối với công việc được giao Vào năm 1484, nhà Vua có sắc chỉ

“hai ty Thừa, Hiến ra lệnh cho các quan Hà đê, Khuyến nông các phủ, huyện,

Trang 27

châu phải nghĩ kế chống đói cho dân… không được vứt bỏ chức trách củamình, coi thường đau khổ của dân” khi đề điều bị vỡ, ngập mất lúa mùa [10,tr.491].

Hay như tại Điều 284,Quốc triều hình luật, đã nhấn mạnh trách nhiệm

quan lại chăm lo cuộc sống của dân “nếu không biết làm việc lợi, trừ việc hại,

để dân trăm họ phải phiêu bạt đi nơi khác, hộ khẩu bị hao hụt và có trộm cướp

tụ họp ở trong hạt, thì xử tội bãi chức hay tội đồ”, Điều 220 nêu rõ khi có

chiếu lệnh của Triều đình ban xuống thì các quan ty phải có trách nhiệm saolục niêm yết ra để biểu thị cho quân dân biết rõ đức ý của vua, nếu “coi

thường chiếu lệnh ấy là lời hão thì bị phạt, bị biếm hay bị bãi chức” hoặc

Điều 294 quy định về việc chăm sóc những người “đau ốm mà không ai nuôinấng”, lang thang cơ nhỡ [11, tr.95, 113, 116]

Mặt khác đối với những quan lại thiếu tinh thần trách nhiệm trong khilàm việc gây thiệt hại cho dân cũng bj vua phạt nặng để lấy đó làm gương cho

kẻ khác, cụ thể như năm 1467, Vua đã “giáng chức bọn Thừa tuyên sứ các xứ

Bắc đạo Lê Công Khác, mỗi người một bậc vì trong xứ có nhiều sâu cắn lúa

mà không biết tâu lên trước, chỉ ngồi nhìn tai hại đối với dân” [10, tr.430]

- Ba là, người làm quan phải tận tụy với công việc được giao, không lười biếng, sao nhãng công việc.

Năm 1479 vua Lê Thánh Tông ban sắc chỉ, trong đó có nội dung quyđịnh “các quan viên lười biếng, bỉ ổi, đê tiện, yếu hèn, nếu là con cháu côngthần thì bãi chức bắt về làm dân, nếu là con cháu thường dân thì bãi chứcsung quân” [10, tr.473] Năm 1491, Lê Thánh Tông định lệ “Quan lại ở Hình

bộ người nào mắc tội lười biếng, gian tham, buông tuồng, phóng túng thì làmbản tâu lên theo luật mà trị tội” [10, tr.510]

Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, quyển thứ 19 cóviết: “Nếu không có qui chế để khuyên răn và phân biệt kẻ hay người kém thìlấy gì để răn những kẻ tham lam, khuyến khích những người biết giữ khí tiết

ủy thác làm cho phên dậu để giữ gìn nước nhà, giao phó tính mệnh của dân

Trang 28

chúng mà để mặc các quan chức chăm chú về lộc vị, chỉ vơ vét cho đầy túitham, thì tài nào chả làm xấu quan trường và hại dân chúng Cho nên muốncho dân yên thì không gì bằng chỉnh đốn quan lại, mà cách chỉnh đốn thì ắtphải có khảo sát công việc, xét rõ hạng thượng hạ, làm cái mức cho thănggiáng; mới phân biệt được người có liêm sỉ và chính trị mới được hoàn toàn.Yếu điểm của bậc đế vương để làm nên cuộc thịnh trị đều không vượt qua lốiấy”.

Điều 199, Quốc triều hình luật quy định: “Các quan đang tại chức mà trễ nhác việc công thì bị phạt 70 trượng, biếm ba tư và bãi chức” hay ở Điều 222

“Những quan chức được sai làm việc công, thấy việc nặng nề khó khăn mà

nói dối là đau ốm để khỏi phải đi thì bị biếm hay bị đồ; nếu là việc quân khẩn cấp mà trốn tránh thì xử tội lưu hay tội chết” [11, tr.91, 96].

Ngoài những hình phạt dành cho kẻ lười nhác,chốn tránh công việc vuagiao, Vua Lê Thánh Tông cũng hết sức chú ý tới việc khuyến khích động viên

kẻ bề tôi phạm lỗi hăng say với công việc để chuộc lỗi khi mà họ mắc phải,

cụ thể như tại Điều 3 của Quốc triều hình luật nêu rõ “nghị cần, là những

người cần cù, chăm chỉ” thuộc một trong tám đối tượng được xem xét giảmhình phạt khi những người này phạm tội [11, tr.38]

Theo vua Lê Thánh Tông, quan lại không chỉ “hiền” mà còn phải “tài”,chữ tài của người làm quan được hiểu là khả năng giúp vua trị nước, trong đó,quan văn giỏi đưa ra kế sách, quyết sách giúp vua trị nước, quan võ giỏi thaolược, võ thuật và dùng binh Vua cho rằng, năng lực của người làm quan phảiđược thể hiện trên hai phương diện đó là: Phải có trình độ học vấn (biểu hiện

ở học vị); ngoài trình độ học vấn phải có năng lực thực tế thể hiện ở khả năngcai quản các công việc Chính vì quan điểm trên mà dưới thời vua Lê ThánhTông, các chế độ khoa cử tuyển chọn quan lại được tổ chức rất nghiêm túcđòi hỏi người ra làm quan phải có thực tài

Việc vua Lê Thánh Tông đề ra tiêu chuẩn “hiền - tài” đối với đội ngũquan lại đã làm cho không khí học tập và thi cử thực sự nghiêm túc, kẻ muốn

Trang 29

ra làm quan buộc phải rèn luyện về chuyên môn (am hiểu pháp luật và hệ tưtưởng Nho giáo), tu dưỡng về mặt đạo đức, nhân cách và lối sống, đây đượcxem là một bước tiến trong chính sách cai trị của vua Lê Thánh Tông.

2.3.1.2 Thứ hai, quan lại phải có văn hóa, tri thức cai trị theo tư tưởng Nho giáo.

Thời vua Lê Thánh Tông trị vì đánh dấu bước phát triển vượt bậc củaNho giáo Thời kỳ này, Nho giáo được tạo điều kiện củng cố trở thành hệ tưtưởng thống trị xã hội, kéo theo đó là sự phát triển của nền giáo dục, khoa cửnho giáo

Bản thân vua Lê Thánh Tông ngay từ nhỏ đã chăm chỉ, siêng năng họchành, nghiên cứu nho học, chính vì thế trong suốt thời gian trị vì của mình,Ông luôn lấy Nho học làm gốc, làm tiêu chuẩn mà quan lại tuân theo trong caitrị Chẳng thế mà trong một số bài văn sách đình đối – một hình thức thi đặcbiệt bằng cách đối thoại giữa vua và sĩ tử về các vấn đề tư tưởng, chính trị -

xã hội quan trọng của đất nước, tư tưởng Nho giáo được thể hiện rõ nét trong

đó như: Văn sách đình đối của Bảng nhãn Nguyễn Đức Trinh (khoa thi nămQuý Mùi 1463) đã làm rõ chủ trương của Lê Thánh Tông trong vấn đề dùngNho thuật để cai trị thiên hạ: “Điều cốt yếu của việc trị nước là ở làm sáng tỏnền thánh học, lấy đó làm gốc cho việc chính nhân tâm trừ tà thuyết” [12,tr.7] Văn sách đình đối của Trạng nguyên Vũ Kiệt (khoa thi năm Nhâm Thìn1472) khẳng định: “Nho thuật không được coi trọng thì giáo hoá không đượcsáng sủa, nhân tài không phát triển, không lấy gì để dựng cương thường muônthuở, khơi dẫn nguyên khí của quốc gia” [13, tr.9] Văn sách đình đối củaTrạng nguyên Vũ Tuấn Chiêu (khoa thi năm Ất Mùi 1475) nêu cụ thể thêm:

“Trị nước lấy Nho thuật làm đầu, trí trị lấy dùng Nho làm gốc Phàm đạo đức,nhân, nghĩa, lễ, nhạc, hành chính đều là Nho thuật cả” [14, tr.1] và “Nho thuật cóích cho quốc gia dựng mực thước cho dân, mở nền thái bình cho muôn đời.Công dụng lớn như vậy thì phàm bậc trị thiên hạ quốc gia, ai có thể bỏ màkhông dùng?” [14,tr.4]

Trang 30

Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ quan lại caitrị đất nước theo tư tưởng Nho giáo bằng cách đề ra tiêu chuẩn quan lại phải

có kiến thức về cai trị theo tư tưởng chính trị Nho giáo, mặt khác vua LêThánh Tông còn đặt ra những quy định nghiêm ngặt, đòi hỏi cao về học vấn,người làm quan phải có tri thức và chủ trương lấy trình độ học vấn làm cơ sở

để tuyển chọn quan lại Do vậy quan lại phải được đào tạo cơ bản, học hànhđầy đủ thông qua giáo dục và thi cử Nho học để từng bước tri thức hoá, vănhoá hoá đội ngũ quan lại

2.3.1.3 Thứ ba, đội ngũ quan lại phải hiểu biết pháp luật và có ý thức chấp hành pháp luật.

Hơn ai hết, vua Lê Thánh Tông hiểu rõ rằng, những người dùng luật caitrị dân mà không am hiểu luật thì được xem là bỏ đi, không có ý thức chấphành pháp luật tức là không làm gương cho kẻ dưới Với phương trâm xâydựng một đội ngũ quan lại đáp ứng tiêu chuẩn hiền tài, Song song với việcban hành các văn bản luật, xác lập lòng tin yêu của dân chúng với nhà cầmquyền, Lê Thánh Tông chủ trương xây dựng đội ngũ quan lại phải thông thạopháp luật Ông cho rằng, những người nắm pháp luật, thường là những ngườicầm cân nảy mực, vì vậy bản thân họ phải có kiến thức, kỹ năng và kinhnghiệm nhất định để vận dụng pháp luật cho đúng Đồng thời họ phải tuân thủchặt chẽ những thể chế, những quy định của pháp luật thì mới đảm bảo chopháp luật có giá trị tối cao trong hoạt động của Nhà nước Điều đó sẽ ngănchặn được sự lạm quyền, sử dụng quyền lực một cách tuỳ tiện ở các cấp chínhquyền, nhằm làm trong sạch, vững mạnh bộ máy nhà nước

Thực tế đã chỉ ra rằng, vua Lê Thánh Tông đã xử lý rất nghiêm khắc đốivới những hành vi vi phạm pháp luật của quan lại, bất kể kẻ đó ở cương vịnào trong bộ máy nhà nước Có thể lấy ra một số minh chứng như: Vua chođánh trượng Điện tiền kinh lịch Cao Bá Tường và đày ra châu ngoài vì “bọnquan kiểm điểm Lê Thọ Vực, Lê Bô, Phạm Văn Hiến coi giữ quân lính, bắtlàm việc riêng và thả về để lấy tiền mà Bá Tường không biết nêu ra để hặc

Trang 31

tội”, thu lại quân quyền của Tây quân đô đốc Lê Thiệt vì “con Thiệt là Bá Đạtđang giữa ban ngày phóng ngựa ra phố, dung túng gia nô đánh người”, bắtGiám sát ngự sử Quản Công Thiêm do “dung túng kẻ đưa hối lộ là Hán TôngNghiệp” hay Phó Tổng binh trấn thủ Bắc Bình là Lê Lục và Đồng Tổng triNguyễn Lương “giữ trấn mình mà để cho giặc cướp đốt quan ải” nên bị đày rachâu xa [10, tr.427, 413, 416, 423].

Điều 185, Quốc triều hình luật có quy định “ quan lại làm công vụ sáchnhiễu dân bị tội suy đến biếm một tư; hay tại điều 632 có quy định: “các quancai quản quân dân các hạt, vô cớ mà đi đến những làng, xã trong hạt, hay là cho

vợ cả vợ lẽ, người nhà đi lại, mượn việc mua bán làm cớ để quấy nhiễu nhândân, lấy của biếu xén thì xử tội biếm hay bãi chức” [11, tr.87, 215-217]

Như vậy có thể thấy, dưới thời vua Lê Thánh Tông, quan lại phải am hiểu

và trên hết là phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật làm gương cho dân khôngthì sẽ bị phạt nặng, điều đó làm cho các quan luôn tu chí học hành, tinh thôngluật pháp

2.3.1.4 Thứ tư, quan lại phải trở thành tấm gương sáng về đạo đức.

Nguyên tắc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” trong tư tưởng Nhogiáo được vua Lê Thánh Tông vận dụng một cách triệt để trong đường lối caitrị của mình, nguyên tắc này đòi hỏi quan lại phải là tấm gương sáng về đạođức cho dân chúng noi theo Vua Lê Thánh Tông cũng có thái độ nghiêmkhắc đối với một số người tuy có công tích, đỗ đạt nhưng xu nịnh, nói bừahoặc kiêu căng, thiếu nhân cách

Hơn ai hết, vua Lê Thánh Tông hiểu rằng quan thanh liêm sẽ đảm bảocho bộ máy nhà nước luôn trong sạch, vì thế Ông yêu cầu quan lại phải liêmkhiết, công bằng Năm 1460, nhà Vua chê Thái bảo Lê Lăng “người nào mìnhkhông bằng lòng thì đẩy xuống đất đen, người nào chiều ý mình thì nâng niutrên gối”, khuyên “nên thận trọng từ đầu đến cuối, phải thanh liêm công

bằng” [10, tr.393] Quốc triều hình luật bao gồm những biện pháp trừng trị

quan lại có hành vi lợi dụng chức vụ của mình để mưu lợi ích riêng như Điều

Ngày đăng: 25/12/2015, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w