Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang có rất nhiều các chính sách hỗ trợ thoát nghèo cho các địa phương đặc biệt khó khăn trong cả nước, đặc biệt là Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 c
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Thực tập là quãng thời gian cuối cùng của chương trình học tập của một sinh viên, là giai đoạn vận dụng những kiến thức lý thuyết đã được học trên ghế nhà trường vào thực tiễn công việc và tìm kiếm cho mình những kiến thức thực tế đầu tiên Trong quá trình thực tập, tuy còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc về kiến thức, kinh nghiệm, thời gian, thông tin, tư liệu, song em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo Học viện Hành chính, của các bác, các cô, chú, anh, chị tại cơ quan thực tập mà em đã hoàn thành quá trình thực tập và báo cáo theo đúng thời gian quy định của Học viện.
Qua đây, em xin gửi lời cãm ơn chân thành nhất tới tập thể lãnh đạo UBND huyện Như Xuân, tới các bác, các cô, chú và anh, chị công tác tại phòng Lao động thương binh và xã hội của huyện đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để
em hoàn thành nhiệm vụ thực tập của mình với kết quả cao nhất.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cãm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo tại Học viện đã trang bị cho em những kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ em cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập tại Học viện.
Đặc biệt, em xin gửi lời cãm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo – Ths Nguyễn Thị Thu
Hà – Giảng viên Học viện Hành chính đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em để em
có thể hoàn thành báo cáo thực tập của mình với kết quả cao nhất.
Trong suốt quá trình thực tập em đã cố gắng và nỗ lực hết mình để vận dụng những kiến thức đã được học vào thực tế, tìm hiểu thực tế, nghiên cứu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để tổng hợp và viết báo cáo Tuy vậy, do hạn chế về thời gian, sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên khó tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn…!
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3BÁO CÁO VỀ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP TẠI PHÒNG LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI HUYỆN
NHƯ XUÂN – THANH HOÁ
(Thời gian từ ngày 26/3/2012 đến 18/5/2012)
Thời gian Nội dung hoạt động Kết quả Ghi chú Tuần 1:
- Ra mắt đơn vị thực tập.
- Tìm và đọc tài liệu.
- Tham dự Hội nghị Tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gai giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 và sơ kết
3 năm thực hiện Nghị quyết 30a.
- Được tiếp nhận thực tập
và được phân công thực tập tại Phòng Lao động – Thương binh và xã hội.
- Hiểu, biết một số tài tiệu, văn bản.
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ phát gạo.
- Hoàn thành tên đề tài báo cáo thực tập.
Tuần 4: - Dự cuộc họp về chương - Cuộc họp thành công tốt
Trang 4- Hoàn thành đề cương báo cáo thực tập.
- Buổi lễ thành công tốt đẹp và đầy ý nghĩa.
- Tìm đọc tài liệu và viết báo cáo.
- Hoàn thành việc phân loại hồ sơ.
- Chia tay đơn vị thực tập.
Hoàn thành báo cáo thực tập.
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Nghèo đói đang là một hiện tượng xã hội bức xúc và nóng bỏng hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam cũng như huyện Như Xuân – Thanh Hóa nói riêng Xóa đói giảm nghèo đã và đang là một trong những hoạt động tích cực của Chính phủ Việt Nam cũng như chính quyền, nhân dân huyện Như xuân nhằm góp phần nâng đảm bảo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân địa phương, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội.
Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang có rất nhiều các chính sách hỗ trợ thoát nghèo cho các địa phương đặc biệt khó khăn trong cả nước, đặc biệt là Nghị quyết
số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo trong cả nước, trong đó có huyện Như Xuân – Thanh Hóa.
Là con em của huyện nhà và là một sinh viên đang thực tập tại phòng LĐTBXH huyện Như Xuân – Thanh hóa, phòng chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác xóa đói giảm nghèo của huyện, em đã được nghiên cứu và tìm hiểu trực tiếp về công tác xóa đói giảm nghèo của huyện nhà.
Từ những lý do đó, em quyết định chọn đề tài “Công tác thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở huyện Như Xuân – Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu và viết báo cáo thực tập
của mình, nhằm tìm hiểu sâu về công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện và đưa ra một số kiến nghị với mong muốn góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 30a và nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo của huyện.
Nội dung bài viết gồm 4 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận.
Chương II: Thực trạng nghèo ở huyện Như Xuân – Thanh Hóa.
Chương III: Công tác thực hiện Nghị quyết 30a ở huyện Như Xuân.
Chương IV: Một số giải pháp nhằm thực hiên tốt Nghị quyết 30a ở huyện Như Xuân.
Trang 6CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Quan niệm về nghèo
Nghèo là một vấn đề kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu Nghèo không chỉ tồn tại ở những nước lạc hậu, kém phát triển mà ngay cả ở những nước công nghiệp phát triển cũng có một bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo Tuy nhiên cho đến nay thì quan niệm về nghèo vẫn chưa được thống nhất.
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa về nghèo theo thu nhập: “Theo đó một người nghèo là khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia”.
Tổ chức FSCAP đã đưa ra khái niệm về nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển và kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương, quốc gia”.
Còn ở Việt Nam: “Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư, của con người
có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
Giảm nghèo là một trong những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, là một vấn đề lớn cần giải quyết của những địa phương còn tồn tại nghèo, đó
là việc làm biến đổi từ trạng thái nghèo thành trạng thái không nghèo bằng các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo tiếp cận, hưởng thụ các nhu cầu cơ bản, cần thiết
để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, đảm bảo cược sống ổn định cả về vật chất, tinh thần và bình đẳng với mọi người trong việc hưởng thụ thành quả phát triển của xã
hội
Theo tinh thần Nghị quyết 30a thì giảm nghèo nhanh là việc thực hiện chính sách giảm nghèo phải đạt tiêu chuẩn giảm trên 5% hộ nghèo mỗi năm.
Trang 7Còn giảm nghèo bền vững là đảm bảo cho người nghèo sau khi họ đã thoát nghèo, việc sản xuất của họ tiếp tục phát triển, đời sống ổn định và ngày được cải thiện rõ rệt, không có nguy cơ tái nghèo.
2 Tiêu chí xác định chuẩn nghèo
Cơ sở xác định chuẩn nghèo:
- Nhu cầu cơ bản của con người như ăn, mặc, ở, đi lại, y tế, văn hóa giáo dục, giao tiếp vv…
- Thu nhập bình quân theo đầu người.
- Tiềm lực kinh tế của địa phương.
Chuẩn nghèo thực hiện nghị quyết 30a:
- Giai đoạn 2006-2010 xác định chuẩn nghèo theo quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg:
+) Đối với khu vực nông thôn: thu nhập bình quân dưới 200.000đ/người/tháng (tức dưới 2.400.000đ/người/năm).
+) Đối với khu vực thành thị: thu nhập bình quân dưới 260.000đ/người/tháng (tức dưới 3.120.000đ/người/năm).
- Xác định chuẩn nghèo mới theo tiêu chí từ 2011 đến nay:
+) Khu vực nông thôn: thu nhập bình quân từ 400.000đ/người/tháng trở xuống +) Khu vực thành thị: thu nhập bình quân từ 500.000đ/người/tháng trở xuống.
Trang 8- Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/2/208 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở;
- Văn bản số 802/BKH-KTĐP< ngày 11/02/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về hướng dẫn xây dựng đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh
và bền vững cấp huyện giai đoạn 2009 - 2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Như Xuân thời kỳ 2020;
b Mục tiêu cụ thể
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40% năm 2010, xuống mức ngang bằng mức trung bình của tỉnh vào năm 2015 và xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực vào năm 2020.
- Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 - 6 lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn dưới 60% (2015) và khoảng 50% lao động xã hội (2020); Tỷ lệ lao động nông
Trang 9thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25% năm 2010, trên 40% vào năm
2015 và trên 50% năm 2020
- Xóa nhà ở tạm bợ; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
- Hoàn thành việc giao đất gia rừng; tạo sự chuyển biến tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật; tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực.
- Phát triển mạnh CSHT, bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các
xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Trang 10CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG NGHÈO Ở HUYỆN NHƯ XUÂN – THANH HÓA
I Một số nét tổng quan về huyện Như Xuân
1 Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý: huyện Như Xuân thuộc tỉnh Thanh Hóa, nằm phía tây nam tỉnh Thanh Hóa Phía Bắc giáp huyện Thường Xuân (Thanh Hóa), phía Nam giáp huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An), phía Đông giáp huyện Như Thanh (Thanh Hóa), phía Tây giáp xã Qùy Châu (Nghĩa Đàn – Nghệ An), có tọa độ địa lý là 19º22’ đến 19º48’ vĩ
độ Bắc, 105º09’ đến 105º34’ kinh Đông.
- Diện tích tự nhiên là 71.994,93 ha Trong đó đất nông nghiệp là 10.747,08 ha, đất lâm nghiệp là 52.614,5 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 481,24 ha, đất phi nông nghiệp là 4.867,44 ha, đất chưa sử dụng là 4.383,97 ha.
- Như Xuân thuộc tiểu vùng khí hậu trung du Tây nam, có nhiệt độ thấp hơn các vùng đồng bằng Tổng nhiệt bình quân năm khoảng 7600ºC-8000ºC; lượng mưa lớn trên 2.200mm/năm;
- Về nguồn nước, Như xuân nằm trong vùng thủy văn Sông Yên, thời gian mùa
lũ tập trung từ tháng 6 đến tháng 10 Tổng dòng chảy bình quân 1.129 triệu m³ vào mùa mưa và 132 triệu m³ vào mùa cạn Như Xuân có các con sông như: Sông đầu nguồn, sông Quyền, sông Chàng, sông Mực, sông Chu và một số khe suối khác.
2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
- Đơn vị hành chính: hiện nay Như Xuân có 17 xã và 1 thị trấn, bao gồm các xã: Tân Bình, Xuân Hòa, Yên Lễ, Bãi Trành, Xuân Bình, Cát Vân, Xuân Qùy, Cát Tân, Bình Lương, Hóa Qùy, Thượng Ninh, Thanh Xuân, Thanh Phong, Thanh Sơn, Thanh Lâm, Thanh Quân, Thanh Hòa và thị trấn Yên Cát.
- Về dân cư: huyện Như Xuân hiện có 14.930 hộ dân cư, với 65.402 nhân khẩu, gồm 4 dân tộc là Thái, Thổ, Mường, Kinh.
Trang 11- Giao thông: hiện nay huyện Như Xuân có đường Hồ Chí Minh chạy qua một
số xã và ven thị trấn, các xã được nối với nhau bằng đường quốc lộ 15A chạy giữa huyện theo hướng Bắc - Nam, các đường tỉnh lộ 15 và các đường liên xã nối tiếp với nhau.
- Cơ cấu kinh tế:
+) Nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 44%.
+) Công nghiệp – TTCN – xây dựng chiếm 27%.
+) Thương mại và dịch vụ chiếm 29%
- Các chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện:
+) Giá trị gia tăng (VA của huyện): 282,7 tỉ đồng/năm.
+) Tốc độ tăng trưởng (GDP) bình quân hàng năm: 16,5%.
+) Thu nhập bình quân đầu người: 8,3 triệu/năm
+) Sản lượng lương thực bình quân đầu người: 350kg/năm.
+) Thu ngân sách trên địa bàn huyện: 4,146 triệu đồng/năm.
3 Đôi nét về Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Như Xuân
- Vị trí:
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Như Xuân là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Như Xuân, tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyên môn; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND huyện và theo quy định của pháp luật.
Trang 12có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; phòng, chống tệ nạn xã hội; bình đẳng giới.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của phòng LĐTBXH huyện Như Xuân được quy định
chung tại Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10 tháng 7 năm 2008.
II Thực trạng nghèo ở huyện Như Xuân – Thanh Hóa
1 Thực trạng nghèo ở huyện Như Xuân
Hiện nay trên địa bàn huyện có 17 xã và 1 thị trấn nhưng tất cả các xã và thị trấn vẫn tồn tại hộ nghèo và khẩu nghèo Tỉ lệ hộ nghèo và khẩu nghèo còn cao, cụ thể như sau:
BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ SỐ HỘ NGHÈO
NĂM 2010 – 2011
STT Năm Tổng số hộ Số hộ nghèo Tỷ lệ (%)
BẢNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ HỘ NGHÈO VÀ KHẨU NGHÈO
CỦA CÁC XÃ TRONG HUYỆN NĂM 2011
STT Đơn vị Hộ ngèo Khẩu nghèo
Trang 13- Cơ sở hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ Hiện nay các đường liên xã chủ yếu
là đường đất và đường cấp phối, đi lại rất khó khăn.
2 Nguyên nhân dẫn đến nghèo ở huyện Như Xuân
- Nguyên nhân chủ quan:
+) Trình độ dân trí thấp: sự hiểu biết về thông tin và văn hóa còn hạn chế, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật còn rất kém Kinh nghiệm làm ăn chưa nhiều Ở các xã vùng cao (chủ yếu là 6 Thanh) hiện tượng mù chữ vẫn còn không ít, số học sinh được đi học chủ yếu là học hết cấp 2 và cấp 3, học sinh đi học các trường trung cấp, cao đẳng và đại học rất ít
+) Tập quán canh tác còn lạc hậu, hiện tượng phá rừng làm nương vẫn còn, đất đại bỏ trống còn nhiều mà chưa biết tận dụng Lao động chủ yếu là nông – lâm nghiệp, tuy nhiên còn phụ thuộc nhiều vào thời vụ và thời tiết, chưa thực sự biết đưa KHKT vào sản xuất, chủ yếu là lao động thủ công nên năng suất chưa cao.
Trang 14+) Chất lượng cuộc sống ban đầu thấp, do xuất phát điểm hoàn cảnh gia đình nghèo, cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm, sức khỏe người dân không được đảm bảo nên lao động năng suất thấp, thu nhập không cao.
+) Công tác lãnh, chỉ đạo của cấp Ủy và chính quyền địa phương còn tồn tại nhiều hạn chế: các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền chưa thực sự đi vào lòng dân; một số cán bộ làm công tác chính quyền còn chưa thực sự nhiệt tình, hiện tượng quan liêu và hách dịch nhân dân vẫn còn tồn tại.
+) Năng lực của cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo còn hạn chế: trình độ quản lý còn thấp; cán bộ có trình độ đại học và trên đại học còn ít; tầm nhìn của cán
bộ còn hạn hẹp; ít tiếp xúc với dân, chưa thực sự hiểu dân và chưa thực sự làm cho dân hiểu.
- Nguyên nhân khách quan:
+) Lịch sử phát triển: Như Xuân hình thành và phát triển gắn liền với chiến tranh (từ giai đoạn cuối của phong trào Cần Vương cho đến ngày thống nhất đất nước), hòa chung sự nghiệp đấu tranh của dân tộc, do đó việc tập trung phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội gặp rất nhiều khó khăn.
+) Cuộc khủng hoảng nền kinh tế thế giới, suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng tới tình hính phát triển kinh tế chung của cả nước, huyện Như Xuân cũng không tránh khỏi ảnh hưởng này.
+) Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: địa hình đồi núi, dốc cao và hiểm trở; giao thồn đi lại khó khăn; đất kém màu mỡ và sỏi đá; khí hậu khắc nghiệt, hạn hán và bão, lũ thường xuyên xảy ra, hiện tường rét đậm, rét hại kéo dài, dịch bệnh và mất mùa cũng không ít làm cho việc phát triển kinh tế của huyện gặp rất nhiều trở ngại +) CSHT phục vụ công tác giảm nghèo còn kém: giao thông đi lại khó khăn, đường chủ yếu là đường đất và đường cấp phối; hệ thống trường, trạm cũng chưa đạt tiêu chuẩn cao; mạng lưới điện chưa được rộng khắp hết từng hộ dân; mạng viễn thông và truyền hình còn kém, làm hạn chế khả năng giao tiếp và tìm hiểu thông tin của người dân.
Trang 15+) Các chính sách giảm nghèo của các Bộ, ngành Trung ương chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất nên khi đưa về thực hiện tại huyện rất khó khăn và kết quả không cao.
+) Nguồn kinh phí hỗ trợ phát triển kinh tế của huyện còn rất hạn hẹp, dẫn đến thiếu vốn hỗ trợ cho người dân phát triển kinh tế, không tận dụng và khai thác tốt được tiềm năng tại chỗ.
Trên đây là những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nghèo ở huyện Như Xuân – Thanh Hóa.
Trang 16CHƯƠNG III CÔNG TÁC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 30A Ở
HUYỆN NHƯ XUÂN - THANH HOÁ
1 Những thành tựu trong công tác thực hiện Nghị quyết 30a ở huyện Như Xuân
1.1 Công tác lãnh - chỉ đạo, tổ chức quán triệt và triển khai Nghị quyết 30a
a) Việc tổ chức quán triệt, triển khai, tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ
Ngày 27/12/2008, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững Sau khi tiếp thu ở cấp tỉnh, ngày 24/02/2009 BTV Huyện ủy đã tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt cấp huyện để quán triệt, triển khai nội dung của Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ LĐTBXH, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài chính
và các văn bản hướng dẩn của UBND tỉnh.
Sau Hội nghị cán bộ chủ chốt cấp huyện, tại các xã, thị trấn và các Đảng bộ, chi
bộ trực thuộc khối cơ quan hành chính sự nghiệp, BTV Huyện ủy giao cho đồng chí Bí thư Đảng ủy, Bí thư Chi bộ trực tiếp quán triệt, triển khai nội dung Nghị Quyết và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến các cán bộ, Đảng viên, đồng thời giao cho MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở tổ chức học tập quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết sâu rộng trong đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân.
Bên cạnh việc quán triệt, triển khai qua các Hội nghị, công tác tuyên truyền Nghị quyết cũng đã đẩy mạnh trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh – phát lại truyền hình huyện, hệ thống đài truyền thanh các xã, thi trấn qua “Bản tin Như Xuân” Đặc biệt là xuất bản cuốn sách “Như Xuân – tiềm năng
cơ hội đầu tư và phát triển” để giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh của huyện,
Trang 17để kêu gọi, thu hút các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện.
b) Việc ban hành các văn bản hướng dẫn chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện
- Việc thành lập BCĐ của huyện và các tiểu ban phụ trách:
Để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc thực Nghị quyết có hiệu quả, BTV Huyện
ủy đã trực tiếp ban hành và chỉ đạo UBND huyện ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện như:
+) Quyết định số 470/QĐ-HU ngày 17/02/2009 của BTV Huyện ủy về việc thành lập BCĐ thực hiện Nghị quyết 30a về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh
và bền vững ở huyện Như Xuân.
+) Quyết định số 475/QĐ-HU ngày 25/02/2009 của BTV Huyện ủy về việc thành lập tiểu ban xây dựng đề án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện giai đoạn 2009 – 2020 theo Nghị quyết 30a.
+) Quyết định số 500/QĐ-HU ngày 06/05/2009 của BTV Huyện ủy về việc kiện toàn BCĐ thực hiện Nghị quyết 30a.
Ngoài ra, UBND huyện cũng đã ban hành các Quyết định thành lập tổ thư ký trực tiếp theo dõi, tổng hợp việc thực hiện Nghị quyết 30a, tiểu BCĐ xây dựng nhà
176, BCĐ XKLĐ, BCĐ giải quyết việc làm, vv…
- Công tác xây dựng đề án hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn
2009 – 2020:
Căn cứ nội dung Nghị quyết 30a và các văn bản hướng dẫn của trung ương, của tỉnh, UBND huyện đã hoàn thành việc xây dựng Đề án phát triển kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững ở huyện Như Xuân giai đoạn 2009 - 2020 được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2932/QĐ-UBND ngày 31/08/2009 Đề án được xây dựng trên cơ sở bám sát mục tiêu Nghị quyết 30a cũng như định hướng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 1010 -
1020 và phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII BCH trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Trang 18Trên cơ sở Đề án được duyệt, hàng năm UBND huyện đã xây dựng các kế hoạch thực hiện cụ thể và báo cáo kết quả theo quy định.
1.2 Kết quả thực hiện các chính sách theo Nghị quyết 30a của Chính phủ
a) Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất
- Tổng số hộ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng: diện tích đã khảo sát đưa vào khoanh nuôi, bảo vệ là 4.315,6 ha với 455 hộ tham gia nhưng chưa thực hiện được
do nguồn vốn chưa được phân bổ.
BẢNG SỐ LIỆU VỀ TÍN DỤNG ƯU ĐÃI HỘ NGHÈO