Giáo dục THCS là một trọng điểm chiến lược trong chiến lược pháttriển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới, là mắc xích quan trọng trong hệthống giáo dục phổ thông; giáo dục THCS còn có
Trang 1Mỹ đặt trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học Nhật Bảncoi giáo dục là nền tảng của quốc gia Trung Quốc coi giáo dục là mộttrong những trọng điểm chiến lược của phát triển kinh tế, đặc biệt nhấnmạnh đến giáo dục cơ sở ở các trường và giáo dục dạy nghề
Ở Việt Nam, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đãkhẳng định mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020 Sự phát triển đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó đang đặt ranhững vấn đề cấp bách cho ngành giáo dục Từ đó Đảng ta có những Nghịquyết riêng về giáo dục như Nghị quyết TW 2 khóa VIII đã nêu: Cần cóquyết tâm cao, suy nghĩ lớn về một chiến lược phát triển giáo dục và đàotạo, trong đó một trọng điểm là những định hướng cơ bản về phát triển giáodục Trung học cơ sở (THCS) Tư tưởng chiến lược của Đảng ta trong thời
kỳ này là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, coi giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục- đào tạo gắn với nhu cầu phát triểnkinh tế -xã hội, những tiến bộ khoa học- công nghệ và củng cố quốc phòng
an ninh
Hội nghị lần thứ IX BCH Trung ương khóa IX tiếp tục khẳng định :
“Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàngđầu; quán triệt sâu sắc hơn nữa ở các cấp các ngành và trong toàn xã hội vềvai trò động lực của các yếu tố văn hoá, xã hội đối với sự phát triển nhanh,bền vững của đất nước” Đến Đại hội X tiếp tục khẳng định: “ Nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học”
Trong thời kỳ đổi mới, giáo dục nước ta đã có những tiến bộ đáng
kể, qui mô giáo dục đang phát triển, chất lượng giáo dục có những mặt tiến
bộ, nhiều nhân tố mới trong giáo dục xuất hiện làm tiền đề cho sự pháttriển trong thời gian tới Song giáo dục cũng đang đứng trước những tháchthức của sự phát triển, đòi hỏi những giải pháp mang tầm chiến lược, thíchứng với yêu cầu phát triển của đất nước đến năm 2020 Mâu thuẫn cơ bảnbao trùm toàn bộ hoạt động giáo dục là mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triểnnhanh về qui mô giáo dục, gấp rút nâng cao chất lượng, thực sự trở thànhnhân tố quan trọng phát triển kinh tế-xã hội với khả năng và điều kiện đểphát triển
Trang 2Để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển, ngànhgiáo dục đưa ra hệ thống giải pháp chiến lược Một trong những giải pháp
đó là đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục Đổimới là công việc thường xuyên tất yếu của bất kỳ tổ chức nào, ngành nàonếu muốn phát triển Để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trườngcần phải kết hợp chặt chẽ giữa nội dung lý luận chỉ đạo về phương phápdạy học với việc áp dụng những nội dung đó vào thực tiễn các tiết dạytrong quá trình lên lớp Đây là hai vấn đề quyện chặt vào nhau không thểtách rời, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh
Giáo dục THCS là một trọng điểm chiến lược trong chiến lược pháttriển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới, là mắc xích quan trọng trong hệthống giáo dục phổ thông; giáo dục THCS còn có ý nghĩa cực kỳ quantrọng đối với lứa tuổi 11- 15, một lứa tuổi mang những nét đặc biệt về pháttriển sinh học, tâm lý và xã hội của mỗi con người, hình thành và phát triểnnhân cách, con người được phát triển toàn diện về tinh thần - đạo đức, trítuệ thẩm mỹ, sức khỏe và lao động, đáp ứng yêu cầu xây dựng con ngườimới phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước với mục tiêu “Dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đang đặt ra và đòihỏi mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội nói chung và ngành giáo dục nói riêng, không ngừng nâng cao chấtlượng toàn diện và hiệu quả công tác
Vì vậy tổ chức thực hiện nội dung chỉ đạo về đổi mới phương phápdạy học ở trường THCS vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của người giáoviên Do đó tôi nghiên cứu và chọn đề tài “ Sự kết hợp đúng đắn mối quan
hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương phápdạy học ở trường THCS Nguyễn Huệ từ năm 2004-2009” với mục đíchđánh giá lại thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trườngTHCS Nguyễn Huệ trong thời gian qua Trên cơ sở đó, tìm ra giải phápthiết thực nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học ở trường
Đề tài được hình thành với những nội dung chính sau:
- Cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễntrong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS
- Thực trạng của sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trườngTHCS Nguyễn Huệ từ năm 2004 - 2009
Trang 3Phương pháp khoa học đóng vai trò quan trọng, bất cứ một công việc
gì nếu có phương pháp đúng và khoa học bao giờ cũng đem lại hiệu quảtốt Nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là mộttrong những nguyên tắc cơ bản mà chúng ta cần phải vận dụng vào trongcông tác và đem lại hiệu quả cao Vậy thực tiễn là gì? Lý luận là gì? Chúng
có mối quan hệ với nhau như thế nào?
a Thực tiễn:
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bảnkhông chỉ của lý luận nhận thức macxít nói riêng, mà còn của toàn bộ triếthọc Mác-Lênin nói chung C.Mác và Ph.Aêngghen đã có công lớn trongviệc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, hai ông đã thực hiện một bướcchuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thứcnói riêng Vậy theo quan điểm duy vật biện chứng, thực tiễn là toàn bộnhững hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của conngười nhằm cải biến tự nhiên và xã hội
Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, màchỉ là những hoạt động vật chất Trong hoạt động thực tiễn, con người sửdụng những phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tácđộng vào tự nhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhucầu mình Bằng hoạt độïng thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sựvật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến dổi hình ảnh của sự vật trongnhận thức Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động, sángtạo, là hoạt động đối tượng hóa, là quá trình chuyển hóa cái tinh thần thànhcái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tácgiữa chủ thể vàkhách thể, trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể, trên cơ sởnhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nốiliền ý thức con người với thế giới bên ngoài
Thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặctrưng chỉ cho con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằmthích nghi với thế giới bên ngoài một cách bị động, thì con người nhờ vàohoạt động thực tiễn- như là hoạt động có ý thức, có mục đích của mình màcải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủdộng, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới
Ngay từ buổi bình minh, con người đã tiến hành lao động sản xuất
để có cái ăn, cái mặc, cái ở để thích nghi với môi trường một cách chủđộng Và thông qua hoạt động thực tiễn, bản thân con người nhận thức thếgiới bằng cảm tính, dần dần chính thông qua hoạt động thực tiễn, con ngườingày càng hoàn thiện hơn cả về thể chất lẫn năng lực trí tuệ, năng lực tưduy của con người phát triển, con người có khả năng khái quát những kinhnghiệm thực tiễn thành lý luận Và cũng chính trong hoạt động thực tiễncon người chế tạo ra công cụ lao động, phương tiện vật chất ngày càng hiệnđại hơn giúp con người ngày càng nhận thứ c sâu sắc hơn về thế giới hiệnthực
Trang 4Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càngphong phú, song có ba hình thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạtđộng chính trị -xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Ba hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn có mối quan hệ chặtchẽ Trong đó hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản nhất quyếtđịnh sự tồn tại và sự phát triển của xã hội loài người và ảnh hưởng đến hìnhthức biểu hiện khác của hoạt động thực tiễn
Hoạt động chính trị - xã hội là hình thức cao nhất của hoạt động thựctiễn Thông qua hoạt động chính trị-xã hội làm các mối quan hệ xã hội thayđổi, đặc biệt là đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng làđộng lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Hoạt động quan sát thực nghiệm khoa học, đây là hình thức đặc biệt.Hoạt động thực tiễn được tiến hành trong môi trường đặc biệt nhưng kếtquả của hình thức này có vai trò to lớn trong quá trình cải tạo hiện thực.Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan trọng do sự phát triểnmạnh mẽ của cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại
Song hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động nguyên thủy nhất vàtồn tại một cách khách quan trong đời sống của con người và nó tạo ranhững điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đối với sự sinh tồn vàphát triển của con người và xã hội loài người Các hình thức hoạt độngkhác suy cho cùng đều xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụcho hoạt động sản xuất của con người
Tuy nhiên, các hoạt động khác của thực tiễn không phụ thuộc mộtcách thụ động, một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất Ngược lại, chúng
có thể tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển.Chẳng hạn, nếu hoạt động chính trị xã hội mang tính chất tiến bộ, cáchmạng và nếu hoạt động khoa học thực nghiệm mà đúng đắn thì tạo đà chohoạt động sản xuất phát triển Còn nếu ngược lại chẳng những kìm hãm sựphát triển của sản xuất, mà cả sự phát triển của xã hội
Chính sự tác động lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đólàm cho thự c tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vaitrò quan trọng đối với nhận thức nói chung, lý luận nói riêng Thực tiễn là
cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức nói chung, của lý luận nói riêng.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
b Lý luận :
Lý luận là sự khái quát những tri thức kinh nghiệm thực tiễn, sựtổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trìnhhoạt động lịch sử của con người bằng một hệ thống các phạm trù, kháiniệm, nguyên lý, những quy luật phản ánh sự vận động phát triển của sự vậthiện tượng
Lý luận là sản phẩm cao của quá trình nhận thức Quá trình nhậnthức chân lý, nhận thức thực tại khách quan được V.I.Lênin khái quát như
Trang 5sau: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừutượng đến thực tiễn”.
Quá trình nhận thức diễn ra ở hai giai đoạn:
• Giai đoạn 1:
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quátrình nhận thức, gắn liền với thực tiễn Ở giai đđoạn này, nhận thức của conngười phản ánh trực tiếp khách thể thông qua các giác quan được biểu hiệndưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác, và biểu tượng
- Cảm giác: là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồngốc của mọi sự hiểu biết, là kết quả của sự tác động vật chất của sự vật vàocác giác quan của con người, là sự chuyển hóa năng lượng kích thích bênngoài thành yếu tố của ý thức Ở hình thức này chỉ mới phản ánh nhữngthuộc tính, những mặt riêng lẻ của sự vật hiện tượng
- Tri giác: là sự tổng hợp của nhiều cảm giác, nó đem lại hình ảnhtương đối hoàn chỉnh hơn về sự vật Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảmgiác, là sự kết hợp của nhiều cảm giác Nó đem lại cho chúng ta tri thức về
sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn
- Biểu tượng: là hình ảnh của sự vật được lưu giữ lại trong trí nhớ
Sự tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với sự vật, hiện tượng sẽ để lại cho chúng tanhững ấn tượng, những hình ảnh về sự vật, hiện tượng đó Những ấn tượng,những hình ảnh này đậm nét và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong ký ứccủa chúng ta khi có sự tác động, ngay cả khi sự vật không còn ở trước mặt,
đó là nhận thức lý tính
• Giai đoạn 2:
Tư duy trừu tượng ( nhận thức lý tính) là giai đoạn tiếp theo cao hơn
về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tínhvới sự giúp đỡ của các phương pháp tư duy lô gích như khái quát hóa, trừutượng hóa, so sánh, tổng hợp, phân tích…
Nhận thức lý tính được biểu hiện dưới ba hình thức cơ bản: kháiniệm, phán đoán, suy lý
- Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánhnhững mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một nhóm các sựvật, các hiện tượng nào đó
Chúng có thể phản ánh khái quát, trừu tượng, gián tiếp sự vật, hiện tượngkhách quan, nhưng đi sâu vào nghiên cứu qui luật của sự vật hiện tượng,phát triển của sự vật hiện tượng Những hình thức này có mối liên hệ biệnchứng, tác động, quy định lẫn nhau
Trang 6Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn khác nhau vềchất, nhưng lại thống nhất với nhau, liên hệ, bổ sung cho nhau trong quátrình nhận thức của con người Nhận thức cảm tính là cơ sở cho nhận thức
lý tính, không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính Nhờ
có nhận thức lý tính mà con người mới đi sâu nhận thức được bản chất của
sự vật, hiện tượng, làm cho nhận thức của con người sâu sắc hơn, đầy đủhơn, đúng đắn hơn
c Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn:
Các hình thức hoạt động thực tiễn nêu trên chúng có mối quan hệ mậtthiết với nhau, trong đó hoạt động lao động sản xuất cho xã hội là cơ bảnnhất Thực tiễn mang tính lịch sử xã hội, nó không phải là hoạt động củamột cá nhân đơn lẻ mà là hoạt động của xã hội loài người
Thực tiễn có vai trò to lớn đối với nhận thức, đó là cơ sở, động lựcchủ yếu và trực tiếp của nhận thức, muốn sống, muốn tồn tại con người làm
ra của cải vật chất và cải tạo xã hội Nó buộc con người phải nhận thức thếgiới xung quanh Cho nên Ph.Aêng-ghen đã chỉ rõ: “…Chính việc người tabiến đổi tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cáchgiới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất của tư duy con người và trí tuệ conngười đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên” Thực tiễn là mục đích của nhận thức chân lý: bằng hoạt động thực tiễn
và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới kháchquan, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, tính chất, quy luật để conngười nhận thức, từ đó tri thức của loài người ngày càng phát triển Conngười sử dụng các tri thức đó làm phương hướng, giải pháp để tiếp tục chỉđạo các hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao hơn, tốt hơn
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Thực tiễn luôn luôn vậnđộng, biến đổi, phát triển, luôn đòi hỏi được khái quát, tổng kết để làm giàukinh nghiệm, phát triển lý luận, định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếptheo Các tri thức kinh nghiệm đó phải được thực tiễn khẳng định, đánh giá.Trên cơ sở ấy, thực tiễn thúc đẩy cho lý luận và khoa học phát triển Chúng
ta cần quán triệt quan điểm thực tiễn, phải đi sâu, đi sát thực tiễn và tăngcường tổng kết thực tiễn V.I.Lê-nin đã chỉ rõ: “Quan điểm về đời sống, vềthực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.Quan điểm này đòi hỏi:
- Phải xuất phát từ thực tiễn và dựa trên cơ sở thực tiễn để nhận thức
lý luận và có hành động đúng đắn
- Phải coi trọng thực tiễn, thường xuyên quan tâm đến thực tiễn và chỉ
có thông qua thực tiễn thì tri thức của con người mới phát huy sức mạnh,
sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa và tri thức lý luận mới được biểuhiện, được kiểm nghiệm và được chứng minh, được bổ sung phát triển vềnhu cầu nhận thức lý luận đặt ra
- Phải tổ chức nghiên cứu thực tiễn một cách có hệ thống, tiến hànhtổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc
Trang 7Nhận thức của con người diễn ra trên cơ sở thực tiễn và không ngừngvận động, phát triển một cách biện chứng V.I.Lê nin đã chỉ ra con đườngbiện chứng của sự nhận thức chân lý như sau: “ Từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đườngbiện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại kháchquan”
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau Thựctiễn có vai trò quyết định lý luận vì thực tiễn là cơ sở, động lực, nguồn gốc,mục đích của nhận thức nói chung, lý luận nói riêng Thực tiễn còn là tiêuchuẩn của chân lý, và thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vậtchất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh để cải tạo hiện thực
Lý luận được hình thành và phát triển từ thực tiễn, được thực tiễnkiểm nghiệm chứng minh Trong thực tiễn, lý luận được hiện thực hóa, làkim chỉ nam cho mọi hoạt động thực tiễn V.I.Lê nin đã chỉ rõ: “ …conngười chứng minh bằng thực tiễn của mình sự đúng đắn khách quan củanhững ý niệm, khái niệm, tri thức của mình, của khoa học mình”
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là lý luận phù hợp với thựctiễn, tức là sự thống nhất giữa cái phản ánh và cái được phản ánh Tuy vậykhông phải ở đâu, lúc nào lý luận và thực tiễn cũng thống nhất, mà có lúc
nó mâu thuẫn với nhau
Sự mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn thể hiện ra khi thực tiễn khôngphù hợp, không phản ánh đúng đắn thực tiễn Vì thực tiễn luôn luôn vậnđộng phát triển không ngừng, lý luận đã trở nên không đầy đủ, không cònphù hợp hoặc trở nên lạc hậu, phải có lý luận mới hình thành Cứ như vậy
mà lý luận và thực tiễn cùng phát triển không ngừng
Lý luận có khả năng vượt trước, có thể là giả thiết, là tiên đoán khoahọc có tầm cỡ chỉ đạo thực tiễn rất xa, trở thành định hướng cho hoạt độngthực tiễn, như lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
là lý luận khoa học có giá trị hướng dẫn thực tiễn, là sự tổng hợp các trithức về tự nhiên, xã hội được tích lũy trong quá trình lịch sử của con người
Do vậy, chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn, nhận thức lýluận phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, coi trọng việctổng kết thực tiễn Đồng thời phải thấy rõ sự tác động trở lại của lý luận đốivới thực tiễn, bởi vì nếu lý luận phản ánh đúng thực tiễn, phù hợp với thựctiễn thì nó có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn và cải tạo thế giới kháchquan
Bác Hồ đã dạy: “Lý luận như kim chỉ nam, nó chỉ phương hướngcho chúng ta trong công việc thực tế, không có lý luận thì lúng túng nhưnhắm mắt mà đi…Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắtsáng, một mắt mờ…Mỗi cán bộ, đảng viên phải học tập lý luận, phải đem
lý luận áp dụng vào công việc thực tế…” Ngược lại, nếu lý luận không phùhợp với thực tiễn, không phản ánh đúng thực tiễn thì nó sẽ kìm hãm sự phát
Trang 8triển của xã hội, điều đó càng thể hiện nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa to lớn tronghoạt động thực tiễn và nhận thức khoa học Thực tiễn thì luôn vận độngbiến đổi không ngừng, nếu lý luận không được trau dồi thường xuyên thì sẽ
bị tụt hậu, thua kém
Do vậy, vận dụng nguyên lý: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợpvới lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội phải được thườngxuyên áp dụng vào thực tế công tác giáo dục Đồng thời cần chống khuynhhướng tách rời lý luận với thực tiễn, chống giáo điều, bắt chước, rậpkhuông, máy móc; cần phê phán thái độ lười học tập, lười suy nghĩ bởi nó
là biểu hiện của sự tha hóa, thụt lùi của con người trong điều kiện hội nhậpkinh tế thế giới hiện nay
Cũng như các khoa học khác, học thuyết chủ nghĩa Mác- Lê nin làchân lý khách quan, là lý luận cách mạng khoa học, vừa có tính tương đốivừa có tính tuyệt đối, gồm những nguyên lý cơ bản cần hiểu sâu sắc, nắmvững thực tế để vận dụng như là định hướng, phương hướng hoạt độngthực tiễn mà nhận thức một cách đúng đắn Ngày nay, trong thời kỳ xâydựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, nhờ vận dụng sángtạo, đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, chúng ta
đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, đưa nước ta ra khỏi cuộckhủng hoảng, lạm phát; từng bước ổn định và phát triển; tạo cơ sở, tiền đềcho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước
Như vậy, lý luận có cơ sở từ thực tiễn và phản ánh những vấn đềsinh động của thực tiễn Tất nhiên, có thể có lý luận không xuất phát trựctiếp từ thực tiễn, nhưng xét đến cùng nó phải bắt nguồn từ thực tiễn
Mặc dù lý luận phụ thuộc vào thực tiễn, do thực tiễn quy định,nhưng lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn Cho nên, nó có thểtác động trở lại thực tiễn tích cực hoặc tiêu cực Nếu lý luận đúng đắn, khoahọc, nó sẽ có vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo cho hoạt động thực tiễncủa con người Lý luận đúng đắn còn góp phần giáo dục, thuyết phục, tậphợp quần chúng trong hoạt động thực tiễn của con người
2 Quan điểm của Đảng :
Đảng ta xác định : Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
hệ tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng
Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “ Công tác lý luận chưa theo kịp sựphát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng, chưa làm sáng tỏ nhiềuvấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới để phục vụ việc hoạch địnhchiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng cường sự nhất trí vềchính trị, tư tưởng trong xã hội”
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ: “ Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiêncứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới,bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung, phát triển
Trang 9đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với những khuynh hướng tưtưởng sai trái.”
Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động, nghĩa lànhận thức vấn đề gì luôn phải xuất phát từ thực tiễn; gắn bó, sâu sát với cơ
sở, phong trào; coi trọng hiệu quả tổ chức thực tiễn; học tập lý luận phảiliên hệ với thực tế; coi trọng tổng kết thực tiễn
Phải bổ sung lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước bằng con đường tổng kết thực tiễn; chống các bệnh giáođiều, kinh nghiệm, chủ quan
Luôn lấy thực tiễn làm cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức vàlàm tiêu chuẩn cho chân lý Thực hiện tốt trên thực tế nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn; nói đi đôi với làm; học đi đôi với hành;thường xuyên học tập chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị để nângcao nhận thức, đổi mới nhận thức cho phù hợp với thực tiễn Kiên quyếtchống các bệnh bảo thủ, trì trệ, lạc hậu, sợ đổi mới
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn được biểu hiệntrong công tác là xuất phát từ quan điểm và phương pháp luận khoa học, nótrở thành một trong những nguyên tắc cơ bản Bác Hồ dạy: Lý luận phảiliên hệ với thực tiễn, lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông Thựctiễn mà không liên hệ với lý luận trở thành thực tiễn mù quáng Mặc khác,nếu coi trọng thực tiễn mà xem thường lý luận sẽ rơi vào chủ nghĩa kinhnghiệm, ngược lại đề cao lý luận xem nhẹ thực tiễn sẽ đi đến chủ nghĩagiáo điều Tất cả những biểu hiện nói trên là nguyên nhân dẫn đến sự sailầm, khuyết điểm Vấn đề này vẫn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến mỗihoạt động của chúng ta Đảng ta trong Đại hội X đã khẳng định: “…Vềgiáo dục và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa họccông nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” ( Nghị quyết Đại hội X trang34)
3 Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở trường THCS:
a Vị trí, vai trò của giáo dục THCS:
Quán triệt tư tưởng trên, Bộ Giáo dục-Đào tạo đã và đang triển khaimột cách mạnh mẽ trong tất cả các bậc học, trong đó giáo dục THCS đượcxác định là cơ bản, tiền đề, làm cơ sở nối tiếp giữa hai bậc học; Với mụctiêu chung của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển nănglực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào đời sống lao động, thamgia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thật vậy :
-THCS là cấp phổ cập trong những năm đầu thế kỷ 21 do yêu cầuthúc bách của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 10-THCS gắn chặt với địa bàn xã phường, gắn chặt với cộng đồng màhơn 70% là nông thôn sẽ có ý nghĩa quyết định đối với một nước nôngnghiệp như nước ta trên con đường công nghiệp hóa nông nghiệp và pháttriển nông thôn.
-THCS là mắc xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thônghoàn chỉnh Nó nối với tiểu học không chỉ vì đầu vào mà chính là ở chứcnăng phát triển con người bao gồm nhân lực
-THCS phát triển trong sự gắn bó chặt chẽ với địa phương và vùngkinh tế - xã hội Phải có quan điểm về vùng kinh tế -xã hội một cách sâusắc và quán triệt quan điểm đó trong mọi họat động giáo dục THCS, mọiquá trình giáo dục từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến tổ chức giáodục Giáo dục THCS phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương, vì
sự phát triển cộng đồng và bằng sức mạnh của cộng đồng Đặc biệt nhấnmạnh vai trò của giáo dục THCS đối với sự nghiệp công nghiệp hóa nôngnghiệp và phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn cónhững đặc điểm riêng về dân trí, về cơ cấu trình độ đội ngũ cán bộ ngườidân tộc
- Giáo dục THCS phải nhấn mạnh mục tiêu dân trí, mục tiêu nhânlực cho nhân lực địa phương và các ngành kinh tế
- Giáo dục THCS phải được xây dựng gắn bó chặt chẽ trong hệthống giáo dục thống nhất và hoàn chỉnh Giải quyết tốt mối quan hệ haiđầu: tiểu học và phổ thông trung học Giải quyết mối quan hệ giữa THCS
và trung học nghề (dạy nghề) Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tínhchỉnh thể của bản thân THCS (có mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổchức giáo dục riêng hoàn chỉnh) với các phân hệ ngang, dọc trong hệ thốnggiáo dục phổ thông, hệ thống giáo dục quốc dân và mối quan hệ giữa hệthống giáo dục và sự phát triển kinh tế - xã hội
-Trường THCS phải được xây dựng theo tinh thần thống nhất về mụctiêu và nội dung giáo dục, đa dạng về hình thức học tập và loại hình nhàtrường
b Mục tiêu của giáo dục THCS :
* Mục tiêu chung: Trên cơ sở củng cố và phát triển những kết quả
giáo dục tiểu học, tiếp tục phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản của nhân cách con người Việt Nam Xã hộichủ nghĩa có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu
về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung họcchuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
* Mục tiêu cụ thể : Học sinh phải đạt một số yêu cầu sau:
- Có những phẩm chất, nhân cách phù hợp mục tiêu giáo dục chung
và mức độ yêu cầu của bậc THCS Đó là yêu nước, hiểu biết và có niềm tin
về lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tự hào về truyền thốngdựng nước, giữ nước và văn hóa của dân tộc; quan tâm đến những vấn đềbức xúc của toàn cầu; tin tưởng và góp phần vào sự nghiệp “Dân giàu,
Trang 11nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh” thơng qua các hoạtđợng học tập, lao động, cơng ích xã hội; cĩ lối sống văn hĩa lành mạnh,cần kiệm, trung thực, cĩ lịng nhân ái, tinh thần hợp tác, ý thức trách nhiệm
ở gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội, tơn trọng giá trị lao động.Hành động theo quy định của nhà trường, cộng đồng nĩi riêng và luật phápnĩi chung
- Cĩ kiến thức phổ thơng cơ sở tương đối hồn chỉnh theo yêu cầucủa cấp học Hiểu được những nội dung cốt lỏi, cơ bản tiêu biểu nhất để từ
đĩ cĩ thể chiếm lĩnh được những nội dung khác của hệ thống khoa học xãhội và nhân văn, của khoa học tự nhiên và cơng nghệ; nắm được nhữngkiến thức cĩ ý nghĩa cá nhân và cộng đồng
- Bước đầu cĩ kỹ năng vận dụng kiến thức đã học và kinh nghiệmcủa bản thân để giải quyết những vấn đề thường gặp trong cuộc sống; cĩ kỹnăng lao động kỹ thuật đơn giản, biết thưởng thức và ham thích sáng tạocái đẹp trong cuộc sống và văn hố nghệ thuật; biết rèn luyện thân thể, giữgìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe; biết sử dụng hợp lý thời gian để cân bằnghoạt động trí lực và thể lực, giữa lao động và nghỉ ngơi; biết tự định hướngcon đường học tập và lao động tiếp theo
Để đạt được mục tiêu trên, ngành Giáo dục phải tiếp tục” đổi mớigiáo dục” nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Theo lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, phải luơn coi con người là vốn quý nhất, nguồn lực hàng đầu
cĩ tính chất quyết định của đất nước; cần coi trọng, nuơi dưỡng và pháttriển khơng ngừng Con người là khơng lặp lại, sự trưởng thành và pháttriển của mỗi con người đều được đánh dấu bằng một loạt những vấn đề vàđịi hỏi riêng, do đĩ phải tơn trọng tính cá thể và giá trị chân thực của từngngười Điều này lại càng cần được coi trọng trong việc giáo dục
- Điều 28 của Luật Giáo dục quy định về yêu cầu, nội dung, phươngpháp giáo dục phổ thơng là phải đảm bảo tính phổ thơng, cơ bản, tồn diện,hướng nghiệp và cĩ hệ thống; gắn với thực tiễn của cuộc sống, phù hợp vớitâm sinh lý của lứa tuổi học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học.Giáo dục THCS phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học,bảo đảm cho học sinh cĩ những hiểu biết phổ thơng cơ bản về tiếng Việt,tốn, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên,pháp luật, tin học, ngoại ngữ; cĩ những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹthuật và hướng nghiệp
c Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học:
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng Việt Nam đã tham gia vào Tuyên bố giơmChiêng (năm 1990), chương trình hành động Đacca (năm 2000) về giáo dụccho mọi người Năm 2003, Việt Nam đã cơng bố hành động quốc gia vềgiáo dục hành động cho mọi người Quy mơ giáo dục ngày càng được mởrộng và trình độ dân trí đã được nâng cao rõ rệt Đến nay, 90% dân số ViệtNam đã biết chữ Tuy nhiên ngành giáo dục vẫn cịn một số yếu kém về
Trang 12chất lượng và hiệu quả giáo dục, về trình độ quản lý nhà trường, cơ sở vậtchất kỹ thuật và trang thiết bị nhà trường, về chương trình, nội dung giảngdạy …
Để bắt kịp tình hình phát triển về các mặt kinh tế-khoa học-kỹ thuậtcủa con người trên thế giới, trong khu vực, đổi mới nội dung và phươngpháp dạy học là vấn đề tất yếu Những thành tựu của nền khoa học hiện đạiđang tác động mạnh vào tình hình nước ta vừa được gia nhập vào WTO,nhưng nền giáo dục của đất nước cũng còn những bất cập Phương phápdạy học truyền thống chưa phát huy được tính chủ động học tập của họcsinh mà các em chỉ biết học những gì mà giáo viên cung cấp và học thuộc Đổi mới về phương pháp, giáo dục phổ thông phải phát huy tính tíchcực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việctheo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác độngđến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đápứng được xu thế thời đại thì cần giáo dục thế hệ trẻ trở thành những conngười “…năng động, sáng tạo, có năng lực để giải quyết vấn đề” nhữngcon người tự tin, có trách nhiệm, hành động phù hợp với những giá trị nhânvăn và công bằng xã hội, cần thực hiện một kiểu dạy học “hướng tập trungvào học sinh trên cơ sở hoạt động của học sinh” hay “dạy học lấy học sinhlàm trung tâm”
Kiểu dạy học này làm thay đổi vai trò của người giáo viên, thay đổimối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Người giáoviên phải là người tổ chức ra những tình huống học tập có tác dụng kíchthích óc tò mò và tư duy độc lập, hình thành và phát triển những kỹ nănggiải quyết vấn đề, xúc tiến việc tự học để lĩnh hội kiến thức thông qua quansát, tư duy phê phán và hoạt động
Kiểu dạy học lấy học sinh làm trung tâm là quá trình gồm hai mặtquan hệ hữu cơ: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của họcsinh Người giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy với hai chức năngtruyền đạt và chỉ đạo tổ chức Người học sinh là đối tượng (khách thể) củahoạt động dạy, nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập với hai chứcnăng tiếp thu và tự tổ chức
Hoạt động học tập chỉ có thể đạt hiệu quả nếu học sinh tiến hành cáchành động học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác, với một động cơnhận thức sâu sắc Bằng hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành vàphát triển nhân cách của mình, không có ai có thể làm thay được
Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học đã có
từ lâu Ngay từ thế kỷ XVII A.Komenxi đã viết: “ Giáo dục có mục đíchđánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển đúng nhân cách…Hãytìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiềuhơn”
Trang 13Tuy nhiên thuật ngữ “ dạy học theo hướng tập trung vào học sinh”mới chỉ được sử dụng gần đây Nhưng cơ sở của tư tưởng hướng tập trungvào học sinh, những công trình của các nhà giáo dục tiên tiến của thế kỷ
XX trong đó có J.Dewey, C.Rogers, các tác giả này đã đề cao nhu cầu lợiích của người học, đề xuất tăng cường tính tích cực, vai trò tự nghiên cứuhọc tập của người học Như vậy, kiểu dạy học “hướng tập trung vào họcsinh” hay “ dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” lấy tiêu điểm của
nó là bản thân của người học sinh, chứ không phải ở người giáo viên.Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở nhu cầu, hứng thú, thói quen,năng lực của học sinh ở các trình độ khác nhau, nhằm làm cho học sinh lĩnhhội được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị cần thiết, pháthuy đầy đủ nhất năng lực của các em
Kiểu dạy học “hướng tập trung vào học sinh” là kiểu dạy học coitrọng quá trình học của học sinh Quá trình dạy được thiết kế nhằm tạo điềukiện để hiệu quả của quá trình học là cao nhất Như vậy trong kiểu dạy họcphát huy tính tích cực của học sinh hình thành và phát triển ở học sinhnhững kỹ năng học, cách học khiến học sinh tự học, đáp ứng những nhucầu và thách thức của nguồn thông tin kiến thức ngày càng phong phú
Vai trò của người giáo viên cũng có những sự thay đổi quan trọng.Hiện nay, vai trò của giáo viên là vai trò của người truyền đạt nội dunggiáo dục kiến thức cho học sinh Người giáo viên không chỉ là người truyềnthụ những tri thức riêng lẻ, mà giúp học sinh thường xuyên tiếp xúc vớinhững lĩnh vực học tập ngày càng rộng hơn, có quan hệ chặt chẽ với cuộcsống của các em
Trong quá trình học, người học tìm tòi, khám phá với sự giúp đỡ,hướng dẫn, cố vấn của giáo viên Với sự tham gia tích cực của học sinh vàoquá trình dạy học, với sự đề cao óc sáng tạo của học sinh, mối quan hệ đơntuyến và độc đoán giữa giáo viên và học sinh sẽ khó được duy trì Uy tín,quyền lực của giáo viên không còn dựa trên sự thụ động, sự thiếu hiểu biếtcủa học sinh, mà dựa trên năng lực của giáo viên góp phần vào sự pháttriển tối đa của học sinh
Như vậy, bên cạnh vai trò truyền đạt tri thức, người giáo viên còn làngười tổ chức, người hướng dẫn, người cố vấn cho học sinh trong việc họctập Vai trò của giáo viên không bị hạ thấp mà được nâng cao lên nhiều vớinhững yêu cầu cao hơn Người giáo viên hình thành ở học sinh cách họcđúng đắn, nhờ đó phát triển ở các em những kỹ năng cơ sở của quan sát,thu nhập thông tin, đưa ra những suy luận, phán đoán và kết luận
II Thực trạng của sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa
lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở trường THCS Nguyễn Huệ từ năm 2005-2008 :
1 Đặc điểm tình hình trường THCS Nguyễn Huệ –Diên Khánh
Trường THCS Nguyễn Huệ được hình thành từ năm học 1991, thuộcđịa phận xã Diên Phước, huyện Diên Khánh Trường cách thị trấn Diên
Trang 14Khánh 7 km về hướng Tây, cách trục lộ tỉnh lộ 2 khoảng 100m, trên đường
đi vào xã Diên Tân đến khu du lịch Giang-Bay
* Về xây dựng đội ngũ giáo viên:
Năm học 2007-2008:
Tổng số CB-GV-NV: 77 người Trong đó:
- BGH: 03-100% trên chuẩn (Đảng viên: 02) - TPT: 01 - Thiết bị: 01
- CNV: 06
- Giáo viên: 66 Tỉ lệ gv/lớp: 1,94 - Nữ: 48 - Tỉ lệ: 73 % Trong đó:
Biên chế Hợp đồng Đảng viên GV dạyCT mới Chất lượng giảng dạy(SL-%)
51-77,2
14-21,2
1 1,6 0
-* Về cơ sở vật chất kỹ thuật:
- Tổng số phòng học: 21 Trong đó Phòng cấp 4 bán kiên cố: 52,4% Phòng cấp 4 kiên cố : 10 - 47,6%
Số phòng chức năng: 11 Trong đó gồm các phòng Thư viện Vitính - Thiết bị – Truyền thống – Y tế - 02 phòng Bộ môn và 04 phòngHành chính
Tỉ lệ học sinh bình quân: 42 hs /lớp
- Trường được công nhận đạt trường chuẩn quốc gia năm 2008
* Về học sinh:
Số liệu năm học 2007-2008:
Mục Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 Tổng cộng
11 –4,0
36 – 2,87
Trang 15so đầu Chết 0 1 1 0 2So
Tổng số hs vào lớp 6: 315 em So với số hs lớp 5 năm trước đạt: 100 %
So với số hs tốt nghiệp tiểu học đạt: 100 %
• Trong 36 HS bỏ học, đã ra lớp phổ cập: 24 em =>HS thực bỏ học: 12 em - Tỉ lệ: 0,95 %
thời bổ sung những kiến thức mới, phương pháp mới
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp như PhòngGiáo dục Diên Khánh, Đảng ủy, UBND và các đoàn thể ở xã Diên Phước,
hỗ trợ về tinh thần cũng như vật chất cho học sinh và giáo viên
- Sự ủng hộ nhiệt tình của Hội Phụ huynh học sinh, của toàn thể phụhuynh trong các hoạt động, nhất là hoạt động dạy và học của trường Điều
đó đã động viên khích lệ tinh thần làm việc của cán bộ giáo viên hoànthành tốt nhiệm vụ
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường đều nhiệt tìnhtrong công tác và giảng dạy Năng lực chuyên môn đều đạt khá tốt Giáoviên trẻ yêu nghề, nhiệt tình, giáo viên lớn tuổi tận tâm và có nhiều kinhnghiệm trong công tác giảng dạy
-Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về đổi mới nội dung, chươngtrình sách giáo khoa mới Thường xuyên học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp
ở trường và các trường khác Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn để nângcao tay nghề, nhiều giáo viên tham gia học các lớp đại học từ xa, tự túckinh phí Cán bộ, giáo viên mẫu mực, luôn là tấm gương sáng cho học sinhnoi theo
- Học sinh có ý thức tốt trong việc thực hiện nội quy nhà trường, cónhiều cố gắng trong học tập Học sinh lễ phép, chăm ngoan