1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

9 842 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 93,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật VBQPPL thì nguyên tắc minh bạch, công khai càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính khả thi, hợp l

Trang 1

Mục lục

Trang

Mở đầu……… 2 Nội dung

1/ Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động

xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật… 2

2/Biểu hiện của nguyên tắc công khai trong xây dựng

và ban hành văn bản quy phạm pháp luật………3

3/Ý nghĩa và thực tiễn của nguyên tắc công khai trong xây dựng

và ban hành văn bản quy phạm pháp luật……… 7

4/Ví dụ thể hiện nguyên tắc công khai trong xây dựng

và ban hành văn bản quy phạm pháp luật……… 8

Kết thúc………8

Trang 2

Mở đầu

Một trong bốn nguyên tắc cơ bản mà Việt Nam phải thực hiện khi gia nhập WTO là: tính công khai minh bạch của các luật, qui định và các thủ tục hành chính (Nguyên tắc còn lại: 1 Thương mại tự do 2 Không phân biệt đối xử kinh doanh 3 Thị trường không nghiêng lệch -undistorted).Trong bối cảnh thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

và quá trình hội nhập kinh tế thế giới như vậy, thời gian vừa qua, việc đảm bảo tính minh bạch trong hệ thống pháp luật ở nước ta được đề cập đến nhiều như là một trong những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của nhà nước Đặc biệt

là trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thì nguyên tắc minh bạch, công khai càng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính khả thi, hợp lí, hợp pháp của loại văn bản này Làm rõ được tính công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL giúp chúng ta hiểu rõ hơn được vai trò, ý nghĩa của nguyên tắc này trong hoạt động ban hành VBQPPL

Nội dung

1/ Lí luận chung về nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

- Tính công khai VBQPPL: là việc mọi người đều được biết, kiểm tra, giám sát và tiếp cận với

nội dung cụ thể VBQPPL đó thông qua sự công bố văn bản trên trên các phương tiện thông tin đại chúng truyên thông

Nhìn chung, thuộc tính này không thể thiếu khi cho ra đời một VBQPPL và đảm bảo thực thi văn bản đó trên thực tế Đảm bảo được thuộc tính này sẽ góp phần nâng cao được sự quản lí, điều chỉnh của pháp luật tới các quan hệ xã hội, tạo sự công bằng, dân chủ, văn minh trong xã hội cũng như tạo cơ sở vững chắc để hội nhập cùng hệ thống pháp luật thế giới

- Văn bản quy phạm pháp luật: VBQPPL được định nghĩa tại điều 1 của luật ban hành văn bản

quy phạm pháp luật năm 2008 (Luật BHVBQPPL) “ Là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành

hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này hoặc trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội” VBQPPL được quy định tại Luật BHVBQPPL và Luật ban hành

văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004

Nguyên tắc đảm bảo công khai trong xây dựng và ban hành VBQPPL được thể hiện tại

khoản 3 Điều 3 của Luật BHVBQPPL: “Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban

hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp là văn bản quy phạm pháp luật có nội dung là thuộc bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật” Như vậy, nguyên tắc này muốn đề cập tớivấn đề là khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành quá trình xây dựng và ban hành VBQPPL không chỉ cho phép những đối tượng chịu sự tác động điều chỉnh mới được biết mà còn những đối tượng, thành phần khác được kiểm tra giám sát, đóng góp ý kiến xây dựng, kiện toàn Mặt khác, nguyên tắc này cũng quán triệt tinh thần là việc xây dựng pháp luật không phải chỉ là công việc của mình nhà nước mà còn là nhiệm vụ, quyền hạn của nhân dân, thể hiện đúng bản chất của nhà nước ta

Trang 3

2/ Nội dung của nguyên tắc đảm bảo công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

- Trong giai đoạn lập chương trình xây dựng VBQPPL: Đây là bước khởi đầu khá quan

trọng, mang tính kế hoạch để tiến hành xây dựng văn bản Đảm bảo tính công khai, minh bạch ngay từ giai đoạn đầu của việc xây dựng văn bản là cần thiết, từ đó sẽ tạo bước đệm để triển khai những giai đoạn xây dựng tiếp theo Cơ bản thì chương trình xây dựng, ban hành một VBQPPL sẽ

có các bước sau: Lập chương trình, thông qua chương trình, điều chỉnh chương trình và đảm bảo chương trình Nội dung của chương trình này bao gồm:

+ Danh mục các văn bản luật cần ban hành: được xác định trên cơ sở cân nhắc nhu cầu điều chỉnh pháp luật và khả năng xây dựng pháp luật trong thời gian thực hiện chương trình

+ Cơ quan soạn thảo: được xác định trên cơ sở thẩm quyền và năng lực thực tiễn cua chủ thể có liên quan tới hoạt động xây dựng pháp luật

+ Dự kiến thời gian trình dự thảo văn bản một cách hợp lí, nhanh và chất lượng

+ Dự trù kinh phi phí cần thiết cho việc thực hiện chương trình một cách tiết kiệm, hiệu quả

Từ đó, trước khi chương trình xây dựng được công bố thì chúng ta sẽ đánh giá được liệu rằng chương trình đó đã bám sát được với thực tiễn hay chưa, đáp ứng được nhu cầu ban hành chưa… Từ đó, chúng ta có thể góp ý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới các cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh chương trình phù hợp hơn Hơn nữa, không chỉ cho người dân tường tận về thẩm quyền cơ quan ban hành, các văn bản được ban hành… mà còn vấn đề kinh phí để tiến hành xây dựng văn bản cũng được làm rõ Đây thực sự là vấn đề khá nhạy cảm nhưng cũng thật cần thiết trong các việc có tính chất công như vậy

Ngoài ra, trong Luật BHVBQPPL còn quy định các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội

có quyền trình dự án luật quy định tại Điều 87 – Hiến pháp đều được gửi đề nghị xây dựng, luật, pháp lệnh lên Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ (Điều 23 – Luật BHVBQPPL) Tuy nhiên, luật định như vậy không chỉ riêng những chủ thể nhất định được trao quyền trình những dự án, sáng kiến về xây dựng văn bản pháp luật Các tổ chức, cá nhân khác cũng đều có quyền thể hiện những ý kiến chủ quan của mình một cách gián tiếp (qua các Đại biểu Quốc hội) hoặc trực tiếp (đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng) nhằm thể hiện tiếng nói, ý chí, nguyện vọng cũng như những đánh giá nhận xét của mình trong việc xây dựng và ban hành VBQPPL Từ đây có thể thấy tính công khai, minh bạch được thể hiện ở ngay khâu sáng kiến pháp luật của mọi cá nhân,

tổ chức

- Giai đoạn soạn thảo VBQPPL: sau khi xây dựng và thông qua chương trình xây dựng

VBQPPL, các chủ thể có thẩm quyền sẽ được giao nhiệm vụ thực hiện công việc soạn thảo Trong giai đoạn này, việc khảo sát, đánh giá tình hình thực tiễn có liên quan tới chủ đề văn bản là rất cần thiết Tùy thuộc vào tính chất và mức độ quan trọng của từng vấn đề cụ thể mà ban soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo để tham khảo ở các hình thức và phạm vi khác nhau một cách hợp lí; sau đó được thẩm định, thẩm tra kĩ lưỡng để hoàn thiện dự thảo Đặc biệt là quy định toàn bộ văn bản dự thảo phải được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội, Chính phủ, hoặc cơ quan chủ trì soạn thảo với thời gian là ít nhất 60 ngày ( khoản 1 – Điều 53, khoản 2 –

Trang 4

Điều 61, Điều 62, khoản 2 –Điều 67, khoản 2 – Điều 68, khoản 2 – Điều 69, khoản 2 – Điều 70, khoản 2 – Điều 72, khoản 3 – Điều 73, khoản 3 – Điều 74) Đối tượng cần lấy ý kiến là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc ban hành , trình, thẩm định, thẩm tra văn bản; những cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành văn bản; các nhà khoa học, nhà quản lí có kinh nghiệm trong việc soạn thảo văn bản và trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến nội dung dự thảo

Khoản 4 Điều 33 – Luật BHVBQPPL quy định về chủ thể có thẩm quyền tiến hành lấy

ý kiến: “Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về dự án, dự thảo; tổng hợp và

nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý;”

Điều 4 của Luật BHVBQPPL, Điều 4 của Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy

ban nhân dân đã quy định cụ thể về đối tượng được góp ý kiến là “Mặt trận tổ quốc Việt Nam và

các tổ chức thành viên, tổ chức khác, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân có quyền đóng góp ý kiến về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”.

Việc lấy ý kiến này tuy chỉ có giá trị tham khảo nhưng nó cũng là cơ sở để đảm bảo tính

hợp lí đối với đối tượng thi hành Vì vậy, khoản 3 Điều 4 Luật BHVBQPPL đã quy định “ Ý kiến

tham gia về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lí dự thảo”

Ngoài ra, trong các công đoạn khác của soạn thảo, tính công khai, minh bạch cũng xuyên suốt:

+ Phân tích chính sách pháp lí, đánh giá dự báo tác động các VBQPPL có liên quan tới dự

án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết: hoạt động này đòi hỏi tìm hiểu mọi khía cạnh ở vấn đề đang được xem xét, là hành động thăm dò phản ứng của các đối tượng sẽ chịu tác động, thực trạng nền kinh tế - xã hội, nhu cầu quản lí từ phía Nhà nước… Do đó, sự kết hợp giữa các thành phần, lực lượng trong cơ quan nhà nước lẫn quần chúng nhân dân sẽ giúp công việc soạn thảo văn bản trở nên “nhẹ nhàng” hơn, nhanh chóng hơn, tiết kiệm chi phí Và đặc biệt là các công việc có tính chất công như thế này trở nên dân chủ, công khai, gần gũi với người dân hơn

+ Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo: công việc khảo sát, đánh giá này giúp xác định đúng đối tượng điều chỉnh, đúng hướng, mục tiêu tác động của VBQPPL Tham gia hoạt động này càng cần nhiều nhóm đối tượng tham gia càng tốt, bởi sự đa dạng các nhóm đối tượng tham gia tranh luận đánh giá, khảo sát thì càng đưa ra nhiều ý kiến khác nhau mang tính khách quan nhiều hơn cho việc xây dựng văn bản Qua đó mới dễ dàng thấy được thực trạng, diễn biến phức tạp của các nhóm quan hệ trong xã hội như thế nào

- Giai đoạn thẩm tra, thẩm định VBQPPL: là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền của Nhà

nước xem xét toàn diện dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL Ở giai đoạn này, sự tham gia có mặt của cơ quan chuyên môn là điều cực kì quan trọng bằng những hoạt động nghiệp vụ có tính chuyên môn, khoa học cao, các cơ quan này thẩm tra, thẩm định văn bản đảm bảo tính hợp pháp, hợp lí, chuẩn mực với thực tiễn và với những quy định về hình thức, nội dung, thẩm quyền, trình tự, thủ tục của pháp luật Các đối tượng quần chúng nhân dân cũng có thể tham gia nhưng với vai trò là tham vấn, phản biện những vấn đề cơ bản có thể qua hình thức tọa đàm trực tiếp,…

Trang 5

Với hoạt động thẩm tra luật, pháp lệnh: Ủy ban pháp luật hoặc là sự kết hợp giữa Ủy ban của Quốc hội và Hội đồng dân tộc với Ủy ban pháp luật tiến hành thẩm tra (Điều 25 – Luật BHVBQPPL)

Còn đối với hoạt động thẩm tra các các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết được Luật BHVBQPPL dành hẳn Mục 3 khá chi tiết bao gồm: Điều 41 - Thẩm tra của Hội đồng dân tộc

và các Uỷ ban của Quốc hội, Điều 42 - Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để thẩm tra, Điều 43 Nội dung thẩm tra , Điều 44 Phương thức thẩm tra, Điều 45 -Báo cáo thẩm tra, Điều 46 - Trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra để bảo đảm tính

hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống

pháp luật, Điều 47 - Trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra việc lồng

ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

Về hoạt động thẩm định dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình: Bộ tư pháp thẩm định hoặc Bộ trưởng Bộ tư pháp thành lập Hội đồng thẩm định (đại diện các cơ quan hữu quan, các chuyên gia, nhà khoa học) đối với những dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo (Điều 36 – Luật BHVBQPPL)

Tuy nhiên, trong trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn thì :

“a) Cơ quan chủ trì soạn thảo không nhất thiết phải thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên

tập để soạn thảo mà có thể trực tiếp tổ chức việc soạn thảo;

b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự thảo văn bản;

c) Cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản ngay sau khi nhận được

hồ sơ thẩm định; cơ quan thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản ngay sau khi nhận

được hồ sơ thẩm tra.” (khoản 3 - Điều 75 – Luật BHVBQPPL).

Thêm vào đó là sự minh bạch hóa, công khai hoạt động thẩm tra qua hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án, dự thảo (Điều 41 – Luật BHVBQPPL)

Như vậy, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dự thảo có thể được thẩm định, thẩm tra một hoặc nhiều lần; có thể do một hay nhiều cơ quan cùng thực hiện; có thể tiến hành độc lập hay trong sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng

- Giai đoạn xem xét, thông qua VBQPPL: sau khi dự thảo được hoàn thiện đã có báo cáo

thẩm tra, thẩm định, ban soạn thảo phải có văn bản trình dự thảo, sau đó gửi hồ sơ dự thảo đến cơ quan ban hành để xem xét và thông qua dự thảo Việc xem xét dự thảo VBQPPL có thể được tiến hành một hay nhiều lần tùy thuộc vào tính chất nội dung của từng dự thảo

“Điều 48 Thời hạn Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự

thảo nghị quyết của Quốc hội

Chậm nhất là bảy ngày, trước ngày bắt đầu phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để cho ý kiến.

Trang 6

Dự thảo văn bản, tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Quốc hội.

Bên cạnh đó, tại Mục 5 của Luật BHVBQPPL cũng quy định khá cụ thể mức thời hạn để cơ

quan có thẩm quyền xem xét dự thảo như: chậm nhất 20 ngày với trường hợp Quốc hội xem xét dự

án luật, dự thảo nghị quyết tại một kì họp trước ngày khai mạc kì họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự

thảo phải được gửi đến đại biểu Quốc hội, … (khoản 1 - Điều 51 Luật BHVBQPPL), chậm nhất

20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội trong trường hợp UBTVQH xem xét (khoản 2

– Điều 51 Luật BHVBQPPL)

Về việc thông qua dự án, dự thảo: công việc này phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định

tùy từng trường hợp (cụ thể tại Mục 3 Luật BHVBQPPL với các Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều

77) Kèm theo đó là hồ sơ dự án, dự thảo trình lên Quốc hội và UBTVQH thông qua bao gồm: báo

cáo giải tình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và dự thảo đã được chỉnh lý

Tóm lại, đảm nhận công việc xem xét, thông qua VBQPPL là trách nhiệm của Quốc hội và

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Tính công khai, minh bạch được thấy rõ qua những quy định chính xác mức thời hạn xét xét các dự thảo Điều này làm tránh tình trạng bỏ bê, xao nhãng ảnh hưởng đến tiến độ công việc ban hành văn bản

- Giai đoạn công bố VBQPPL: văn bản sau khi được thông qua cần được ban hành bằng

cách công bố rộng rãi với những hình thức khác nhau (đăng công báo ở cấp trung ương và cấp tỉnh, đăng toàn văn trên các báo hoặc đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ

sở cơ quan ban hành, gửi trực tiếp qua mạng internet,… ) để nhân dân và những đối tượng có liên quan được biết và thực hiện Việc công bố VBQPPL là cơ chế hữu hiệu để bảo đảm tính công khai, minh bạch của pháp luật:

“Điều 84 Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của

cơ quan ban hành văn bản chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và phải đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.”

Như vậy, các VBQPPL khi được kí ban hành hoặc công bố thì phải được thông báo rộng rãi cho toàn thể nhân dân được biết Các văn bản pháp luật đều phải được đăng công báo, văn bản mà không đăng công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ các trường hợp thuộc bí mật nhà nước và một số các trường hợp khác (Khoản 11 điều 78 luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008) Trách nhiệm của cơ quan ban hành VBQPPL là trong thời hạn hai ngày làm việc, kể từ ngày công

bố hoặc ngày kí ban hành thì phải gửi văn bản tới cho cơ quan đăng công báo Và nhiệm vụ của cơ quan đăng công báo là đăng toàn văn VBQPPL trên công báo chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày nhận được văn bản Hay đối với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh thì phải được đăng trên báo cấp tỉnh chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày HĐND thông qua hoặc ngày mà chủ tịch UBND

kí ban hành VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện phải được niêm yết chậm nhất là 3 ngày kể

từ ngày HĐND thông qua hoặc chủ tịch UBND kí ban hành Hoạt động này nhằm mục đích cung cấp các thông tin cần thiết về văn bản như: thời điểm có hiệu lực, cách thức xử sự mà văn bản quy định… để có thể thực hiện tốt văn bản này trong thực tiễn Đây là cơ sở để cho nhân dân thực hiện

Trang 7

Nguyên tắc đảm bảo công khai của hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL còn được thể hiện ở một số các đặc điểm sau đây: Pháp luật quy định VBQPPL còn được công khai hiệu lực cuả

văn bản Điều 80 Luật BHVBQP:“ Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lí văn bản quy

phạm pháp luật phải được đăng công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng” Điều

52 Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định: Văn bản đình chỉ thi hành, văn bản xử lí đối với văn bản trái pháp luật của HĐND, UBND cấp tỉnh phải được đăng công báo cấp tỉnh và đưa tin lên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương Đối với văn bản đình chỉ thi hành, văn bản xử lí văn bản bản trái pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện, cấp

xã thì phải được niêm yết và đưa tin lên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.Việc quy định này nhằm mục đích là công khai các văn bản bị đình chỉ, lí do đình chỉ và cũng để cung cấp thời điểm bị đình chỉ…Với hoạt động này thì tạo cơ hội để nhân dân có thể nắm rõ hiệu lực của các VBQPPL

3/ Ý nghĩa và thực tiễn của nguyên tắc công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành vă bản quy phạm pháp luật.

Chiếm vai trò là một trong những nguyên tắc truyền thống trong ngành khoa học pháp lí nói chung cũng như trong lĩnh vực hành chính nói riêng – xây dựng văn bản pháp luật, nguyên tắc công khai, minh bạch đã thể hiện được bản chất của nhà nước ta, hướng tới khẳng định quyền làm chủ của nhân dân trên cả phương diện xây dựng, kiện toàn hệ thống pháp luật Việt Nam Công khai, minh bạch hóa trong xây dựng và ban hành VBQPPL cung cấp các thông tin cần thiết để nhân dân nắm bắt, tiếp cận được các quy định của pháp luật, từ đó Nhà nước gián tiếp tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, góp phần làm cho pháp luật trở nên khả thi trong thực tế Nếu như việc xây dựng và ban hành VBQPPL thuộc hoàn toàn thẩm quyền về phía cơ quan Nhà nước thì hệ thống pháp luật của chúng ta sẽ đi lệch hướng với mục đích, tôn chỉ của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Tức là Nhà nước khi đó chỉ hoạt động, điều chỉnh và quản lí xã hội bằng “ độc quyền” ý chí của Nhà nước, mất đi tính dân chủ, xã hội và sự công bằng cho phía người dân – đối tượng chịu tác động trực tiếp từ hệ thống pháp luật

Hiện nay, cơ bản nguyên tắc công khai, minh bạch đã được đảm bảo trong quá trình xây dựng và ban hành VBQPPL Nhiều dự án, dự thảo văn bản đã được tiến hành lấy ý kiến từ phía quần chúng nhân dân (đại diện là các Đại biểu Quốc hội) và đã tiếp thu được nhiều ý kiến tích cực như dự thảo hiến pháp 1992; nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của hiến pháp 1992; bộ luật hình sự; bộ luật hôn nhân gia đình…

Tuy nhiên việc thực hiện nguyên tắc này vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định Luật định đảm bảo sự công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng VBQPPL nhưng lại trừ những văn bản chứa những nội dung bí mật Nhà nước Vậy đây có phải là khoảng trống là luật đã bỏ qua? Mặt khác, việc trưng cầu, lấy ý kiến của quần chúng nhân dân dường như chỉ là hình thức, được thừa nhận trên giấy tờ, còn trên thực tế nhiều khi các VBQPPL được xây dựng, ban hành chưa chắc người dân đã biết, thậm chí là được tiếp cận Ngôn ngữ văn bản QPPL đôi khi còn diễn đạt khó hiểu do đa nghĩa, tối nghĩa,…Ngoài ra có một thực trạng cũng cần phải lưu tâm là có một số lượng lớn các văn bản do bộ, cơ quan ngang bộ chưa được đăng công báo mặc dù nó đã có hiệu lực pháp luật Theo số liệu của năm 2001 thì bộ xây dựng đã ban hành 44 văn bản nhưng lại chỉ có 5 văn bản được đăng công báo; bộ tài chính đã ban hành 265 văn bản nhưng lại chỉ có 124 văn bản đăng

Trang 8

công báo Đây là những thực trạng thể hiện nguyên tắc này trong thực tế chưa được các chủ thể tôn trọng và thực hiện Để khắc phục những hạn chế này thì cần phải tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để nhân dân và chính những cơ quan ban hành văn bản có cách nhận thức đầy đủ

về các hoạt động nhằm đảm bảo nguyên tắc công khai Mặt khác cũng cần có những quy định pháp luật cụ thể, chi tiết và hợp lí quy định về những hoạt động đảm bảo nguyên tắc công khai trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

4/ Ví dụ thể hiện nguyên tắc công khai trong xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

Ngày 21/6/2012, tại Hà Nội, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức cuộc họp với một số Tổ chức Hội viên nhằm lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Thông tư của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức lại

tổ chức tín dụng Tham dự và chủ trì cuộc họp có bà Trần Thị Hồng Hạnh-Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Về phía cơ quan soạn thảo có ông Nguyễn Kiến Quân-Phó Vụ trưởng Vụ 5,

Cơ quan Thanh tra Giám sát Ngân hàng-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tại cuộc họp, đại diện các tổ chức Hội viên Hiệp hội Ngân hàng đã tập trung trao đổi, thảo luận về một số điều, khoản trong dự thảo Thông tư như: giải thích từ ngữ; công bố thông tin sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức pháp lý; điều kiện để được sáp nhập, hợp nhất; hồ sơ đề nghị sáp nhập, hợp nhất tổ chức tín dụng; trình tự, thủ tục sáp nhập, hợp nhất tổ chức tín dụng; điều kiện

để ngân hàng 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính

vi mô chuyển đổi từ hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và ngược lại; điều kiện để tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước chuyển đổi từ hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên sang hình thức công ty cổ phần…

Theo bà Trần Thị Hồng Hạnh, cuộc họp đã diễn ra cởi mở với sự trao đổi thẳng thắn, có tính xây dựng cao giữa đại diện các Tổ chức Hội viên và đại diện Cơ quan soạn thảo, qua đó đã làm rõ hơn rất nhiều điều, khoản trong dự thảo, đồng thời có nhiều ý kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều trong dự thảo phù hợp với tình hình thực tế Trên cơ sở các văn bản góp ý cùng với những ý kiến đóng góp trực tiếp tại cuộc họp của các Hội viên, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam sẽ tập hợp và có văn bản gửi cơ quan soạn thảo nhằm góp phần giúp cơ quan soạn thảo sớm hoàn thiện nội dung dự thảo thông tư để trình Thống đốc ban hành

Kết thúc

Những phân tích trên đây đã phần nào thể hiện nguyên tắc đảm bảo công khai trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL Từ đó có thể thấy được vai trò của nguyên tắc này trong việc xây dựng và ban hành VBQPPL để có những biện pháp thích hợp thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này

Trang 9

Danh mục tài liệu tham khảo

1, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, nhà xuất bản công an nhân dân, 2008.

2, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008

3, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, 2004.

4, Khóa luận tốt nghiệp: Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Khương Thị Phương, Hà Nội, 2010.

5, Mai Thị Kim Huế, “ Một số điểm mới quan trọng của Luật BHVBQPPL năm 2008”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1, 2009.

6, Lưu Tiến Dũng, “Tính công khai, minh bạch trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 3, 2005.

Ngày đăng: 25/12/2015, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w